1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại việt nam

64 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 651,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là một trong những lĩnh vực có độ nhạy cảm cao nhất, chịu nhiều tác động trực tiếp, gián tiếp từ những khó khăn nội tại của nền kinh tế cũng như nhữn

Trang 1

-

VÕ THỊ DIỄM PHÚC

TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

-

VÕ THỊ DIỄM PHÚC

TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành:Tài chính - Ngân hàng

Trang 3

Mục lục

Danh mục hình vẽ

Danh mục bảng biểu

Danh mục viết tắt

CHƯƠNG 1: TỒNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu và lý do nghiên cứu: 1

1.2Mục tiêu nghiên cứu: 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 3

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu: 5

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu: 5

1.7 Bố cục của đề tài: 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

2.1 Hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM: 7

2.2 Khái niệm lợi nhuận của NHTM: 9

2.3 Đánh giá và đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng: 9

2.4 Tăng trưởng tín dụng ngân hàng: 12

2.4.1 Khái niệm tín dụng của NHTM : 12

2.4.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng: 13

2.4.3 Khái niệm tăng trưởng tín dụng NHTM: 13

2.4.5 Vai trò của tăng trưởng tín dụng đối với NHTM: 14

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuân ngân hàng: 15

2.5.1 Rủi ro ngân hàng: 15

2.5.2 Quy mô ngân hàng: 17

Trang 4

ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi

Không có sản phẩm, nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Trang 5

2.5.5 Tăng trưởng kinh tế: 20

2.6 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài: 21

2.6.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài: 21

2.6.2 Các công trình nghiên cứu trong nước: 22

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Quy trình nghiên cứu : 24

3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu: 24

3.2.1 Mô hình nghiên cứu: 24

3.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu: 26

3.3 Mẫu nghiên cứu: 27

3.3.1 Mẫu nghiên cứu: 27

3.3.2 Thực trạng tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2006-2015: 28

3.5 Phương pháp nghiên cứu: 35

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

4.1 Thống kê mô tả các biến 36

4.2 Ma trận hệ số tương quan các cặp biến: 38

4.3 Kiểm định phương sai sai số thay đổi: 39

4.4 Kết quả hồi quy bằng phương pháp ước lượng GMM: 40

4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu: 41

4.5.1 Tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận ngân hàng: 41

4.5.2 Rủi ro và lợi nhuận ngân hàng: 43

4.5.3 Quy mô và lợi nhuận ngân hàng : 44

4.5.4 Chi phí hoạt động và lợi nhuận ngân hàng: 45

Trang 6

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 Kết luận : 48

5.2 Kiến nghị: 49

5.3 Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu sau: 50

DANH MỤC THAM KHẢO: 1

A Tiếng Anh

B Tiếng Việt

Phụ lục:

1 Thống kê mô tả các biến

2 Ma trận hệ số tương quan

3 Kiểm đinh VIF

4 Kiểm đinh hồi quy OLS

5 Kiểm định phương sai sai số thay đổi của mô hình hồi quy OLC

6 Kiểm định hồi quy FEM

7 Kiểm định phương sai sai số thay đổi của mô hình hồi quy FEM

8 Kiểm định hồi quy REM

9 Kiểm định phương sai sai số thay đổi của mô hình hồi quy REM

10 Kiểm định hồi quy phương pháp GMM

Trang 7

Hình 2.2 Giá nhà ở TPHCM và Hà Nội trong giai đoạn 2006-2007 Hình 2.3: Lạm phát và tăng trưởng tín dụng từ 2006-2011

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1 Mô tả các biến phụ thuộc và các biến độc lập

Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến

Bảng 4.3 ma trận hệ số tương quan

Bảng 4.4 Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi

Bảng 4.5 Kết quả hồi quy

Bảng 4.6 Kết quả kiểm đinh giả thuyết

DANH MỤC VIẾT TẮT

NH : Ngân hàng

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

NHNN : Ngân hàng nhà nước

TCTD : Tổ chức tín dụng

BCTC : Báo cáo tài chính

ROE : Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân

ROA : Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân

BĐS : Bất động sản

Trang 8

CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu và lý do nghiên cứu:

Ngân hàng thương mại (NHTM) là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải tác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội ( TS.Nguyễn Đăng Dờn, 2009)

Chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế của VN bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ Nhưng hiện nay hai thị trường này đang phát triển không đồng nhất, được biểu hiện rõ nét ở con số tổng tài sản của hệ thống NH chiếm tới 86% tổng tài sản của các định chế tài chính Con số này cho thấy nguồn lực đầu tư cho nền kinh tế chủ yếu do các NH đảm nhận Nền kinh tế đang dựa phần lớn vào hệ thống NH Trong khi đó, NH với nhiệm vụ là dịch vụ và cung cấp vốn ngắn hạn lại phải cho vay vay trung và dài hạn để doanh nghiệp đầu tư Tại nhiều nước có trình

độ phát triển cao hơn Việt Nam, ở cả khu vực và trên thế giới, nguồn lực đầu tư cho nền kinh tế là nhiệm vụ được đặt trọng tâm cho thị trường chứng khoán và thị

trường trái phiếu Nhưng tại VN thì vốn cung ra nền kinh tế của ngân hàng chiếm 70-80%, 10-15% là chứng khoán, còn lại là trái phiếu

Vai trò của nguồn vốn vẫn đang đè nặng lên hệ thống ngân hàng Hệ thống ngân hàng thực sự là kênh dẫn vốn quan trọng, đặc biệt là vốn cho đầu tư phát triển trong các lĩnh vực công nghiệp, giao thông vận tải, điện lực, viễn thông, dầu khí, chế biến nông sản, phát triển nông nghiệp nông thôn NHTM có vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính của quốc gia, giúp nền kinh tế huy động, phân bổ nguồn vốn hiệu quả với chi phí thấp Tại Việt Nam, trong điều kiện thị trường vốn mới hình thành, cơ sở pháp lý và công cụ của thị trường còn chưa đầy đủ thì nhu cầu vốn của nền kinh tế được đáp ứng chủ yếu thông qua hệ thống NHTM Bên cạnh đó trong so sánh với các khu vực khác trên thế giới cho thấy, nền kinh tế VN phụ thuộc

