1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

103 219 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 867 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX đã ra nghị quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, xác định: “ Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯU TẤN LẠI

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ NỘI, năm 2017

Trang 3

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học

xã hội, các khoa, phòng, cơ sở Học viện tại thành phố Đà Nẵng và quý Thầy, Cô trong Học viện Khoa học xã hội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức mới về chuyên ngành chính sách công và tạo điều kiện cho học viên trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học

Học viên xin chân thành biết ơn./

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ Chính sách công “ Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi cùng với sự hướng dẫn

tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Hồ Việt Hạnh

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lưu Tấn Lại

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản 8 1.2 Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số 18 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức người dân tộc thiểu số 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TỈNH QUẢNG NAM 31

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Quảng Nam 31 2.2 Thực trạng triển khai các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam 32 2.3 Kết quả thực hiện mục tiêu giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam 44 2.4 Đánh giá thực trạng triển khai các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam 56

CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG ÁN HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 63

3.1 Quan điểm, định hướng hoàn thiện các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số 63

Trang 6

3.2 Hoàn thiện các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số 67

KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC : Cán bộ, công chức

CCCX : Công chức cấp xã

CMNV : Chuyên môn nghiệp vụ

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

CT-XH : Chính trị -xã hội

DTTS : Dân tộc thiểu số

ĐTBD : Đào tạo, bồi dưỡng

GDTX : Giáo dục thường xuyên

HĐND : Hội đồng nhân dân

HNDN : Hướng nghiệp dạy nghề

LLCT : Lý luận chính trị

QLNN : Quản lý nhà nước

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cấp xã là đơn vị hành chính cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính bốn cấp ở nước ta Năng lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã tác động trực tiếp đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của đất nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” Đội ngũ công chức cấp xã là những người trực tiếp nắm bắt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân Đội ngũ này có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát triển kinh tế xã hội Chính vì vậy, Hội nghị Trung ương

5 khóa IX đã ra nghị quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị

ở cơ sở xã, phường, thị trấn, xác định: “ Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở” là một trong những vấn đề cơ bản nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở

Chính sách cán bộ, công chức là hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ CBCC, là công cụ và các giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ CBCC đồng bộ, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ cách mạng Chính sách CBCC bao gồm: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, chính sách sử dụng và quản lý CBCC, chính sách đảm bảo lợi ích và động viên CBCC

Trang 9

2

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC là một trong những giải pháp quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng đội ngũ CBCC trong giai đoạn hiện nay

Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đặc biệt là đối với đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Điều đó được khẳng định trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam: “ củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc Thực hiện chính sách ưu tiên

trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức người dân tộc thiểu số ” [19, tr.122]

Xác định được vai trò và tầm quan trọng của công chức cấp xã người dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Quảng Nam luôn quan tâm, chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực, củng cố chính quyền cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Tỉnh ủy Quảng Nam đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 22/12/2004 về việc đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số Năm 2014, Tỉnh

ủy Quảng Nam ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 15/12/2014 về công tác cán bộ người dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020 và định hướng đến năm 2020.Trong những năm qua, đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam tăng cả về số lượng, chất lượng, phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực thực thi công vụ được nâng cao

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số của tỉnh chưa đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CHH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế Tinh thần trách nhiệm, phong cách lề lối làm việc, năng lực thực thi công vụ của một bộ phận công chức cấp xã người dân tộc thiểu số chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do việc triển khai thực hiện giải pháp chính sách

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

là một trong những giải pháp quan trọng trong chiến lược xây dựng đội ngũ cán

bộ của Đảng và Nhà nước ta Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản

lý, hoạch định chính sách và hoạt động thực tiễn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, khảo sát Đến nay, đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức độ, khía cạnh, hình thức thể hiện khác nhau đã được đăng tải và công bố trên một số sách, báo, tạp chí ở trung ương và địa phương, có thể nêu một số công trình tiêu biểu như sau:

- Nguyễn Đăng Thành (2012), Phát triển nguồn nhân lực ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam- Đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

- Trương Thị Bạch Yến (2014), Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ

Khoa học chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;

- Lô Quốc Toản (2008), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết Học, Học viện

Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;

- Nguyễn Thế Vịnh – Đinh Ngọc Quang (2009), Tiếp tục hoàn thiện chế

độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở, Nxb, Chính trị Quốc gia Trên

cơ sở một số vấn đề lý luận về cán bộ, công chức và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở, rút ra những nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và đề

Trang 11

- Lương Thanh Cường (2011), Một số vấn đề lý luận về định chế pháp luật công vụ, công chức, Nxb, Chính trị-Hành chính, Hà Nội Tác giả đã nêu lên

những vấn đề lý luận và thực tiễn về định chế công vụ, công chức, đưa ra một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện chế định pháp luật công vụ, công chức một cách thống nhất, đồng bộ, góp phần xây dựng nền công vụ công khai, minh bạch, hiệu quả;

- Hiền Lương (2004), “Chính sách của Đảng và Chính phủ nhằm nâng cao chất lượng cán bộ xã vùng cao”, Tạp chí Lý luận chính trị

Các tác giả đều đã phân tích một cách có hệ thống, khá toàn diện về cán

bộ, công chức cấp xã, trong đó có công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số Các tác giả đã đề cập đến những vấn đề cơ bản như: Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của cấp xã trong hoạt động quản lý nhà nước Những ưu điểm và hạn chế của đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay; những chế độ, chính sách đối với cán

bộ, công chức cấp xã và những vấn đề còn tồn tại, bất cập, trong đó có đề cập đến công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “ Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” với mong

Trang 12

5

muốn góp phần đánh giá đúng thực trạng, đề ra giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để giải quyết được mục đích nghiên cứu, luận văn đi vào các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Nghiên cứu cơ sở lý luận về giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Nghiên cứu thực trạng triển khai giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam

Đề xuất các phương án hoàn thiện giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số dưới góc độ khoa học chính sách công

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp tổng hợp, phân tích; điều tra khảo sát thực tế; phương pháp điều tra trực tiếp bằng bảng hỏi được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số; phân tích định lượng từ đó tiến hành phân tích định tính

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn về giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số; qua đó góp phần nhận thức thêm các lý thuyết về chính sách công, từ đó đề xuất các giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc vận dụng các lý thuyết về CSC để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam, từ đó nâng cao hiệu quả chất lượng chính sách trong những năm tiếp theo

Trang 14

7

Những kết luận và những giải pháp rút ra từ luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp tỉnh Quảng Nam trong việc xây dựng, hoạch định chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số trong thời gian đến

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu thành ba chương

Chương 1 Những vấn đề lý luận về giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Chương 2 Thực trạng triển khai giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam

Chương 3 Các phương án hoàn thiện giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Trang 15

8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ

NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm chính sách công

Dưới nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm và mục đích nghiên cứu, các học giả nước ngoài đã đưa ra một số khái niệm chính sách công, như: “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” (B.Guy Peter) B.Guy Peter khẳng định rằng, chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là nhà nước, đồng thời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sống của người dân với tư cách là cộng đồng William Jenkin cho rằng: “ Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được mục tiêu đó”

Ở nước ta cũng có một số tác giả nghiên cứu về chính sách công, cũng đưa ra các khái niệm chính sách công PGS.TS Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) đưa ra khái nhiệm chính sách công với các nội hàm sau: Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, chính sách do nhà nước ban hành nên chính sách công có thể coi là chính sách của nhà nước; chính sách công là những quyết định hành động, bao gồm cả những hành vi thực tiễn, chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà nước hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó mà còn bao gồm những hành vi thực hiện dự định đó Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương

đó chỉ là khẩu hiệu mà thôi; chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề

Trang 16

9

trong đời sống kinh tế-xã hội theo những mục tiêu xác định; chính sách công bao gồm nhiều quyết định có liên quan với nhau PGS.TS Nguyễn Hữu Hải (Học viện Hành chính Quốc gia) cho rằng: Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển

Từ khái niệm chính sách công của các học giả trong nước và nước ngoài thì ta có thể quan niệm: Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt các mục tiêu đề ra

1.1.2 Giải pháp chính sách công

Giải pháp chính sách là cách thức chủ thể chính sách sử dụng để tác động đến đối tượng chính sách để đạt được mục tiêu của chính sách Nói cách khác, giải pháp chính sách đó là cách thức mà chủ thể sử dụng trong quá trình hành động để tối đa hóa kết quả về lượng và chất của mục tiêu chính sách hay còn gọi

là những biện pháp chính sách Giải pháp chính sách thường chứa những cơ chế nhằm quy định các nguyên tắc tác động của chủ thể đến mỗi quá trình làm cho chúng vận động có hệ thống theo một hành lang nhất định Khi đưa ra giải pháp cần xem xét cách thức tác động của nó để đạt mục tiêu chính sách Việc lựa chọn giải pháp, công cụ để can thiệp tùy thuộc vào đặc điểm, năng lực khả năng của Chính phủ (Nhà nước) cũng như điều kiện, hoàn cảnh, tính chất kinh tế xã hội của đối tượng chính sách cụ thể Để thực hiện mục tiêu chính sách thường sử dụng các giải pháp sau: Giải pháp can thiệp thông qua lợi ích kinh tế; giải pháp can thiệp thông qua quan hệ cộng đồng; giải pháp can thiệp thông qua giá trị xã hội; giải pháp can thiệp thông qua tâm lý đám đông Dù áp dụng giải pháp can thiệp nào tác động đến đối tượng để đạt được mục đích chính sách đều phải tuân theo cơ chế phù hợp, đều phải nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng tác động qua lại giữa mục tiêu chính sách và giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách

Trang 17

cụ tài chính; công cụ tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng

1.1.3 Khái niệm công chức cấp xã, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng

lương từ ngân sách nhà nước [29] Như vậy, CCCX phải là công dân Việt Nam;

người muốn làm CCCX phải được tuyển dụng vào một vị trí chức danh chuyên môn nhất định thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển; địa điểm làm việc tại UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Nghị định 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định CCCX có 07 chức danh sau đây:

- Trưởng Công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);

- Chỉ huy trưởng Quân sự;

- Văn hoá - xã hội

Dân tộc thiểu số được hiểu là dân tộc chiếm số ít so với dân tộc chiếm số đông nhất trong một nước nhiều dân tộc Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc định nghĩa: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước

Trang 18

11

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Như vậy, ở Việt Nam, hiện có 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ Việt Nam thì ngoài dân tộc Kinh (dân tộc đa số),

53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số

Từ khái niệm công chức cấp xã và dân tộc thiểu số thì ta có thể hiểu: Công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là những người dân tộc thiểu số được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

1.1.4 Vai trò của công chức cấp xã và công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Chính quyền cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ trong cơ cấu quyền lực nhà nước mà còn là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các cộng đồng dân cư và toàn thể người dân trong địa bàn; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là mắt xích quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhân dân, mọi chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đều phải được thực hiện ở cấp xã

Đội ngũ CCCX đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy CQCX, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ Hiệu lực, hiệu quả của

bộ máy CQCX nói riêng và hệ thống chính trị nói chung xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC CQCX

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ, coi đây là vấn đề then chốt, Người chỉ ra rằng: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để

đặt chính sách cho đúng" [27, tr.240] Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương

Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 3, khóa VIII đã khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng; cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng, hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới; cán bộ nói chung có vai trò

Trang 19

12

quan trọng, cán bộ chính quyền cơ sở nói riêng có vị trí chính trị cơ sở Công chức cấp xã là nơi trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước giới thiệu cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước; phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Nói cách khác đội ngũ CCCX là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng nhân dân

