Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh BìnhNâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI THỊ TUYẾT LÀNH
NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI THỊ TUYẾT LÀNH
NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ
CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS,TS Nguyễn Thu Nghĩa
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS,TS.Nguyễn Thu Nghĩa Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Hà Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
MAI THỊ TUYẾT LÀNH
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 9
1.1 Văn hóa chính trị 9
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức 21
Chương 2 NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH NINH BÌNH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 28
2.1 Khái quát chung về tỉnh Ninh Bình và đội ngũ cán bộ, công chức của Tỉnh 28
2.2 Thực trạng văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình 38
2.3 Một số giải pháp cơ bản nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình 65
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 80
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa chính trị (VHCT) là một bộ phận cấu thành của văn hóa trong
xã hội có giai cấp, là kết quả của quá trình hoạt động của con người trong lĩnh vực chính trị Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, văn hóa chính trị giữ vai trò quan trọng đối với mỗi nền chính trị, nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Điều này đã khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của đội ngũ cán
bộ, công chức trong hệ thống chính trị Thực tiễn cách mạng ở nước ta cũng
đã chứng minh điều đó Với tư cách là những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp, năng lực, trình độ và cách ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức trong mọi quan hệ chính trị có vai trò quyết định đến sự tồn vong, hưng thịnh của một quốc gia, một chế độ Họ là lực lượng chính trị cơ bản có khả năng thiết kế, tổ chức và quản lý xã hội để đạt được mục tiêu chính trị đã đề
ra Nhận thức rõ tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác cán bộ, coi đây là vấn đề chiến lược, có tính quyết định của sự nghiệp cách mạng, do đó đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, trình độ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế thị trường đã tạo ra những thời cơ song cũng không ít thách thức đối với đội ngũ cán bộ, công chức Đó là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; năng lực, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ở một số cán bộ, công chức đã tác động đến tư tưởng, ý chí và
Trang 6niềm tin của đội ngũ cán bộ, công chức cả nước nói chung và cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình nói riêng
Sau hơn 30 năm đổi mới, tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Ninh Bình đã có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong tỉnh từng bước được nâng cao, tình hình chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng được giữ vững Có được kết quả đó là do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối lãnh đạo của Đảng vào thực tiễn của địa phương; sự đoàn kết, thống nhất của cả hệ thống chính trị trong đó đội ngũ cán bộ, công chức của Tỉnh giữ vai trò then chốt Tuy nhiên, cũng có một
số cán bộ, công chức của Tỉnh chưa tích cực tìm hiểu, học tập, nâng cao nhận thức chính trị, còn thiếu niềm tin vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, hoạt động chính trị còn thiếu tính sáng tạo, có không ít cán bộ, công chức tham gia các hoạt động chính trị một cách miễn cưỡng nên kết quả công tác không được như mong đợi Do đó, việc xây dựng và củng cố đội ngũ này về phẩm chất chính trị và năng lực, trình độ chuyên môn để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương là nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược Với mong muốn đánh giá thực trạng văn hóa chính trị
và việc nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình hiện nay, đưa ra những giải pháp để có thể nâng cao hơn nữa văn hóa chính trị cho đội ngũ này đáp ứng được các yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, tác giả chọn đề tài “Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, văn hóa chính trị là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu như:
Trang 7“Văn hoá chính trị và việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước
ta hiện nay” do Phạm Ngọc Quang chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1995 Trong cuốn sách này, các tác giả đã đưa ra những nội dung khoa học về phạm trù VHCT, vai trò của VHCT trong hoạt động chính trị, trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cũng như đưa ra một số phương hướng bồi dưỡng VHCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta
Tác giả Nguyễn Hồng Phong trong“Văn hoá chính trị Việt Nam truyền thống và hiện đại”, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998 đã đi sâu nghiên
cứu những giá trị truyền thống của VHCT Việt Nam, từ đó đưa ra những phương hướng cho việc kế thừa các di sản VHCT truyền thống trong công cuộc đổi mới ở nước ta
Trong bài “Văn hóa và văn hóa chính trị từ cách nhìn tiếp cận của triết học chính trị mácxít”, Tạp chí Triết học, số 5, 2005, tác giả Nguyễn Văn
Huyên cho rằng, xây dựng VHCT hiện nay là xây dựng một nền chính trị khoa học - cách mạng - nhân văn với tất cả nhận thức, mục tiêu, các yếu tố, toàn bộ cơ cấu, thiết chế, cơ chế vận hành của nó VHCT của nền chính trị Việt Nam là mục tiêu, nội dung chính trị, khoa học tổ chức, lãnh đạo, quản lý
và phương thức thực thi chính trị của Đảng, các cơ quan nhà nước; khoa học
và nghệ thuật hoạt động chính trị của tất cả các chủ thể chính trị
Cuốn Nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta hiện nay
của Lâm Quốc Tuấn, Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội,
2006 góp phần hệ thống hóa và phân tích những quan điểm, luận điểm cơ bản
về văn hóa chính trị, về tính tất yếu phải nâng cao văn hóa chính trị, cũng như phương hướng, nội dung và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay
Các tác giả Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh
Trang 8Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 tập trung nghiên cứu bản chất,
nội dung của VHCT, tìm hiểu những nhân tố hình thành tư tưởng VHCT Việt Nam trong lịch sử và những nét đặc sắc của nó; phân tích một số giá trị VHCT truyền thống của Việt Nam như: Tư tưởng độc lập, tự chủ, tự cường, tinh thần dân tộc, tính cố kết cộng đồng…
Cuốn Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 của tác giả Nguyễn Văn Tài phân
tích khái niệm, nội dung và những động lực cơ bản phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ; khẳng định vai trò của đội ngũ cán bộ thông qua khảo sát một số nét khái quát về những thành công và những mặt còn bất cập trong thực tiễn; đề xuất một số vấn đề cơ bản nhằm phát huy tính tích cực nhân tố con người của đội ngũ cán bộ trong tình hình hiện nay
Bên cạnh các công trình này, có một số bài nghiên cứu liên quan đến văn hoá chính trị và nâng cao văn hoá chính trị của cán bộ, công chức hiện nay Có
thể kể đến bài: “Bản chất văn hoá chính trị" của tác giả Phạm Đình Đạt, Tạp
chí Khoa học chính trị số 1, 1998 bàn về các nhân tố bản chất của văn hoá chính trị
Lâm Quốc Tuấn “Văn hóa chính trị và sự phát triển con người - xã hội”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4, 2001 cho rằng VHCT phải là một hệ
thống giá trị xã hội phản ánh đầy đủ các dấu hiệu chân - thiện - mỹ, là tiêu chí quan trọng để xác định sự phát triển và trình độ phát triển chung của ý thức xã hội và ý thức công dân, qua đó thấy được chức năng của VHCT đối với việc hình thành các chủ thể chính trị tích cực, khẳng định VHCT là một nguồn lực
