1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án dân sự và ý nghĩa trong quá trình giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo BLTTDS 2015

13 377 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 30,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A.MỞ ĐẦU1B.NỘI DUNG1I.Thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm11.Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ12.Thành phần phiên họp23.Trình tự phiên họp34.Biên bản phiên họp35.Ý nghĩa thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm4II.Thủ tục hòa giải trong vụ án dân sự61.Khái niệm, nguyên tắc hòa giải vụ án dân sự62.Phạm vi hòa giải73.Thành phần phiên hòa giải94.Phiên hòa giải và ra quyết định đối với phiên hòa giải104.1.Phiên hòa giải104.2.Ra quyết định với việc hòa giải115.Vai trò, ý nghĩa của việc hòa giải trong giải quyết vụ án dân sự12C.KẾT LUẬN13

Trang 1

Phân tích thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án dân sự và ý nghĩa thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo quy định của BLTTDS 2015.

A MỞ ĐẦU

Quá trình giải quyết vụ án dân sự là một quá trình mang tính chất phức tạp, kéo dài, ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động của các đương sự và chủ thể có liên quan Chính vì thế, từ lâu các nhà làm luật đã chú trọng xây dựng các quy phạm pháp luật điểu chỉnh việc giải quyết các tranh chấp này gọi là hoạt động tố tụng dân sự Quy định cụ thể, chặt chẽ và chi tiết trong Bộ luật tố tụng dân sự

2015 là các quy trình tiến hành giải quyết một vụ án dân sự Trong đó, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án dân sự

có một ý nghĩa quan trọng Trong bài tập lần này, sinh viên xin lựa chọn đề tài này để làm rõ một số vấn đề liên quan

B NỘI DUNG

I Thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ

trong quá trình giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm

1 Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ

Theo quy định tại Điều 208 BLTTDS 2015, thẩm phán là người phụ trách ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm thông báo cho nguyên đơn biết về những quyền và nghĩa vụ của mình, thời gian địa điểm và nội cung của phiên họp trước khi tiến hành

Trong trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải

Trang 2

Thẩm phán, thẩm tra viên được phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ

để xác định nguyên nhân tranh chấp để bảo vệ người chưa thành niên trong vụ

án hôn nhân và gia đình Bên cạnh đó, để đảm bảo được tính khách quan và công bằng, khi xét thấy cần thiết thì thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của một

số cơ quan có thẩm quyền về nguyên nhân tranh chấp và nguyện vọng của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan

Trường hợp vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người nuôi con, thẩm phán phải xem xét ý kiến của người con chưa thành niên từ đủ 7 tuổi trở lên, có thể có đại diện một số cơ quan chức năng chứng kiến Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác phải đảm bảo phù hợp, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên

2 Thành phần phiên họp

Quy định tại điều 209 BLTTDS 2015, thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ gồm: Thẩm phán chủ trì phiên họp; thư

ký Tòa án ghi biên bản phiên họp; các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể người lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản; gười bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và người phiên dịch (nếu có)

Ta có thể thấy để đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của đương sự, thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngoài đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, còn có sự tham gia của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có) Thẩm phán cũng có quyền yêu cầu cá nhân, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp, tuy nhiên nếu

cá nhân, tổ chức đó vắng mặt thì phiên họp vẫn được tiến hành

Trang 3

Trong phiên họp, viện kiểm sát không tham gia nhưng vẫn thực hiện được chức năng kiểm sát của mình thông qua biên bản phiên họp được lưu cũng như chứng cứ đã được thu thập

3 Trình tự phiên họp

Theo quy định tại Điều 210 BLTTDS năm 2015, thì trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thầm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo Thầm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của BLTTDS Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề sau đây:

Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phẩn tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;

Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;

Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng tại phiên tòa;

Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết

Sau khi các đương sự đã trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự Trường hợp người được Tòa án triệu tập vắng mặt thì Tòa án thông báo kết quả phiên họp cho họ

4 Biên bản phiên họp

Điều 211 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ phải có các nội dung: Ngày, tháng, năm tiến hành phiên họp; Địa điểm tiến hành phiên họp; Thành phần tham gia phiên

Trang 4

họp; Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự về các nội dung tại phiên họp; Các nội dung khác;…Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản và ký xác nhận hoặc điểm chỉ

5 Ý nghĩa thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm

Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là một thủ tục có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, cụ thể:

Đối với việc giải quyết vụ án dân sự: Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,

công khai chứng cứ giúp xác minh tính đúng đắn, hợp pháp của chứng cứ Qua việc kiểm tra, có thể đánh giá được quá trình thu thập, giao nộp chứng cứ có hợp pháp hay không, chẳng hạn như việc thu thập, giao nộp chứng cứ có đúng thẩm quyền không, việc thu thập chứng cứ có hợp pháp không, Bên cạnh đó, trong quá trình diễn ra phiên họp, có thể thẩm định tính đúng đắn của chứng cứ thông qua công khai chứng cứ và việc tiếp cận chứng cứ của đương sự và những người tham gia phiên họp khác Qua đó, có thể loại bỏ những chứng cứ không hợp pháp, không phù hợp, không có ý nghĩa đối với vụ án để giúp cho quá trình giải quyết của tòa tại phiên tòa diễn ra nhanh gon hơn