Đội ngũ CCCX là lực lượng nòng cốt trong quản lý và tổ chức công việc của CQCX Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quản theo pháp luật Họ có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ, quyền của con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật Thông qua hoạt động của đội ngũ CCCX, nhân dân được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình

Đối với CCCX là người DTTS ở từng địa phương, họ là những người con của đồng bào dân tộc, sinh ra và lớn lên gắn với đồng bào nơi đây từ nhỏ, là người có cùng tiếng nói, có cùng phong tục tập quán; họ hiểu cuộc sống vất vả

cơ cực của người dân nên họ nắm được tâm tư, tình cảm, lối sống, ý chí, nguyện vọng và tập quán của đồng bào mình Vì vậy, họ càng có vai trò quan trọng khi

ở những vùng có nhiều đồng bào DTTS sinh sống Bên cạnh đó họ còn có vai trò to lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, vừa là lực lượng nòng cốt, vừa là tấm gương trong các hoạt động văn hóa – xã hội, tương thân, tương

ái tạo nên một khối đại đoàn kết vững chắc ở địa phương có nhiều dân tộc anh

em cùng chung sống

1.1.5 Yêu cầu về phẩm chất, năng lực công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Chất lượng của đội ngũ CCCX là sự tổng hợp sức mạnh từ phẩm chất vốn

có bên trong của mỗi công chức và nó được tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất

Trang 20

13

của tổ chức; của công tác ĐTBD, phân công, quản lý, kỷ luật Trong điều kiện hiện nay, CCCX cần đảm bảo các yêu cầu về phẩm chất, năng lực sau:

Về phẩm chất chính trị: Phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng nhất,

quyết định đến năng lực QLNN của CCCX và cũng là yêu cầu cơ bản nhất đối

với người công chức Phẩm chất chính trị của người CCCX được biểu hiện trước

hết là ở sự tin tưởng tuyệt đối vào lý tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là con đường mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn thử thách Phẩm chất chính trị của người CCCX còn biểu hiện thông qua thái độ phục vụ nhân dân dân, gương mẫu trong công tác, trách nhiệm với đời sống của đồng bào, nhân dân địa

phương

Về phẩm chất đạo đức: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Cũng như sông

thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc, không

có gốc thì cây héo; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo

đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [27, tr.252, 253]

Người đặc biệt coi trọng việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ CBCC, bởi theo Người đạo đức là cái “gốc” của con người, đức là cái gốc là rất quan trọng Khi một người đã là cán bộ thì tư cách đạo đức của họ không chỉ ảnh hưởng riêng đến bản thân họ mà còn ảnh hưởng đến Đảng và nhân dân, nhất

là những tính xấu, tính xấu của một người thường có hại cho người đó, tính xấu của cán bộ sẽ có hại cho Đảng, cho nhân dân Điều quan trọng để CCCX được dân tin yêu, ủng hộ không đơn thuần vì danh nghĩa mà chính là ở chỗ công chức phải có đạo đức, trung thực, thực sự gương mẫu trước dân, lo trước dân, vui sau dân, hết lòng chăm lo cho cuộc sống của dân Tinh thần phục vụ nhân dân của CCCX phải được thể hiện trong tác phong làm việc; muốn làm tốt việc lãnh đạo, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà

nước, CCCX phải có tác phong gần dân, trọng dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân

Trang 21

14

Về trình độ năng lực: Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đề cao đạo đức cách mạng mà còn yêu cầu mọi cán bộ đảng viên phải luôn học tập, rèn luyện nâng cao năng lực Người nói: "Năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do công tác, do luyện tập mà có" [27, tr.40]. Năng lực theo Người, nó là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người không phải tự nhiên mà có; năng lực được phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn.UBND xã là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở có trách nhiệm quản lý tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn Mỗi lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội diễn ra trên địa bàn với nhiều tình huống nảy sinh đòi hỏi người CCCX phải có trình độ CMNV, hiểu biết nhất định để tham mưu giải quyết cho thỏa đáng Năng lực của đội ngũ CCCX được đánh giá qua các mặt: Năng lực quản lý các hoạt động trên địa bàn; khả năng tiếp nhận và lựa chọn thông tin để tham mưu ra các quyết định quản lý bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý; năng lực vận dụng pháp luật để giải quyết các vụ việc cụ thể và khả năng

có những phản ứng, những phương án linh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý; khả năng vận động quần chúng nhân dân trong quá trình tổ chức triển khai các văn bản pháp luật của Nhà nước Năng lực của CCCX còn được đánh giá qua tác phong làm việc, phương pháp quản lý nhằm đạt hiệu quả cao nhất,

kỹ năng giao tiếp với nhân dân để có những ứng xử phù hợp với nhiều đối tượng; kỹ năng tuyên truyền để giải thích, thuyết phục nhân dân thực hiện chính sách của Nhà nước, kỹ năng hòa giải

Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ: Khả năng hoàn thành nhiệm vụ là

năng lực "tiềm ẩn" của người công chức, tạo nên sức mạnh để người công chức

có thể hoàn thành công việc với mục đích cuối cùng là hiệu quả Khả năng hoàn thành nhiệm vụ của người CCCX được hình thành bởi một số yếu tố cơ bản sau

đây:

Trình độ văn hóa: Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động

quản lý, thực thi công vụ của đội ngũ CCCX; là nền tảng cho nhận thức, cho

Trang 22

15

việc tiếp thu các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện, vận dụng trong thực tiễn Trình độ văn hóa thấp sẽ hạn chế khả năng nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện các văn bản của Nhà nước, việc phân định một cách rõ ràng giữa quyền hạn và trách nhiệm của người CCCX trong thực hiện nhiệm vụ Do vậy, cần phải nâng cao trình độ văn hóa cho đội ngũ CCCX, đặc biệt là công chức người DTTS trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế

Trình độ lý luận chính trị: Có trình độ LLCT giúp người công chức xây

dựng cho mình lập trường, quan điểm đúng đắn trong quá trình giải quyết công việc của tổ chức, của nhân dân theo đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước bởi vì trình độ LLCT là cơ sở để xác định lập trường quan điểm của CBCC nhà nước nói chung và CCCX người DTTS nói riêng Vì vậy, để nâng cao năng lực của đội ngũ CCCX người DTTS cần thiết phải nâng cao trình độ LLCT

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Một cách chung nhất, trình độ CMNV

được hiểu là trình độ được đào tạo của công chức ở các lĩnh vực khác nhau theo các cấp độ: Sơ cấp, trung cấp, đại học do nhà trường trang bị cho người học được thể hiện qua hệ thống bằng cấp Chắc chắn rằng, nếu đội ngũ CCCX người DTTS không được ĐTBD về CMNV, chỉ làm theo kinh nghiệm hoặc giải quyết mang tính chắp vá, tùy tiện hiệu quả sẽ không cao, thậm chí còn mắc sai sót, vi phạm pháp luật nghiêm trọng Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, người công chức phải có đủ các tiêu chuẩn về trình độ CMNV và kiến thức trong nhiều lĩnh vực khác, như: quản lý kinh tế, quản lý xã hội,

Trình độ quản lý nhà nước: QLNN là sự tác động của các cơ quan trong

bộ máy hành chính nhà nước nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Đó là những phương thức mà người CBCC hành chính sử dụng trong phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ của mình để giải quyết các công việc cụ thể diễn ra hằng ngày trong xã hội nhằm quản lý trật tự xã hội Để thực hiện được hoạt động này, đòi hỏi đội ngũ CCCX cần phải được ĐTBD những kiến thức cơ bản về QLNN

Trang 23

16

chung và nghiệp vụ QLNN chuyên ngành thì mới có được kỹ năng, phương pháp quản lý hiệu quả

Kỹ năng nghề nghiệp: Là khả năng vận dụng kiến thức đã được trang bị,

đào tạo, bồi dưỡng vào thực tiễn công việc Đây là tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực của công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Kỹ năng nghề nghiệp của công chức cấp xã gắn với hoạt động ở những lĩnh vực cụ thể, như: Kỹ năng soạn thảo văn bản, ban hành quyết định quản lý nhà nước, kỹ năng giao tiếp với công dân, kỹ năng xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Kỹ năng nghề nghiệp

là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động công vụ của công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Có những kỹ năng được hình thành qua trường, lớp, cũng có những kỹ năng được hình thành trong quá trình công tác (gọi là kinh nghiệm công tác) Việc hình thành kinh nghiệm công tác của công chức cấp xã phụ thuộc vào khả năng nhận thức, tư duy, phân tích, tích lũy, tổng hợp và rút kinh nghiệm của từng công chức

Đối với công chức cấp xã người dân tộc thiểu số, có những kỹ năng nghề nghiệp cơ bản sau: Kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng phối hợp, kỹ năng soạn thảo văn bản và ban hành quyết định quản lý; kỹ năng thu thập, phân tích, xử lý thông tin; kỹ năng dự báo; kỹ năng tổ chức cuộc họp; kỹ năng thuyết trình; kỹ năng quản lý thời gian; kỹ năng giao tiếp Tất cả các kỹ năng này đều chịu ảnh hưởng của trình độ chuyên môn, khả năng của từng cá nhân và kinh nghiệm công tác của từng người trong quá trình thực thi công vụ

Cụ thể theo Thông tư 06/2012/TT-BNV, ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức

xã, phường, thị trấn, một người CCCX phải đảm bảo các tiêu chuẩn như sau:

Tốt nghiệp trung học phổ thông; tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm; có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng DTTS trong hoạt động công vụ thì phải biết

Trang 24

17

thành thạo tiếng DTTS phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng DTTS thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng DTTS phù hợp với địa bàn công tác được phân công; sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp ĐTBD quản lý hành chính nhà nước và lớp ĐTBD LLCT theo chương trình đối với chức danh CCCX hiện đảm nhiệm Tiêu chuẩn cụ thể đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đối với các chức danh này

Đối với CCCX làm việc tại xã đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được giảm một cấp về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn

1.1.6 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức

Đào tạo là các hoạt động học tập cung cấp những kiến thức, kỹ năng nhằm giúp công chức có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm của mình Đó là quá trình truyền thụ khối kiến thức một cách có hệ thống để người công chức thông qua đó trở thành người có văn bằng mới hoặc cao hơn trình độ trước đó Có thể thấy đào tạo là hoạt động làm cho công chức trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định gắn với vị trí việc làm Quá trình đào tạo được tiến hành trong khoảng thời gian dài và được hiểu là quá trình chuẩn bị cho nguồn nhân lực phát triển trong tương lai

Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc trong quá trình thực thi nhiệm vụ Quá trình bồi dưỡng được thực hiện trong thời gian ngắn, mục tiêu là đáp ứng ngay nhu cầu cần cập nhật, nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản lý cho người học Khối lượng kiến thức, kỹ năng được quy định tại các chương trình bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng công chức Kết quả của các khóa bồi dưỡng là người học thu nhận được những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vị trí việc làm đang đảm nhận

Đào tạo và bồi dưỡng được sử dụng là cầu nối để thực hiện quá trình

Trang 25

18

truyền thụ kiến thức, kỹ năng một cách có kế hoạch Thông qua đào tạo và bồi dưỡng công chức tiếp nhận được kiến thức, kỹ năng để thực thi công vụ một cách có hiệu quả hơn