to lớn trong sự phát triển xã hội
Nguyễn Văn Vĩnh trong "Vai trò của văn hoá chính trị trong việc hình thành phẩm chất và năng lực người lãnh đạo chính trị”, Thông tin chính trị
Trang 9học, số 4- 2003, nghiên cứu các tiêu chí văn hoá chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta
Tác giả Hoàng Chí Bảo “Văn hoá chính trị với công tác vận động quần chúng nhân dân trong tình hình hiện nay”, Tạp chí Dân vận số 1, 2005 nghiên
cứu VHCT trong mối quan hệ với chính trị học và vai trò của VHCT trong hoạt động vận động quần chúng ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Lê Như Hoa, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá chính trị", Tạp chí
Văn hoá nghệ thuật số 9, 2005 nghiên cứu những chuẩn mực trong Tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa chính trị
“Văn hóa chính trị Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” của tác giả Phạm Huy Kỳ trên Tạp chí Tuyên giáo online Tuyengiao.vn, ngày 12/6/2010 nói về
sự thẩm thấu của văn hóa vào chính trị, biểu hiện của văn hóa chính trị, sự tác động của VHCT đến đời sống xã hội và việc xây dựng VHCT trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam
Trần Đình Thảo, Ngô Minh Thuận trong“Văn hóa chính trị trong việc hình thành phẩm chất, năng lực của người cán bộ lãnh đạo chính trị”, tạp chí
Triết học, số 6, 2011 đã làm rõ khái niệm VHCT và các vai trò của VHCT trong việc phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo của các chủ thể chính trị
trong hoạt động chính trị Một là, VHCT góp phần điều chỉnh hành vi và các
quan hệ chính trị - xã hội, nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ lãnh đạo
chính trị Hai là, VHCT góp phần hình thành nhân cách của người cán bộ
lãnh đạo chính trị và hướng nhân cách đó vào những hoạt động tích cực nhằm
thực hiện những giá trị lý tưởng đã chọn Ba là, VHCT góp phần thúc đẩy quá
trình xã hội hóa về chính trị, làm cho người cán bộ lãnh đạo chính trị tích cực
hoạt động chính trị Bốn là, VHCT nâng cao tính nhạy bén, chủ động, sáng
tạo trong hoạt động chính trị của người cán bộ lãnh đạo chính trị và góp phần
Trang 10“Bàn về sức sống của VHCT Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Vĩnh Tạp chí Tuyên giáo online Tuyengiao.vn ngày 02/4/2015, bàn về cơ sở hình
thành và phát triển của VHCT Việt Nam; bản chất, bản sắc của VHCT Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại
Tác giả Lâm Quốc Tuấn trong bài“Một số giải pháp chủ yếu nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học,
số 8, 2016 đã luận giải một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo chính trị ở nước ta hiện nay Theo tác giả, có
6 vấn đề cần chú ý trong nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo chính trị nước
ta Đó là: 1 Nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; 2 Nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc nắm vững cương lĩnh, đường lối
chính trị của Đảng; 3 Nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc
trang bị những kiến thức cơ bản về khoa học chính trị và khoa học lãnh đạo;
4 Nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc rèn luyện đạo đức, lối sống và phát huy tính tích cực chính trị của chủ thể chính trị này; 5 Nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc không ngừng nâng cao trình
độ văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân lao động; 6 Nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo gắn liền với đổi mới công tác cán bộ của Đảng
Nguyễn Thị Thu Hà trong bài Văn hóa chính trị với đạo đức người cán
bộ, công chức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngh a ở Việt Nam trên website Tạp chí Tổ chức Nhà nước ngày 15/4/2016 đã trình bày
mối quan hệ giữa đạo đức với văn hóa chính trị; tác động tích cực và tiêu cực của cơ chế thị trường đến văn hóa chính trị và đưa ra các giải pháp góp phần hạn chế những tiêu cực của cơ chế thị trường đến đạo đức và văn hóa chính trị của cán bộ, công chức
Trang 11Các công trình nghiên cứu trên ở các mức độ khác nhau đã đưa ra các vấn đề liên quan đến VHCT như: khái niệm VHCT, vai trò của VHCT, cơ sở hình thành và phát triển VHCT ở Việt Nam cũng như những phương hướng
và giải pháp để nâng cao VHCT nói chung và VHCT của các cán bộ lãnh đạo nói riêng Đây là những tài liệu hết sức cần thiết để các tác giả tham khảo và
kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn của mình Tuy nhiên, với mục đích
và nhiệm vụ của mỗi công trình, có công trình khai thác VHCT ở khía cạnh lý luận, có công trình khai thác VHCT ở khía cạnh thực tiễn, có công trình đề cập đến việc nâng cao VHCT cho một đối tượng nhất định… nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề nâng cao VHCT của cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình Do đó, đề tài mà chúng tôi lựa chọn không trùng lặp với các đề tài đi trước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng văn
hóa chính trị và việc nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa văn hóa chính trị của đội ngũ này
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận văn trình bày khái quát một số vấn đề lý luận về văn hoá chính trị, sự cần thiết phải nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức
- Phân tích thực trạng văn hóa chính trị và việc nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình hiện nay từ đó đưa ra những đánh giá về thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong văn hóa chính trị và việc nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao hơn nữa văn hóa chính trị
Trang 124 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát văn hóa chính trị và
việc nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị xã hội ở tỉnh Ninh Bình
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ vấn đề nâng
cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2010 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác -
Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa và văn hóa chính trị; về cán bộ, công chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp các phương pháp: thống kê, điều tra, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý ngh a lý luận: Luận văn góp phần làm rõ khái niệm, cấu trúc, đặc
điểm, chức năng của văn hóa chính trị Sự cần thiết phải nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức
Ý ngh a thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng về văn hóa chính trị
của cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức của Tỉnh
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 02 chương, 5 tiết
Trang 13Chương 1 VĂN HÓA CHÍNH TRỊ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1 Văn hóa chính trị
1.1.1 Khái niệm văn hóa chính trị
Văn hóa chính trị với tư cách là một bộ phận của văn hóa xuất hiện trong lịch sử cùng với sự xuất hiện của giai cấp Ý niệm về văn hóa chính trị
đã xuất hiện manh nha từ thời cổ đại và trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà tư tưởng lớn thời cổ đại như: Platôn, Arixtốt, Khổng Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử… và tiếp tục được phát triển bởi các nhà tư tưởng chính trị tư sản cận đại nổi tiếng như Môngtexkiơ, Vonte, Rutxô Trong các tác phẩm của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã đề cập đến một số nội dung cơ bản về VHCT nhưng chưa đưa ra một khái niệm đầy đủ Tuy nhiên khái niệm văn hóa chính trị lại xuất hiện khá muộn trong khoa học chính trị
Người đầu tiên đưa ra khái niệm VHCT là nhà chính trị học người hoa
kỳ G.Almond vào năm 1956 trong bài “Các hệ thống chính trị so sánh” (Comparative Poilitical Systems) đăng trên tạp chí Chính trị học- (Journal of Politics), số 8, 1956 Ông đã tập trung nghiên cứu, phân tích hành vi chính trị,