Trang 9

vào vốn ngân hàng cao hơn nhiều so với các nước trong nhóm thu nhập thấp, thu nhập trung bình thấp Nguồn thu nhập của ngân hàng cũng chủ yếu đến từ hoạt động cho vay

Trong những năm qua, tín dụng ngân hàng đã có những đóng góp đáng kể trong tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, thông qua việc tài trợ vốn cho nhiều dự án đầu tư thuộc các ngành, các lĩnh vực kinh tế, đóng góp không nhỏ vào quá trình đổi mới, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Đo lường tăng trưởng tín dụng là hoạt động rất quan trọng của hệ thống NHTM Việt Nam Vì sự an toàn và hiệu quả của hoạt động cấp tín dụng có vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM Lợi nhuận đến

từ hoạt động cấp tín dụng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong các hoạt động của một ngân hàng Mặc dù vậy, điều này không có nghĩa là tăng trưởng tín dụng ngân hàng càng cao sẽ càng mang lại nhiều lợi nhuận Thực tế thời gian qua, nhất là trong các năm 2007-2010, tín dụng ngân hàng quá nóng đã được coi là một trong những tác nhân đẩy lạm phát tăng cao, gây bất ổn đối với nền kinh tế Khi nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái, các thị trường tài sản bị đóng băng đã khiến cho các ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, thâm chí có thể rơi vào tình trạng phá sản Đây cũng được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ nợ xấu rất cao, ảnh hưởng đến sự an toàn của toàn hệ thống ngân hàng

Ngoài ra, lĩnh vực tiền tệ ngân hàng là một trong những lĩnh vực có độ nhạy cảm cao nhất, chịu nhiều tác động trực tiếp, gián tiếp từ những khó khăn nội tại của nền kinh tế cũng như những tác động bên ngoài, do vậy ổn định tiền tệ, ổn định hệ thống ngân hàng được xem như là nội dung chủ chốt quan trọng, chính yếu trong ổn định hệ thống tài chính Ổn định tài chính là “một trạng thái trong đó hệ thống tài chính gồm các trung gian tài chính, thị trường và hạ tầng tài chính có khả năng chống đỡ được các cú sốc và những rủi ro do sự mất cân đối tài chính gây ra từ đó làm giảm bớt khả năng sụp đổ của các trung gian tài chính vốn có tác động tiêu cực đối với việc phân bổ tiết kiệm và đầu tư” Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng vẫn đóng vai trò cốt lõi trong hệ thống tài chính với tổng quy mô tín dụng của hệ thống ngân hàng chiếm trên 80% tổng vốn cung ứng ra nền kinh tế hàng năm Do đó, tính

Trang 10

ổn định của hệ thống ngân hàng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định khu vực tài chínhvà chịu sự điều hành của NHNN để đạt được mục tiêu ổn định nền kinh tế

Thông qua sự phát triển và phân hoá mạnh mẽ của hệ thống NHTM từ năm

2006 đến 2015 thì câu hỏi đặt ra là phải chăng giữa tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận của các NHTM có mối quan hệ với nhau? Và mối quan hệ đó là tốt hay xấu cho các NHTM Việt Nam

Do đó, bài luận văn chọn đề tài: “Tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận của các NHTM Việt Nam” Đây là lý do nghiên cứu của luận văn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu:

Trọng tâm của bài luận văn là tìm hiểu mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận của các NHTM Việt Nam Vấn đề nghiên cứu này sẽ hướng đến

và mong muốn đạt được kết quả sau:

- Xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận của các NHTM Việt Nam Từ đó, giúp các NHTM Việt Nam tối đa lợi nhuận nhưng vẫn phải đảm bảo được những quy định của NHNN về ổn định nền kinh tế Các NHTM cân nhắc tối đa lợi nhuận thông qua việc gia tăng cấp tín dụng sẽ gây ra những rủi

ro ngân hàng Từ đó, các ngân hàng thận trọng trong việc quyết định đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro

- Xem xét các yếu tố khác ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM Việt Nam để từ đó duy trì hay cải thiện sự ảnh hưởng đó để tối đa lợi nhuận

1.3 Câu hỏi nghiên cứu:

Với mục tiêu đã nêu trên, nghiên cứu tập trung cho việc trả lời các câu hỏi sau:

- Có hay không mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với lợi nhuận của các NHTM Việt Nam ?

Trang 11

Việt Nam, không bao gồm các NHTM có nguồn gốc nước ngoài, liên doanh và các NHTM đã bị sáp nhập, hợp nhất, thành lập mới, đang bị kiểm soát đặc biệt hoặc mua lại 0 đồng trong giai đoạn 2006 đến 2015

1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng phương pháp định lượng hồi quy dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp của 15 NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ 2006 đến 2015 với tổng số 150 quan sát

Thời gian nghiên cứu từ 2006-2015 cho thấy sự khác nhau giữa các giai đoạn tăng trưởng tín dụng Giai đoạn phát triển nhất của hệ thống NHTM VN là giai đoạn 2006-2007, sau đó là giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 2008 và ảnh hưởng của khủng hoảng đến cuối năm 2012, và cuối cùng là giai đoạn phục hồi từ 2013-

2015 Xem xét trong các giai đoạn này để so sánh và lý giải cho mối quan hệ tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận ngân hàng thông qua các dữ liệu nghiên cứu cụ thể

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập chủ yếu qua website của các NHTM Việt Nam, website của ngân hàng nhà nước … Cụ thể, các dữ liệu kế toán được lấy từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các NHTM, được tải

từ các trang web trên

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu:

Bài nghiên cứu đưa ra được kết luận mang tính tham khảo về mối quan hệ của tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận của các NHTM Việt Nam Từ đó, các ngân hàng cân nhắc khi gia tăng hoạt động tín dụng và đưa ra các giải pháp cụ thể để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động cấp tín dụng

1.7 Bố cục của đề tài:

Bài luận được trình bày gồm 5 chương:

Trang 12

- Tăng trưởng tín dụng có mối quan hệ đồng biến hoặc nghịch biến với lợi nhuận của các NHTM Việt Nam ?

- Một số yếu tố khác ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM Việt Nam ra sao?