Bên cạnh tính đúng đắn, hợp pháp Thông qua phiên họp kiểm tra kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ góp phần kiểm tra tính đầy đủ của chứng cứ, Tòa án có thể biết được các chứng cứ đã được giao nộp đã đầy đủ hoặc phải thu thập thêm cho quá trình giải quyết vụ án Bên cạnh đó, kịp thời bổ sung những chứng cứ thay thế cho chứng cứ không họp pháp, không phù hợp đã được công khai trong phiên họp

Trang 5

Kết quả của phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là

cơ sở quan trọng để Tòa án thực hiện các hoạt động tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án, là căn cứ quan trọng cho việc xét xử đưa ra bản án

Việc quy định về phiên họp chuẩn bị xét xử là một trong những nội dung bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bởi lẽ kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ là phương thức để các bên trao đổi chứng cứ, bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có); trao đổi ý kiến và xác nhận những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết; trình bày ý kiến về những vấn đề cần thiết khác

Đối với các bên tham gia tố tụng: Thông qua phiên họp kiểm tra việc giao

nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tạo điều kiện để các bên giao nộp đầy đủ những chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, tiếp cận với những chứng

cứ của các đương sự khác và chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập

Thông qua thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, chứng cứ được công khai, các đương sự đều biết các tài liệu chứng cứ của vụ án

để có thể thực hiện tốt nhất quá trình tranh tụng, góp phần hiện thực hóa quyền của các đương sự trên thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự Bên cạnh đó, khi biết được chứng cứ các bên sẽ được phân tích về những chứng cứ đó tạo điều kiện để nắm rõ tình hình vụ án, và sẽ chủ động thu thập thêm chứng cứ cần thiết để có lợi cho mình, đồng thời có được những cách thức để có thể đối đáp và chống lại chứng cứ của bên kia trong giai đoạn tranh tụng sau này

Giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Đương sự có quyền được biết về những tài liệu, chứng cứ của vụ án liên quan đến mình, qua đó có thể kiểm chứng, chứng minh những chứng cứ đó là đúng hay không đúng, hợp pháp hay không hợp pháp để bảo vệ lợi ích của mình Bên cạnh đó, qua những chứng cứ được công khai, các bên sẽ thấy được những thuận lợi và bất lợi đối với lợi ích của mình, từ đó đi đến những thỏa thuận và cân nhắc việc tiếp tục vụ

án hay dừng lại vụ án ở phiên họp hòa giải

Trang 6

Đối với người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng: Chứng cứ là

căn cứ quan trọng để giải quyết vụ án dân sự nên kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ góp phần giúp người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật tố tụng

Bên cạnh đó, thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ giúp người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng kiểm soát được quá trình giải quyết vụ án một cách tốt nhất để có những phương hướng cho những thủ tục, giai đoạn sau, đặc biệt là phiên họp hòa giải để có thể hòa giải thành trên

cơ sở tuân thủ pháp luật và đảm bảo lợi ích cho đương sự

Kết luận của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng

cứ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi trong quá trình xét xử vụ án, thông thường Thẩm phán Tòa án phải dựa vào chứng cứ để có thể xét xử một cách công bằng, hợp lý, hợp pháp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên có chứng cứ có lợi hơn đối với đối tượng tranh chấp, do đó việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trên cơ sở đã xác minh tính đúng đắn, hợp pháp và đầy đủ giúp Thẩm phán đưa ra kết luận chính xác nhất, hạn chế có kháng cáo, kháng nghị cũng như những thủ tục xét lại bản án như giám đốc thẩm, tái thẩm Nếu không có thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ diễn ra trước khi mở phiên tòa sẽ là một hạn chế lớn cho qua trình tố tụng giải quyết vụ

án dân sự, có thể làm cho thời gian diễn ra phiên tòa lâu hơn và có thể dẫn đến sai sót khi chứng cứ không đúng, không hợp pháp và gây bất lợi cho bên đương

sự đáng lẽ nên được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ, từ đó có thể khiến cho quá trình giải quyết vụ án chưa thể kết thúc, gây tồn kém cả về mặt thời gian lẫn chi phí cho việc tố tụng

II Thủ tục hòa giải trong vụ án dân sự

1 Khái niệm, nguyên tắc hòa giải vụ án dân sự

Trang 7

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hòa giải là thủ tục được Tòa án chủ động tiến hành vào thời điểm trước phiên tòa sơ thẩm, theo đó, Tòa án giải thích các quy định pháp luật có liên quan đến vụ án nhằm giúp các đương sự có thể nắm bắt được quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ dân sự, qua đó giúp

họ dễ dàng đạt được thỏa thuận chung về vấn đề tranh chấp

Vì vậy, có thể hiểu hòa giải vụ án dân sự là một thủ tục tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của vụ án dân sự