động cơ hành động của các chủ thể từ đó đưa ra định nghĩa VHCT là tập hợp các lập trường và các xu hướng cá nhân của những người tham gia trong một
hệ thống nào đó, là lĩnh vực chủ quan làm cơ sở hành động chính trị và làm cho hoạt động chính trị có ý nghĩa Khái niệm của G.Almond đã mở ra hướng
đi mới cho việc nghiên cứu văn hóa chính trị, giúp thoát khỏi tình trạng bế tắc trong việc giải thích các xu hướng liên quan tới chính trị của con người
Sau đó, năm 1963 G.Almond và Sidney Verba trong cuốn “Văn hóa công dân”- (The Civic Culture) đã trình bày cách tiếp cận khoa học về VHCT
Trang 14những định hướng, thái độ chính trị đặc biệt với hệ thống chính trị cũng như đối với vai trò của bản thân mình trong hệ thống ấy” S.Verba cho rằng:
“VHCT là hệ thống những niềm tin về kiểu mẫu các thiết chế và sự tương tác chính trị” Trong ý nghĩa đó, hai ông xem VHCT như một hệ thống chính trị
được nội tâm hóa trong nhận thức, tình cảm và sự đánh giá của quần chúng
H Paul nhà chính trị học người Mỹ đã đưa ra khái niệm VHCT đến nay
vẫn được nhiều người đồng tình: “VHCT là tập hợp các lập trường và các xu hướng cá nhân của những người tham gia trong một hệ thống nào đó, là l nh vực chủ quan làm cơ sở cho hành động chính trị và làm cho hoạt động chính trị có ý ngh a Những định hướng cá nhân gồm một số thành tố cụ thể:
Định hướng nhận thức: Là hiểu biết đúng, sai về các khách thể và các
tư tưởng chính trị Những hiểu biết này có thể là hiểu biết trực quan về chính trị cũng có thể là tư duy chính trị đã được khoa học hóa
Định hướng tình cảm: Đó là cảm giác về mối liên hệ, sự lôi cuốn, về
mâu thuẫn… với các khách thể chính trị nào đó
Định hướng đánh giá: Là ý kiến, nhận xét về các khách thể trên cơ sở
căn cứ vào những hệ thống giá trị và tiêu chuẩn để đánh giá”[51]
Nhà khoa học chính trị thuộc Đại học Tổng hợp Pausau - Patzelt quan niệm rằng: “VHCT là những giá trị và tri thức, những quan điểm và thái độ của nhân dân, là những dạng thức của hành vi và sự tham dự chính trị; là những quy tắc công khai hoặc được mặc nhiên thừa nhận của quá trình chính trị; là những cơ sở thường nhật của hệ thống chính trị và là tập hợp của tất cả
những gì thuộc về văn hóa và tập tục của xã hội hiện tồn”[53, tr.21]
Theo Từ điển Xã hội học Oxford: “VHCT (Political Culture) chỉ những
chuẩn mực, giá trị và biểu trưng giúp hợp pháp hóa hệ thống quyền lực chính trị của một xã hội (ví dụ trong xã hội Mỹ, đó là Hiến pháp, nền dân chủ, bình đẳng, quốc kỳ) Khi một nền VHCT sụp đổ hoặc bị hồ nghi, thì sẽ dẫn tới
Trang 15cuộc khủng hoảng về tính hợp pháp, như trường hợp Trung Âu và Liên Xô cũ trong những năm 1989-1991 Văn hóa chính trị giống như văn hóa nói chung, cấu thành từ các mảng tri thức thu nhận được mà con người trong một xã hội
cụ thể nào cho là đúng Các vụ scandal, tiết lộ bí mật, thất bại và thảm họa chính trị có thể làm xói mòn niềm tin của công dân rất nhanh trong cả hệ thống nói chung Vì lý do này mà việc duy trì VHCT là một mối bận tâm chính của các chính trị gia và quan chức nhà nước các cấp” [10, tr.647-648]
Ở Việt Nam, VHCT đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trong các công trình nghiên cứu cũng có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về VHCT, cũng như có rất nhiều khái niệm VHCT được đưa ra
Theo nhóm tác giả Đặng Xuân Kỳ, Vũ Khiêu, Hoàng Chí Bảo: “VHCT không phải là bản thân chính trị mà là chính trị có văn hóa, chính trị tác động vào con người và xã hội như một sức mạnh văn hóa, sức mạnh không phải chỉ dựa vào quyền lực mà phải dựa vào sự cảm hóa con người, thức tỉnh lương tri, lay động tâm tư, tình cảm của con người, thuyết phục, chinh phục, thu phục con người”[30, tr.248]
Các tác giả Bùi Đình Phong và Phạm Ngọc Anh định nghĩa: “VHCT là cái đẹp, cái giá trị của chính trị, tức là chính trị thấm sâu vào tâm lý quốc dân, vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng như một sức mạnh văn hóa, sức mạnh hợp nhất lý và tình, thuyết phục bằng cảm hóa” [31, tr.63]
Nhóm tác giả cuốn Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam cho rằng: “VHCT là một phương diện của văn hóa, ở
đó kết tinh toàn bộ các giá trị, phẩm chất, trình độ, năng lực chính trị, được hình thành trên một nền chính trị nhất định, với phương thức hoạt động nhất định, thực hiện lợi ích giai cấp, dân tộc, cộng đồng phù hợp với xu hướng
Trang 16Trong cuốn “Chính trị học những vấn đề cơ bản” của tập thể tác giả
Võ Khánh Vinh, Đỗ Minh Hợp, Lê Kim Bình, Vũ Mạnh Toàn; các tác giả cho rằng “Văn hóa chính trị là hiện tượng chính trị phổ biến, xuyên suốt mọi giai đoạn của tiến trình chính trị Phát triển theo các quy luật của riêng mình, văn hóa chính trị có khả năng ảnh hướng lớn đến các hình thức tổ chức quyền lực chính trị, đến việc xây dựng các thiết chế quyền lực, đến tính chất của quan hệ giữa các quốc gia” [58, tr.341]
Tác giả Lâm Quốc Tuấn trong bài “Văn hóa chính trị và sự phát triển con người - xã hội” định nghĩa: “VHCT là một phương diện của văn hóa
trong xã hội có giai cấp nói lên tri thức năng lực sáng tạo trong hoạt động chính trị dựa trên nhận thức sâu sắc các quan hệ chính trị hiện thực để thực hiện lợi ích cơ bản của giai cấp hay của xã hội phù hợp với sự phát triển lịch
sử, được phản ánh trong các hình thức, các kiểu tổ chức hoạt động chính trị trong các thiết chế chính trị, trong các giá trị vật chất cũng như tinh thần do chính trị sáng tạo ra”[54, tr.9]
Từ những khái niệm của các nhà nghiên cứu đi trước về văn hóa chính
trị, chúng tôi hiểu, “Văn hóa chính trị là phương diện văn hóa trong hoạt động chính trị bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do chủ thể chính trị sáng tạo ra trong quá trình hoạt động và vận hành của một nền chính trị được biểu hiện thông qua nhận thức, hành vi của chủ thể mang tính tích cực, tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử nhằm đạt được mục đích chính trị”
1.1.2 Cấu trúc của văn hóa chính trị
1.1.2.1 Văn hóa chính trị tồn tại dưới nhiều góc độ Nếu xem xét dưới mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì VHCT bao gồm ý thức chính trị và thực tiễn chính trị
Trang 17* Ý thức chính trị là sự phản ánh thực tiễn văn hóa chính trị bao gồm: Tri
thức chính trị, niềm tin chính trị, tình cảm chính trị, lý tưởng chính trị, chuẩn mực chính trị, hệ tư tưởng chính trị
- Tri thức chính trị là yếu tố quan trọng cấu thành VHCT, tri thức chính
trị là toàn bộ những hiểu biết về chính trị một cách có hệ thống, là khả năng nhận thức, hiểu biết bản chất của sự vật, hiện tượng khách quan trong đời sống chính trị Tri thức chính trị luôn gắn liền với nhận thức của chủ thể chính trị Con người khi tham gia đời sống chính trị và hoạt động chính trị phải có
sự hiểu biết nhất định V.I.Lênin cho rằng: “Người không biết chữ là người đứng ngoài chính trị”[33, tr.218] Trên cơ sở những tri thức và sự hiểu biết về chính trị, chủ thể chính trị mới có thể giác ngộ về lập trường, quan điểm, giai cấp đúng đắn, qua đó xác định mục tiêu, thái độ và động cơ chính trị, phát huy tính tự giác, quyết tâm, sáng tạo cả trong hoạt động thực tiễn cũng như ở hành vi chính trị
Tri thức chính trị bao gồm tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng yêu cầu trong hoạt động chính trị các chủ thể chính trị không được coi nhẹ hoặc tuyệt đối hóa mặt nào Tuyệt đối hóa tri thưc lý luận, coi nhẹ kinh nghiệm thực tiễn sẽ dẫn đến lý luận suông và chủ nghĩa giáo điều Ngược lại tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi nhẹ lý luận sẽ dẫn đến chủ nghĩa kinh nghiệm, cảm tính
- Niềm tin chính trị là sự biểu hiện trạng thái tâm lý, thừa nhận và tin
tưởng vào tính đúng đắn của một lý tưởng chính trị, một thể chế chính trị, một
hệ tư tưởng chính trị, hệ thống chính trị: Đảng phái, nhà nước, lực lượng lãnh đạo, cầm quyền Niềm tin chính trị bao gồn niềm tin cảm tính và niềm tin lý tính