1.4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: bài luận tập trung nghiên cứu về tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam Không bao gồm các ngân hàng sát nhập, liên doanh, đang trong tình trạng kiểm soát đặc biệt và NHNN mua lại 0 đồng trong phạm vi nghiên cứu theo thời gian từ năm 2006- 2015

Giai đoạn từ năm 2006 đến nay, hệ thống NHTM có nhiều biến động từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, hoạt động thâu tóm, hợp nhất, sáp nhập, thành lập mới diễn ra phức tạp… vì vậy, báo cáo tài chính của các NHTMCP bị thâu tóm hay bị sáp nhập, hợp nhất, thành lập mới không được công bố, bị thay đổi hoặc không còn thông tin

Các NHTM có nguồn gốc nước ngoài, ngân hàng liên doanh là các ngân hàng có thế mạnh về công nghệ, kinh nghiệm quản trị rủi ro, tầm nhìn xa, nguồn vốn rẻ… và hoạt động theo mô hình chi nhánh thuộc tập đoàn ngân hàng, tài chính

đa quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó, một số NHTM nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam chủ yếu phục vụ cho các tập đoàn, công ty của quốc gia họ hoạt động tại Việt Nam, hạn chế cấp dịch vụ cho các khách hàng trong nước nên mục tiệu lợi nhuận chưa phải là quan trọng nhất

Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung xem xét, phân tích tăng trưởng tín dụng đối với lợi nhuận của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ 2006 đến 2015

Dữ liệu sử dụng là dữ liệu bảng (data panel) cân bằng nên thời gian của dữ liệu phải

có ít nhất 03 năm Qua những yêu cầu trên, do giai đoạn từ năm 2006 đến nay, hệ thống NHTM có nhiều biến động từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, hoạt động thâu tóm, hợp nhất, sáp nhập, thành lập mới trong hệ thống NH diễn ra phức tạp… Vì vậy, luận văn chỉ thực hiện nghiên cứu trên một mẫu gồm 15 NHTM

Trang 13

Chương 1: Đặt vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài, vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và ứng dựng của đề tài, cuối cùng là bố cục của luận văn

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về ngân hàng thương mại, hiệu quả kinh doanh ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, các yếu tố khác ảnh hưởng đến lợi nhuận, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và cuối cùng trình bày các nghiên cứu trước có liên quan

Chương 3: Xây dựng khung tiếp cận nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Trong chương này cũng sẽ trình bày rõ phương pháp nghiên cứu, cách thức chọn mẫu và cách đo lường các biến nghiên cứu

Chương 4: Thể hiện kết quả nghiên cứu và những thảo luận từ kết quả nghiên cứu Trong chương này, các giả thuyết nghiên cứu trong chương 2 sẽ được chấp nhận hay bác bỏ và giải thích tăng trưởng tín dụng, các yếu tố khác có mối quan hệ, tác động đến lợi nhuận của NHTM

Chương 5: Kết luận, kiến nghị, các hạn chế trong đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 14

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài, chương 2 sẽ trình bày các nội dung như lý thuyết về kinh doanh cơ bản của NHTM, làm rõ các khái niệm về lợi nhuận ngân hàng,tín dụng, đánh giá lợi nhuận cuả các NHTM, vai trò tín dụng đối với NHTM, các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM như rủi ro ngân hàng, quy mô, chi phí hoạt động, tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng kinh tế Trong chương

2 trình bày về những công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến

đề tài

2.1 Hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM:

Ngân hàng có cả chức năng nhận tiền gửi và tạo ra các khoản vay

(Choudhry, 2011), đây là tính năng giúp phân biệt giữa ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính khác Casu cùng nhóm nghiên cứu (2006) cho rằng các ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa người vay và người gửi tiền tiết kiệm Theo Luật Các Tổ chức Tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành tại Việt Nam ngày 16/6/2010, ngân hàng được định nghĩa là một loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng, bao gồm nhận tiền gửi và cấp tín dụng Ngân hàng thương mại là được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

Các khoản tiền gửi là tài sản nợ của ngân hàng Các khoản tiền này có hai dạng Thứ nhất là tài khoản vãng lai (ở Mỹ gọi là tài khoản séc) Đối với loại tài khoản này, người ta có thể ghi séc và các khoản tiền có thể được rút ra ngay lập tức theo yêu cầu Thứ hai là tài khoản tiền gửi hay tài khoản tiết kiệm Một số tài khoản tiền gửi đòi hỏi phải có thời gian thông báo trước khi tiền có thể được rút ra: những

Trang 15

tài khoản này được gọi là tài khoản tiền gửi có kỳ hạn hay tài khoản thông báo trước NHTM trả lãi cho các khoản tiền huy động Lãi suất trả cho những tài khoản

có kỳ hạn cao hơn so với các tài khoản vãng lai, tức là những tài khoản mà tiền có thể được rút ngay lập tức Tiền gửi có thể được chia làm hai loại: tiền gửi có thể viết chi phiếu và tiền gửi không giao dịch Tiền gửi có thể viết chi phiếu (còn gọi là tiền gửi giao dịch) là các tài khoản ngân hàng cho phép người gửi rút tiền hoặc chuyển tiền sang tài khoản khác theo yêu cầu Nhờ khả năng thanh toán bằng tiền mặt của các tài khoản này, chủ tài khoản sẵn sàng chấp nhận lãi suất thấp Do đó, tiền gửi có thể viết chi phiếu là nguồn chi ít nhất của tài chính ngân hàng (Burton & Brown, 2009) Bên cạnh đó, tiền gửi không giao dịch, bao gồm tài khoản tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, chiếm tỉ lệ quan trọng đối với tài chính ngân hàng Do người gửi không được viết phiếu chi cho các tài khoản tiết kiệm và tài khoản có kỳ hạn nên lãi suất chi đối với tiền gửi không giao dịch sẽ cao hơn so với tiền gửi giao dịch (Singh

& Dutta, 2013)

Sau đó, NHTM dùng tài sản có này để cấp tín dụng dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác

NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân Tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các TCTD khác

Khác khoản cấp tín dụng là tài sản có của ngân hàng Phần lớn các tài sản nợ của ngân hàng đều có kỳ hạn ngắn hơn và lãi suất cao hơn so với tài sản có Các khoản cho vay chiếm hơn một nửa tổng tài sản và là loại hình tài sản ngân hàng lớn nhất Theo Mishkin và Eakins (2012), các ngân hàng tạo ra lợi nhuận chủ yếu nhờ bán các khoản cho vay Các ngân hàng kiếm lợi nhuận từ mức chênh lệch giữa lãi suất phải trả và lãi suất nhận được