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp có nhiều ưu điểm như: đề cao quyền tự định đoạt của các đương sự, rút ngắn quá trình tố tụng, giảm thiểu chi phí tố tụng, đồng thời cũng mang nhiều ý nghĩa xã hội sâu sắc Tuy nhiên, hoạt động này chỉ được tiến hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự,

ở các thời điểm khác Tòa án không tiến hành hòa giải mà có thể công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo điều 246, 300 BLTTDS 2015 Vì vậy, hòa giải

ở thời điểm trước khi mở phiên tòa sơ thẩm là bắt buộc, trừ trường hợp không tiến hành hòa giải được hoặc không được hòa giải theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 205, BLTTDS 2015, khi tiến hành hòa giải cần tuân thủ các nguyên tắc:

Thứ nhất, tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không

được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình

Thứ hai, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm

của luật, không trái đạo đức xã hội

2 Phạm vi hòa giải

Khoản 1 Điều 205 BLTTDS 2015, việc hòa giải được tiến hành với hầu hết các vụ án dân sự (quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS 2015), trừ

Trang 8

những trường hợp pháp luật quy định không được hòa giải, không tiến hành hòa giải được hoặc những vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn

Thứ nhất, những vụ án dân sự không được hòa giải:

Theo Điều 206 BLTTDS 2015, những vụ án dân sự không được hòa giải gồm có:

Trường hợp yêu cầu đòi bồi thường vì lý do thiệt hại đến tài sản của Nhà nước Theo đó, bất cứ hành vi gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước đều là trái pháp luật và buộc phải bồi thường mà không có quyền thương lượng hoặc thỏa thuận với Nhà nước về mức độ bồi thường và bồi thường như thế nào

Trường hợp những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội Những trường hợp giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội là những giao dịch dân sự vô hiệu Tòa án không được hòa giải những vụ án phát sinh từ những giao dịch dân sự vô hiệu này để các bên tiếp tục thực hiện giao dịch dân sự vô hiệu này

Thứ hai, những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được:

Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 207 BLTTDS 2015, đây là những vụ án mà pháp luật quy định phải hòa giải nhưng

vì những lý do khách quan nên không tiến hành hòa giải được, bao gồm:

Một là, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án

triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt Trên thực tế, quy định này lại chưa thật sự hợp lý, bởi lẽ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ

án dân sự bao gồm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập Đối với người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, nếu Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà họ vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp vụ án không tiến hành hòa giải được là hợp lý Nhưng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền

Trang 9

và lợi ích hợp pháp của chính mình, họ có thể chống lại cả nguyên đơn và bị đơn) nếu Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà họ vẫn cố tình vắng mặt thì phải coi như họ đã từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc có người đại diện hợp pháp tham gia, cho nên ở đây

đã có sự đồng nhất không hợp lý

Hai là, đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính

đáng

Ba là, đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng

lực hành vi dân sự Bởi hòa giải là sự thỏa thuận của chính các đương sự cho nên khi một bên đương sự mất năng lực hành vi dân sự mà ly hôn là quan hệ gắn liền với nhân thân của đương sự đó thì sẽ không thể hòa giải được Tuy nhiên, cần quy định thêm đối với trường hợp người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi theo BLDS 2015

Bốn là, một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải Đây là

điểm mới trong BLTTDS 2015, việc bổ sung trường hợp không hòa giải được này là hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tế, hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án

3 Thành phần phiên hòa giải

Theo quy định tại Điều 209 BLTTDS 2015, thành phần phiên hòa giải bao gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải; Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải; Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự

Trong một vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên tòa hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì thẩm phán hoãn phiên hòa giải

Trang 10

Ngoài ra, phiên hòa giải có sự tham dự của đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động (trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động) Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản; người phiên dịch (nếu có)

Ngoài ra, đối với vụ án hôn nhân gia đình, Thẩm phán có thể yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp Nếu tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, thẩm phán có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân nơi có đất tham gia phiên họp

BLTTDS 2015 quy định rất rõ là người tiến hành hòa giải là thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, còn thư ký chỉ là người giúp việc và phải có mặt trong phiên hòa giải để ghi biên bản hòa giải

4 Phiên hòa giải và ra quyết định đối với phiên hòa giải 4.1 Phiên hòa giải

Trước khi tiến hành hòa giải, Tòa án cần xem xét các đương sự yêu cầu

Tòa án giải quyết các vấn đề gì để xác định các vấn đề mà Tòa án phải tiến hành hòa giải

Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự

có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến cho các đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của BLTTDS 2015

Tại phiên họp, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của

pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để

Ngày đăng: 05/12/2017, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w