Niềm tin chính trị được củng cố vững chắc trong môi trường chính trị lành mạnh, tôi luyện trong hoàn cảnh khó khăn, trải qua thử thách, được kiểm
Trang 18nghiệm thường xuyên trong thực tiễn và thể hiện thông qua hoạt động chính trị hàng ngày
- Lý tưởng chính trị Một lý tưởng chính trị cao đẹp sẽ là động lực kích
thích hoạt động chính trị, là xung lực nội tại để hoàn thiện tư chất của chủ thể chính trị vươn tới những giá trị chân - thiện - mỹ trong hoạt động chính trị đồng thời duy trì niềm tin, tình cảm chính trị Một lý tưởng chính trị luôn gắn liền với một lý thuyết chính trị nào đó Nếu lý thuyết chính trị ấy khoa học và chân lý thì tư tưởng chính trị đó sẽ định hướng niềm tin chính trị đúng đắn Nếu mù quáng về lý tưởng chính trị sẽ làm cho niềm tin chính trị bị lệch hướng Mặt khác cũng cần phải tránh sự tôn sùng lý tưởng chính trị một cách thái quá để tránh bị chi phối bởi những định kiến chính trị, tránh nhìn nhận vấn đề một cách phiến diện, không đa chiều Để có một lý tưởng chính trị đúng đắn cần phải luôn hòa đồng với cộng đồng, không nên đồng hóa các cá nhân khác theo lý tưởng mà mình theo đuổi, phải xem xét và nhận thức các lý thuyết chính trị một cách toàn diện, kết hợp với trí tuệ và đạo đức của chủ thể
để có được lý tưởng chính trị cao đẹp
- Chuẩn mực chính trị là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã
hội đối với mỗi cá nhân hay nhóm xã hội, trong đó ít nhiều xác định sự chính xác về tính chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái được phép, cái không được phép hay cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi chính trị của mỗi cá nhân nhằm củng cố, đảm bảo sự ổn định, giữ gìn trật tự, kỷ cương, an ninh chính trị Đó là những yêu cầu được đặt ra từ phía xã hội đối với mỗi cá nhân khi tham gia vào đời sống chính trị Nó không phải là một khái niệm tĩnh hay phổ quát mà thay đổi theo thời gian, biến chuyển theo sự thay đổi của các chế
độ chính trị
Trong quá trình vận động, biến đổi có các quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực chính trị đã được hình thành và phát huy vai trò của mình trong việc điều
Trang 19chỉnh các quan hệ và hành vi của con người trong đời sống chính trị cùng với
sự biến đổi của thời gian thì những chuẩn mực đó dần trở nên lỗi thời, lạc hậu, khi đó chúng sẽ tự mất đi, bị loại bỏ và được thay thế bằng những chuẩn mực chính trị khác phù hợp hơn, tiến bộ hơn
- Hệ tư tưởng chính trị là hệ thống quan điểm, học thuyết, lý luận xác
định chế độ chính trị, cách thức tổ chức nhà nước, mục tiêu chính trị, quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp trong hệ thống chính trị, phương thức tổ chức
và thực thi quyền lực nhà nước
Trong xã hội bao gồm nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau với lợi ích và động cơ hoạt động khác nhau do đó tồn tại nhiều hệ tư tưởng chính trị khác nhau Tuy nhiên hệ tư tưởng của giai cấp thống trị sẽ trở thành hệ tư tưởng thống trị xã hội, tri phối trình độ, xu hướng phát triển văn hóa chính trị của xã hội Hệ tư tưởng được giai cấp cầm quyền thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, đường lối, chủ trương, chính sách để điều chỉnh việc thực hiện hoạt động thực tiễn nhằm thực thi những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
Với tư cách là nhân tố phản ánh khái quát lợi ích của giai cấp cũng như con đường để thực hiện lợi ích cơ bản của giai cấp, liên minh giai cấp hoặc của nhân dân lao động nói chung, “hệ tư tưởng là yếu tố cốt lõi nhất, là định hướng cơ bản cho đời sống tinh thần xã hội”[12]
* Thực tiễn chính trị
Là toàn bộ hoạt động của con người được điều chỉnh bằng ý thức chính trị, là sự biểu hiện của ý thức chính trị thành hoạt động thực tiễn Quá trình này bao gồm mục đích, phương tiện thực hiện và bản thân các hoạt động, các hành vi chính trị Chúng ta cần lưu ý mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện Mục đích thực hiện có văn hóa nhưng phương tiện thực hiện không văn
Trang 20hóa thì phương tiện cũng phải có văn hóa và đồng thời phương tiện cũng phải
có hiệu quả bởi nếu không thì không thể thực hiện được mục đích, hơn nữa không thể lấy mục đích để biện minh cho phương tiện bởi nếu như cái không văn hóa thường xuyên được sử dụng và biện minh như vậy thì từ chỗ là phương tiện cái vô văn hóa sẽ trở thành mục đích, mục đích ban đầu không còn là mục đích nữa mà nó là cái biện hộ cho cái vô văn hóa Điều này thường xảy ra trong lĩnh vực chính trị Một bộ phận thường nhân danh những giá trị tốt đẹp nhưng thực tế lại sử dụng phương tiện rất tàn bạo
Thực tiễn chính trị có thể được xem xét ở một số khía cạnh sau: Văn hóa vận hành các thiết chế chính trị, văn hóa của quá trình bầu cử, văn hóa thực hiện các quyết sách chính trị, văn hóa điều chỉnh các xung đột chính trị, hành vi tham gia chính trị của các chủ thể
1.1.2.2 Xét dưới mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, văn hoá
chính trị bao gồm VHCT xã hội, VHCT tổ chức, VHCT cá nhân
* Văn hóa chính trị xã hội: Phản ánh thực tiễn chính trị của một xã hội
nhất định và là phương thức điều chỉnh hành vi chính trị của các cá nhân trong xã hội đó Trong đó những nguyên tắc, chuẩn mực, những quan niệm, lý tưởng chính trị… được hình thành như một hệ thống giá trị chung mà mọi người cần noi theo
*Văn hóa chính trị tổ chức: Là văn hóa chính trị của những cá nhân có
chung mục tiêu, lý tưởng, sứ mệnh tự nguyện hợp thành Đó là sự thống nhất, đoàn kết giữa các cá nhân, hoạt động vì mục tiêu và lý tưởng chính trị chung của tổ chức Để đảm bảo tính chính đáng của mình, VHCT của tổ chức phải được đảm bảo về mặt pháp lý biểu hiện cụ thể thông qua: hệ thống quy trình làm việc, nội quy, quy chế của tổ chức
* Văn hóa chính trị cá nhân: Là biểu hiện VHCT xã hội trong mỗi cá
nhân cụ thể Đó chính là sự lĩnh hội, nội tâm hóa VHCT xã hội, biến chúng
Trang 21thành VHCT cá nhân, phản ánh trình độ nội tâm hóa, tiếp nhận VHCT xã hội bao gồm các yếu tố cơ bản: tri thức, tình cảm và hoạt động thực tiễn
Ở cấp độ tri thức: Là sự hiểu biết về các nguyên tắc, chuẩn mực chính
trị, là sự tự ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ chính trị của cá nhân Cấp độ này quy định tính tự giác, chủ động, năng lực thực hiện VHCT của các nhân trong các quan hệ chính trị
Ở cấp độ tình cảm: Đó là cảm xúc, thái độ của cá nhân đối với chính
trị Cấp độ này bị quy định bởi hoạt động thực tiễn, mức độ tham gia vào các quan hệ chính trị, xã hội của con người và cả tính tích cực của cá nhân trong việc tiếp nhận, giáo dục và tự giác giáo dục văn hoá chính trị
Ở cấp độ hoạt động thực tiễn: Biểu hiện ở khả năng ứng xử trước các
tình huống chính trị, khả năng chuyển hóa các yêu cầu, các nguyên tắc, chuẩn mực văn hoá chính trị xã hội thành văn hoá chính trị cá nhân Khả năng này phụ thuộc vào trình độ phát triển và sự phong phú những nhu cầu, tình cảm, tri thức, năng lực hoạt động thực tiễn chính trị của cá nhân
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng có nhiều cách tiếp cận cấu trúc văn hoá chính trị khác nhau Tùy thuộc vào cách tiếp cận khái niệm văn hóa chính trị
mà chúng ta đưa ra cấu trúc văn hoá chính trị phù hợp
1.1.3 Đặc điểm v chức năng của văn hoá chính trị
1.1.3.1 Đặc điểm của văn hoá chính trị
* Tính giai cấp: Văn hoá chính trị hình thành trong thực tiễn đấu tranh
giai cấp, do đó nó luôn bị chi phối bởi thế giới quan, hệ tư tưởng, những quan điểm chính trị của giai cấp nhất định và nó phục vụ cho lợi ích của giai cấp
ấy Do vậy, bất cứ hành vi nào của chủ thể chính trị cũng là hành vi hướng tới việc hiện thực hóa lợi ích giai cấp và bảo vệ lợi ích giai cấp mình
* Tính thời đại: Tồn tại trong những giai đoạn lịch sử khác nhau quy
Trang 22thượng tầng kiến trúc, VHCT là sự phản ánh của tồn tại xã hội Theo nghĩa
