1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG”, SINH HỌC LỚP 11, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (file word có thể chỉnh sửa)

148 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ KIM NGÂN TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG”, SINH HỌC LỚP 11, TRUNG HỌ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ KIM NGÂN

TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG

“CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG”, SINH HỌC LỚP 11, TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN SINH HỌC)

Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học : TS NGÔ VĂN HƯNG

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

Dạy học tích hợpGiáo dục môi trườngGiáo viên

Học sinhMôi trườngSách giáo khoaTrung học cơ sởTrung học phổ thôngThực nghiệm

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Kết quả điều tra kiến thức về môi trường của HS lớp 11 phổ thông 36

Bảng 1.2 Thái độ của học sinh khối 11 trước các vấn đề môi trường 37

Bảng 1.3 Hành động của học sinh khối 11 trước các vấn đề môi trường 37

Bảng 3.1 Nội dung kiểm tra – đánh giá trong thực nghiệm sư phạm khối 11 89

Bảng 3.2 Bảng thống kê kết quả bài kiểm tra số 1 94

Bảng 3.3 Bảng tần suất ( ): số % học sinh đạt điểm xi bài kiểm tra số 1 94

Bảng 3.4 Bảng tần suất hội tụ tiến ( Số % HS đạt điểm xi trở lên) bài kiểm tra số 1 94

Bảng 3.5.Bảng so sánh các tham số đặc trưng giữa các lớp TN và lớp ĐC bài kiểm tra số 1 95

Bảng 3.6 Bảng thống kê điểm bài kiểm tra số 2 97

Bảng 3.7 Bảng tần suất ( ): số % học sinh đạt điểm xi bài điểm tra số 2 97 Bảng 3.8 Bảng tần suất hội tụ tiến ( Số % HS đạt điểm xi trở lên) bài kiểm tra số 2 97

Bảng 3.9 Bảng so sánh các tham số đặc trưng giữa các lớp TN và lớp ĐC bài kiểm tra số 2 97

Bảng 3.10 Bảng kiểm định giả thuyết thống kê số trung bình cộng giả thuyết H0 các bài kiểm tra thực nghiệm sư phạm 100

Bảng 3.11 Bảng thống kê kết quả kiểm tra độ bền kiến thức 101

Bảng 3.12 Bảng tần suất ( : Số HS đạt điểm xi trong 2 bài kiểm tra độ bền kiến thức 101

Bảng 3.13 Bảng so sánh các tham số đặc trưng bài kiểm tra độ bền kiến thức 103

Bảng 3.14 Bảng kiểm định giả thuyết thống kê Ho các bài kiểm tra độ bền kiến thức theo phương pháp U 103

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn tuần suất điểm bài kiểm tra số 1 của hai

nhóm lớp đối chứng và thực nghiệm 95Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn đường tần suất hội tụ tiến của hai khối lớp thực

nghiệm và đối chứng sau bài kiểm tra số 1. 96Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn tuần suất điểm bài kiểm tra số 2 của hai

nhóm lớp đối chứng và thực nghiệm 98Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn đường tần suất hội tụ tiến của hai khối lớp thực

nghiệm và đối chứng sau bài kiểm tra số 2. 98Hình 3.5 Biểu đồ biểu diễn tần suất kiểm tra độ bền kiến thức bài kiểm tra số 1.102Hình 3.6 Biểu đồ biểu diễn tần suất kiểm tra độ bền kiến thức bài kiểm tra số 2.102

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Danh mục các hình, sơ đồ iv

Mục lục v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG- SINH HỌC 11 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Môi trường 5

1.1.2 Một số vấn đề về sư phạm tích hợp 9

1.1.3 Giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- sinh học 11 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 23

1.2.1 Tổng quan về tình hình giáo dục bảo vệ môi trường 23

1.2.2 Các văn bản pháp quy về giáo dục bảo vệ môi trường 26

1.2.3 Tình hình giáo dục bảo vệmôi trường thông qua dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng,Sinh học 11, trung học phổ thông 31

1.2.4 Thực trạng về giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông 33

Chương 2: NỘI DUNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG - SINH HỌC 11 40

2.1 Phân tích cấu trúc chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11 40

2.1.1 Chuẩn kiến thức, kỹ năng chương chuyển hóa vật chất và năng lượng-Sinh học 11 40

2.1.2 Phân tích cấu trúc nội dung chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11 45

2.1.3 Phân tích cấu trúc kỹ năng chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11 47

2.2 Xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương thức tích hợp GDBVMT qua dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng –Sinh học 11 47

Trang 6

2.2.1 Khả năng thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học chương

chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11 47

2.2.2 Mục tiêu GDBVMT trong chương chuyển hóa vật chất và năng lượng-Sinh học 48

2.2.3 Nội dung tích hợp GDBVMT trong chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11 50

2.2.4 Phương pháp tích hợp GDBVMT trong dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11 52

2.2.5 Một số kỹ thuật dạy học 57

2.2.6 Bảng địa chỉ tích hợp nội dung GDBVMT chương chuyển hóa vật chất và năng lượng – Sinh học 11 58

2.2.7 Một số bài soạn có tích hợp nội dung GDBVMT trong chương chuyển hóa vật chất và năng lượng – Sinh học 11 61

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 89

3.1 Mục đích, nội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm 89

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 89

3.1.2 Nội dung thực nghiệm 89

3.1.3 Phương pháp thực nghiệm 89

3.2 Xử lý số liệu 90

3.2.1 Phương tiện đánh giá 90

3.2.2 Phân tích kết quả định tính 91

3.2.3 Phân tích kết quả định lượng 91

3.3 Kết quả thực nghiệm 93

3.3.1 Phân tích định tính 93

3.3.2 Phân tích định lượng 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105

1 Kết luận 105

2 Khuyến nghị 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 109

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Môi trường là không gian sinh sống của con người và sinh vật, là nơi chứađựng nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất, là nơi chứa đựng và phânhủy các chất thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất Bêncạnh đó môi trường còn là nơi lưu trữ, cung cấp thông tin cho con người và sự tácđộng giữa các yếu tố của môi trường có tác động giảm nhẹ tác động có hại của thiênnhiên đến con người và sinh vật sống trên Trái đất… Môi trường có vai trò rất quantrọng đối với đời sống con người

Những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội thì môitrường đang có những thay đổi bất lợi, đặc biệt là các yếu tố mang tính chất tự nhiênnhư là đất, nước, không khí, hệ động - thực vật…Tình trạng môi trường thay đổi và

bị ô nhiễm đang diễn ra trên phạm vi mỗi quốc gia cũng như trên toàn cầu Ô nhiễmmôi trường là một trong những vấn đề cấp bách không chỉ ở Việt Nam mà trên toàncầu Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường chủ yếu do các hoạt động của con người:phá rừng, sản xuất công, nông nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt, dân số tăngnhanh… nên GDBVMT là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và

có tính bền vững nhất để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bềnvững đất nước Điều quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường không phải chỉ làmcho mọi người hiểu rõ sự cần thiết của bảo vệ môi trường mà hình thành thói quen,hành vi ứng xử văn minh, thân thiện với môi trường Đây là một quá trình lâu dài cầnđược hình thành ngay từ trên ghế nhà trường

Thực tế cho thấy việc giáo dục bảo vệ môi trường ở trường phổ thông chưađược chú trọng nhiều Vì trong hệ thống giáo dục chưa có phân môn GDBVMT vàmột trong những nguyên nhân chính là do thời gian học kiến thức các môn ở trườngchiếm rất nhiều thời gian, mà việc giáo dục học sinh nhận thức được, có những hànhđộng thực tế làm giảm thiểu tác động gây hại môi trường cần được thực hiện lâu dài

nên cần tích hợp trong quá trình dạy học.

Trang 8

Sinh học là môn học có mối liên hệ mật thiết GDBVMT Là một khoa họcnghiên cứu bản chất, quy luật của các hiện tượng, quá trình quan hệ trong giới hữu

cơ và trong chính bản thân con người Sinh học góp phần đắc lực trong việc hìnhthành các ứng xử hợp lí trước thiên nhiên sống và giữa con người với nhau Vì vậytích hợp GDBVMT trong quá trình dạy học sinh học ở trường phổ thông có rất nhiềuthuận lợi, đặc biệt là chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về công tác GDBVMT, phương pháp tíchhợp GDBVMT trong môn sinh học sao cho hiệu quả, góp phần trang bị học sinh vềkiến thức, ý thức BVMT, năng lực phát hiện và xử lí các vấn đề về môi trường đồngthời nâng cao chất lượng GDBVMT hiện nay trong các trường trung học phổ thông

mà vẫn đảm bảo phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập

tôi chọn đề tài: Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học chương

“chuyển hóa vật chất và năng lượng”, sinh học lớp 11, trung học phổ thông.

