1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khai thác chung trong luật biển quốc tế – Lý luận và thực tiễn Việt Nam

20 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 47,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU1 B. NỘI DUNG2 I. Một số vấn đề lý luận về khai thác chung trong luật biển quốc tế2 1. Khái niệm khai thác chung2 2. Vai trò của khai thác chung3 3. Cơ sở pháp lý của việc khai thác chung4 II. Nội dung chủ yếu của thỏa thuận khai thác chung7 1. Xác định phạm vi khai thác chung7 2. Tổ chức quản lý hoạt động khai thác chung7 3. Phân chia lợi nhuận và chi phí8 4. Điều khoản về tranh chấp8 5. Hiệu lực của thỏa thuận khai thác chung9 6. Bảo vệ môi trường10 III. Thực tiễn khai thác chung ở Việt Nam10 1. Hiệp định Hợp tác Nghề cá Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc10 2. Hiệp định Vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia 7/7/198212 3. Thỏa thuận khai thác chung Việt Nam - Malaysia ngày 5/6/199214 C. KẾT LUẬN16

Trang 1

Khai thác chung trong luật biển quốc tế – Lý luận và thực tiễn

Việt Nam

A MỞ ĐẦU

Từ trước đến nay, vấn đề khai thác tài nguyên đối với nhân loại chưa bao giờ là hết nóng Ngày nay, con người luôn quan tâm đến những lợi ích kinh tế thu được từ tài nguyên thiên nhiên, vì vậy nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, con người đã dần chinh phục được các loại tài nguyên trên đất liền Cùng với quá trình khai thác, những tài nguyên trên đất liền đã dần cạn kiệt mà viễn cảnh về một hành tinh mới không khả thi tại thời điểm này, do vậy khai thác biển đang là giải pháp thiết thực hơn cả

Vì những lợi ích to lớn mà biển cả mang lại, các quốc gia không ngừng khao khát mở rộng cũng như khẳng định quyền tài phán của mình trên biển Điều đó tất yếu dẫn đến tranh chấp trên biển trở nên gay gắt và phức tạp hơn Các tranh chấp phát sinh trong quá trình phân định biển (đặc biệt là phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế), các tranh chấp về việc khai thác và sử dụng biển, đặc biệt tại các khu vực chồng lấn, các khu vực giáp ranh với đường phân giới biển ngày càng nhiều, thậm chí có khu vực tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến xung đột vũ trang, đe dọa hòa bình, an ninh khu vực và thế giới

Vì vậy, để điều hòa mâu thuẫn trên biển, Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982 ra đời chính thức xác lập trật tự pháp lý trên biển và được nhiều quốc gia đồng tình ủng hộ Trong đó, chế định về khai thác chung nhận được nhiều sự quan tâm và kì vọng xoa dịu tranh chấp quốc tế trên biển Để tìm hiểu về khai

thác chung, sinh viên xin lựa chọn đề tài: “Khai thác chung trong luật biển quốc tế – Lý luận và thực tiễn Việt Nam”.

Trang 2

B NỘI DUNG

I Một số vấn đề lý luận về khai thác chung trong luật biển quốc tế

1 Khái niệm khai thác chung

1.1 Định nghĩa khai thác chung

Cho đến nay, trên thế giới còn tồn tại nhiều quan điểm về định nghĩa khai thác chung, chưa có sự thống nhất các quan điểm này với nhau Qua nghiên cứu về khai thác chung có thể tạm định nghĩa như sau: “Khai thác chung là một thỏa thuận quốc tế giữa các quốc gia nhằm xác lập một cơ chế nhất định để cùng nhau thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại một vùng biển đã được ấn định trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền của các quốc gia đối với vùng biển đó và chia sẻ lợi nhuận một cách công bằng theo đúng các

quy định của luật pháp quốc tế” Đây là giải pháp hòa bình để khai thác tài

nguyên, đảm bảo quan hệ láng giềng thân thiện, dựa trên nguyên tắc chủ quyền, quyền chủ quyền và các quyền tài phán trên biển của quốc gia, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại

1.2 Đặc điểm khai thác chung

Thứ nhất, thỏa thuận khai thác chung không làm ảnh hưởng đến yêu sách

chủ quyền lãnh thổ cũng như quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia

ven biển Ví dụ như Thỏa thuận Hàn Quốc - Nhật Bản đã quy định: “Không có quy định nào của thỏa thuận này gây ảnh hưởng tới quyền chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần của khu vực khai thác chung, cũng như gây phương hại tới quan điểm của các bên liên quan trong qua trình phân định thềm lục địa.”