đó, mỗi thời đại khác nhau VHCT có nội dung, tính chất, biểu hiện khác nhau phù hợp với thời đại đó Xét cụ thể ở một quốc gia, dân tộc cũng vậy, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau có những chuẩn mực, lý tưởng, hệ tư tưởng chính trị khác nhau
* Tính dân tộc: Khi nghiên cứu về văn hoá chính trị, có nhiều bằng
chứng cho thấy sự khác nhau giữa văn hoá chính trị của dân tộc, cộng đồng người này với dân tộc, cộng đồng người khác Nguyên nhân do sự khác biệt
về điều kiện sinh hoạt, vị trí địa lý, môi trường sống, khí hậu… mặt khác do trình độ nhận thức và văn hóa của các dân tộc có sự khác nhau mặc dù những yếu tố này ban đầu phụ thuộc vào điều kiện sinh hoạt vật chất song sau đó với
tư cách là các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, văn hoá chính trị có tính độc lập nhất định và tác động tới đời sống chính trị của mỗi cộng đồng, dân tộc làm cho văn hoá chính trị của các cộng đồng dân tộc có những điểm riêng khác nhau
* Tính kế thừa: Văn hoá chính trị tồn tại và phát triển luôn có sự tiếp
nối từ truyền thống VHCT phát triển dựa trên những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và nhân loại, là sự kết hợp các yếu tố văn hoá chính trị truyền thống với hiện đại làm cho văn hoá chính trị ngày càng trở nên phong phú và đa dạng Trong quá trình vận động các giá trị truyền thống không bị phủ định sạch trơn mà nó luôn hòa mình vào hơi thở của thời đại Sự kế thừa những giá trị truyền thống thể hiện tính liên tục của văn hóa chính trị
* Tính đa dạng, phong phú: Hệ tư tưởng là nhân tố cốt lõi của văn hoá
chính trị, mặt khác trong mỗi hình thái kinh tế chính trị nhất định có kết cấu giai cấp khác nhau do đó hệ tư tưởng của các giai cấp là không đồng nhất Trong mỗi nền chính trị, do có sự đối lập về lợi ích nên các giai cấp thường có
hệ tư tưởng đối lập chi phối văn hóa của các giai cấp tương ứng tạo nên sự đa
Trang 23dạng của văn hoá chính trị Hơn nữa, sự xuất hiện và phát triển văn hoá chính trị nằm trong mối liên hệ mật thiết với các yếu tố lịch sử, nó là một tiểu hệ thống trong lĩnh vực văn hóa nói chung, do đó có mối liên hệ chặt chẽ với các thành tố khác của nền văn hóa nói chung như kinh tế, đạo đức, pháp quyền, thẩm mỹ, tôn giáo…
1.1.3.2 Chức năng của văn hoá chính trị
* Chức năng nhận thức
Với tư cách thuộc về ý thức xã hội, văn hóa chính trị phản ánh tồn tại
xã hội Nhận thức văn hoá chính trị có kết quả là các nguyên tắc, chuẩn mực…của VHCT Đây chính là những thứ một mặt để điều chỉnh hành vi của con người, mặt khác nhờ đó mỗi cá nhân biết được cái nào là đúng, cái nào là sai, cái nào cần phải tuân thủ Chúng là cơ sở ban đầu để mỗi người có hành trang tham gia vào thực tiễn chính trị
* Chức năng giáo dục
Văn hoá chính trị xã hội do con người tạo ra, hình thành nên nhưng khi xuất hiện nó tồn tại như cái khách quan, có sẵn mà mỗi cá nhân khi sinh ra đã bắt gặp Mỗi cá nhân, trong quá trình sống của mình, muốn tồn tại và phát triển, cần phải tự hoàn thiện mình nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội Văn hoá chính trị xã hội tồn tại như một môi trường để tạo nên văn hoá chính trị cá nhân Chính tại đây, văn hoá chính trị thể hiện chức năng giáo dục của mình
Môi trường chính trị tạo nên văn hóa chính trị cá nhân theo hai con đường: nhận thức chính trị và hoạt động thực tiễn
Nhận thức chính trị là quá trình chuyển VHCT xã hội thành VHCT cá
nhân Điều này được thực hiện qua hình thức: giáo dục và tự giáo dục Giáo dục có thể thông qua môi trường gia đình, nhà trường và xã hội Nội dung giáo dục chính là các nguyên tắc, chuẩn mực… chính trị, với những biện pháp
Trang 24của cá nhân bị quy định bởi tính tích cực của con người trong các hoạt động Bởi nếu xã hội có những biện pháp, nội dung hay cách thức giáo dục văn hoá chính trị cá nhân hay đến thế nào đi chăng nữa mà cá nhân không tự giác, không tích cực thì giáo dục chính trị của xã hội sẽ không đem lại hiệu quả
Thực tiễn chính trị là quá trình hiện thực hóa nội dung giáo dục văn hoá
chính trị xã hội trong các cá nhân Theo đó, kết quả giáo dục văn hoá chính trị
là hình thành nên những tri thức cho cá nhân Nhờ có tri thức văn hoá chính trị mà cá nhân có niềm tin, lý tưởng về chính trị xã hội (có niềm tin vào chính trị xã hội thì mới có thể thực hành được), từ đó cá nhân thể hiện văn hóa chính họ trong xã hội Nghĩa là quá trình chuyển văn hoá chính trị xã hội thành văn hoá chính trị cá nhân không chỉ là sự tiếp nhận mà cá nhân cần thể hiện hoạt động thực tiễn của mình Ở đây cũng thể hiện tính tích cực về mặt chính trị của con người
* Chức năng điều chỉnh hành vi:
Đây là chức năng cơ bản của văn hoá chính trị xã hội, nhằm điều chỉnh hành vi mỗi cá nhân đáp ứng yêu cầu và lợi ích chung của xã hội thông qua các quy tắc, chuẩn mực, lý tưởng chính trị Nói cách khác, sự điều chỉnh này được thực hiện thông qua toàn bộ các yếu tố của văn hoá chính trị xã hội Nó
có thể khuyến khích cá nhân tham gia tích cực vì lợi ích chung của cộng đồng; hoặc cũng có thể ngăn cấm các hành vi làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc
Hiệu quả của chức năng điều chỉnh hành vi của văn hoá chính trị phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cũng như sự phát triển ý thức chính trị cá nhân Nói cách khác phụ thuộc vào nhân tố khách quan và chủ quan
Nhân tố khách quan chính là các quan hệ kinh tế và các quan hệ xã hội Trong một xã hội không có sự thống nhất nhau về cơ bản những lợi ích thì sẽ không có sự thống nhất nhau về những quan niệm, chuẩn mực, nguyên tắc
Trang 25chính trị Vì vậy không có một sự điều chỉnh quan hệ chính trị mang tính thống nhất trên phạm vi toàn xã hội Do đó, việc tạo ra sự thống nhất cơ bản những lợi ích trong xã hội sẽ là điều kiện cho việc nâng cao hiệu quả của điều chỉnh văn hoá chính trị xã hội
Nhân tố chủ quan chính là cá nhân với cái cốt lõi chính là tri thức, tình cảm chính trị Tri thức, tình cảm, lý tưởng chính trị cá nhân càng phong phú, sâu sắc và đúng đắn bao nhiêu thì sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận những nguyên tắc, chuẩn mực chính trị xã hội; trên cơ sở đó, kích thích tính tích cực của con người trong việc thực hiện các trách nhiệm chính trị của mình Những điều này lại bị quy định bởi quá trình giáo dục và hoạt động thực tiễn của chính mỗi cá nhân
1.2 Sự cần thiết phải nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức
1.2.1 Khái niệm cán bộ, công chức
* Khái niệm cán bộ
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Cán bộ là người làm việc trong cơ quan,
đoàn thể, đảm nhiệm một công tác lãnh đạo hoặc công tác quản lý nghiệp vụ chuyên môn nhất định”
Khoản 1, Điều 4, Luật Cán bộ công chức năm 2008: “Cán bộ là công
dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
* Khái niệm công chức
Trang 26Từ điển Tiếng Việt cho rằng: “Công chức là người được tuyển dụng và
bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ công chức năm 2008: “Công chức là
công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng Trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Từ những hiểu biết về khái niệm văn hóa chính trị và cán bộ, công chức, tác giả đưa ra khái niệm về văn hóa chính trị của cán bộ, công chức như sau:
“Văn hóa chính trị của cán bộ, công chức là toàn bộ giá trị vật chất và tinh
thần được tạo ra trong quá trình hoạt động chính trị của cán bộ, công chức biểu hiện thông qua các quan điểm, tư tưởng, niềm tin; các phương thức, công
cụ và các sản phẩm mang tính tích cực, tiến bộ, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm đạt được mục tiêu chính trị đó là
“Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức
1.2.2.1 Vai trò của cán bộ, công chức trong nền chính trị
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta
đã ý thức rõ việc dùng người là quốc sách bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự
Trang 27tồn vong của quốc gia, dân tộc Kể từ khi lãnh đạo cách mạng từ năm 1930, Đảng ta đã coi, cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng Đảng ta luôn khẳng định, trong công cuộc đổi mới đất nước, cán bộ có vai trò rất quan trọng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới Cán bộ cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật một phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn
Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, người đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào [33, tr.473]; "Nghiên cứu con người, tìm ra những cán bộ có bản lĩnh Hiện nay đó là then chốt, nếu không thế thì tất cả mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn" [33 tr.449]
Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, hơn ai hết Chủ tịch
Hồ Chí Minh thấy rất rõ vị trí, vai trò của cán bộ Người luôn khẳng định:
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[35, tr.269], và “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [35, tr.240], “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, “có cán bộ tốt việc gì cũng xong”, “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi Không có cán
bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn” Về vị trí của cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân,
“là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân
Trang 28chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [35, tr.267]
Thực tiễn chính trị ở nước ta hiện nay cho thấy mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đều do đội ngũ cán bộ, công chức nghiên cứu, đề xuất đồng thời do cán bộ, công chức tổ chức và hướng dẫn nhân dân tổ chức thực hiện Đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành công hay thất bại đều phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ, công chức Bởi cán bộ, công chức là những người hàng ngày trực tiếp tiếp xúc với dân, đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống và biến thành hành động cách mạng của nhân dân
Thông qua đội ngũ này, Đảng và Nhà nước ta đánh giá được tính đúng đắn của đường lối, chính sách; kịp thời phát hiện được những thiếu sót của các đường lối, chính sách và những nhu cầu mới phát sinh từ thực tế khách quan để
bổ sung và hoàn thiện chúng Thực tế ở nước ta trong những năm vừa qua và thực tế tỉnh Ninh Bình cho thấy, những yếu tố bất hợp lý không được khắc phục
đã và đang trở thành nguyên nhân bao trùm gây nên tình trạng kinh tế - xã hội trì trệ, lạc hậu
Như vậy, cán bộ, công chức là một mắt xích quan trọng không thể thiếu của bất kỳ một nền chính trị nào Đội ngũ này có vai trò thực thi pháp luật để quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội đảm bảo tính đúng đắn về đường lối của giai cấp lãnh đạo, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự, kỷ cương nhà nước và bảo vệ lợi ích của quần chúng nhân dân Tổ chức thực hiện pháp luật trong cuộc sống, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội phù hợp với mục tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa
Để thực hiện được vai trò, chức năng của mình, mỗi người cán bộ, công chức cần phải đấu tranh chống biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng nhân dân, vô cảm trước những yêu cầu chính đáng của nhân dân, chống phương
Trang 29pháp bàn giấy, hình thức… Có thái độ làm việc tích cực, chu đáo, giải quyết nhiệm vụ chuyên môn chính xác, khoa học, khẩn trương, giải quyết kịp thời, chính xác những yêu cầu chính đáng của công dân Hoàn thành tốt mọi công việc được giao, tránh đùn đẩy trách nhiệm, giữ mối quan hệ tốt với quần chúng nhân dân, biết lắng nghe ý kiến nhân dân, có tinh thần học hỏi quần chúng, biết tổ chức, biết lãnh đạo, lời nói phải đi đôi với việc làm Để làm được điều này, việc nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức là việc quan trọng mà Đảng và Nhà nước cần phải làm
1.2.2.2 Nâng cao văn hoá chính trị của cán bộ, công chức là đòi hỏi khách quan của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định nhiệm vụ:
“Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN Giữ gìn hòa bình,
ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới” [13, tr.19-20]
Để thực hiện được mục tiêu đề ra, vấn đề quan trọng có tính chất quyết định là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, trình độ, trí tuệ phù hợp với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) Đội ngũ cán bộ, công chức phải năng động, sáng tạo, nắm bắt được những yêu cầu của thời đại, có đạo đức và ý chí để thiết kế và tổ chức thực
Trang 30hiện các nhiệm vụ chiến lược trong tiến trình CNH, HĐH đất nước trên mọi lĩnh vực
Bên cạnh đó, sự phát triển của cuộc các mạng khoa học - công nghệ cùng với cơ chế thị trường đã nảy sinh những vấn đề phức tạp Tình trạng suy thoái về đạo đức chính trị, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, công chức; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn còn tồn tại và diễn biến ngày càng phức tạp đã tác động không nhỏ đến tư tưởng, niềm tin và ý chí của mỗi cán bộ, công chức đòi hỏi người cán bộ, công chức phải có bản lĩnh, lập trường quan điểm chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức lối sống lành mạnh, tích cực để làm chủ được nền kinh tế thị trường, phát huy những mặt tích cực, hạn chế tiêu cực trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để họ có đủ trình độ lý luận chính trị, năng lực tổ chức, quản lý điều hành, kỹ năng công vụ nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, hoạt động thông suốt đảm bảo hoạt động có hiệu lực, hiệu quả trên cơ sở thi hành Hiến pháp và pháp luật và lợi ích hợp pháp của nhân dân
1.2.2.3 Nâng cao văn hoá chính trị của cán bộ, công chức xuất phát từ chiến lược con người của Đảng ta hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Muốn xây dựng CNXH trước hết cần có con người XHCN” Con người XHCN ở đây gồm hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau, một là kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống, hai là hình thành những phẩm chất mới như: có tư tưởng XHCN, đạo đức XHCN, có trí tuệ và bản lĩnh để làm chủ, có tác phong XHCN, có lòng nhân ái, vị tha, độ lượng
Kế thừa và phát huy tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Khóa VIII đã xác
Trang 31định “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [11, tr.66] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng đã xác định mục tiêu chung của công tác cán bộ: “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, lựa chọn những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ”[13, tr.207]
Chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, một bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là yêu cầu khách quan vừa cấp bách, vừa lâu dài Do đó, cần thiết phải nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức
Tiểu kết chương 1
Văn hóa chính trị có một sức mạnh to lớn, làm nên sức mạnh tổng thể của một quốc gia, tạo đà cho quốc gia ấy vững bước đi lên Trong các yếu tố cấu thành văn hóa chính trị, có những yếu tố rất quan trọng là nhận thức, ý thức, tri thức, niềm tin, tình cảm và lý tưởng chính trị… của các chủ thể chính trị khi tham gia vào đời sống chính trị Cán bộ, công chức với tư cách là các chủ thể chính trị, hoạt động trong lĩnh vực chính trị, cũng cần phải đạt đến một trình độ văn hóa chính trị nhất định Văn hóa chính trị của cán bộ, công chức là một bộ phận của văn hóa chính trị Việt Nam Phát huy những giá trị tốt đẹp trong văn hóa chính trị của cán bộ, công chức cũng chính là góp phần phát triển văn hóa chính trị ở Việt Nam Do đó, việc nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa trong công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 32Chương 2 NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC TỈNH NINH BÌNH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
2.1 Khái quát chung về tỉnh Ninh Bình và đội ngũ cán bộ, công chức của Tỉnh
2.1.1 Khái quát chung về tỉnh Ninh Bình
Ninh Bình là tỉnh nằm ở cực nam Đồng bằng Sông Hồng, có 08 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 02 thành phố (thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp) và 06 huyện (Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn, Hoa Lư, Gia Viễn
và Nho Quan) với tổng 146 xã, phường, thị trấn Ninh Bình có điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú và là cái nôi chứa đựng nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Điều kiện tự nhiên
* Địa hình:
Ninh Bình có địa hình đa dạng, thấp dần từ vùng núi đồi phía Tây sang vùng đồng bằng trũng xen kẽ núi đá vôi và xuống đồng bằng phì nhiêu, bãi bồi ven biển phía Đông Địa hình hội tụ đầy đủ điều kiện khá thuận lợi để
Trang 33phát triển kinh tế - xã hội với thế mạnh của từng vùng: Vùng đồi núi, Vùng đồng bằng trũng trung tâm, Vùng đồng bằng, bãi bồi ven biển
+ Vùng đồi núi: gồm các dãy núi đá vôi với độ dốc lớn và đồi đan xen hình thành các thung lũng lòng chảo hẹp, trong tiểu vùng có dạng địa hình bình nguyên Vùng này chủ yếu nằm ở huyện Nho Quan, phía Bắc - Đông Bắc của huyện Gia Viễn và phần lớn thành phố Tam Điệp Diện tích khoảng 35.000 ha chiếm gần 24% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
+ Vùng đồng bằng trũng trung tâm: có tiểu vùng ruộng trũng, hồ, ao xen kẽ nhiều dãy núi đá vôi với các hang động đẹp, gồm phần còn lại của huyện Nho Quan, huyện Gia Viễn, thành phố Tam Điệp và huyện Hoa Lư, thành phố Ninh Bình, một phần của huyện Yên Mô Vùng này có diện tích chiếm gần 40% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
+ Vùng đồng bằng, bãi bồi ven biển: gồm toàn bộ huyện Kim Sơn, huyện Yên Khánh và một phần diện tích của huyện Yên Mô Đây là vùng đất đai phì nhiêu, thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản; diện tích chiếm trên 30% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
Do địa hình bị sông, núi chia cắt mạnh, vùng núi có độ dốc lớn, đồng bằng nằm ven biển nên hàng năm tỉnh chịu nhiều thiên tai như bão, lụt… gây trở ngại phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững
* Khí hậu:
Khí hậu mang đặc điểm chung của miền Bắc, là khí hậu nhiệt đới, gió mùa với 4 mùa trong năm Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,20C Tổng số giờ nắng trung bình khoảng 1.200 - 1.500 giờ/năm, tập trung chủ yếu vào mùa
hạ Sự phân hoá giữa các mùa ngày càng rõ, nhiệt độ trung bình/năm ngày càng tăng… gây ra diễn biến bất thường, ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh
và đời sống của nhân dân
Trang 34Tỉnh có hệ thống sông ngòi khá dày trải đều cả 3 vùng với các con sông lớn như sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bến Đang, sông Vạc, sông Càn…
và hệ thống các hồ có trữ lượng nước lớn như các hồ Yên Quang, hồ Đồng Thái, hồ Đá Lải, hồ Đồng Chương, hồ Yên Thắng…
Chế độ mưa được chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa diễn ra vào mùa hạ (từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 10), tập trung đến khoảng 85% lượng mưa trong năm; Mùa khô lượng mưa thấp chiếm khoảng 15% (từ đầu tháng 10 đến giữa tháng 4 năm sau) Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.400 - 1.900 mm, phân bố không đều trong năm nhưng phân bố khá đều trên toàn bộ diện tích
Nhìn chung, chế độ khí hậu, thuỷ văn khá thuận lợi cho phát triển kinh
tế - xã hội Tuy vậy, vẫn còn hạn chế là mùa khô thì hạn hán, mùa mưa gây úng, lũ lụt và một số con sông phải đảm nhiệm vai trò phân lũ, tách lũ cho Hà Nội và một số khu vực của vùng Đồng bằng sông Hồng
* Giao thông: Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng từ
miền Bắc vào miền Trung và miền Nam Cả hai trục đường ô tô và đường sắt chạy xuyên suốt Bắc - Nam đều qua tỉnh Ninh Bình
+ Đường bộ: Có các tuyến quốc lộ 1A, quốc lộ 10, 12A, 12B, 45, 38B + Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc - Nam có chiều dài 19km với 4 ga (Ninh Bình, Cầu Yên, Ghềnh và Đồng Giao) thuận tiện trong vận chuyển hành khách, hàng hoá và vật liệu xây dựng;
+ Đường thuỷ: Ninh Bình có hệ thống giao thông thuỷ rất thuận lợi do
có nhiều con sông lớn như: sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Vạc, sông Vân, sông Lạng; đặc biệt có sông Đáy thông ra biển Đông Ngoài ra còn
có các cảng lớn như: Cảng Ninh Phúc, cảng Ninh Bình, Kim Sơn góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh
Điều kiện kinh tế - xã hội:
* Dân số:
Trang 35Theo thống kê năm 2016, dân số Ninh Bình khoảng 980.945 người, chiếm gần 5% dân số của vùng Đồng bằng sông Hồng Mật độ dân số trên
700 người/km2 Độ tuổi trung bình của dân số tỉnh tương đương với độ tuổi trung bình của cả nước và đang nằm trong “thời kỳ dân số vàng”
Phân bố dân cư theo lãnh thổ không đồng đều, có sự chênh lệch lớn về mật độ dân số giữa thành phố Ninh Bình và các huyện (thành phố Ninh Bình
có mật độ 2.424 người/1 km2; huyện Yên Khánh với mật độ 977 người/1 km2
; trong khi huyện Nho Quan chỉ có 327 người/1 km2
) Người dân tộc Kinh chiếm trên 98% tổng dân số, tiếp theo là người dân tộc Mường chiếm 1,7% và
số ít còn lại là các dân tộc khác Tỷ lệ người theo đạo Thiên Chúa giáo khá cao tới 15% tổng dân số, tập trung chủ yếu ở huyện Kim Sơn
* Tăng trưởng kinh tế:
Giai đoạn 2010-2015, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,7%/năm cao hơn mức bình quân chung cả nước (5,9%) và có bước cải thiện rõ rệt về chất lượng tăng trưởng Tăng trưởng bình quân của giá trị sản xuất các ngành đạt cao: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt 12,5%; công nghiệp - xây dựng đạt 48,6% và dịch vụ đạt 38,9% [49, tr.35] Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp
* Văn hoá, giáo dục, y tế:
Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc, đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ Đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bình tương đối năng động, phát triển trên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên cạn ở núi Ba (thành phố Tam Điệp) và một số hang động khác
Trang 36Phương) và một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan có di chỉ cư trú của con người thời văn hóa Hòa Bình Sau thời kỳ văn hóa Hòa Bình, vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt nam Ninh Bình là địa bàn có nhiều di tích khảo cổ học thuộc các thời kỳ văn hóa Tràng An, Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút và Đông Sơn
Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 06 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê - Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, từng con sông Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn với phòng tuyến Tam Điệp, là căn cứ để nhà Trần 02 lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông với hành cung Vũ Lâm, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần với đế đô ở Yên Mô, các căn cứ quân sự khác như thành nhà Mạc, thành nhà Hồ hiện vẫn còn dấu tích ở Yên Mô
Thế kỷ XVI - XVII, đạo Công giáo được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Công giáo Phát Diệm, nay là giáo phận Phát Diệm đặt tại Kim Sơn với 60% tổng số giáo dân toàn tỉnh Bên cạnh văn hóa của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có văn hóa mới của cư dân ven biển Dấu ấn về biển tiến còn im đậm trên đất Ninh Bình Những địa danh cửa biển như Phúc Thành, Đại An, Cửa Càn, cửa biển Thần Phù cũng với các con đê lịch sử như
Đê Hồng Đức, Đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Văn Hải, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm 100m Là một tỉnh mở rộng không gian văn hóa Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hóa từ Bắc vào Nam
Trang 37Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động trong vùng văn hóa môi trường đất mở
Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú như: Tam Cốc
- Bích Động, động Vân Trình, động Tiên, động Thiên Hà, Tràng An, động Mã Tiên Một yếu tố vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo
đa dạng, phong phú của văn hóa Ninh Bình đó là sự lưu lại dấu ấn văn hóa của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thủy tú này Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hóa lớn như Trương Hán Siêu, Trần Thánh Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Tản Đà
về đây xếp gương đề bút, sông núi hóa thành thi ca Nhân cách bác học và phẩm cách văn hóa lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tầng văn hóa địa phương, được nhân dân tiếp thu, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hóa Ninh Bình
Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình gắn liền với tín ngưỡng của vùng đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần thông qua các đền thờ Vua: đền thờ Vua Đinh, Vua Lê; đền thờ Thánh Nguyễn Minh Không và các
tổ nghề; thờ Thần: các vị thần Thiên Tôn, thần Cao Sơn và thần Quý Minh trong không gian văn hóa Hoa Lư tứ trấn Ninh Bình là vùng đất phong phú các lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội Tràng An, lễ hội chùa Bái Đính Các công trình kiến trúc văn hóa như đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành, nhà thờ Phát Diệm, chùa Bái Đính, làng chèo Phúc Trì, Nam Dân, Thượng Kiệm là đất tổ của nghệ thuật hát chèo, của các làn điệu hát xẩm, ca trù và của nhiều làng nghề truyền thống khác
Công tác văn hoá, thông tin tuyên truyền có nhiều tiến bộ Các hoạt động văn hoá, thông tin phát triển đều khắp, cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác tuyên truyền, phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội ở địa
Trang 38phương, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá được quan tâm và đi vào chiều sâu
Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi, tang lễ và lễ hội Những giá trị văn hoá tinh thần tốt đẹp tiếp tục được phát huy; hủ tục lạc hậu,
mê tín dị đoan đang từng bước hạn chế Tỷ lệ phủ sóng phát thanh trong tỉnh đạt 97%, số hộ được xem truyền hình đạt trên 98% Công tác báo chí, tuyên truyền có bước tiến bộ góp phần nâng cao trình độ dân trí
- Công tác giáo dục - đào tạo có bước chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng do huy động tốt các nguồn lực xã hội Vì vậy, công tác phổ cập giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất, trường chuẩn quốc gia và nâng cao đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý ngành đạt được tiến bộ rõ rệt Cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, nâng cấp nên đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
- Công tác y tế: Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đạt được nhiều tiến bộ trên cả hai lĩnh vực phòng bệnh và chữa bệnh Mạng lưới
y tế nhất là cấp cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển, chất lượng dịch
vụ y tế chung được cải thiện Hệ thống tổ chức được hoàn thiện Chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên nhờ đội ngũ cán bộ y tế được quan tâm nâng cao trình độ, trang thiết bị được tăng cường và việc cung ứng thuốc tốt hơn Nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển đã được chăm sóc sức khoẻ tốt hơn Công tác vệ sinh và an toàn thực phẩm được quan tâm hơn
* Du lịch:
Tài nguyên du lịch rất đặc sắc và đa dạng với nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng trong nước và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Ninh Bình là một trong
số rất ít các tỉnh trên cả nước hội tụ nhiều lợi thế để phát triển du lịch:
+ Khu Tam Cốc - Bích Động - Tràng An - Cố đô Hoa Lư: là quần thể hang động và các di tích lịch sử - văn hoá rất phong phú, độc đáo, với khu cố
Trang 39đô Hoa Lư, khu hang động Tam Cốc - Bích Động, tuyến Linh Cốc - Hải Nham, và Thạch Bích - Thung Nắng Và đặc biệt mới đây nhất là quần thể du lịch sinh thái Tràng An và khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới
+ Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long: Đây là khu du lịch sinh thái có cảnh quan rất đặc thù không chỉ của Việt Nam mà còn là của khu vực ASEAN Diện tích khu vực này khá rộng (3.710 ha) với nhiều loài sinh vật (547 loài thực vật và 39 loài động vật) có những loại quý hiếm, đặc hữu của vùng đất ngập nước, có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu khoa học Ngoài ra
ở đây cũng có nhiều núi đá, hang động và đền, chùa
+ Vườn Quốc gia Cúc Phương: là khu rừng nguyên sinh nhiệt đới hiếm
có ở Việt Nam với đặc điểm hệ sinh thái, sinh cảnh, cấu trúc rừng và tính đa dạng loài, gồm cả loài quý hiếm và loài đặc hữu (1.944 loài động thực vật) Việc phát hiện, khai thác nguồn nước khoáng tại khu vực này càng mở ra tiềm năng lớn hơn trong phát triển du lịch
+ Khu Kênh Gà (Gia Viễn) và động Vân Trình (Nho Quan): Từ những năm 60 của thế kỷ trước, nước suối Kênh Gà (nhiệt độ 53% với khoáng chất tốt) đã nổi tiếng ở miền Bắc nhờ khả năng chữa trị được một số loại bệnh, giúp phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng Động Vân Trình cũng là một địa danh đẹp để cùng với các hang động khác tạo nên sự độc đáo thu hút khách
du lịch
+ Khu quần thể nhà thờ Phát Diệm: Tính độc đáo thể hiện trong kiến trúc và xây dựng ở sự kết hợp giữa kiến trúc Gothic của Châu Âu và kiến trúc đình chùa Á Đông với chất liệu chủ yếu bằng đá xanh, tạo nên vẻ đẹp độc đáo, hấp dẫn du khách trong nước, quốc tế đến tham quan
+ Làng nghề truyền thống: Ninh Bình có hàng chục làng nghề truyền
Trang 40lịch đến thăm quan, mua sắm (làng nghề chạm khắc đá, làng nghề thêu ren, làng nghề mây tre đan, làng nghề cói )
2.1.2 Khái quát về đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Ninh Bình
Ngày 27/12/1975, Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh Ngày 01/4/1992 được tái lập Sau 25 năm tái lập tỉnh, cùng với những thành tựu về kinh tế - xã hội, Ninh Bình đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức cơ bản có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị và được đào tạo về quản lý nhà nước đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH góp phần đưa nước ta sớm trở thành nước công nghiệp hiện đại
Theo thống kê về số lượng, chất lượng cán bộ, công chức của tỉnh; tính đến 31/12/2016, toàn tỉnh có khoảng 4502 cán bộ, công chức Trong đó, nữ là
1882 người, chiếm 41,8% Phân theo trình độ chuyên môn: tiến sĩ là 15 người chiếm (0,3%), thạc sĩ là 823 người, chiếm (18,3%), cử nhân là 3450 người, chiếm (76,6%), số còn lại là cao đẳng, trung cấp, sơ cấp (214 người, chiếm 4,8%) Số cán bộ, công chức đã được đào tạo về lý luận chính trị là 3146 người chiếm 69,9%, trong đó cử nhân và cao cấp là 864 người (19,2%), trung cấp 1892 người (21%), sơ cấp 390 người (8,7%) Có 3002 CB,CC được đào tạo về quản lý nhà nước chiếm 66,7%, trong đó chuyên viên cao cấp và tương đương là 84 người (1,9%), chuyên viên chính và tương đương là 756 người (16,8%), chuyên viên và tương đương là 2162 người (48%) Phân theo độ tuổi, có 478 cán bộ, công chức dưới 30 tuổi (10,6%), Từ 31 - 40 tuổi là 1564 người (34,8%), từ 41 đến 50 tuổi là 1374 (30,5%), trên 50 tuổi là 1086 người (24,1%) Yếu tố độ tuổi của cán bộ, công chức có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành VHCT của mỗi người Số cán bộ, công chức trên 50 tuổi chiếm tỷ
lệ khá cao trong tổng số cán bộ, công chức của toàn tỉnh Đây là những người
có thâm niên công tác, có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn quản lý nhà nước