Mục đích nghiên cứu

Xây dựng nội dung kiến thức và phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môitrường vào dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng, Sinh học 11, trunghọc phổ thông nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm và hành động tham gia bảo vệ môitrường cho học sinh

3 Giả thuyết khoa học

Nếu trong dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

mà tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường thì nâng cao ý thức, trách nhiệm vàhành động, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh phổthông trong việc tham gia bảo vệ môi trường

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

0Tìm hiểu về môi trường, GDBVMT

1Nghiên cứu cơ sở khoa học của phương pháp dạy học tích hợp

Trang 9

- Nghiên cứu chương trình và nội dung chương chuyển hóa vật chất và năng Sinh học 11.

lượng-0 Điều tra thực trạng về việc tích hợp GDBVMT trong dạy học ở một số trường trunghọc phổ thông trên địa bàn thành phố Hà Nội

1 Nghiên cứu phương pháp và cách thức tích hợp nội dung GDBVMT vào bài giảng sinh học

2 Thiết kế giáo án chương chuyển hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11 có tích hợp nội dung GDBVMT

3 Thực nghiệm kiểm chứng việc tích hợp GDBVMT khi dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11

4 Rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất và giải pháp về tích hợp GDBVMT trong dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

5 Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

- Giáo viên dạy sinh học khối 11 trường THPT Ngô Thì Nhậm- Thanh Trì- Hà Nội

và trường THPT Việt Nam Ba Lan- Hoàng Mai- Hà Nội

0 Học sinh khối 11 trường THPT Ngô Thì Nhậm- Thanh Trì- Hà Nội và trường THPT Việt Nam Ba Lan- Hoàng Mai- Hà Nội

1 Nội dung kiến thức chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

5.2 Đối tượng nghiên cứu

Nội dung và phương pháp tích hợp GDBVMT trong dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

5.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

Trang 10

- Thời gian thực hiện đề tài: 03/2012- 12/2012

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

5888 Đọc tài liệu, phân tích, khái quát và tổng hợp kiến thức Chọn lọc kiến thức

về giáo dục bảo vệ môi trường có liên quan chương chuyển hóa vật chất và nănglượng- Sinh học 11 làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

23Trò chuyện, phỏng vấn

24Phương pháp chuyên gia

25Điều tra bằng phiếu hỏi

26Phương pháp đánh giá tổng hợp

27Nghiên cứu sản phẩm hoạt động

6.3 Phương pháp xử lí thông tin

5888 Phương pháp thống kê

5889 Phương pháp xử lí số liệu bằng phần mềm Excel

23Những đóng góp mới của đề tài

5888 Cung cấp 5 giáo án tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

5889 Cung cấp một số thông tin gần nhất về sinh học môi trường để dạy môn sinh học

đồng thời giáo dục ý thức, trách nhiệm và hành động tham gia bảo vệ môi trường chohọc sinh

23Cung cấp những giá trị cụ thể về mức độ thành công của việc đưa giáo án tích hợpgiáo dục bảo vệ môi trường vào thực tiễn dạy học chương chuyển hóa vật chất vànăng lượng- Sinh học 11

Trang 11

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

Chương 2: Nội dung tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

CHƯƠNG 1

Trang 12

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT

VÀ NĂNG LƯỢNG- SINH HỌC 11 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Môi trường

1.1.1.1 Khái niệm về môi trường

Điều 3, Luật Bảo vệ Môi Trường năm 2005 sử dụng các định nghĩa: Môi trường

bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.

Theo chức năng, môi trường sống của con người được chia thành các loại:

5888 Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố tự nhiên như các yếu tố vật lí, hóa học

và sinh học, chúng tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người

5889 Môi trường xã hội: là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, cóthể tạo lợi nhuận, cũng có thể gây trở ngại cho sự tồn tại của cá nhân, thậm chí

cả cộng đồng người Ví dụ như sự tăng dân số, hiện tượng di cư

5890 Môi trường nhân tạo: gồm tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con người tạo ra như nhà ở, lớp học,công viên….và chịu sự chi phối của con người

Như vậy, môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các yếu tố tựnhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như: tài nguyênthiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội… Với nghĩahẹp, thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố

xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người như nước sạch,thức ăn… ở nhà trường thì môi trường học sinh bao gồm nhà trường với thầy côgiáo, bạn bè, nội quy của nhà trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm…

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì xung quanh chúng ta sống, hoạt động vàphát triển

1.1.1.2 Các thành phần cơ bản của môi trường

Môi trường có những thành phần chủ yếu sau:

23 Thạch quyển

Trang 13

Thạch quyển là một lớp vỏ cứng rất mỏng có cấu tạo hình thái rất phức tạp Vềcấu tạo, thạch quyển bao gồm vỏ trái đất và phần cứng trên cùng của quyển Manti có

độ dày tới 100km

Đất ( thổ nhưỡng) là lớp ngoài cùng của thạch quyển bị biến đổi dưới tác động củacác yếu tố nước, không khí và sinh vật Các thành phần chính của đất là nước, khôngkhí, các chất khoáng và các sinh vật

5888 Thủy quyển

Thủy quyển là lớp nước tồn tại và phát triển trong lớp vỏ địa lí Thủy quyển bao gồmtoàn bộ đại dương, biển, sông, suối, ao, hồ Thủy quyển chiếm 70,8% bề mặt trái đất.Nước tập trung chủ yếu ngay trên bề mặt trái đất, nước có vai trò rất lớn trong tựnhiên và trong xã hội Trong tự nhiên, nước đóng vai trò đối với khí hậu, đối với địamạo, đối với địa chất, đối với thổ nhưỡng và đối với sinh vật

23 Khí quyển

Khí quyển là lớp các chất khí bao quanh hành tinh trái đất và được giữ lại bởi lựchấp dẫn của trái đất Khí quyển bao gồm 78,1% nitơ; 20,9% ôxi; 0,9% agon, khoảng0,035% cacbon điôxit, hơi nước và các chất khí khác

Khí quyển bảo vệ sự tồn tại của các sinh vật trên trái đất bằng cách hấp thụ các tiacực tím của ánh sáng mặt trời, đồng thời tạo ra sự thay đổi về nhiệt độ giữa ngày vàđêm

Sinh quyển

Sinh quyển là khoảng không gian có sinh vật cư trú, bao phủ bề mặt trái đất, baogồm tầng trên của thạch quyển ( có thể sâu tới 11km), toàn bộ thủy quyền, tầng đốilưu và bình lưu của khí quyển

Tóm lại

Giữa các quyển có một mối quan hệ chặt chẽ Sinh quyển tồn tai trong thủy quyển,nhờ đó mà các sinh vật có thể tránh được các tia tử ngoại, giảm được nhiệt độ vàgiảm ma sát Còn hoạt động của sinh quyển trong thủy quyển làm thay đổi thànhphần của CO2 và O2 trong nước Mặt khác, thủy quyển tạo điều kiện thuận lợi cho

sự phân bố các loài theo chiều thẳng đứng, làm giảm sự cạnh tranh giữa các loài

Trang 14

Sinh quyển tồn tại trong thạch quyển làm biến đổi thành phần hóa học của thạchquyển, tạo các chất khoáng cho sinh quyển tồn tại và phát triển Còn thạch quyển tạo

ra môi trường sống của các loài trong sinh quyển, là nơi chứa các nguồn tài nguyêntái sinh và không tái sinh

Sinh quyển tạo ra ôxi nhờ hoạt động quang hợp của sinh vật tự dưỡng, khí quyểntạo ra tầng ôzôn Khí quyển cung cấp ánh sáng, các chất khí cho sự tồn tại của sinhquyển Chính sự gắn bó chặt chẽ và tương hỗ đó làm cho sự sống trên trái đất đượcbền vững, hệ sinh thái tương đối ổn định, dòng tuần hoàn vật chất được ổn định

1.1.1.3 Chức năng cơ bản của môi trường sống

Môi trường là không gian sống cho người và sinh vật

Con người cũng như các sinh vật khác muốn tồn tại được cần có một khoảng khônggian nhất định, được tính bằng 1 đơn vị diện tích nhất định, có thể là m2, cũng có thể là

ha, tùy đối tượng.Ví dụ: Mỗi người mỗi ngày cần 4m2 không khí sạch để hít thở; 2,5 lítnước để uống; một lượng lương thực, thực phẩm đủ để tạo ra khoảng 2000 – 2500calo.Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi phụ thuộc vào trình độ của loàingười, nó sẽ tỉ lệ nghịch với nhu cầu về không gian sản xuất

Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên của con người

Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho con người có thể nói,

sự tồn tại và phát triển của con người hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường vì môitrường bao gồm:

Rừng tự nhiên: cung cấp gỗ, dược liệu, duy trì sự cân bằng sinh thái, tạo ra độ phìnhiêu cho đất, bảo tồn đa dạng sinh học

Nguồn nước: cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất, cung cấp năng lượng, giaothông đường thủy, là môi trường sống của thủy hải sản và là cảnh quan cho dulịch,…

Động vật và thực vật: cung cấp lượng thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm

Khí hậu: gồm không khí, nhiệt độ, ánh sáng mặt trời, gió, mưa…không thể thiếu được trong sự sống của con người và động vật, thực vật

Trang 15

Khoáng sản: than, dầu, khí, thiếc…cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất và đời sống…