Trang 16

NHTM cung cấp hoạt động thanh toán và ngân quỹ NHTM được cung ứng các phương tiện thanh toán Các NHTM cung cấp dịch vụ thanh toán thông qua hệ thống thanh toán bù trừ bằng cách phối hợp để thanh toán, các ngân hàng giúp cá nhân và công ty thực hiện các giao dịch Ngân hàng thu phí từ các hoạt động ngân quỹ, dịch vụ thu hộ và chi hộ

Ngoài ra, các NHTM tạo ra lợi nhuận từ việc mua bán chứng khoán, bảo hiểm thông qua tài trợ bởi các công ty tài chính, quỹ tương hỗ, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm

2.2 Khái niệm lợi nhuận của NHTM:

Thái Văn Đại (2014) cho rằng, cũng như một doanh nghiệp, lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM và nó được quyết định bởi mức lãi thu được từ các khoản cho vay và đầu tư, bởi nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, bởi quy mô, chất lượng và thành phần của các tài sản có

Lợi nhuận của một ngân hàng được tính bằng sự chênh lệch giữa thu và chi của ngân hàng đó

Lợi nhuận ngân hàng = Thu – chi Các khoản chi từ nợ phải trả thường là các chi phí phát sinh trong hoạt động ngân hàng, gồm thanh toán lãi suất từ nợ phải trả, chủ yếu là tiền gửi, và các khoản chi không lãi suất khác như các khoản cho vay để bù lỗ, chi phí vận hành và thuế Các khoản thu xuất phát từ khía cạnh tài sản của bảng cân đối kế toán, bao gồm thu nhập từ lãi trên tài sản, cụ thể là các khoản cho vay, và thu nhập không lãi, gồm thu nhập từ các khoản đầu tư, lệ phí và tiền hoa hồng khác (Casu cùng nhóm nghiên cứu, 2006)

2.3 Đánh giá và đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng:

Lợi nhuận ròng là con số giúp các cổ đông nắm bắt được hiệu quả hoạt động của một ngân hàng vào cuối năm kế toán, bởi nó phản ánh số tiền ngân hàng đó giữ

Trang 17

lại được thông qua lợi nhuận chưa phân phối hay chi trả cổ tức Mặc dù vậy, vẫn có một giới hạn nhất định về số liệu lợi nhuận ròng Rất khó có thể dùng lợi nhuận ròng làm phương thức so sánh hiệu suất và hiệu quả giữa các ngân hàng với nhau bởi nó không được điều chỉnh theo quy mô ngân hàng

Phương thức thông dụng nhất để đo lường lợi nhuận ngân hàng và có thể khắc phục những hạn chế của lợi nhuận ròng là thông qua hệ số thu nhập trên tài sản (ROA) và hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) (Mishkin & Eakins,

2012) Các chỉ số lành mạnh tài chính (FSIs) là nhóm chỉ số do nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã xây dựng một khung chuẩn mực quốc tế với 12 lĩnh vực cần được đánh giá trong hệ thống tài chính, theo đó đánh giá khu vực ngân hàng được tiến hành trên các nguyên tắc giám sát cơ bản của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng hiệu quả Trong FSIs, nhóm đánh giá về thu nhập và lợi nhuận ngân hàng bao gồm 2 chỉ tiêu là: Lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)

ROA cho biết quản lý ngân hàng đã sử dụng tổng số tài sản (khoản vay và khoản đầu tư) tạo ra thu nhập tốt đến mức nào, hoặc bao nhiêu lợi nhuận được tạo

ra từ mỗi đồng đô la trong tài sản (Center for Financial Training, 2010)

Mặc dù ROA cung cấp thông tin hữu ích về lợi nhuận của ngân hàng nhưng

nó không phải chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận mà chủ sở hữu ngân hàng quan tâm phần lớn Họ quan tâm nhiều hơn về số tiền mà ngân hàng thu được từ đầu tư vốn cổ phần của họ được đo bằng lợi nhuận trên vốn cổ phần ROE (Mishkin, 2012)

ROE cho thấy ngân hàng kiếm được bao nhiêu lợi nhuận so với vốn cổ phần của các cổ đông (Petkovski, 2009)

ROE chính là chỉ số phản ánh hiệu quả của vốn chủ sở hữu, đo lường hiệu quả đầu tư của vốn chủ sở hữu, phản ánh được khả năng tạo ra được lợi nhuận từ một đồng vốn mà nhà đầu tư đầu tư vào ngân hàng và luôn nhận được sự quan tâm rất lớn từ các nhà đầu tư ( Lê Tấn Phước, 2016)

Trang 18

Việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM thông qua tỷ số ROE phải được xem xét qua nhiều thời kỳ khác nhau để thấy được xu hướng phát triển và quy luật vận động của chúng Ngoài ra, việc nghiên cứu còn phải dựa vào thực tiễn hoạt động của chính ngân hàng đang phân tích, đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích, từ đó dễ dàng xác định nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu,

từ đó dễ dàng tìm ra các biện pháp phù hợp (Thái Văn Đại, 2014)

ROE thường được biểu diễn dưới hai dạng, bao gồm dạng cơ bản và dạng

mở rộng Tùy vào mục đích phân tích mà sử dụng dạng thức cho phù hợp Tuy nhiên, cả hai dạng này đều bắt nguồn từ việc triển khai chỉ tiêu ROE (tỷ lệ lợi

nhuận/vốn chủ sở hữu) Dupont được triển khai dưới dạng cơ bản:

Hay

Như vậy, qua khai triển chỉ tiêu ROE có thể thấy chỉ tiêu này được cấu thành bởi ba yếu tố chính Thứ nhất là tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu - Đây là yếu tố phản ánh trình độ quản lý doanh thu và chi phí của ngân hàng Thứ hai là, vòng quay toàn bộ vốn (vòng quay tài sản) - Đây là yếu tố phản ánh trình độ khai thác và sử dụng tài sản của ngân hàng Thứ ba là, hệ số vốn/vốn chủ sở hữu (hệ số

Trang 19

nợ) - Đây là yếu tố phản ánh trình độ quản trị tổ chức nguồn vốn cho hoạt động của ngân hàng