1.2 Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

1.2.1 Khái niệm giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Theo quan điểm về giải pháp chính sách công nói chung và nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng công chức có thể đưa ra quan niệm: Giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là tổng thể những cách thức, hành động của cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị đối với đội ngũ công chức, nhằm góp phần xây dựng đội ngũ công chức trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Chủ thể ban hành chính sách là Nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính phủ), các bộ ngành thực hiện chức năng quản lý nhà nước CSC được biểu hiện bằng nhiều cấp độ khác nhau: Hiến pháp, Luật Các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số được cụ thể hóa trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, các tổ chức CT-XH như: chiến lược, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định, quyết định, nghị định, thông tư Ngoài ra, các ban Đảng và Văn phòng Trung ương Đảng, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cũng ban hành văn bản chính sách phục vụ việc điều hành quản lý hoạt động của đơn vị mình Trong số các cơ quan kể trên, Ban Tổ chức Trung ương và Bộ Nội vụ là hai cơ quan có vai trò chính trong tham mưu và trực tiếp xây dựng chính sách Như vậy, chủ thể của giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là chủ thể của chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Đội ngũ công chức là đối tượng của giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số vừa là người tham gia xây dựng

Trang 26

1.2.2 Vai trò của giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Chính sách CB, CC là một trong những chính sách quan trọng của Đảng

và Nhà nước có tác động đến định hướng, kiến tạo, điều chỉnh và phát triển đội ngũ CB,CC cả về số lượng, cơ cấu, chất lượng Vì vậy, việc thực hiện các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là những biện pháp, cách thức tác động để thực hiện có hiệu quả chính sách CB,CC Từ thực tiễn cho thấy, giải pháp chính sách CB,CC là một nội dung, một khâu quan trọng không thể thiếu trong công tác cán bộ, có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm các mặt của công tác cán bộ Có giải pháp chính sách CB, CC đúng, đồng bộ vừa định hướng, vừa bảo đảm cho các khâu, các biện pháp xây dựng đội ngũ CB, CC được thực hiện đúng đắn, có hiệu quả Ngược lại giải pháp chính sách CB,CC không hợp lý, thiếu đồng bộ sẽ làm sai lệch, hạn chế kết

Trang 27

20

quả các khâu, các biện pháp xây dựng đội ngũ CB,CC

Từ những lý giải trên, giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số có vai trò tác động đến việc phát triển công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Việc thực hiện các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là một trong các khâu, các nội dung trong quy trình công tác cán bộ, đó là toàn bộ quá trình: quán triệt, cụ thể hóa các giải pháp chính sách; tuyên truyền, phổ biến và áp dụng thực hiện các giải pháp chính sách và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu phát triển đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp

xã người dân tộc thiểu số có đi vào thực tiễn hay không là do việc tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách; chính sách có phát huy tác dụng chỉ khi giải pháp chính sách được tổ chức thực hiện trong thực tiễn tốt hay kém

1.2.3 Các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã

đề ra các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bao gồm: Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với từng loại cán bộ; lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn

cứ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng thống nhất trong hệ thống các trường Nội dung đào tạo phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu đối với từng loại cán bộ; chú trọng cả phẩm chất đạo đức và kiến thức; cả lý luận và thực tiễn; bồi dưỡng kiến thức cơ bản và hướng dẫn kỹ năng thực hành; bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế, khoa học công nghệ, chuyên môn nghiệp vụ, phong cách lãnh đạo ; tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện

kỹ thuật, kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, cải tiến việc biên soạn giáo trình, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

Trang 28

vi quản lý Căn cứ vào vị trí việc làm, chức danh công chức và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của UBND cấp xã để quy hoạch, xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh công chức đã được quy định; nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhằm giúp cho công chức và UBND cấp

xã thực hiện công việc tốt hơn, hiệu quả hơn; nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, về kỹ năng, về thực tiễn, tin học, ngoại ngữ Đây là một trong những nội dung quan trọng để triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hiệu quả theo nhu cầu thực tế Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là cơ sở triển khai thực hiện việc lập kế hoạch, quy hoạch công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức Điều đó thể hiện ở việc đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức công chức cần, không đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức mà cơ sở đào tạo có, đào tạo, bồi dưỡng cái gì, không áp đặt từ trên xuống để giao cho công chức phải học cái gì Nghĩa là, phải căn cứ vào thực tế để thực hiện quy hoạch, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức phù hợp, hiệu quả

1.2.3.2 Giải pháp chính sách về xây dựng và phát triển cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức

Tổ chức hợp lý hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trên

cơ sở phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quy mô đào tạo, bồi dưỡng Tăng cường đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức bao gồm: các Học viện ở Trung ương, Trường

Trang 29

Đội ngũ giảng viên đào tạo, bồi dưỡng là tập hợp những người làm nhiệm

vụ giảng dạy và kiêm nhiệm giảng dạy trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng có đủ tiêu chuẩn theo quy định, gắn bó với nhau bằng chức năng, nhiệm vụ, quyền lợi, quy chế và mục tiêu hoạt động của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng Đội ngũ giảng viên

đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và sự am hiểu đặc trưng của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng sẽ góp phần tạo nên chất lượng tốt Chất lượng đội ngũ giảng viên có vai trò hết sức quan trọng, bởi không chỉ khẳng định vị trí, tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng mà là điều kiện đảm bảo cho đội ngũ giảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ Nhiệm vụ thường xuyên và đặc biệt quan trọng đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng là nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Cụ thể là nâng cao nhận thức và năng lực cho đội ngũ giảng viên thông qua việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bổ sung kinh nghiệm thực tiễn, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, nâng cao kiến thức về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ, hội nhập quốc tế, kiến thức chuyên ngành; tăng cường trách nhiệm và hiệu quả giảng dạy, nghiên cứu khoa học thông qua kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật kịp thời Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015 đã đề ra giải pháp:

“Xây dựng đội ngũ giảng viên đào tạo, bồi dưỡng với cơ cấu hợp lý, có trình độ

lý luận và kiến thức thực tiễn Tăng cường xây dựng đội ngũ giảng viên thỉnh

Trang 30

23

trọng trong việc bảo đảm chất lượng ở mọi hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức Bất kỳ một chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng nào cũng phải bảo đảm thực hiện mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng và yêu cầu phát triển nền công vụ trong điều kiện mới Vì vậy, yêu cầu một chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng mới phù hợp với sự phát triển của thực tế, tăng tính chuyên sâu về chuyên môn và đảm bảo cân đối giữa

lý thuyết và thực hành, gắn với thực tế xã hội Việt Nam là vô cùng cần thiết Điều này thể hiện ở mỗi quá trình đào tạo, bồi dưỡng, bao gồm hai công đoạn gắn bó mật thiết với nhau là: chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng; tổ chức thực hiện chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng

Hiện nay, việc xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức được thực hiện theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP nêu trên, chế độ đào tạo, bồi dưỡng bao gồm: Hướng dẫn tập sự đối với công chức trong thời gian tập sự; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức; bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hằng năm (thời gian thực hiện là 01 tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 8 tiết) Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25/01/2011 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18 đã quy định tại điều 1, chương I, việc thực hiện chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hằng năm của công chức phải theo các chương trình: chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chuyên ngành; chương trình bồi dưỡng cập nhật theo vị trí việc làm; các khóa tập huấn, hội thảo cập nhật theo kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ

Phương pháp ĐTBD: Được xác định trên cơ sở đặc điểm của đối tượng

ĐTBD, nội dung và điều kiện học tập bao gồm dung lượng, thời gian giảng dạy, Phương pháp theo nghĩa chung nhất là tổng hợp tất cả các cách thức giúp người dạy có thể truyền đạt tốt nhất những kiến thức, kỹ năng cho người học có thể tiếp thu tốt nhất

Trang 31

24

Nhìn chung, phương pháp ĐTBD được thực hiện một cách cụ thể là: cách thức đặt vấn đề, tiếp cận vấn đề, giải thích và làm rõ các thuật ngữ, khái niệm, phạm trù, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, Cho đến nay, ở Việt Nam, việc ĐTBD cán bộ thường là qua mấy hình thức sau đây:

Một là, tự ĐTBD Về hình thức này, có người có kế hoạch hẳn hoi, không

qua trường lớp nhưng có ý thức học tập mọi lúc, mọi nơi, nhất là qua cả những thành công và qua cả những thất bại trong công tác để rút ra những bài học cho bản thân mình

Hai là, được ĐTBD theo trường, lớp, theo bài bản có hệ thống, liên thông

từ thấp đến cao

Ba là, vừa được ĐTBD theo trường lớp, vừa được rèn luyện trong thực tế,

vừa là quá trình tự đào tạo

Chủ thể ĐTBD và hoạt động giảng dạy: Chủ thể nói chung được hiểu là người thực hiện hành động mang tính tác động trong quan hệ với đối tượng bị chi phối của hành động Như vậy, chủ thể trong ĐTBD là đội ngũ giảng viên trực tiếp truyền đạt những kiến thức được xác định theo nội dung, chương trình đến người học

Vai trò của người thầy và học viên trong hoạt động ĐTBD là hướng dẫn, trao đổi thông tin quản lý, người thầy không chỉ truyền đạt tri thức mà chủ yếu

là tổ chức quá trình trao đổi thông tin một cách hiệu quả nhất và nhiệm vụ của học viên là trao đổi kinh nghiệm quản lý, công tác, cùng nhau bàn bạc, thảo luận tìm biện pháp giải quyết vấn đề một cách tối ưu Do vậy, đạo đức, trình độ, kinh nghiệm công tác, xử lý tình huống và phương pháp giảng dạy của đội ngũ giảng viên QLNN có vai trò quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến chất lượng ĐTBD công chức Các chủ thể ĐTBD phải biết kết hợp đúng đắn chương trình, nội dung, phương pháp ĐTBD phù hợp với đối tượng trên cơ sở trình độ hiểu biết

về khoa học, chính trị, pháp lý, QLNN và có năng lực truyền đạt tri thức; có

Trang 32

25

bằng cấp khoa học nhất định và có kinh nghiệm tương ứng với đối tượng ĐTBD Vì ĐTBD không đơn thuần chỉ là truyền tải kiến thức, mà là nâng cao năng lực để giải quyết công việc, do mục tiêu ĐTBD công chức là nâng cao trình độ, hoàn thiện kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề

1.2.3.5 Giải pháp về cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã

Chủ trương, chính sách dân tộc nói chung và trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã người dân tộc thiểu số nói riêng được Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, thể hiện ở các văn kiện của Đảng, Nhà nước nhưng tựu trung, đều dựa trên một hệ thống các quan điểm rất cơ bản và nhất quán, đó là:

Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết, sự thống nhất đại gia đình của tất cả các dân tộc Việt Nam Phát huy mọi tiềm năng, nhân tài, vật lực của tất cả các dân tộc, các vùng đất nước vì sự nghiệp chung xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đội ngũ cán bộ công chức người dân tộc thiểu số là những chiến sĩ xung kích của Đảng

và Nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc, là biểu tượng sinh động của khối đại đoàn kết dân tộc Vì vậy, cần có sự quan tâm đặc biệt và có chính sách có tính chất ưu đãi phù hợp với đặc thù của đội ngũ này

Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ quy định chính sách đối với công chức đi đào tạo, bồi dưỡng: Được cơ quan quản lý, sử dụng bố trí thời gian và kinh phí theo quy định; được tính thời gian đào tạo, bồi dưỡng vào thời gian công tác liên tục; được hưởng nguyên lương, phụ cấp trong thời gian đào tạo, bồi dưỡng; được biểu dương, khen thưởng về kết quả xuất sắc trong đào tạo, bồi dưỡng Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Xây dựng, ban hành chế độ khuyến khích công chức không ngừng học tập nâng cao trình độ, năng lực công tác; bố trí kinh phí bảo đảm hoạt động đào tạo, bồi dưỡng

Trang 33

dân, Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [27]

Từ những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, các ngành, các địa phương đã cụ thể hóa thành các chính sách, các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo công chức cấp xã người dân tộc thiểu

số Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã là tổng thể những quy định pháp lý có tính nhất quán, thể hiện thái độ, quan điểm của nhà nước trong việc khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động này trong quản lý nhà nước về CBCC Chính sách CBCC nói chung trong đó có chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là tổng thể các quan điểm, các nguyên tắc và các quy định thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm điều chỉnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, những quyền lợi và nghĩa vụ của đội ngũ công chức, phù hợp với hoàn cảnh khách quan và những mục tiêu của Đảng, Nhà nước trong mỗi thời kỳ lịch sử

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công chức cấp xã, đặc biệt là công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là một trong những động lực để công chức cấp xã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Điều này thể hiện thông qua sự hoàn chỉnh hệ thống quy định pháp luật về chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số, những chính sách ưu tiên đối với công chức

Trang 34

độ chuyên môn nghiệp vụ Ngoài ra, còn một số chính sách mang tính bắt buộc phải tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo quy định Do đó bắt buộc các cơ quan, đơn vị, địa phương phải tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và công chức tham gia

Nguồn tuyển dụng đầu vào là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Tuyển dụng được người đúng ngành, chuyên ngành sẽ làm cho việc bố trí, sử dụng công chức hiệu quả hơn Nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số sẽ ảnh hưởng đến chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ công chức Nó ảnh hưởng rất lớn đến nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng; thời gian đào tạo, bồi dưỡng; số lượng cần phải đào tạo, bồi dưỡng và kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Điều kiện cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng là yếu tố cần thiết có tác động tích cực hoặc hạn chế đến việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần bảo đảm các tiêu chuẩn, trang thiết bị giảng dạy hiện đại

Trình độ, kỹ năng của đội ngũ giảng viên là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Vì vậy, yêu cầu giảng viên phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm đạt chuẩn và kinh qua thực tế công tác Trong đào tạo, bồi dưỡng công chức, giảng viên là người hướng dẫn học viên học tập, rèn luyện

Trang 35

28

kỹ năng làm việc Một nguyên tắc của việc bồi dưỡng là cung cấp kiến thức ở mức cần thiết, rèn luyện kỹ năng đến mức có thể Có được đội ngũ giảng viên có trình độ, kiến thức chuyên môn cao, có kỹ năng và kinh nghiệm thực tế đối với lĩnh vực chuyên môn đảm nhận là yếu tố tích cực tác động đến công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức

Giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã có ảnh hưởng lớn đến kết quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng Giáo trình, tài liệu luôn đòi hỏi cập nhật, đổi mới, biên soạn, kéo theo sự gia tăng cho phí đào tạo, bồi dưỡng Các tài liệu chưa theo hệ thống, chưa đồng bộ gây khó khăn cho giảng viên và học viên khi tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng

Nguồn ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng tốt sẽ tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ chính sách đào tạo, bồi dưỡng Nguồn kinh phí sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng sẽ đem lại kết quả cho tổ chức cũng như cá nhân công chức Ngược lại, nếu nguồn ngân sách được sử dụng sai mục đích, lãng phí ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của công chức cấp xã người dân tộc thiểu số về nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng

1.3.1.3 Các yêu cầu của ngành, địa phương về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số cũng chịu ảnh hưởng bởi những yêu cầu của ngành, địa phương Tuy nhiên, mỗi ngành, mỗi địa phương lại có những yêu cầu, đòi hỏi khác nhau đối với đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Ở những địa phương mà trình độ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số còn yếu, chưa đạt chuẩn theo các quy định của Nhà nước thì nhu cầu đào tạo cao Ở các địa phương trình độ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số đã đạt chuẩn thì yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng thấp hơn Vì vậy, yêu cầu của các địa phương cũng là yếu tố tác động đến chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Trang 36

29

1.3.2 Các nhân tố chủ quan

Nhận thức của đội ngũ công chức người dân tộc thiểu số đối với đào tạo, bồi dưỡng là yếu tố cơ bản quyết định đến kết quả đào tạo, bồi dưỡng Nếu mỗi công chức cấp xã người dân tộc thiểu số đều nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng, nó có tác dụng nâng cao trình độ, kiến thức,

kỹ năng, phương pháp làm việc của bản thân Công chức sẽ ý thức trong việc tự rèn luyện, trau dồi kiến thức, học hỏi, tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng một cách tích cực và có hiệu quả

Ngược lại, nếu đội ngũ công chức cấp xã người dân tộc thiểu số cho rằng việc đi đào tạo, bồi dưỡng chủ yếu là đối phó, học cho qua để chuẩn hóa bằng cấp chuyên môn theo tiêu chuẩn chức danh công chức thì họ sẽ có thái độ thờ ơ khi tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng Như vậy, sẽ gây nên tình trạng lãng phí, tốn thời gian, kinh phí nhưng mục tiêu, kết quả đào tạo, bồi dưỡng sẽ không đạt được

Kết luận Chương 1

Trong chương 1, luận văn đã phân tích làm rõ vấn đề lý luận về giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Cụ thể tác giả luận văn làm rõ các khái niệm công chức cấp xã, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số, khái niệm chính sách công, giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc thực hiện các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số Để thực hiện có hiệu quả các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số phải nắm vững những vấn đề lý luận của chính sách công, những nội dung cơ bản lý luận

về giải pháp đào tạo, bồi dưỡng công chức; nắm vững quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức ở nước ta

Trang 37

30

Với những nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung tại Chương 1 đã cung cấp những cơ sở lý luận khoa học cho việc phân tích, đánh giá thực trạng triển khai giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam ở Chương 2

Trang 38

31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ

NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam nằm ở vị trí trung độ của cả nước, là tỉnh ven biển của dải đất miền Trung, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum; phía Tây giáp tỉnh Se Koong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) và phía Đông giáp biển Đông Quảng Nam

có 18 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 15 huyện, 02 thành phố, 01 thị xã với tổng số 244 xã, phường, thị trấn Toàn tỉnh có 9 huyện miền núi gồm: Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Bắc Trà My, Nam Trà My, Hiệp Đức, Tiên Phước, Nông Sơn Huyện Nam Giang và huyện Tây Giang có 14 xã

có đường biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (142,5 Km) Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.438.37 Km2

Quảng Nam có địa hình nghiêng từ Tây sang Đông Phía Tây là vùng đồi núi, chiếm ¾ diện tích Dựa vào đặc điểm địa hình, địa thế của tỉnh có thể chia thành 3 vùng: vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng ven biển Quảng Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12

Tính đến đầu năm 2015, dân số toàn tỉnh có trên 1,472 triệu người, trong

đó dân số 9 huyện miền núi khoảng 298.000 người (chiếm 20,2% dân số toàn tỉnh) Vùng miền núi là địa bàn cư trú tập trung, lâu đời của các thành phần dân tộc thiểu số của tỉnh Đồng bào dân tộc thiểu số khoảng 127.504 người (42,8% dân số miền núi) Dân tộc Cơ tu với số lượng khoảng 50.244 người, sinh sống

Trang 39

di cư vào với số lượng khoảng 2.700 người

Trong những năm qua, khu vực miền núi tỉnh Quảng Nam đã có bước chuyển về phát triển kinh tế xã hội Kết cấu hạ tầng được đầu tư, triển khai hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia như : 135 (9 huyện miền núi, 80/85 xã), 30a (3 huyện nghèo: Nam Trà My, Phước Sơn, Tây Giang) Chính sách định canh, định cư, hỗ trợ nhà ở cho người nghèo, xóa nhà tạm; các dự án về giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục từng bước giải quyết theo yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản năm 2015 ước tính 2.834 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 16,7% so với cả tỉnh), giá trị sản xuất công nghiệp đạt 5.262 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 8% so với cả tỉnh), giá trị sản xuất dịch vụ đạt 6.497 tỷ đồng (đạt tỷ trọng 13,1% so với cả tỉnh) Thu nhập bình quân đầu người

ở các huyện miền núi khoảng 6,6 triệu/năm

2.2 Thực trạng triển khai các giải pháp chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số tại tỉnh Quảng Nam

2.2.1 Về quy hoạch, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã người dân tộc thiểu số

Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Nam thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác quy hoạch cán bộ, đặc biệt quan tâm tạo nguồn cán bộ lãnh

Trang 40

33

đạo, quản lý là người DTTS Nhờ vậy, cơ cấu, tỷ lệ CBCC người DTTS trong quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ tỉnh đến cơ sở từ khi Nghị quyết 13-NQ/TU, ngày 22/12/2004 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra đời đến nay đã có tiến bộ Số lượng CBCC người DTTS trong quy hoạch nhiệm kỳ sau tăng hơn so với các nhiệm kỳ trước Tỷ lệ cán bộ người DTTS trong quy hoạch ban chấp hành đảng bộ xã, thị trấn nhiệm kỳ 2015-2020 là 84,31%, tăng 63,31% so với nhiệm kỳ 2005-2010 và tăng 63,61% so với nhiệm kỳ 2010-2015; tỷ lệ CBCC cấp xã được cử đi ĐTBD về văn hóa phổ thông, CMNV, LLCT tăng lên

Trên cơ sở quy hoạch, đảng ủy các xã đã chủ động xây dựng kế hoạch ĐTBD cả nhiệm kỳ và kế hoạch từng năm Tuy nhiên, hiện nay việc xây dựng

kế hoạch ĐTBD của các cấp ủy, chính quyền cơ sở và cơ quan quản lý công chức vẫn chưa được quan tâm đúng mức; xây dựng kế hoạch ĐTBD không đúng trình tự, thiếu khoa học nên hiệu quả mang lại không cao Kế hoạch ĐTBD hiện nay chỉ mới dừng lại ở việc cấp ủy, chính quyền cơ sở xây dựng kế hoạch cử con người cụ thể đi đào tạo theo nhu cầu, nguyện vọng của bản thân công chức; các cơ quan quản lý cấp trên như phòng Nội vụ huyện, thị xã, thành phố, Ban Tổ chức Huyện, thị, thành ủy (đối với ĐTBD về lý luận chính trị) tổng hợp báo cáo

Sở Nội vụ và Ban Tổ chức Tỉnh ủy; Sở Nội vụ tổng hợp và xây dựng kế hoạch ĐTBD trên cơ sở đề nghị của các địa phương chứ chưa dựa trên kết quả điều tra, khảo sát xem đội ngũ công chức thiếu cái gì, cần đào tạo hay bồi dưỡng và ĐTBD cái gì, có phù hợp với vị trí công tác và nhu cầu của địa phương hay không Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng ĐTBD CCCX người DTTS thời gian qua

Có thể nói, vấn đề phát triển miền núi, vùng đồng bào DTTS và công tác ĐTBD CBCC người DTTS ở Quảng Nam đã được các cấp ủy, chính quyền quan tâm Tuy nhiên, sự quan tâm đó chưa được cụ thể, vẫn còn chung chung và thiếu tính quyết liệt Vì cho đến nay vẫn chưa có một đề án, chính sách ưu tiên, quy định riêng cho công tác ĐTBD đối với đội ngũ CBCC người DTTS Từ đó,

Ngày đăng: 05/12/2017, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w