Thứ hai, khai thác chung không làm ảnh hưởng đến việc phân định vùng

biển giữa các quốc gia và không nhất thiết phải là một cam kết lâu dài hay vĩnh cửu Tuy nhiên, cũng có một số thỏa thuận khai thác chung trở thành những thỏa thuận vĩnh cửu, ví dụ như: Thỏa thuận giữa Iceland và Janmayen (10/1981) hay giữa Bahrain và Ảrập Xêút (02/1958)

Trang 3

Thứ ba, thỏa thuận khai thác chung không nhất thiết phải bao gồm các

hoạt động diễn ra trong khu vực chồng lấn Ví dụ: Thỏa thuận giữa Nhật Bản và Hàn Quốc chỉ nhằm phát triển về tài nguyên thiên nhiên; Thỏa thuận giữa Việt Nam và Malayxia chỉ để khai thác chung dầu khí

Thứ tư, vấn đề về đường biên giới hầu như không được đề cập đến trong

thỏa thuận khai thác chung Điều này sẽ giúp các bên tránh được những khó khăn trong quá trình xây dựng vùng khai thác chung Ví dụ trong thỏa thuận giữa Ả rập Xêút và Suđăng, thay vì vạch đường biên giới người ta quyết định chọn toàn bộ khu vực thềm lục địa sâu dưới 1000 m để khai thác chung

Thứ năm, khai thác chung còn được áp dụng trong trường hợp có mỏ tài

nguyên nằm vắt ngang qua đường biên giới để tối ưu hóa phát triển mỏ hoặc để quản lý và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên sinh vật phong phú tại khu vực này

Thứ sáu, tùy thuộc vào nội dung khai thác chung mà các bên định ra một

quy chế quản lý riêng cho khu vực khai thác chung Thông thường các bên phân khu vực quản lý hoặc áp dụng một chế độ quản lý chung, các bên cùng khai thác và chia đều nguồn lợi Nhìn chung quy chế này là hết sức mềm dẻo

2 Vai trò của khai thác chung

Khai thác chung đã được các quốc gia lựa chọn trước hết với vai trò là

một giải pháp nhằm xoa dịu tranh chấp, bất đồng trên biển giữa các quốc gia Với giải pháp này, tranh chấp có thể tạm được gác lại mà không làm ảnh hưởng đến yêu sách của mỗi bên tại khu vực tranh chấp đó, hạn chế việc tranh chấp kéo dài có thể dẫn đến tình trạng quan hệ chính trị căng thẳng hay kìm chế các hoạt động chạy đua vũ trang và sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp

Đối với khu vực đang còn tồn tại tranh chấp thì các bên không thể đơn phương tiến hành khai thác tài nguyên được, giải pháp khai thác chung sẽ giúp các quốc gia vẫn có thể khai thác được tài nguyên mà lại không trái với luật pháp quốc tế Thậm chí tại các khu vực đã có đường ranh giới xác định nhưng

Trang 4

có nhu cầu khai thác chung thì đây còn là một giải pháp nhằm tối ưu hóa phát triển nguồn tài nguyên và đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên tại khu vực này

Ngoài ra, ở một góc độ nhất định thì khai thác chung còn góp phần giải quyết các tranh chấp biển Khai thác chung sẽ góp phần xây dựng lòng tin giữa các bên và tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực, tạo cơ hội cho thu hút đầu tư nước ngoài