ROE giúp chúng ta hiểu lợi nhuận những cải tiến đạt được thông qua cải tiến trong yếu tố liên quan đến lợi nhuận như tinh giản quản lý, tăng cường thu nhập lãi cho vay, và tăng phí kinh doanh.( Masazumi Hattori và cộng sự, 2007) Đây là điều

mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang hướng đến

Do đó, ROE là chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá lợi nhuận của các NHTM Việt Nam trong bài luận văn Vì nó phù hợp với tình hình thực tế của các NHTM

VN

2.4 Tăng trưởng tín dụng ngân hàng:

2.4.1 Khái niệm tín dụng của NHTM :

Theo Ts Nguyễn Minh Kiều (2008): “ Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác trong một khoảng thời gian nhất định với một khoảng chi phí nhất định ”

Theo điều 4, luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”

Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay), sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu

Vậy: Tín dụng NHTM là quan hệ vay mượn phát sinh từ việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thực hiện cho vay đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân, dân cư với những điều kiện và trong một thời gian nhất đinh

mà hai bên đã thỏa thuận dựa trên nguyên tắc có hoàn trả

Trang 20

- Giá trị hoàn trả bao gồm cả vôn gốc, lãi và phí tín dụng

Sự chuyển nhượng phải dựa trên cơ sở pháp lý như hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng Trong đó khách hàng cam kết với Ngân hàng hoàn trả khi đến hạn

2.4.3 Khái niệm tăng trưởng tín dụng NHTM:

Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ, quy

mô sản lượng của nền kinh tế trong thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Quy mô và

tốc độ tăng trưởng là cặp đôi trong nội dung khái niệm tăng trưởng

Trong phép duy vât biện chứng cho rằng khái niệm tăng trưởng dùng để chỉ quá trình biến đổi theo chiều hướng tăng lên đơn thuần về lượng của sự vật; nó không phản ánh quá trình biến đổi theo chiều hướng nâng cao về chất của sự vật

Theo Nguyễn Văn Tiến (2013) : “ Tăng trưởng tín dụng là việc các NHTM

sử dụng các chính sách nhằm tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân…có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị trường”

Như vậy, tăng trưởng tín dụng được hiểu là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô dư nợ tín dụng của ngân hàng trong thời gian nhất định

Theo công văn 16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/4/2007, quy định về cách ghi

Trang 21

nhận các khoản cho vay khách hàng là khoản chênh lệch giữa số dư nợ kì này và số

dư nợ kỳ trước của các tài khoản cho vay khách hàng

Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%) = - x 100%

Dư nợ năm trước

Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng

2.4.5 Vai trò của tăng trưởng tín dụng đối với NHTM:

Tín dụng đóng vai trò quan trọng trong sự lưu thông tiền tệ của nền kinh tế Bên cạnh vai trò quan trọng này, tín dụng cũng gây ra sự mất cân đối giữa tiền và hàng, tạo nên hậu quả lạm phát cao Một trong những chỉ tiêu mà các nhà điều hành chính sách tiền tệ quan tâm đó chính là tốc độ tăng trưởng tín dụng, phản ảnh dư nợ tín dụng của toàn bộ nền kinh tế thời điểm hiện tại so với trước đó là bao nhiêu phần trăm

Đối với ngân hàng, cấp tín dụng là một hoạt động tạo sự khác biệt so với các doanh nghiệp Ngoài nghiệp vụ huy động vốn, trung gian thanh toán thì nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ quan trọng Nếu không có nghiệp vụ cho vay sẽ không thực hiện được chức năng ngân hàng để điều chuyển vốn cho nền kinh tế Tăng trưởng tín dụng đối với ngân hàng xem xét được về số lượng, chất lượng nguồn vốn mà ngân hàng cung cấp ra nền kinh tế sẽ được hấp thụ vốn ở mức độ nào Từ đó điều chỉnh các chính sách và sản phẩm tín dụng

Thu nhập từ hoạt động tín dụng luôn chiếm phần lớn trong doanh thu của ngân hàng thương mại Sự tăng giảm tín dụng cũng ảnh hưởng đến doanh thu của NHTM Mức sụt giảm tín dụng không có nghĩa là nền kinh tế cần ít tiền hơn mà vẫn tăng trưởng, mà đơn giản chỉ là nền kinh tế không còn cần tiền ngân hàng và phụ thuộc hoàn toàn như trước Nói một cách khác, hệ thống ngân hàng nội địa đang tự

Trang 22

đánh mất dần vai trò của nó như một kênh cung ứng vốn thống lĩnh cho kinh tế phát triển

Theo Chỉ thị của thống đốc của ngân hàng nhà nước ngày 20 tháng 04 năm

2005 quy định tốc độ tăng trưởng tín dụng phải phù hợp với tăng trưởng vốn huy động thực tế, mục tiêu tín dụng đề ra từ đầu năm và khả năng kiểm soát chất lượng tín dụng; đảm bảo vốn khả dụng cho các nhu cầu thanh toán, an toàn hoạt động kinh doanh Tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hay chậm đều phụ thuộc vào chính sách tiền tệ từng thời điểm cộng với chiến lược kinh doanh của các NHTM sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Trong thời gian gần đây dư nợ tín dụng phổ biến tập trung vào tăng khối lượng tín dụng hơn và chú trọng đến việc cải thiện chất lượng và mức

độ sinh lời Điều này hàm chứa rằng tăng trưởng dư nợ đã đi kèm với gia tăng các khoản nợ xấu trên thực tế, trong đó có một phần nợ xấu không được nhận dạng đầy

đủ thì hoạt động tín dụng và mức độ an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng sẽ xấu đi ( nguồn: Ngân hàng nhà nước)

Đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tăng trưởng tín dụng luôn

là vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi tín dụng tăng trưởng một cách hợp lý và chất lượng sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định và an toàn cho ngân hàng Tín dụng là hoạt động quan trọng và mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng thương mại Tăng trưởng tín dụng hằng năm của ngân hàng thương mại được quyết định dựa trên chính sách kinh tế và mục tiêu của ngân hàng thương mại mỗi thời kỳ Tăng trưởng tín dụng phải đi kèm với chất lượng tín dụng

2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuân ngân hàng:

2.5.1 Rủi ro ngân hàng:

Rủi ro trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là những tổn thất có thể xảy ra trong hoạt động ngân hàng Một nguy cơ phổ biến là rủi ro tín dụng: khả năng người đi vay không thể hoàn trả nợ Rủi ro này có xu hướng tích tụ trong

Trang 23

những giai đoạn thịnh vượng, khi ngân hàng nới lỏng các tiêu chí cho vay, và những khó khăn chỉ lộ rõ khi suy thoái xảy ra (Tài chính phát triển, trang 2)

Sử dụng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng đối với tổng tài sản kiểm soát rủi ro tín dụng của từng ngân hàng Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng là một tỷ lệ thuận đo lường chất lượng khoản vay của các ngân hàng, phản ánh đánh giá chất lượng

khoản vay (Mergaerts and Vander Vennet,2016)

Rủi ro tín dụng là những khoản nợ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho khách hàng Nó gắn bó chặt chẽ với chất lượng tín dụng, rủi ro tín dụng càng cao thì chất lượng tín càng giảm và ngược lại Rủi ro ngân hàng gây ra tổn thất

do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Và để

dự phòng cho những tốn thất xảy ra, ngân hàng luôn trích lập những khoản tiền và được xem như là chi phí hoạt động

Tại Viêt Nam, tỷ lệ trích dự phòng áp dụng cho tài sản “Có” đối với hoạt

động cấp tín dụng:

 Nhóm 1: 0%

Bao gồm: Những khoản cho vay chưa đến hạn trả nợ (kể cả kỳ hạn nợ gia hạn), những khoản tiền chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác chưa đến hạn thanh toán, những khoản cho thuê tài chính chưa đến hạn trả tiền thuê

 Nhóm 2: 20%

Bao gồm: Những khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ dưới 181 ngày; những khoản cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả

nợ dưới 91 ngày, Những khoản tiền chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy

tờ có giá ngắn hạn khác đã quá hạn thanh toán trong thời gian dưới 31 ngày , Số tiền trả thay cho người được bảo lãnh nhưng chưa thu hồi được trong thời gian dưới 61 ngày và Những khoản cho thuê tài chính mà bên thuê không trả được tiền thuê trong thời gian dưới 181 ngày

 Nhóm 3: 50%

Trang 24

Bao gồm: Những khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ

từ 181 ngày đến dưới 361 ngày; những khoản cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ từ 91 ngày đến dưới 181 ngày, Những khoản tiền chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã quá hạn thanh toán

từ 31 ngày đến dưới 61 ngày, Số tiền trả thay cho người được bảo lãnh nhưng chưa thu hồi được trong thời gian từ 61 ngày đến dưới 181 ngày và Những khoản cho thuê tài chính mà bên thuê không trả được tiền thuê từ 181 đến dưới 361 ngày

 Nhóm 4: 100%

Bao gồm: Những khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ

từ 361 ngày trở lên; những khoản cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ từ 181 ngày trở lên, những khoản tiền triết khấu, tái triết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã quá hạn thanh toán từ 61 ngày trở lên,

số tiền trả thay cho người được bảo lãnh nhưng chưa thu hồi được từ 181 ngày trở lên và Những khoản cho thuê tài chính mà bên thuê không trả được tiền thuê từ 361 ngày trở lên

Các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng có thể coi là một rủi ro cho ngân hàng, quan hệ đánh đổi giữa lợi nhuận ngân hàng và rủi ro ngân hàng

Nghiên cứu của Cormac Brycea và cộng sự (2015) khoản dự phòng rủi ro đóng vai trò như là một ước tính tốt nhất của các nhà quản lý ngân hàng về những khoản lỗ dự kiến trên danh mục cho vay khi khách hàng vỡ nợ

Ana Rosa Fonseca và Francisco Gonza´lez (2007) nghiên cứu dựa trên dữ liệu của 3221 biến từ 40 quốc gia đã đưa ra kết quả giữa biến độc lập là dự phòng rủi ro ngân hàng và biến phụ thuộc lợi nhuận ngân hàng Biến dự phòng rủi ro ngân hàng có tương quan tích cực với lợi nhuận của ngân hàng

Kết quả trùng với nghiên cứu của Greenawalt and Sinkey (1988) and Wahlen (1994) về mối quan hệ tương quan giữa dự phòng rủi ro và thu nhập của ngân hàng

ở các ngân hàng ở Mỹ

2.5.2 Quy mô ngân hàng:

Trang 25

Theo Alicia García-Herrero và cộng sự (2006), quy mô tổng tài sản được coi

là một yếu tố quyết định liên quan đến lợi nhuận nhưng không có sự đồng thuận về hướng ảnh hưởng Một mặt, ngân hàng có quy mô lớn sẽ tiết kiệm được chi phí vì tính kinh tế theo quy mô Và trong thực tế, ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn có nhiều cơ hội đa dạng hóa đầu tư hơn nên cho phép duy trì hoặc thậm chí tăng lợi nhuận trong khi giảm rủi ro Mặt khác, quy mô lớn cũng có thể hàm ý rằng ngân hàng gặp khó khăn hơn nhiều trong việc quản lý hoặc nó có thể là hậu quả của chiến lược phát triển mạnh mẽ trong thời gian ngắn của một ngân hàng

Đối với hoạt động ngân hàng, tài sản có thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc cấp tín dụng để thu được tài sản trong tương lai là tiền lãi Đồng thời lợi ích trong tương lai từ việc hoàn trả các khoản nợ phải trả do đặc trưng của hoạt động ngân hàng là huy động vốn

Tổng tài sản của ngân hàng càng lớn càng thể hiện sức mạnh của ngân hàng

và tạo uy tín đối với các chủ nợ (chủ nợ bao gồm chủ thể cho vay và người gửi tiền) Đồng thời, quy mô ngân hàng càng lớn càng thể hiện rủi ro phá sản thấp Do

đó, tổng tài sản của ngân hàng càng lớn càng có nhiều cơ hội trong huy động vốn đối với dân cư và các tổ chức kinh tế ( Lê Thị Tuấn Nghĩa, Phạm Mạnh Hùng) Các ngân hàng quy mô lớn thường ít khi gặp phải rủi ro nhờ khả năng đạt được số lượng sản phẩm lớn hơn cũng như có được sự đa dạng các khoản cho vay hơn so với các ngân hàng quy mô nhỏ Nhờ vậy, chi phí vốn của các ngân hàng này được giảm đi đáng kể, dẫn đến lợi nhuận cao hơn (Perera cùng nhóm nghiên cứu, 2013)