Môi trường là nơi chứa đựng các chất thải

Các chất phế thải do con người tạo ra trong mọi hoạt động sống của con ngườiquay trả lại môi trường Xã hội ngày càng phát triển, lượng phế thải trả lại môitrường ngày càng nhiều, hầu như không được xử lí nên đã gây hiện tượng ô nhiễmmôi trường Một phần chất thải dưới tác động của các vi sinh vật và các yếu tố môitrường khác như nhiệt độ, độ ẩm, không khí…sẽ bị phân hủy, biến đổi từ phức tạpthành đơn giản, từ các thứ bỏ đi thành các chất dinh dưỡng nuôi sống cây trồng vànhiều sinh vật khác, làm cho các chất thải trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên.Chức năng của môi trường trong quá trình này bao gồm:

Quá trình biến đổi lí – hóa: pha loãng, phân hủy hóa học nhờ ánh sáng, hấp thụ, tách chiết các vật thải và các độc tố bởi các thành phần của môi trường

Quá trình biến đổi sinh hóa: thông qua chu trình tuần hoàn vật chất như chu trình cacbon, nitơ…

Quá trình biến đổi sinh học: do sự hoạt động của vi sinh vật, thông qua các quá trình khoáng hóa, mùn hóa, amôn hóa, nitrat hóa…

Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người

Ghi chép và lưu trữ thông tin về lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinhvật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người như các hiện vật di chỉđược con người phát hiện, giúp giải thích được nhiều bí ẩn diễn ra trong quá khứ.Khi kết nối giữa những sự kiện của hiện tại với quá khứ, con người sẽ dự đoánđược những sự kiện xảy ra trước đây và trong tương lai

Cung cấp các chỉ thị mang tính chất tín hiệu để báo động sớm các hiểm họa

đối với con người và các sinh vật sống trên trái đất như những sự cố: bão, động đất, núi lửa…

Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen động vật, thực vật;các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp và các cảnh quan thiên nhiênphục vụ cho các hoạt động giải trí của con người, nhằm giảm stress sau nhữngngày làm việc căng thẳng

Trang 16

Môi trường làm giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người

và sinh vật trên trái đất

Các thành phần của môi trường sống giúp cho sự tồn tại của con người, như giúpcho nhiệt độ trái đất ổn định, không quá cao nằm trong giới hạn chịu đựng của conngười, giảm nhẹ tác động có hại của thiên nhiên đến con người và các sinh vật, cungcấp năng lượng cho các hoạt động sống của con người…

1.1.2 Một số vấn đề về sư phạm tích hợp

1.1.2.1 Khái niệm sư phạm tích hợp

Thế giới đang ngày một biến đổi, đặc biệt là sự gia tăng về khối lượng tri thức vàkhả năng tiếp cận thông tin Điều này đã tác động sâu sắc tới quá trình dạy học: Nhữngchức năng truyền thống của người giáo viên là chỉ truyền đạt kiến thức cho học sinhngày càng mất ý nghĩa, vì các thông tin có thể tiếp nhận từ nhiều nguồn phong phú.Chính vì vậy, cần phải định hướng lại chức năng của người giáo viên Điều quan trọngđầu tiên là đòi hỏi người giáo viên phải “ngày càng có năng lực tốt hơn”

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, trong nhà trường học sinh không chỉlĩnh hội biết lĩnh hội kiến thức mà còn phải có khả năng sử dụng kiến thức đó vàocuộc sống

Trước những đòi hỏi đó sư phạm tích hợp ra đồi nhằm đáp ứng lại những yêucầu xã hội đặt ra Theo Xavier Roegier “Khoa sư phạm tích hợp dựa trên tư tưởngnăng lực, tức là biết cách sử dụng các kỹ năng trong một tình huống có vấn đề”.Qua

đó chỉ ra trong quá trình dạy học nhà trường phải tiếp tục là một đảm bảo cho nhữnggiá trị quan trọng của xã hội Nhà trường không chỉ có chức năng ưu tiên là truyềnđạt kiến thức và thông tin mà còn giúp học sinh có khả năng tìm thông tin, quản líthông tin và tổ chức kiến thức Ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần nhà trườngtrước hết phải tập trung cố gắng dạy học sinh cách sử dụng kiến thức của mình vàonhững tình huống có ý nghĩa với học sinh

Theo Xavier Roegiers, “Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình họctập góp phần hình thành ở những học sinh có năng lực rõ rang, có dự tính trước

Trang 17

những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương laihoặc làm cho quá trình học tập có ý nghĩa”.

Ngoài những hoạt động riêng lẻ cần thiết cho các năng lực riêng lẻ, sư phạmtich hợp còn dự tính những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng,phối hợp những kiến thức, kỹ năng, thao tác đã lĩnh hội một cách rời rạc để giảiquyết một tình huống có ý nghĩa trong thực tế Sư phạm tích hợp gọi những năng lực

và mục tiêu đó là năng lực tích hợp và mực tiêu tích hợp

Như vậy theo quan điểm của Xavier Roegiers, năng lực là cơ sở của sư phạmtích hợp, gắn học đi đôi với hành

Theo Phạm Văn Lập “ Tích hợp có ý nghĩa là những kiến thức, kỹ năng họcđược ở phân môn này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ đểnghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần khác của cùng một mônhọc” Thí dụ, toán học được sử dụng như một công cụ đắc lực trong nghiên cứu sinhhọc Tin học được sử dụng như một công cụ để mô hình hóa các quá trình Sinhhọc…

1.1.2.2 Mục đích của sư phạm tích hợp

Mục đích của sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằngcách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, tiến hành trong quan hệ với các tìnhhuống cụ thể mà học sinh sau này gặp phải, những tình huống có ý nghĩa trong cuộcsống, hòa nhập thế giới học đường với cuộc sống

Mục đích tích hợp là là phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốtyếu là những năng lực cơ bản cần thiết giúp học sinh vận dụng để xử lý những tìnhhuống có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc đặt cơ sở không thể thiếu trong quá trình họctập tiếp theo

Dạy học theo quan điểm tích hợp giúp học sinh vận dụng kiến thức trong tìnhhuống cụ thể Thay vì chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức thuần túy thì nó chútrọng tập dượt cho học sinh nhiều kiến thức, kỹ năng vào các tình huống thực tế cóích cho cuộc sống

Trang 18

Ngoài ra, tích hợp dạy học là giúp người học xác lập các mối quan hệ giữa cáckhái niệm đã học Trong quá trình học tập, học sinh được học các khái niệm khácnhau trong một môn học và trong nhiều môn học khác nhau Điều quan trọng là họcsinh phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ của các môn học,

có cái nhìn khái quát về khái niệm đó trong một tổng thể các môn học với nhau.Nguồn thông tin càng đa dạng phong phú thì học sinh càng hiểu khái niệm ở nhiềugóc cạnh, hiểu kiến thức càng sâu sắc hơn Trên cơ sở đó học sinh mới có thể có thểlàm chủ kiến thức và vận dụng kiến thức đã học đó nhằm đương đầu với những tìnhhuống thử thách trong cuộc sống

Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu là những năng lực

cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống,hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo.Trong thực tế nhàtrường có nhiều điều chúng ta dạy cho HS nhưng không thật sự có ích, ngược lại cónhững năng lực cơ bản không được dành đủ thời gian Chẳng hạn ở tiểu học, HSđược biết nhiều quy tắc ngữ pháp nhưng không biết đọc diễn cảm một bài văn, HSbiết có bao nhiên centimét trong một kilômét nhưng lại không chỉ ra được một métáng chừng dài bằng mấy gang tay

Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể Thay vì tham nhồi nhét cho HSnhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, DHTH chú trọng tập dượt cho HS vận dụng cáckiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau nàylàm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có năng lực sống tự lập

Xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học Trong quá trình học tập, HS cóthể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn

Trang 19

học nhưng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thốngtrong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau Thông tin càng

đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực

sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đươngđầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp

1.1.2.4 Các quan điểm tích hợp trong dạy học

Quan điểm tiếp cận tích hợp cho phép xem xét các sự vật, hiện tượng trongmột cách nhìn tổng thể đang trở thành xu hướng tất yếu trong thời đại ngày nay Cácmôn, các ngành học ứng dụng tiếp cận tích hợp ở nhiều mặt khác nhau, trong giáodục, tích hợp kiến thức và tích hợp dạy học là cơ bản nhất Tích hợp kiến thức là sựliên kết, kết hợp, lồng ghép chi thức của các khoa học khác nhau thành một kiến thứcthống nhất Tích hợp dạy học là quá trình dạy học trong đó có sự lồng ghép, liên hệnhững tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi với nhau, qua đó người họckhông chỉ lĩnh hội được chi thức khoa học của môn học chính mà cả tri thức khoahọc được tích hợp, từ đó hình thành cho người học cách nhìn khái quát hơn đối vớicác khoa học có cùng đối tượng nghiên cứu, đồng thời có được phương pháp xem xétvấn đề một cách lôgic, biện chứng Ngày nay không còn lúc đặt vấn đề thảo luận dạyhọc tích hợp là cần hay không nữa Câu trả lời khẳng định là : “Cần phải tích hợp cácmôn học nhưng thực hiện dạy học tích hợp như thế nào? Sau đây là một số quanđiểm tích hợp đối với các môn học”

Điều cần thiết đầu tiên là phải vượt lên trên cách nhìn bộ môn tức là vượt lên

trên cách nhìn quen thuộc về vai trò của từng môn học riêng rẽ, quan niệm đúng hơn

về tương tác giữa các môn học.Theo D’ Hainaut (1977) có 4 quan điểm khác nhauđối với các môn học:

Quan điểm “đơn môn”: có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống của mỗi môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ

Quan điểm “đa môn”: có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống của mỗimôn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ Quan

điểm “đa môn”: thực chất là những tình huống, những đề tài được nghiên cứutheo những quan điểm khác nhau, nghĩa là theo những môn học khác nhau Ví

Trang 20

dụ :người học nghiên cứu theo quan điểm kiến trúc, theo quan điểm mỹ học,theo quan điểm lịc sử…các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ và chỉgặp nhau ở một thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài Như vậy, cácmôn học không thực sự được tích hợp.

Quan điểm “liên môn”: trong dạy học những tình huống chỉ có thể được tiếp cậnhợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến sựliên kết trong các môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyếtmột tình huống cho trước Các quá trình học tập sẽ không được đề cập sẽkhông được đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với nhau xung quanh vấn

đề phải giải quyết

Quan điểm “xuyên môn”: có thể phát triển những kỹ năng mà học sinh có thể sửdụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống Chẳng hạn, nêumột giả thuyết, đọc các thông tin, thông abos thông tin, giải một bài toán…Những kỹ năng này chúng ta gọi là kỹ năng xuyên môn Có thể lĩnh hộinhững kỹ năng này trong từng môn học hoặc nhân dịp có những hoạt độngchung cho nhiều môn học

Nhu cầu phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường hướng tới quan điểmliên môn và xuyên môn Trong đó, quan điểm liên môn phối hợp sự đóng góp củanhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết mọi tình huống, còn quan điểm xuyênmôn lại tìm cách phát triển học sinh những kỹ năng xuyên môn nghĩa là những kỹnăng có thể áp dụng ở mọi nơi

Theo Xavier Roegiers, có 4 cách tích hợp:

Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối năm họchay cuối cấp học Ví dụ những môn vật lí, hóa học, sinh học vẫn được dạy riêng rẽnhưng đến cuối năm học hoặc cuối cấp có một phần, một chương về những vấn đềchung của khoa học tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, học sinh được đánhgiá bằng cách tổng hợp kiến thức

Cách 2: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện được ở nhữngthời điểm cụ thể đều đặn trong năm học Ví dụ những môn lý, hóa, sinh vẫn đượcdạy riêng rẽ, hoặc vì bản chất và logic phát triển nội dung từng môn học, hoặc vì các

Trang 21

môn này do các giáo viên khác nhau đảm nhiệm Tuy nhiên, chương trình có thể bốtrí xen một số chương trình tích hợp liên môn nhằm làm cho học sinh quen dần vớiviệc sử dụng kiến thức những môn học gần gũi nhau.

Cách 3: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích hợp.Cách này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc chonhững môn học có đóng góp bổ sung nhau, thường dựa vào một môn học công cụnhư Tiếng Việt, Toán Trong trường hợp này môn học tích hợp được một giáo viêngiảng dạy Cách này có giá trị chủ yếu ở bậc tiểu học, ở đó các vấn đề phải xử lýthường là những đề tài đơn giản có giới hạn Ví dụ: bài tập đọc tích hợp kiến thứcLịch Sử, Khoa Học; bài Toán tích hợp kiến thức dân số, môi trường Cách tiếp cậnnày cố gắng khai thác tính bổ sung lẫn nhau của các môn học, theo đuổi những mụctiêu bổ sung cho nhau bằng các hoạt động trên chủ đề nội dung

Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng cách tình huốngtích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm môn, tạo thành tích môn họctích hợp Ví dụ: Môn Tự nhiên và xã hội ở tiểu học tích hợp các kiến thức về conngười và sức khỏe, gia đình và nhà trường với môi trường xã hội, động vật và thựcvật, bầu trời và mặt đất

Quan điểm tiếp cận tích hợp cho phép xem xét các sự vật, hiện tượng trong mộtcách nhìn tổng thể đang trở thành xu hướng tất yếu trong thời đại ngày nay Cácmôn, các ngành học ứng dụng tiếp cận tích hợp ở nhiều mặt khác nhau, trong giáodục, tích hợp kiến thức và tích hợp dạy học là cơ bản nhất Tích hợp kiến thức là sựliên kết, kết hợp, lồng ghép chi thức của các khoa học khác nhau thành một kiến thứcthống nhất Tích hợp dạy học là quá trình dạy học trong đó có sự lồng ghép, liên hệnhững tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi với nhau, qua đó người họckhông chỉ lĩnh hội được chi thức khoa học của môn học chính mà cả tri thức khoahọc được tích hợp, từ đó hình thành cho người học cách nhìn khái quát hơn đối vớicác khoa học có cùng đối tượng nghiên cứu, đồng thời có được phương pháp xem xétvấn đề một cách lôgic, biện chứng

Trang 22

Lên cấp THCS, THPT trong các môn học phức tạp hơn, đòi hỏi sự phát triển tuần

tự chặt chẽ hơn, mỗi môn học thường do một giáo viên đào tạo chuyên đảm nhiệm,

do đó cách tích hợp thứ 3 khó thực hiện, người ta thiên về áp dụng cách 4, tuy cónhiều khó khăn nhưng phải tìm cách vượt qua vì dạy học tích hợp là xu hướng tấtyếu, đem lại nhiều lợi ích

1.1.2.5 Vai trò của tích hợp trong dạy học

Dạy học từng môn riêng rẽ giúp học sinh hình thành kiến thức khoa học một cách

hệ thống, dạy học tích hợp giúp học sinh liên kết kiến thức trong nhà trường và thựctiễn cuộc sống

Dạy học tích hợp giúp học sinh trở thành người lao động tích cực, người công dân

có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thựctiễn cuộc sống

Khuynh hướng dạy học theo hướng tích hợp cho phép rút ngắn được thời gian dạyhọc, đồng thời tăng cường được khối lượng và chất lượng thông tin của chương trình

và nội dung SGK phổ thông Hiện nay còn tình trạng tách biệt giữa các bộ môn trongnhà trường phổ thông, nhất là giữa chương trình và SGK ở các cấp học, đặc biệt ởmột số môn đồng tâm

Việc giảng dạy tích hợp rèn cho học sinh ý thức và kỹ năng vận dụng kiến thức đãhọc để xử lý các vấn đề đặt ra trong học tập Đối với một số nội dung kiến thức,người giáo viên chỉ nên giới thiệu những hiểu biết tối thiểu về khía cạnh đề cập Nhờ

đó có thể khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham hiểu biết của người học Cần đánh giá caonhững học sinh biết cách sử dụng những kiến thức phân môn này để tham gia giảiquyết những vấn đề của phân môn khác Đó là những thói quen, cơ sở để sau này các

em có điều kiện tiếp thu và vận dụng dễ dàng hơn trong phương pháp nghiên cứuliên ngành ở các bậc cao hơn, cũng như khi vào đời có khả năng giải quyết dễ dànghơn các vấn đề thực tiễn, vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng làtình huống tích hợp

Trang 23

Dạy học tích hợp giúp học sinh sử dụng một cách tối đa các kiến thức đã được họctất cả các bộ môn vào giải quyết một vấn đề, đồng thời kéo kiến thức trong nhàtrường gần lại với kiến thức xã hội.

Dạy học tích hợp giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiếnthức, kỹ năng và phương pháp của khối tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lý tronggiải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại

Ngoài ra, dạy học tích hợp còn đảm bảo cho học sinh khả năng huy động có hiệuquả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tìnhhuống xuất hiện, và nếu có thể, để đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huốngchưa gặp

HS có thể học tập nhiều hơn nếu được cung cấp đầy đủ các tư liệu học tập đượcbiên soạn trong khuôn khổ một chương trình tích hợp các khoa học một cách hợp lý

HS có thể làm được nhiều hơn và tốt hơn nếu phương pháp dạy học của thầy thực sựchuyển hóa thành phương pháp dạy cách học cho trò, theo cách tiếp cận dạy học giảiquyết vấn đề mà học sinh là trung tâm, tập dượt cho học sinh cách vận dụng tổng hợpcác tri thức vào thực tiễn

Hơn nữa, dạy học tích hợp giúp học sinh rèn luyện tư duy khái quát, năng lực liên

hệ và mở rộng kiến thức; giúp học sinh dễ hiểu bài, dễ khắc sâu kiến thức và giảmcường độ học tập cho học sinh

Vận dụng tích hợp trong dạy học tạo điều kiện cho học sinh phát triển tốt các kỹnăng Khi vận dụng tích hợp vào dạy học, các quá trình học tập không tách rời cuộcsống hằng ngày cũng như không tách rời các môn học riêng rẽ mà có sự liên hệ các mônhọc với nhau và với thực tiễn cuộc sống Không còn sự tách rời giữa hai thế giới nhàtrường và thực tiễn cuộc sống, dạy học riêng rẽ từng môn một sẽ giúp học sinh tiếp thukiến thức một cách có hệ thống nhưng khó áp dụng vào thực tiễn man các tình huốngtích hợp Dạy học tích hợp nhằm nêu bật cách sử dụng kiến thức, nhằm giải quyết vấn

đề trong thực tiễn cuộc sống, giúp học sinh khi ra đời sẽ trở thành người lao động có ýthức và tự lập, người công dân có trách nhiệm với xã hội, người chủ của đất nước

Trang 24

Dạy học tích hợp giúp học sinh phát triển phối hợp nhiều kỹ năng mà các môn học đơn lẻ khó hình thành được.

*Tuy nhiên dạy học tích hợp lại gặp phải một số khó khăn sau:

- Cả giáo viên và học sinh phải làm quen với phương pháp dạy học mới Trong khi giáo viên cũng như học sinh chủ yếu thụ động, sức ỳ lớn

- Phần lớn các trường phổ thông, các tư tưởng dạy bổ sung cho bài giảng, các phương tiện dạy học còn thiếu

Để dạy theo hướng tích hợp, giáo viên phải mất rất nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu và soạn giáo án, lập kế hoạch dạy học

Có thể nói hiện nay chưa có những bộ sách tham khảo chuẩn, tích hợp đầy đủkiến thức liên quan đến môn học, quá nhiều sách tham khảo, trong khi chất lượngnhiều cuốn sách không đảm bảo, gây khó khăn cho học sinh

Khi vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học giáo viên cần chú ý đến những điều sau:

Dạy học tích hợp không chỉ dựa trên mục tiêu của môn học mà phải dựa trên mụctiêu của các cấp học, mục tiêu các môn học khác trong chương trình dạy học.Giáo viên phải biết vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các kỹ năng trongquá trình dạy học Quá trình dạy học tích hợp không thể thực hiện một cáchmáy móc mà giáo viên cần chắt lọc kiến thức, chỉ dạy những kiến thức cầnthiết, tránh sự lặp lại

Quan điểm tích hợp trong dạy học phải được quán triệt trong tất cả các khâu củaquá trình dạy học, từ khâu xác định mục tiêu dạy học, lựa chọn nội dung,phương pháp, phương tiện đến khâu kiểm tra đánh giá

-1.1.3 Giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học chương chuyển hóa vật chất và

năng lượng- sinh học 11

1.1.3.1 Khái niệm giáo dục bảo vệ môi trường

Trang 25

Thuật ngữ “Giáo dục bảo vệ môi trường” được bắt nguồn từ thuật ngữ tiếngAnh – Envirionmental education Theo một số nhà nghiên cứu giáo dục môi trườngnhư: Wheeler (1985), Abe (1992) thì thuật ngữ GDBVMT lần đầu tiên được xuấthiện trong các tài liệu về giáo dục trên thế giới vào năm 1948 Trong đó có cuốn sáchcủa anh em người Mỹ là Paul Goodman và Pereeval Goodman Ngày nay, thuật ngữnày được sử dụng rộng rãi trong các nước nói tiếng Anh và được sử dịch sang nhiềuthứ tiếng khác Cho đến nay, đã có rất nhiều quan điểm, cách nhìn nhận khác nhau vềGDBVMT.

Theo quan điểm của Ủy ban Giáo dục của IUCN tại hội nghị quốc tế về Giáodục môi trường ở trường học tổ chức tại Pari năm 1970, khái niệm GDBVMT đượcđịnh nghĩa: “GDBVMT là quá trình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mốiquan hệ qua lại giữa con người với tự nhiên và xã hội bao quanh con người Hơnnữa, GDBVMT đòi hỏi hình thành ở người học khả năng quyết định và những hànhđộng liên quan đến chất lượng môi trường”

Trong luật GDBVMT của Mỹ (1970) GDBVMT được định nghĩa “là quátrình giúp người học hiểu được mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảotoàn thiên nhiên, kỹ thuật phát triển đô thị và nông thôn có ảnh hưởng đến môitrường con người như thế nào”

Trong hội nghị quốc tế về GDBVMT của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisinăm 1977, khái niệm GDBVMT được thông qua và định nghĩa như sau: “GDBVMT

là bộ phận cơ hữu của quá trình giáo dục Nó nên được tập trung vào những vấn đềthực tiễn và mang tính chất liên thông Nó nên nhằm vào xây dựng giá trị, đóng gópvào sự nghiệp phồn vinh của cộng đồng và liên quan đến sự sống còn của nhân loại.Ảnh hưởng của nó trong thời gian khởi đầu của người học và liên quan đến môitrường của họ trong hoạt động Nó nên được hướng dẫn ở các môn học hiện tại vàtương lai có liên quan”

Cho đến nay khái niệm này tương đối hoàn chỉnh và được chấp nhận phổ biếnnhất

Trang 26

1.1.3.2 Vị trí giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Sinh học

Những năm gần đây, bằng cách này hay cách khác, bằng phương tiện này hayphương tiện khác chúng ta đã cố gắng bảo vệ môi trường song kết quả còn nhiều hạnchế Có lẽ, chính thực trạng môi trường hiện nay buộc chúng ta phải có nhiều cáchlàm mới, nghĩa là chúng ta không chỉ bảo vệ môi trường về mặt kỹ thuật mà phải đặt

ra vấn đề ý thức, trách nhiệm và hành động vì môi trường, giúp con người tự giác,tích cực bảo vệ môi trường bằng mọi cách

Hiện nay, trường học được coi là một trong những nơi phù hợp và hiệu quả nhất

để GDBVMT Vì trường học có khả năng thực hiện chương trình học tập theo khuônkhổ chính quy, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức

0 nước ta, trong chiến lược GDBVMT giai đoạn đầu là tập trung vào học sinh

trường phổ thông GDBVMT cho HS không chỉ đạt kết quả trước mắt mà còn

đạt kết quả lâu dài vì thế hệ trẻ vẫn đang trong quá trình phát triển nhận thức, thái độ

và hành vi

GDBVMT cần thiết cho mọi thành phần trong xã hội và là cơ sở cho mọi hoạtđộng bảo vệ môi trường Đặc biệt lứa tuổi học sinh, lứa tuổi dễ tiếp thu những địnhhướng giá trị mới, giàu cảm xúc, đó là một thuận lợi cơ bản để xây dựng ở các emtình yêu thiên nhiên, trân trọng và tha thiết BVMT Đồng thời ở lứa tuổi này có tínhtích cực cao, hiếu động, nghịch ngợm… nếu không được giáo dục về môi trường mộtcách nghiêm túc và đầy đủ thì có thể chính các em trở thành kẻ phá hoại môi trườngmột cách vô ý thức hoặc có ý thức Điều quan trọng hơn, GDBVMT thúc đẩy mạnh

mẽ sự thay đổi hành vi, giúp chúng ta biết quyết định và biết tham gia bảo vệ môitrường một cách tự giác và tích cực

1.1.3.3 Mục tiêu của giáo dục bảo vệ môi trường

Năm 1975 tại Belgrrade (Nam Tư) hội nghị về GDBVMT của Liên hợp quốc đãthông qua hiến chương Belgrrade Cho đến nay, hiến chương này vẫn được đánh giánhư một tiêu chuẩn quốc tế về GDBVMT Trong hiến chương này, mục đích củaGDBVMT được chỉ ra là việc làm tăng số người trên địa cầu có khả năng nhận biết

và quan tâm đến môi trường, có tri thức, kỹ năng, thái độ, động cơ và ý nguyện sẵn

Trang 27

sang tham gia với tư cách cá nhân hay tập thể vào việc giải quyết các vấn đề môitrường nảy sinh Bản hiến chương này đưa ra 6 mục tiêu GDBVMT sau:

1/ Sự nhận thức (awareness) hình thành ở các cá nhân và các đoàn thể xã hội sự

quan tâm và khả năng nhận biết về môi trường và các vấn đề liên quan đến môitrường

2/ Tri thức (knowledge) hình thành ở các cá nhân và đoàn thể xã hội những hiểu

biết cơ bản về môi trường và các vấn đề liên quan đến môi trường cũng như tráchnhiệm với môi trường

3/ Thái độ (attirede) hình thành ở các cá nhân và đoàn thể xã hội hệ thống giá trị,

khả năng nhạy cảm với môi trường và có ý nguyện tham gia vào việc bảo vệ và cảithiện môi trường

4/ Kỹ năng (skills) hình thành ở các cá nhân và đoàn thể xã hội kỹ năng giải quyết

các vấn đề môi trường

5/ Năng lực đánh giá (evalution ability) hình thành ở các cá nhân và đoàn thể xã hội khả

năng đo lường hiện trạng môi trường và đánh giá chương trình GDBVMT đứng trên cácquan điểm sinh thái, chính trị, kinh tế, xã hội, thẩm mỹ và quan điểm giáo dục khác

6/ Tham gia (partici pation) hình thành ở các cá nhân và đoàn thể xã hội nhận thức

sâu sắc về tính khẩn cấp của các vấn đề môi trường và tinh thần trách nhiệm trongviệc tham gia giải quyết các vấn đề về môi trường

Năm 1977, hội nghị giữa các Chính phủ về GDBVMT được tổ chức tại thủ đôTbilisi ( Cộng hòa Grudia) GDBVMT được đề cập như lĩnh vực giáo dục suốt đời vànhấn mạnh tầm quan trọng của một lĩnh vực giáo dục mà có quá trình tiếp cận toàndiện để tiến tới hình thành cho người dân kỹ năng, thái độ và khả năng hành độngBVMT

Theo báo cáo của UNESCO trong Hội thảo khu vực châu Á- Thái BìnhDương ( từ ngày 5 đến ngày 9/7/1973) tại Oxtraylia đã được ra mục tiêu GDBVMTnhư sau:

Trang 28

1/ Về nhận thức: giúp các cá nhân và cộng đồng có được nhận thức và sự nhạy

cảm đối với tình trạng môi trường chung và các vấn đề có liên quan đến môi trường

và sự phát triển

2/ Về kiến thức: giúp các cá nhân và cộng đồng thu được những kinh nghiệm khác

nhau và thu được những hiểu biết cơ bản:cái gì được yêu cầu tạo ra và duy trì môitrường bền vững

3/ Về thái độ: giúp các cá nhân và cộng đồng có được những giá trị và xúc cảm,

mối quan hệ về môi trường và có động cơ muốn tham gia vào việc bảo vệ và cảithiện môi trường

4/ Về kỹ năng: giúp các cá nhân và cộng đồng có được các kỹ năng để nhận ra,

ngăn chặn và giải quyết các vấn đề về môi trường

5/ Về việc tham gia: cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng có cơ hội và động lực

để tham gia một cách tích cực ở mọi cấp trong công việc xây dựng môi trường bềnvững

Tóm lại mục tiêu cơ bản của GDBVMT là làm cho từng người và cộng đồng hiểuđược bản chất của môi trường tự nhiên và nhân tạo là kết quả tương tác của các mặtsinh học, vật lý, xã hội, kinh tế, văn hóa và đạt được tri thức, thái độ và các kỹ năngthực tế để tham gia có hiệu quả và trách nhiệm vào việc tiên đoán và giải quyết cácvấn đề về môi trường và quản lý chất lượng môi trường

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra mục tiêu GDBVMT chung cho các trường phổthông như sau:

Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông nhằm đạt mục đích cuốicùng là: mỗi trẻ được trang bị một ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vữngcủa trái đất, một khả năng đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên va một nhân cách đượckhắc sâu nền tảng đạo lý về môi trường

Căn cứ từ mục tiêu chung về GDBVMT của hiến chương Belgrrade các nước sẽxây dựng các mục tiêu riêng cho mình, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận

Trang 29

thức và khả năng hành động của từng cấp học dựa trên tiêu chuẩn quan trọng nhất làviệc cải thiện thêm chất lượng môi trường.

GDBVMT phải được tiến hành từ khi trẻ mới lớn để tạo những hành vi tốt đẹp vàtrách nhiệm đối với môi trường, từ lứa tuổi mẫu giáo tới khi trưởng thành ViệcGDBVMT không chỉ tiến hành trong nhà trường mà nó cần có sự tham gia phối hợpchặt chẽ với cả gia đình và toàn xã hội Toàn bộ chương trình GDBVMT cần đượcphát triển dựa trên mối quan hệ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của đối tượng giáo dục

và khả năng nhận thức của họ về môi trường xung quanh

1.1.3.4 Nguyên tắc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường

GDBVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, tích hợp vào các môn học và

các hoạt động GDBVMT không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục nhưmột bộ môn riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó là một hướng hội nhậpvào chương trình GDBVMT là cách tiếp cận xuyên bộ môn

Mục tiêu, nội dung và phương pháp GDBVMT phải phù hợp với mục tiêu đào

tạo của cấp học, góp phần thực hiên mục tiêu đào tạo cấp học

GDBVMT phải trang bị cho HS một hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về môitrường và kĩ năng được triển khai qua các môn học và các hoạt động theo

hướng tích hợp với nội dung qua các môn học, thông qua chương trình dạy họcchính khóa và các hoạt động ngoại khóa, đặc biệt coi trọng việc đưa vào chươngtrình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Nội dung GDBVMT phải chú ý khai thác tình hình thực tế môi trường của từng địa phương

Nội dung và phương pháp GDBVMT phải chú trọng thực hành, hình thành

các kĩ năng, phương pháp hành động cụ thể để HS có thể tham gia có hiệu quả vàocác hoạt động BVMT của địa phương, của đất nước phù hợp với độ tuổi

Cách tiếp cận cơ bản của GDBVMT là: Giáo dục về môi trường, trong môi

trường và vì môi trường, đặc biệt là giáo dục vì môi trường Coi đó là thước đo cơ bản hiệu quả của GDBVMT

Trang 30

Phương pháp GDBVMT nhằm tạo cho người học chủ động tham gia vào quá trìnhhọc tập, tạo cơ hội cho HS phát hiện các vấn đề môi trường và tìm hướng giảiquyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên.

Tận dụng các cơ hội để GDBVMT nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bản của mônhọc, tính logic của nội dung, không làm quá tải lượng kiến thức và tăng thời giancủa bài học

1.1.3.5 Phương thức giáo dục bảo vệ môi trường

GDBVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, vì vậy, được triển khai theo

phương thức tích hợp Nội dung GDBVMT được tích hợp trong các môn học thông qua các chương, bài cụ thể

Việc tích hợp thể hiện ở 3 mức độ: mức độ toàn phần, mức độ bộ phận và mức độ liên hệ

+Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc của chương phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của GDBVMT

0 Mức độ bộ phận: chỉ có một phần bài học có mục tiêu và nội dung GDBVMT.

1 Mức độ liên hệ: có điều kiện liên hệ một cách logic.

Các hoạt động GDBVMT ngoài lớp học:

0 Câu lạc bộ môi trường: sinh hoạt theo các chủ đề bảo vệ rừng, bảo vệ động vật

hoang dã, sử dụng năng lượng sạch

1 Hoạt động tham quan theo chủ đề: vườn quốc gia, khu bảo tồn, công viên, vườn

thú, danh lam thắng cảnh, nơi xử lí rác, nhà máy, bảo tàng,…

2 Điều tra, khảo sát, nghiên cứu tình hình môi trường địa phương, thảo luận

Trang 31

Hoạt động Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường: vệ sinh trường, lớp,bản làng, tham gia chiến dịch truyền thông, tuyên truyền BVMT ở nhà

trường, địa phương

1.1.3.6 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường

Là lĩnh vực của giáo dục liên ngành, GDBVMT sử dụng nhiều phương pháp dạyhọc của các bộ môn, chịu sự chi phối của các phương pháp đặc trưng bộ môn,nhưng

nó cũng có những phương pháp có tính đặc thù Vì vậy, ngoài các phương phápchung như: thảo luận, trò chơi.…GDBVMT thường vận dụng nhiều phương phápkhác như:

Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa:

0 Có thể triển khai theo hai cách:

Tổ chức cho HS đi tham quan học tập ở khu bảo tồn thiên nhiên, nhà máy xử lí rác, khu chế xuất, danh lam thắng cảnh,…

Lập nhóm tìm hiểu, nghiên cứu tình hình môi trường ở trường hoặc ở địa phương.+ Các nhóm có nhiệm vụ:

Điều tra, tìm hiểu, nghiên cứu tình hình môi trường ở khu vực các em khảo sát.Báo cáo kết quả, nêu phương án cải thiện môi trường

Phương pháp thí nghiệm:

Ví dụ: Bài 14- Thực hành phát hiện hô hấp ở thực vât (Sinh học 11) không chỉhọc sinh về kỹ năng thực hành thí nghiệm mà thông qua đó giáo dục HS ý thứcBVMT thông qua hô hấp thải CO2

Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục:

Ví dụ: Khi tìm hiểu về khối lượng rác thải, giáo viên không nên cung cấp ngaycác số liệu mà tổ chức cho HS tham gia các hoạt động điều tra lượng rác thải ởtrường học, địa phương

Phương pháp hoạt động thực tiễn:

Trang 32

Hoạt động thực tiễn giúp HS ý thức được giá trị của lao động, rèn luyện kĩnăng, thói quen bảo vệ môi trường Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động như:trồng cây, thu gom rác, dọn sạch kênh mương,…

Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng:

GV cần khai thác tình hình môi trường địa phương để giáo dục HS cho đảmbảo tính thiết thực và hiệu quả Phương pháp này đòi hỏi GV phải thu thập sốliệu, sự kiện và tìm hiểu tình hình môi trường địa phương, tổ chức các hoạt độngphù hợp để HS tham gia góp phần cải tạo môi trường

Phương pháp học tập theo dự án:

Học tập theo dự án sẽ tạo hứng thú, đồng thời rèn luyện tính tự lập, phương pháp giải quyết vấn đề, hạn chế việc học thụ động của HS

Phương pháp nêu gương:

Hành vi của người lớn là tấm gương có ý nghĩa giáo dục trực tiếp đối với HS.Muốn giáo dục HS có nếp sống văn minh, lịch sự đối với môi trường, trước hếtcác thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh phải thực hiện đúng các quy định BVMT.Phương pháp tiếp cận kĩ năng sống BVMT:

Kĩ năng nhận biết và phát hiện các vấn đề môi trường

Kĩ năng xây dựng kế hoạch hành động vì môi trường

Kĩ năng ra quyết định về môi trường

Kĩ năng kiên định thực hiện kế hoạch hành động vì môi trường

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan về tình hình giáo dục bảo vệ môi trường

1.2.1.1 Tình hình giáo dục bảo vệ môi trường trên thế giới

Từ khi xuất hiện trên trái đất, sự sống của con người đã gắn chặt với môi trường.Với con người, môi trường được xem là điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội để sinhsống, hoạt động và phát triển Do vậy, môi trường chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng

và ảnh hưởng mạnh mẽ lên cuộc sống con người, ngược lại môi trường lại chịu nhữngtác động vô cùng to lớn từ con người Trong quá trình lao động, con người

Trang 33

một mặt cải tạo môi trường nhưng mặt khác lại gây những biến đổi tiêu cực đối vớimôi trường và mức độ tác động của con người phụ thuộc vào trình độ phát triển của

xã hội và mật độ dân số Vì vậy khi nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ, sựphát triển mạnh mẽ và sự bùng nổ dân số đang ảnh hưởng một cách tiêu cực lên môitrường Thực tế là trái đất đang nóng lên, đa dạng sinh học ngày càng bị suy giảm, lỗthủng tầng ô zôn ngày càng lớn… Con người phải đối mặt với những vấn đề về môitrường ngày càng nghiêm trọng Chính vì vậy mà Liên Hợp Quốc đã tổ chức hội nghịquốc tế “ Con người và môi trường” tại Thụy Điển từ ngày 5/6 đến ngày 16/6/1972

đã nhận định bảo vệ thiên nhiên và bảo vệ môi trường là một trong hai nhiệm vụhàng đầu của nhân loại (cùng với nhiệm vụ bảo vệ hòa bình chống chiến tranh) Vàngày 5/6 trở thành “Ngày môi trường thế giới” Hội nghị đã tuyên bố : GDBVMT làphương pháp quan trọng để hình thành nhận thức và hành vi có trách nhiệm cho cánhân và tổ chức việc bảo vệ và cải tạo môi trường, là một yếu tố quyết định trongviệc giải quyết cuộc khủng hoảng môi trương trên toàn cầu

Từ ngày 13 đến ngày 22/10/1975, chương trình giáo dục bảo vệ môi trường quốc

tế đã tổ chức hội thảo GDBVMT tại Bêôgrat (thủ đô Nam Tư) Hội nghị đã đưa rahiến chương Bêôgrat trong đó có các nguyên tắc và hướng dẫn cho chương trình giáodục bảo vệ môi trường toàn cầu

Tiếp sau đó là hàng loạt cuộc hội thảo khu vực được tổ chức Trong đó hội thảochâu Á- Thái Bình Dương tại Băng Cốc (Thái Lan) vào tháng 10/1976 đưa ra 4 vấnđề: Chương trình GDBVMT, đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, GDBVMT phi chínhquy và vấn đề soạn thảo tài liệu, xây dựng các phương tiện giảng dạy GDBVMT.Tháng 10/1977 một hội nghị quốc tế về GDBVMT tổ chức tại Tbilisi (Cộng hòaGrudia) gồm 66 đại biểu của 66 quốc gia thành viên UNESCO Hội nghị này là đỉnhcao của giai đoạn xây dựng chương trình và đặt cơ sở cho sự phát triển GDBVMTtrên bình diện quốc tế

Tháng 9/1980 tại Băng Cốc(Thái Lan) có cuộc hội thảo châu Á- Thái BìnhDương với sự tham gia của 17 nươc Tại hội thảo này, các nước đã trao đổi kinhnghiệm GDBVMT, đồng thời hội thảo cũng đã nêu ra sự cần thiết phải đưaGDBVMT vào các trường đại học và đào tạo bồi dưỡng cho các đối tượng khác nhaunhư: giáo viên dạy đại học, trung học, tiểu học…

Trang 34

Từ ngày 17-21/8/1987 tại Maxtcơva (Nga) UNESCO và UNEP phối hợp tổ chứchội nghị quốc tế vầ GDBVMT, với sự tham gia của 300 chuyên gia và quan sát viên đến

từ 100 nước của Hội nghị bảo vệ tài nguyên và thiên nhiên quốc tế về các tổ chức kháctham gia Hội thảo đã xây dựng chiến lược quốc tế về chương trình hành GDBVMT chothập kỷ 90 là “ Thập kỉ toàn thế giới cho giáo dục bảo vệ môi trường”

Tháng 6/1992 tại Brazil hội nghị” Môi trường và phát triển” của Liên Hợp Quốc

đã tổ chức Tại hội nghị này có 101 nguyên thủ Quốc gia và khoảng 2 vạn người đạidiện từ 183 nước tham dự Đây là hội nghị có quy mô lớn nhất trong lịc sử Liên Hợp

Quốc, nó được diễn ra sau đúng 20 năm kể từ khi hội nghị Môi trường con người

được diễn ra.Đứng trước nhận thức rằng: Kế hoạc hành động đưa ra 20 năm trướchầu như không được thực hiện nên đã xác định hội nghị này quan trọng để tìm ranhững giải pháp với những vấn đề môi trường

Tóm lại, các hội nghị Quốc tế về môi trường đã khẳng định được tầm quan trọngcủa GDBVMT trong mọi cấp học, đề ra chương trình GDBVMT nói chung, đưa racác mục tiêu và chiến lược hành động quốc tế trong lĩnh vực GDBVMT

1.2.1.2 Lịch sử tình hình tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường ở Việt Nam

Ở Việt Nam, GDBVMT được bắt đầu từ những năm cuối của thập kỉ 70, còn việcGDBVMT trong nhà trường phổ thông được thực hiện vào đầu năm 1981 với một số nộidung sách giáo khoa được cải tiến Đây cũng là thời điểm các công trình nghiên cứukhoa học về vấn đề này được phát triển, đặc biệt năm 1986 tác giả Nguyễn Dược đã đềcập đến việc GDBVMT trong nhà trường phổ thông, trong đó khẳng định tầm quantrọng của GDBVMT ở Việt Nam Từ đó trở đi, công tác GDBVMT trong nhà trườngphổ thông mới thực sự được chú trọng Vấn đề lồng ghép, tích hợp GDBVMT thông quacác môn học có một số công trình nghiên cứu như “Một số phương pháp tiếp cậnGDBVMT” của tác giả Hoàng Đức Nhuận và Nguyễn Văn Khang, “Vị trí và bước đầuđịnh hướng nội dung, biện pháp GDBVMT ở bậc tiểu học ” của tác giả Nguyễn ThịThấn, “GDBVMT qua môn Địa lý” của tác giả Nguyễn Thị Kim Cương và Nguyễn PhiHạnh, “Giáo dục môi trường qua dạy học phần sinh thái học lớp 11- THPT” của tác giảDương Tiến Sỹ, “Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông” tài liệu bồi dưỡngthường xuyên chu kì 1992- 1996 cho giáo viên

Trang 35

môn Sinh học, Địa lý; tài liệu “Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn sinh học trunghọc phổ thông” của tác giả Ngô Văn Hưng….

Nhìn chung , các đề tài nghiên cứu về GDBVMT thông qua các môn học ở trườngphổ thông vẫn còn khiêm tốn, chủ yếu đi sâu vào cơ sở lý luận và xây dựng các mẫuthiết kế hoạt động ở mức độ chung, mang tính định hướng , còn thiếu những gợi ý cụthể cho giáo viên, điều này gây khó khăn cho giáo viên khi tiến hành các hoạt độngGDBVMT cho học sinh Một số tài liệu đã cụ thể song chỉ tập trung chủ yếu tích hợpGDBVMT trong phần Sinh thái học lớp 12 chứ chưa có tài liệu nào đi sâu vàonghiên cứu tích hợp GDBVMT trong chương chuyển hóa vật chất và năng lượng-Sinh học 11 Chính vì vậy, chúng tôi thấy việc đưa GDBVMT vào trường phổ thông

là rất cần thiết, mong sao sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc GDBVMT thôngqua việc dạy bộ môn Sinh học nói chung và đặc biệt chương chuyển hóa vật chất vànăng lượng- Sinh học 11, THPT

1.2.2 Các văn bản pháp quy về giáo dục bảo vệ môi trường

1.2.2.1 Nghị quyết và chỉ thị của Bộ Chính trị

Ngày 20/06/1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành chỉ thị số 36- CT/TW về

đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tiếp đó, ngày 15/11/2004- NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hai văn kiện quan trọng với cùng một

nội dung đã cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Đảng và tiến trình logic của quá trìnhchỉ đạo của cơ quan đầu não của Đảng liên quan đến các quan điểm và chính sách vềbảo vệ môi trường

1.2.2.2 Nghị quyết số 1363/QĐ-TTg

Ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề duyệt dự án

“Đưa nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”

Mục tiêu của đề án:

Giáo dục học sinh, sinh viên vào các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong hệthống giáo dục quốc dân, có hiểu biết về pháp luật và chủ trương chính sách củaĐảng, Nhà nước về Bảo vệ môi trường; có kiến thức về môi trường để tự giác thựchiện Bảo vệ môi trường Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy, giáo viên, cán

bộ nghiên cứu khoa học công nghệ và cán bộ quản lí về BVMT

Trang 36

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về BVMT.

Tổ chức chỉ đạo về việc đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và quản lí về lĩnh

vực môi trường để đảm bảo nguồn nhân lực cho việc nghiên cứu, quản lý, thực hiện công nghệ BVMT, phát triển bền vững đất nước

Tăng cường cơ sở vật chất cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ bảo vệ môi trường trong các trường học

Thông tin giáo dục về BVMT trong nước, khu vực và trên thế giới

1.2.2.3 Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

Bốn quan điểm của Chiến lược:

0 Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không thể tách rời của

Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, là cơ sở quan trọng để phát triển bềnvững đất nước Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững

1 BVMT là nhiệm vụ của toàn xã hội , của các cấp, các ngành, các tổ chức,

cộng đồng và toàn mọi người dân; BVMT mang tính quốc gia, khu vực vàtoàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực với tang cường hợp tácquốc tế

2 BVMT phải dựa trên cơ sở tăng cường quản lí nhà nước, thể chế và pháp luật

đi đối với việc nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân, của toàn xã hội về việc BVMT

3 BVMT là việc làm thường xuyên, lâu dài Coi phòng ngừa là chính, kết hợp

với xử lý và kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện chất lượng môitrường; tiến hành có trọng tama, trọng điểm; coi khoa học và công nghệ làcông cụ hữu hiệu trong BVMT

Định hướng lớn đến năm 2020

Trang 37

0 Ngăn chặn về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm, phục vụ suy thoái và nâng cao

chất lượng môi trường, đảm bảo phát triển bền vững đất nước; đảm bảo chomọi người dân được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí,đất nước, cảnh quan và các nhân tố môi trường tự nhiên khác đạt chuẩn mực

do Nhà nước quy định

Mục tiêu đến năm 2010

Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, khắc phục tình trạng suy thoái và cải thiện chấtlượng môi trường; giải quyết một bước cơ bản tình trạng suy thoái môi trường

ở các khu công nghiệp, các khu dân cư đông đúc ở các thành phố lớn và một

số vùng nông thôn; cải tạo và xử lý ô nhiễm môi trường trên các dòng song,

ao hồ, kênh mương

Nâng cao khả năng phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biếnđộng khí hậu bất lợi đối với môi trường; ứng cứu và khắc phục có hiệu quả sự

cố môi trường do thiên tai gây ra

Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái ở mức cao, bảo tồn thiên nhiên và giữ gìn đa dạng sinh học

Chủ động thực hiện và đáp ứng các yêu cầu về môi trường trong hội nhập kinh tếquốc tế, hạn chế các ảnh hưởng xấu từ quá trình toàn cầu hóa đến môi

trường trong nước

Các mục tiêu cụ thể:

0 Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm.

1 Cải thiện chất lượng môi trường.

2 Đảm bảo cân bằng sinh thái ở mức cao.

3 Đáp ứng các yêu cầu về môi trường để hội nhập kinh tế quốc tế và hạn chế

các tác dộng tiêu cực từ mặt trái của toàn cầu hóa

Các giải pháp chiến lược:

0 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm BVMT.

1 Tăng cường quản lý nhà nước, thể chế và pháp luật về BVMT.

2 Đẩy mạnh áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.

Trang 38

Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường

Tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường

1.2.2.4 Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị

sự 21 của Việt Nam)

Những lĩnh vực môi trường cần ưu tiên phát triển bền vững:

Chống tình trạng thoái hóa đất, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên đất

Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước

Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản

Bảo vệ môi trường biển, ven đảo và phát triển tài nguyên biển

Bảo vệ và phát triển rừng

Giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp

Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại

Bảo tồn đa dạng sinh học

Thực hiện các biện pháp làm giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnhhưởng có hại biến đổi khí hậu, phòng và chống thiên tai

1.2.2.5 Luật bảo vệ môi trường năm 2005

Cấu trúc: Luật BVMT năm 2005 so với luật BVMT năm 1993 có nhiều

chương và nhiều điều hơn: 15 chương so với 7 chương; 136 điều so với 81 điều.Luật quy định một cách có hệ thống các hoạt động BVMT, chính sách, biện pháp, nguồn lực, quyền và nghĩa vụ BVMT của các tổ chức, cá nhân

Quy định rõ trách nhiệm BVMT của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cộng

đồng, hộ gia đình, cá nhân; phân công, phân cáp quản lý BVMT rõ rang hơn; giảmbớt các thủ tục hành chính gây phiền hà đối với doanh nghiệp, người dân, thể hiện

rõ quan điểm cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước

Cho phép áp dụng nhiều công cụ, chế tài mạnh có tính răn đe cao hơn, quy

định các nguồn lực cụ thể cho BVMT cũng như tăng cường năng lực quản lí nhànước từ trung ương đến địa phương nên hiệu lực thi hành của luật BVMT đượcđảm bảo

Trang 39

Xã hội hóa mạnh mẽ các hoạt động BVMT nhằm tạo cơ hội để cho mọi đối tượng cóthể tham gia vào BVMT và huy động mọi nguồn lực trong xã hội cho BVMT.

Có tính đến tác động của các vấn đề môi trường toàn cầu, thúc đẩy hội nhập kinh tếquốc tế và đẩy mạnh việc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế cũng như nâng

cao vai trò, vị trí của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế và khu vực về môi trường

1.2.2.6 Luật đa dạng sinh học

Luật đã được quốc hội khóa XII thông qua tại kì họp thứ tư (ngày 13/11/2008) vàchính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 Đây là luật đầu tiên quy định vê bảo tồn vàphát triển bên vững đa dạng sinh học Luật gồm 8 chương, 78 điều quy định về bảo tồn

và phát triển bền vững đa dạng sinh học Luật tập trung điều chỉnh các nội dung liênquan tới quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học; bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái

tự nhiên;bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật; bảo tồn và phát triển bền vữngtài nguyên di truyền; hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học

1.2.2.7 Chỉ thị số 02/2005/CT-Bộ Giáo dục và Đào tạo

Ngày 31/1/2005 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ra chỉ thị số 02/2005 về việctăng cường công tác GDBVMT Đặc biệt nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2010 là việctriển khai thực hiện đề án ở tất cả các cấp học Chỉ thị yêu cầu các cấp quản lý giáodục, các cơ sở giáo dục tập trung chỉ đạo và thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác BVMT và nâng cao nhiệm

vụ GDBVMT

Thực hiện các mục tiêu giáo dục và đòa tạo về BVMT nêu trong quyết định số 1363/QĐ- TTg của thủ tướng chính phủ

Thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến 2010

Tổ chức thực hiện chỉ thị quy định rõ trách nhiệm của các vụ trong Bộ GD&DT,các Sở, các Đại học, học viện, viện, trường đại học, cao đẳng, trung họcchuyên nghiệp

1.2.3 Tình hình giáo dục bảo vệmôi trường thông qua dạy học chương chuyển hóa vật chất và năng lượng, Sinh học 11, trung học phổ thông

Trang 40

1.3.2.1 Mục đích giáo dục bảo vệ môi trường trong trường phổ thông

Theo hội nghị UNESCO (1977) GDBVMT bao gồm các nội dung giáo dục thái

độ, rèn luyện kỹ năng bảo vệ môi trường, sử hợp hợp lý các nguồn tài nguyên thiênnhiên, hình thành các mô hình mới về cách ứng xử các cá nhân, cộng đồng và xã hội

về môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững

Mục đích GDBVMT trong nhà trường phổ thông là : cung cấp một số hiểu biết cơbản cơ bản về môi trường, tài nguyên thiên nhiên và tình hình sử dụng các tài nguyênViệt Nam cũng như tình trạng môi trường hiện nay, nguyên nhân và hậu quả sinhthái; giúp học sinh thấy được mối liên quan ảnh hưởng lẫn nhau giữa các tác độngcủa các hoạt động sống của con người tới môi trường thông qua việc khai thác và sửdụng không hợp lý các tài nguyên thiên nhiên từ đó xây dựng ý thức, trách nhiệm về những hành động của bản thân xã hội với môi trường sống Cụ thể :

1/ Giúp học sinh có được những hiểu biết về môi trường nơi họ sống, làm việc…cũng như vấn đề môi trường liên quan trong khu vực và toàn cầu

2/ Giúp học sinh nhận thức mối tác động tương hỗ 2 chiều giữa các yếu tố kinh tế- xãhội, chính trị, văn hóa tới môi trường

3/ Làm cho học sinh hiểu được vai trò và sự tác động của con người tới môi trường (bao gồm hai mặt tích cực và tiêu cực)

4/ Giáo dục thái độ tích cực, các giá trị và kỹ năng làm cho học sinh tự giác có ý thức, trách nhiệm và hành động tham gia bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

1.2.3.2 Sự cần thiết tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào dạy học chương

chuyển hóa vật chất và năng lượng- Sinh học 11

Những hiểm họa suy thoái môi trường đang ngày càng đe dọa cuộc sống của loài người Chính vì vậy, BVMT là vấn đề sống còn của nhân loại và của quốc gia

GDBVMT là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và phát triển bền vững

Ngày đăng: 05/12/2017, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w