3 Cơ sở pháp lý của việc khai thác chung

Hiện tại không có một văn bản pháp lý nào quy định việc các quốc gia phải hợp tác khai thác chung tại khu vực chồng lấn hoặc nơi có nguồn tài nguyên vắt ngang qua đường biên giới giữa các quốc gia Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể vận dụng một số các quy định của Luật quốc tế như: các nguyên tắc

cơ bản, các điều ước quốc tế song phương, đa phương, các phán quyết của Tòa án quốc tế làm cơ sở cho khai thác chung

3.1 Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tê

Thứ nhất, nguyên tắc giải quyêt các tranh chấp quốc tê bằng biện pháp hoà bình Có thể nói đây nguyên tắc này hình thành, phát triển gắn với và là hệ

quả tất yếu của nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế Nguyên tắc này đặt ra nghĩa vụ lựa chọn biện pháp giải quyết hòa bình giữa các quốc gia có tranh chấp Các quốc gia chủ yếu thông qua thương lượng và đàm phán để đạt được một thỏa thuận chung mà không tổn hại đến quyền tự quyết và chủ quyền của mỗi bên Nguyên tắc này giúp các quốc gia có thể tạm gác tranh chấp sang một bên và cùng nhau thăm dò khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi

Thứ hai, nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác Theo Hiến chương,

các quốc gia có nghĩa vụ “tiến hành hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo trên phạm vi quốc tế” cũng như “duy trì hòa bình và an ninh quốc tế bằng cách tiến hành các biện pháp tập thể có hiệu quả” Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, để cho các quan hệ quốc tế diễn ra thuận

Trang 5

lợi, buộc các quốc gia phải có sự hợp tác với nhau Khai thác chung chính là thể hiện sự hợp tác giữa các quốc gia, bằng lựa chọn này các quốc gia đã tạm thời gạt đi những bất đồng trước mắt để cùng hoạt động vì một mục tiêu là phát triển chung nguồn tài nguyên Các bên cùng thảo luận đi đến một giải pháp tích cực, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia nói riêng và toàn cầu nói chung

Thứ ba, nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kêt quốc tê Đây là

nguyên tắc có lịch sử lâu đời nhất trong các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Khi các quốc gia đã tuân thủ nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế thì nghĩa vụ tự nguyện, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế được đặt ra Nếu bên nào không thực hiện các cam kết của mình thì điều đó làm mất đi giá trị ràng buộc của cam kết đó cũng như làm suy giảm uy tín của quốc gia đó trên trường quốc tế Không chỉ vậy việc không thực hiện thiện chí thỏa thuận khai thác chung tất yếu sẽ dẫn đến bất đồng và khả năng cao là gây nên xung đột

3.2 Các điều ước quốc tê.

Với các điều ước quốc tê đa phương,Công ước Luật biển 1982 đã đem

đến cho các quốc gia một sự lựa chọn tích cực bằng việc đưa ra những quy định

mở, đó là : "Các dàn xêp tạm thời mang tính thực tiễn" Trên thực tế, các bên đã

cùng lập ra vùng khai thác chung và đây được coi là các dàn xếp tạm thời được

sử dụng rộng rãi nhất Bằng lựa chọn này các bên có thể vượt qua được những tranh chấp, bất đồng, tạm gác tranh chấp lại và tạo điều kiện thúc đẩy việc hợp tác khai thác tài nguyên trong giai đoạn chuyển tiếp Công ước cũng khẳng định

"Các dàn xêp tạm thời không phương hại đên việc hoạch định cuối cùng ", các

bên liên quan vẫn có thể khẳng định và duy trì liên tục yêu sách của mình trong khu vực chồng lấn đó Và một điều tất yếu là khi vấn đề tài nguyên, lợi ích kinh tế đã được giải quyết thoả đáng thì việc phân định ranh giới khu vực đó cũng trở nên rất dễ thương lượng