Stiroh and Rumble (2006) thì sử dụng logarit của tổng tài sản để kiểm soát sự khác biệt kích cỡ do các ngân hàng gây ra Các ngân hàng lớn hơn có thể có cơ hội tốt hơn để đa dạng hóa thu nhập khi họ có thể tiếp cận đến các thị trường mới và giảm biến động thu nhập

2.5.3 Chi phí hoạt động:

Ngân hàng thương mại là đơn vị kinh doanh Do vậy, mục tiêu cao nhất là lợi nhuận Về mặt lý thuyết, để tăng lợi nhuận ngân hàng có thể tăng thu nhập ròng từ

Trang 26

các hoạt động, giảm chi phí quản lý kinh doanh hoặc điều hành sao cho tốc độ tăng thu nhập ròng lớn hơn tốc độ tăng chi phí quản lý Xu hướng tăng dần tỷ trọng của các chi phí quản lý đã khiến các ngân hàng thương mại ngày càng quan tâm đến công tác quản lý chi phí này

Trong lý thuyết “Bad Management I”, Louzis và cộng sự (2012) cho rằng hiệu quả quản lý chi phí thấp có quan hệ đồng biến với sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu trong tương lai, đó là quản lý kém dẫn đến kỹ năng kém trong điểm số tín dụng, thẩm định tài sản đảm bảo và giám sát khách hàng vay Từ đó phát sinh các khoản vay mất khả năng thu hồi, tăng trích lập dự phòng và suy giảm lợi nhuận

Nghiên cứu Hyun E.Kim và Byung-Yoon Lee (2004) sử dụng tỷ số chi phí hoạt động trên tổng thu nhập để đo lường tác động của hiệu quả quản lý chi phí đến lợi nhuận Và kết quả cho thấy, việc quản lý chi phí một cách hiệu quả tác động rất lớn đến sự tăng trưởng lợi nhuận ngân hàng

Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động được dùng để đáng giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh, Nguyễn Thị Cành (2015) cho mức ý nghĩa cao giữa tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động Cho thấy rằng, hiệu quả hoạt động của NHTM được cải thiện thì khả năng sinh lời của NHTM cũng gia tăng Tức NHTM muốn gia tăng khả năng sinh lời thì cần kiểm soát tốt chi phí hoạt động của mình, nhất là chi phí liên quan đến nhân viên vì khoản mục ngày chiếm tỷ trọng cao nhất

Nghiên cứu của Lê Tấn Phước (2017) đưa ra những nhận định về tăng

trưởng tín dụng Đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tăng trưởng tín

Trang 27

dụng luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi tín dụng tăng trưởng một cách hợp lý và chất lượng sẽ tạo ra nguồn thu nhập ổn định và an toàn cho ngân hàng Do vậy, đánh giá mức độ của các yếu tố tác động đến tăng trưởng tín dụng là việc làm cần thiết, giúp các ngân hàng thương mại xây dựng một mức tăng trưởng hợp lý, có tác động hiệu quả đến nền kinh tế cũng như lợi nhuận của bản thân các ngân hàng Đồng thời bài nghiên cứu đã đưa ra số liệu chứng minh mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng tín dụng gợi ý về việc kiểm soát tỷ lệ lạm phát nhằm đạt được mục tiêu kinh tế, tăng trưởng tín dụng và an toàn của hệ thống

NHTM

Tăng trưởng tín dụng từng thời kỳ phải phù hợp với chính sách của NHNN

đề ra trong từng thời kì căn cứ trên tốc độ phát triển GDP và lạm phát Tỷ lệ lạm phát có mối quan hệ cùng chiều với tăng trưởng tín dụng và có cùng chiều với lợi nhuận ngân hàng thương mại

Đinh nghĩa về lạm phát là sự mất giá tiền tệ do cung tiền tăng nhanh hơn cầu tiền Lạm phát là ”hiện tượng quá nhiều tiền và quá ít hàng hóa”

Naceur và Kandil (2009) cùng Saeed (2013) lại nhận định tỉ lệ lạm phát và hiệu suất ngân hàng có tỉ lệ nghịch với nhau

Revell (1979) phát hiện ra rằng lạm phát cũng có thể là một yếu tố quyết định lên sự dao động của lợi nhuận ngân hàng Điều phải tính đến là sự chính xác của tỉ lệ lạm phát được dự báo, vì các ngân hàng thường dựa theo con số này để điều chỉnh lãi suất Từ đó, mối quan hệ giữa lợi nhuận và tỉ lệ lạm phát là không rõ ràng vì nó còn tùy theo liệu lạm phát có được dự báo hoàn toàn hay không (Perry, 1992) Cụ thể hơn, lạm phát đoán được trước có thể dẫn đến lãi suất thay đổi nhanh hơn so với chi phí lạm phát, do đó sinh lời nhiều hơn

2.5.5 Tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế liên quan đến sự gia tăng thu nhập quốc dân thực trên đầu người, nghĩa là sự gia tăng giá trị hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trên mỗi đầu người trong một nền kinh tế sau khi đã điều chỉnh lạm phát Đây là một số đo

Trang 28

mục tiêu tương đối về năng lực kinh tế Tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng chỉ

số tổng sản phẩm quốc nội (GDP) GDP là giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ của một nước tính trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm

Anbar và Alper (2012) cho rằng các ngân hàng thường hưởng lợi nhiều hơn

từ các nền kinh tế tăng trưởng cao hơn bằng cách cho vay nhiều hơn và tăng chất lượng tài sản ngân hàng

Tanna cùng cộng sự (2005) nghiên cứu trên 32 ngân hàng thương mại Anh cùng quan điểm về mối quan hệ cùng chiều giữa tăng trưởng kinh tế và lợi nhuận ngân hàng thương mại

2.6 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

2.6.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài:

Amador, J , González, J và Pabón, A (2013) cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng bất thường và nguy cơ của ngân hàng bằng cách

sử dụng dữ liệu từ học viện tài chính Colombia Bài nghiên cứu cho thấy sự tăng trưởng tín dụng bất thường trong một thời gian kéo dài dẫn đến sự gia tăng rủi ro của các ngân hàng, kèm theo giảm khả năng thanh toán và sự gia tăng tỷ lệ cho vay không hiệu quả đối với tổng dư nợ