Với các điều ước quốc tê song phương, các điều ước quốc tế song phương

trên thực tế là hết sức phong phú, đa dạng và với các nội dung cũng rất khác

Trang 6

nhau Nhưng tựu chung lại thì vẫn bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hoạt động khai thác chung Và khi điều ước đó đã có hiệu lực thì các bên liên quan cần phải tự nguyện thực hiện đầy đủ các cam kết đã được quy định trong điều ước Thực tiễn đã có rất nhiều quốc gia tiến hành khai thác chung, không chỉ ở những khu vực biển đang có tranh chấp không thể giải quyết ngay mà còn ở cả những khu vực có đường biên giới đã xác định Ví dụ: Thoả thuận Nhật Bản - Hàn Quốc (30/01/1974), Malayxia - Thái Lan (21/02/1979) ở khu vực đường biên giới chưa được xác định, hay như thỏa thuận Aixơlen - Na uy (22/10/1981) nơi có đường biên giới đã xác định

3.3 Các phán quyêt của Tòa án Quốc tê và Ủy ban hòa giải.

Có thể nói, các phán quyết của Toà án quốc tế được coi là tiền đề để vấn đề khai thác chung được pháp điển hoá chính thức tại khoản 3 điều 74 và điều

83 của Công ước Luật Biển 1982 Một trong các phán quyết điển hình có thể kể

ra là phán quyết của Toà án quốc tế trong vụ Thềm lục địa biển Bắc nổi tiếng năm 1969 giữa Tây Đức, Hà Lan và Đan Mạch

Bên cạnh đó, các khuyến nghị của Ủy ban hòa giải quốc tế cũng được coi là cơ sở pháp lý quan trọng của việc khai thác chung Một trong những vụ điển hình đưa ra Uỷ ban hoà giải quốc tế là vụ Jan Mayen giữa Aixơlen và Na uy vào những năm 1980 Sau một quá trình đàm phán căng thẳng nhưng không có kết quả, hai nước đã thống nhất ý kiến chuyển vụ việc phân định thềm lục địa cho một Uỷ ban hoà giải quốc tế Sau khi xem xét Uỷ ban này đã khuyến cáo hai nước bằng một điều khoản cụ thể, với nội dung là: "Nguồn dầu khí trong vùng chồng lấn giữa hai quốc gia nên được khai thác chung” Sau đó hai nước đã ký thoả thuận phân định thềm lục địa ngày 22/10/1981 bao gồm cả những quy định về khai thác chung

Trang 7

II Nội dung chủ yếu của thỏa thuận khai thác chung

1 Xác định phạm vi khai thác chung

Việc xác định phạm vi thích hợp là hết sức quan trọng, thậm chí là điều kiện tiên quyết của mỗi thỏa thuận khai thác chung Các quốc gia sẽ cùng nhau trao đổi, đàm phán đưa ra được một khu vực khai thác chung có diện tích, tọa độ địa lý rõ ràng Thông thường việc xác định được giới hạn trong phạm vi khu vực có tranh chấp về chủ quyền ví dụ: Thỏa thuận Nhật Bản - Hàn Quốc quy định: Vùng khai thác chung có tổng diện tích là 24.092 hải lý vuông được chia thành 9 tiểu vùng; Thỏa thuận Malayxia - Thái Lan quy định phạm vi khu vực khai thác chung rộng 7.300 hải lý vuông được giới hạn bởi 7 điểm được đánh số từ A đến G Tuy nhiên có một số trường hợp khai thác chung diễn ra tại nơi đã có đường biên giới xác định nhằm bảo tồn và khai thác có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên nằm vắt qua biến giới giữa các quốc gia ví dụ như trường hợp hợp nhất hóa mỏ khí Frigg Anh – Nauy Ngoài ra cũng có những thỏa thuận mà phạm vi khai thác chung còn vượt quá cả khu vực đang có tranh chấp như trường hợp khai thác chung giữa Côoét và Ảrập Sauđi

2 Tổ chức quản lý hoạt động khai thác chung

Các quốc gia sẽ thỏa thuận về phương thức quản lý hoạt động khai thác chung sau khi thiết lập phạm vi khai thác chung Thông thường có ba phương thức quản lý khai thác chung như sau:

 Các quốc gia cùng thỏa thuận trao quyền quản lý vùng khai thác chung cho một bên, trong khi đó, các bên còn lại sẽ có trách nhiệm giám sát việc quản lý và chia sẻ doanh thu Ví dụ: Thỏa thuận 1958 giữa Ả rập – Xê út và Bahrain

 Các quốc gia thành lập một công ty liên doanh để cùng thực hiện khai thác Ví dụ: Thỏa thuận giữa Nhật Bản - Hàn Quốc 1974

 Các quốc gia thành lập một ủy ban chung để quản lý vùng khai thác chung Ví dụ: Thỏa thuận Malaysia – Thái Lan năm 1979 và 1990

Trang 8

Việc phân định rõ ràng phạm vi quản lý sẽ giúp các bên tránh được tình trạng chồng chéo về thẩm quyền, đồng thời góp phần đảm bảo việc quản lý và khai thác hiệu quả lợi ích kinh tế tại khu vực, giữ ổn định và hạn chế xung đột trong quan hệ giữa hai nước

3 Phân chia lợi nhuận và chi phi

Có thể nói đây là vấn đề khá nhạy cảm cho nên khó thương thuyết và mất nhiều thời gian để đạt đến đích, bởi vì nó trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế của mỗi quốc gia hữu quan Việc phân chia lợi nhuận công bằng là một bài toán khó Vì vậy, tinh thần hợp tác, thiện chí vì lợi ích chung lâu dài luôn được các nước đề cao khi đàm phán về nội dung này

Đối với các trường hợp khai thác chung tại vùng tranh chấp chưa phân định đường ranh giới thì các nước hữu quan đều chủ trương lấy nguyên tắc bình đẳng, công bằng mà phân chia – tức chia đều Bởi vì lúc này các bên vẫn duy trì yêu sách chủ quyền đơn phương của mình đối với một phần hoặc toàn bộ khu vực khai thác chung Như vậy có nghĩa là quyền lợi mỗi bên tại đó còn chưa được khẳng định Trong lúc này giải pháp tạm thời là tạm gác tranh chấp và tiến hành khai thác chung, còn tài nguyên tất yếu được phân chia đều cho mỗi bên Ví dụ: Thỏa thuận Malayxia - Việt Nam; Nhật Bản - Hàn Quốc

Đối với khu vực có đường ranh giới đã được xác định, như trường hợp có

mỏ tài nguyên nằm vắt ngang qua đường ranh giới hai nước thì nghĩa vụ gánh vác phí tổn và lợi nhuận của mỗi nước hữu quan thường căn cứ vào tỷ lệ diện tích mỏ tài nguyên tại mỗi bên đường ranh giới Ví dụ như trường hợp vùng khai thác chung giữa Xênêgan và Ghinê Bitxao, theo đó nguồn lợi đánh cá được chia đều cho hai bên, còn các tài nguyên khai thác được ở thềm lục địa thì được chia theo tỷ lệ 85% cho Xênêgan và 15% cho Ghinê Bitxao

4 Điều khoản về tranh chấp

Để đảm bảo thực thi khai thác chung được hiệu quả, các bên hữu quan thường trù liệu đến các khả năng phát sinh tranh chấp và giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, mỗi một thỏa thuận khai thác chung lại có những lối giải quyết tranh

Trang 9

chấp khác nhau, nhưng nhìn chung các nước đều có mong muốn giải quyết tranh chấp trước hết bằng con đường ngoại giao, trên tinh thần hợp tác láng giềng thân thiện trên cơ sở phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế

Đường lối giải quyết tranh chấp ở đây có thể là hai bên thống nhất đưa tranh chấp ra “Uỷ ban hòa giải nước thứ ba” như trong thỏa thuận Aixơlen -Nauy, còn như Hiệp định Ôxtrâylia - Inđônêxia lại quy định nếu có tranh chấp thì hai bên thống nhất giao cho trọng tài phân xử, phán quyết của trọng tài phải được Tòa án của nước ký kết thừa nhận và chấp hành Thỏa thuận Nhật Bản -Hàn Quốc quy định: Tranh chấp trước hết phải được giải quyết theo con đường ngoại giao, sau khi con đường ngoại giao thất bại thì sẽ giao cho Uỷ ban trọng tài nước thứ ba giải quyết Ngoài ra, một số nước còn lựa chọn hình thức giải quyết bằng Tòa án quốc tế Ví dụ như thỏa thuận giữa Ảrập – Xuđăng

Thỏa thuận Việt Nam - Malaysia tại lô PM3 CAA quy định: Các bên sẽ cố gắng giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, thương lượng Nếu không đàm phán được, mỗi bên sẽ chỉ định một trọng tài và hai trọng tài viên này sẽ chỉ định một trọng tài thứ ba làm chủ tịch trọng tài Phân xử trọng tài được tiến hành bằng tiếng Anh tại Trung tâm trọng tài khu vực Kuala Lumpur, Malaysia

5 Hiệu lực của thỏa thuận khai thác chung

Vấn đề hiệu lực của thỏa thuận khai thác chung được quy định hợp lý sẽ có tác động tích cực, đặc biệt tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư Thời hạn hiệu lực rõ ràng cũng có nghĩa là sự công khai về khả năng thay đổi của luật pháp, chính sách tài chính, thuế Các nhà đầu tư có thể trù liệu và lập kế hoạch lâu dài cho công việc kinh doanh tại khu vực này, với ý nghĩa đó việc quy định

rõ ràng thời gian cùng nhau khai thác là hết sức quan trọng và cần thiết.Tuy nhiên, thời hạn ngắn hay dài lại tùy thuộc vào ý chí của các bên và thực tiễn của từng khu vực khai thác chung cụ thể Ví dụ như thời hạn có hiệu lực của thỏa thuận Hàn Quốc - Nhật Bản là 50 năm, Thái lan - Malayxia là 50 năm, Ôxtrâylia

- Inđônêsia là 40 năm, Ghinê Bitxao - Xênêgan là 20 năm, và còn có cả các

Trang 10

Hiệp định không đề cập đến thời gian hiệu lực như thỏa thuận Aixơlen - Nauy, Côoét - Ảrập Sauđi

Nhiều Hiệp định cũng quy định cụ thể các trường hợp đình chỉ hiệu lực của thỏa thuận khai thác chung Ví dụ như Hiệp định Nhật Bản - Hàn Quốc quy định thời hạn có hiệu lực là 50 năm nhưng nếu hai nước cùng thừa nhận hầm mỏ trong vùng không còn giá trị khai thác thì có thể qua sự đồng ý của hai bên để đình chỉ Ngoài ra còn có Hiệp định lấy việc hoạch định ranh giới làm nguyên nhân để đình chỉ hiệu lực của thỏa thuận khai thác chung như trường hợp giữa Malayxia và Thái Lan

6 Bảo vệ môi trường

Nhằm mục đích khai thác bền vững, thực hiện trách nhiệm chung của toàn nhân loại, thỏa thuận khai thác chung luôn được các bên đưa ra những nội dung về bảo vệ môi trường, bảo tồn sinh vật sống dưới nước Bởi trong hoạt động khai thác tài nguyên, đặc biệt là dầu khí, luôn tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường Ví dụ: Hiệp định Nhật Bản - Hàn Quốc, điều 20 quy định hai bên phải thương lượng áp dụng các biện pháp để ngăn chặn và khắc phục ô nhiễm

do thăm dò khai thác tài nguyên gây ra

III Thực tiễn khai thác chung ở Việt Nam

1 Hiệp định Hợp tác Nghề cá Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc

1.1 Tổng quan về nội dung hiệp định

Hiệp định Hợp tác Nghề cá vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ký ngày 25/12/2000 tại Bắc Kinh, bao gồm có mở đầu, bảy phần, 22 điều và 1 phụ lục

Hiệp định quy định khá chi tiết và cụ thể, nhưng trong phạm vi bài viết, sinh viên chỉ nghiên cứu phần “khai thác chung nghề cá” Điều 3 đã xác định

phạm vi “Vùng đánh cá chung” : “ nằm về phía Bắc của đường đóng cửa vịnh

Ngày đăng: 05/12/2017, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w