Skala, D (2012) cho rằng tăng trưởng tín dụng được cho là có liên quan tích cực đến kinh tế vĩ mô tăng lên và đồng thời là một nhân tố thúc đẩy khủng hoảng ngân hàng Đối với một ngân hàng, tăng trưởng tín dụng phụ thuộc vào các yếu tố bên trong như thời gian đã trôi qua kể từ cuộc khủng hoảng nợ xấu cuối cùng và các yếu tố bên ngoài, như tăng trưởng tín dụng theo đuổi bởi đối thủ cạnh tranh Do đó, tăng trưởng tín dụng là một yếu tố quyết định diễn đạt cách tiếp cận ngân hàng đối với rủi ro tín dụng và đánh giá hiệu suất của ngân hàng trong tương lai

Rahman , N (2014) chỉ ra tầm quan trọng của khoản vay ngân hàng và là một trong đóng góp chính vào lợi nhuận của các ngân hàng Tuy nhiên, tăng trưởng

Trang 29

tín dụng cao và quy mô lớn tập trung cho vay đối với một số ngành kinh tế sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định của ngân hàng Nhận thức được những rủi ro mà các tổ chức ngân hàng phải đối mặt, nghiên cứu xem xét tác động của các hoạt động cho vay của các ngân hàng Malaysia Nghiên cứu này đưa ra giả thuyết rằng sự ổn định của ngân hàng phụ thuộc vào khoản vay hoạt động của ngân hàng Khi ngành ngân hàng

có quy định về quy định về vốn, nghiên cứu cũng điều tra tác động điều tiết của quy định về vốn trên quan hệ giữa các hoạt động cho vay và sự ổn định của ngân hàng Nghiên cứu về các ngân hàng thương mại Malaysia trong giai đoạn 2000-2012 đã cung cấp hỗn hợp kết quả về ảnh hưởng của hoạt động cho vay tới sự ổn định của ngân hàng Kết quả cho thấy mặc dù tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng nằm dưới chuẩn quốc tế Cho vay quá nhiều, tăng trưởng tín dụng đã làm tăng nguy cơ của các ngân hàng

Trong nghiên cứu của Alicia García-Herrero và cộng sự (2006) cũng chỉ ra nguyên nhân hệ thống ngân hàng Trung Quốc có lợi nhuận thấp hơn các nước khác

là do tốc độ tăng trưởng tín dụng quá cao trong khi khả năng quản lý rủi ro tín dụng gặp nhiều hạn chế, hiệu quả thấp mặc dù quy mô ngân hàng rất lớn

Nhìn chung các nghiên cứu trên đã đưa ra được quan điểm về tăng trưởng tín dụng, cơ cấu tín dụng, đặc biệt đã đưa ra một số phương pháp về kiểm định đánh giá tác động của tăng trưởng tín dụng Đây là nền tảng rất quan trọng giúp cho nghiên cứu tiếp theo

2.6.2 Các công trình nghiên cứu trong nước:

Lê Đỗ Hoàng Phúc (2015) cho rằng tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có mối quan hệ nghịch biến với ROE là phù hợp thực tế tình hình kinh tế vĩ mô và điều kiện thị trường Ngân hàng trong giai đoạn 2006 – 2013

Nguyễn Thị Minh Huệ (2012) đã đưa ra kết quả sau khi tính toán thì các NHTM Việt Nam có thu nhập chủ yếu từ lãi, chưa năng động trong việc đa dạng hóa kinh doanh tìm kiếm các nguồn thu nhập khác, điều này cũng phù hợp vì thị trường tài chính của Việt Nam chưa phát triển, nhiều ngân hàng mới thành lập còn

Trang 30

non trẻ, chưa có kinh nghiêm tham gia các hoạt động khác như hoạt động dịch vụ, mua bán chứng khoán, kinh doanh vàng…

So sánh với các nghiên cứu trước:

Kết luận:

Lợi nhuận là mục tiêu kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại Chức năng cung ứng tiền ra nền kinh tế là một trong những hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận lớn cho các NHTM Tăng trưởng tín dụng càng cao mang lại càng nhiều lợi nhuận và đi đôi là rủi ro mang lại cho NHTM Bên cạnh đó, nhiều yếu tố cũng tác động đến lợi nhuận của NHTM bao gồm tự nội tại của ngân hàng và chính sách ổn định kinh tế của nhà nước theo từng thời kỳ

Trang 31

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong chương 3, đề tài sẽ trình bày các nội dung như quy trình nghiên cứu,

mô hình và giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cuối cùng là phương

pháp xử lý dữ liệu

3.1 Quy trình nghiên cứu :

Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Bước 2: Xây dựng cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu, lý luận, các công trình nghiên cứu trước Từ đó đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu

Bước 3: Thu thập dữ liệu và xử lý số liệu nghiên cứu

Bước 4: Phân tích dữ liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu dựa vào cơ sở lý thuyết đã trình bày kết hợp với tình hình thực tế để đưa ra những nhận định, kết luận và kiến nghị

3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu:

3.2.1 Mô hình nghiên cứu:

Dựa trên các mô hình nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đó, đề tài kế thừ và đưa ra mô hình nghiên cứu như sau:

LNit = α + β1CREDITit + β2 RISKit + β3SIZEit + β4COSTit + β5 INFLATIONit+ β6GROWTHit + eit

Trang 32

Bảng 3.1: Mô tả các biến phụ thuộc và biến độc lập

Tên biến Ký hiệu Công thức tính Kỳ

vọng dấu

Theo nghiên cứu trước

1 Biến phụ thuộc (Lợi nhuận)

ROAE Tỷ suất (%) lợi

nhuận sau thuế/

vốn chủ sở hữu bình quân của NHTMCP (giá trị sổ sách)

(Vốn chủ sở hữu bình quân = (Vốn chủ sở hữu đầu kỳ + vốn chủ sở hữu cuối kỳ)/2)

Biến phụ thuộc

Johnson va Lee (1994), Nier and Zicchino (2006), Burcu Aydin (2008)

kì trước

(+) Johnson va Lee

(1994), Nier and Zicchino (2006), Burcu Aydin (2008) Rủi ro ngân

Ngày đăng: 05/12/2017, 23:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm