Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên hầu hết tất cảcác quốc gia trên thế giới cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm xuất hiệnnhiều loại hình kinh doanh mới như là công ty đa quốc gia (MNCs), công ty xuyên quốcgia (TNCs), công ty toàn cầu (GEs).....Trong đó các công ty toàn cầu là lực lượng chủchốt trong truyền tải khoa học, kỹ thuật, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế thế giới và làmẫu hình thực hiện kiểu tổ chức sản xuất hàng hóa hiện đại.Các công ty toàn cầu khi đầu tư ở một đất nước nào đó sẽ mang lại nguồn lợi íchkhông hề nhỏ cho đất nước chủ nhà như: học hỏi được khoa học công nghệ, đào tạo choxã hội nguồn tay nghề cao cũng như tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, đóng gópvào các vấn đề an sinh xã hội, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa.... Với những vai trò to lớn màTNCs mang lại cho nước chủ nhà mà các nước nhất là các nước đang phát triển luôn cốgắng thu hút đầu tư trực tiếp cũng như gián tiếp từ các công ty toàn cầu nhằm thúc đẩyphát triển kinh tế rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển, đồng thời cócơ hội phát huy lợi thế của mình tham gia vào công cuộc toàn cầu hóa. Tuy nhiên khi mộtcông ty từ nước ngoài đến đầu tư ở một nước mới, có rất nhiều khó khăn cản trở họ, vìvậy mà các công ty toàn cầu muốn phát triển được cần có sự hỗ trợ từ chính phủ củanước sở tại và ngược lại các công ty toàn cầu cũng hỗ trợ chính phủ, nhà nước.Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn là nước thu hút nguồn FDI, FPI cao trongkhu vực cũng như Thế giới từ các công ty toàn cầu. Để đạt được điều này, chính phủnước ta đã có những chính sách phù hợp, linh hoạt tận dụng được những lợi ích mà cáccông ty toàn cầu mang lại. Tuy nhiên các công ty toàn cầu cũng có những mặt hạn chếnhất định khi đến đầu tư ở nước ta như: chuyển giao công nghệ cũ, thuê lao động giá rẻ, ô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT I DANH MỤC BẢNG II DANH MỤC HÌNH III
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG TY TOÀN CẦU 5
1.1 Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nhà nước và công ty toàn cầu 5
1.1.1 Lý luận chung về nhà nước 5
a Khái niệm và nguồn gốc ra đời nhà nước 5
b Bản chất, đặc điểm của nhà nước 7
c Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế 8
1.1.2 Lý luận chung về công ty toàn cầu 9
a Khái niệm và sự hình thành công ty toàn cầu 9
b Cấu trúc, đặc trưng và đặc điểm hoạt động của công ty toàn cầu 11
c Tác động của các công ty toàn cầu tới nền kinh tế thế giới 13
1.2 Cơ sở thực tiễn của mối quan hệ giữa nhà nước và công ty toàn cầu 16
1.2.1 Mục đích của mối quan hệ giữa nhà nước và công ty toàn cầu 16
1.2.2 Thực tiễn mối quan hệ giữa nhà nước và các công ty toàn cầu 17
1.3 Nguyên nhân của mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước và công ty toàn cầu 19
1.3.1 Nguyên nhân khách quan 19
1.3.2 Nguyên nhân chủ quan 19
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG TY TOÀN CẦU 21
2.1 Quan hệ hợp tác từ phía các công ty toàn cầu 21
2.1.1 Quan hệ hợp tác thương mại 21
Trang 3a Mục đích mối quan hệ hợp tác thương mại 21
b Biểu hiện của mối quan hệ 21
2.1.2 Quan hệ đầu tư 26
a Mục đích mối quan hệ đầu tư giữa TNC và nhà nước 26
b Biểu hiện của mối quan hệ đầu tư 27
2.1.3 Quan hệ hỗ trợ phát triển và chuyển giao công nghệ 32
a Mục đích của mối quan hệ hỗ trợ phát triển và chuyển giao công nghệ 32
b Biểu hiện của mối quan hệ hỗ trợ phát triển và chuyển giao công nghệ 32
2.1.4 Mối quan hệ hỗ trợ tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực 38
a Mục đích mối quan hệ hỗ trợ tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực 38
b Biểu hiện của mối quan hệ hỗ trợ tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực 38
2.2 Mối quan hệ từ phía Nhà nước 41
2.2.1 Tạo môi trường luật pháp phù hợp với lợi ích của các công ty toàn cầu 41
2.2.2 Xây dựng chính sách thương mại và đầu tư để thu hút đầu tư nước ngoài 44
2.2.3 Tích cực và chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa và khoa học - công nghệ 47
2.2.4 Cải thiện môi trường kinh tế xã hội 49
2.3 Đánh giá mối quan hệ hợp tác giữa Nhà nước và công ty toàn cầu 50
2.3.1 Tác động tích cực của công ty toàn cầu tới Nhà nước 50
2.3.2 Tác động tiêu cực của công ty toàn cầu tới Nhà nước 53
CHƯƠNG 3: VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ THU HÚT CÔNG TY TOÀN CẦU 61
3.1 Tình hình đầu tư trực tiếp của các công ty toàn cầu vào Việt Nam thời gian qua 61
3.2 Tình hình đầu tư của các công ty toàn cầu vào thị trường Việt Nam đến từ các quốc gia 63 3.3 Tìm hiểu một số công ty toàn cầu lớn hoạt động ở Việt Nam 76
Trang 4KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 5BẢNG CHÚ GIẢI CHỮ VIẾT TẮT
STT Từ Viết tắt Nguyên Nghĩa Tiếng Anh Nguyên nghĩa Tiếng Việt
1 ÁSEAN Association of Southeast
Asians Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2 BOI Broad of Investment Ủy ban Đầu tư Thái Lan
3 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
4 FPI Foreign Portfolio Investment Đầu tư gián tiếp nước ngoài
5 GC Global Corporation Công ty toàn cầu
7 IBM International Business
Machines
Công ty IBM
8 MNC Multinational Corporation Công ty đa quốc gia
9 R&D Research and Development Nghiên cứu và Triển khai
11 TNC Transnational Corporation Công ty xuyên quốc gia
12 UNCTAD United Nations Conference on
Trade and Development
Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc
13 USD United States Dollar Đô la Mỹ
14 WIR World Investment Report Báo cáo đầu tư thế giới
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1 Tỷ trọng xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài năm
Trang 7DANH MỤC HÌNH
1 Hình 2.1 Tốc độ tăng trưởng thương mại, GDP và việc làm
(2008-2015)
23
3 Hình 2.3 Dòng vốn FDI phân theo khu vực kinh tế, 2012
-2014
29
4 Hình 2.4 Các khoản đóng góp từ chi nhánh nước ngoài của
TNC trong nguồn thu chính phủ năm 2012
31
5 Hình 2.5 Số lượng lao động của các chi nhánh nước ngoài 39
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm xuất hiện nhiều loại hình kinh doanh mới như là công ty đa quốc gia (MNCs), công ty xuyên quốc gia (TNCs), công ty toàn cầu (GEs) Trong đó các công ty toàn cầu là lực lượng chủ chốt trong truyền tải khoa học, kỹ thuật, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế thế giới và là mẫu hình thực hiện kiểu tổ chức sản xuất hàng hóa hiện đại
Các công ty toàn cầu khi đầu tư ở một đất nước nào đó sẽ mang lại nguồn lợi ích không hề nhỏ cho đất nước chủ nhà như: học hỏi được khoa học công nghệ, đào tạo cho
xã hội nguồn tay nghề cao cũng như tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động, đóng góp vào các vấn đề an sinh xã hội, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa Với những vai trò to lớn mà TNCs mang lại cho nước chủ nhà mà các nước nhất là các nước đang phát triển luôn cố gắng thu hút đầu tư trực tiếp cũng như gián tiếp từ các công ty toàn cầu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển, đồng thời có
cơ hội phát huy lợi thế của mình tham gia vào công cuộc toàn cầu hóa Tuy nhiên khi một công ty từ nước ngoài đến đầu tư ở một nước mới, có rất nhiều khó khăn cản trở họ, vì vậy mà các công ty toàn cầu muốn phát triển được cần có sự hỗ trợ từ chính phủ của nước sở tại và ngược lại các công ty toàn cầu cũng hỗ trợ chính phủ, nhà nước
Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn là nước thu hút nguồn FDI, FPI cao trong khu vực cũng như Thế giới từ các công ty toàn cầu Để đạt được điều này, chính phủ nước ta đã có những chính sách phù hợp, linh hoạt tận dụng được những lợi ích mà các công ty toàn cầu mang lại Tuy nhiên các công ty toàn cầu cũng có những mặt hạn chế nhất định khi đến đầu tư ở nước ta như: chuyển giao công nghệ cũ, thuê lao động giá rẻ, ô nhiễm môi trường, hủy hoại tài nguyên thiên nhiên Nhận thức rõ được những điều này đòi hỏi nhà nước phải có các biện pháp khắc phục để hạn chế những mặt tiêu cực và phát huy những mặt tích cực của công ty toàn cầu Chính vì vậy việc làm rõ mối quan hệ giữa
Trang 9nhà nước và các công ty toàn cầu trong 2 mối quan hệ kinh tế là vô cùng cần thiết, để phát huy được hết những lợi ích mà công ty toàn cầu mang lại Từ những yếu tố trên đây, cho thấy sự cần thiết của nghiên cứu và hình thành nên đề tài “Mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và Công ty toàn cầu” nhằm nghiên cứu cụ thể các quan hệ hợp tác về kinh tế giữa hai thực thể trên, cũng như tình hình thu hút và sử dụng vốn đầu tư từ các công ty toàn cầu của Việt Nam và đề ra biện pháp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Phùng Xuân Nhạ (chủ biên) (2007), “Các công ty xuyên quốc gia lý thuyết và thực tiễn”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt nội dung: Một trong những động lực quan trọng thúc đẩy toàn cầu hóa và
tăng trưởng kinh tế thế giới là các công ty xuyên quốc gia (TNCs) Sau gần 20 năm thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài, đến nay nhiều TNCs lớn đã có mặt tại Việt Nam Nhận thức được tầm quan trọng của TNCs đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa
đất nước, nhà nước đã triển khai nhiều biện pháp để thu hút các TNCs Cuốn sách “Các
công ty xuyên quốc gia lý thuyết và thực tiễn” làm rõ được các vấn đề liên quan đến
TNCs Trước nhất là về bản chất, chiến lược và hoạt động của các công ty xuyên quốc gia, các lý thuyết về công ty xuyên quốc gia Sau đó làm rõ về vai trò của TNCs trong việc thúc đẩy phát triển các quan hệ thương mạiquốc tế, đầu tư quốc tế, chuyển giao và phát triển công nghệ, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực
2.2 Hoàng Khắc Nam (2008), Công ty Xuyên quốc gia – Chủ thể quan hệ quốc tế,
Tạp chí Khoa học số 24, Nxb ĐHQGHN
Bài nghiên cứu đã cung cấp những thông tin ngắn gọn nhưng đầy đủ về các công ty xuyên quốc gia đồng thời cũng nêu rõ vai trò chủ thể của chúng trong quan hệ quốc tế Tác giả đã phân tích rõ nguồn gốc và quá trình hình thành của các công ty xuyên quốc gia Hơn hết, những thông tin thực tế cùng hệ thống bảng biểu được đưa ra đã làm nổi bật được vai trò chủ thể quan trọng của công ty xuyên quốc gia Tuy nhiên, vì đề tài chỉ tập trung vào đối tượng là các công ty xuyên quốc gia nên chưa đặt công ty xuyên quốc gia
Trang 10trong mối quan hệ với nhà nước, do vậy chưa làm nổi bật được quan hệ hợp tác của hai chủ thể này
2.3 Nguyễn Thiết Sơn (2004), “Giáo trình các công ty xuyên quốc gia”, NXB Đại học
Quốc gia TP Hồ Chí Minh
Tóm tắt nội dung: Khi các công ty đã có mặt hầu như trong nhiều ngành kinh tế
quốc dân nước ta, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tạo ra nhiều việc làm, mở ra nhiều kênh chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực thì việc học tập, nghiên cứu để có những hiểu biết sâu rộng về các công ty xuyên quốc gia là điều hết sức cần thiết Cuốn sách đã trình bày những kết quả trong quá trình nghiên cứu của tác giả bao gồm khái niệm, đặc trưng và các biểu hiện mới, các hoạt động của công ty xuyên quốc gia; đồng thời liên hệ với tình hình tại Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu
Chuyên đề nghiên cứu mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Nhà nước và công ty toàn cầu từ đó đề ra biện pháp khắc phục những khó khăn hiện nay Đồng thời nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu thực trạng thu hút vốn đầu tư từ các công ty toàn cầu của Việt Nam, từ
đó đưa ra những đánh giá xác đáng về mối quan hệ hợp tác này cũng như tác động tiêu cực và tích cực mà nó mang lại
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước và các công ty toàn cầu
- Phạm vi nghiên cứu: Bài nghiên cứu tập trung nghiên cứu mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước và các công ty toàn cầu
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp về tình hình đầu tư từ các
công ty toàn cầu dựa trên sách, báo, tạp chí kinh tế, internet
- Phương pháp phân tích: Phân tích dựa trên các số liệu thu thập được để thấy được
những yếu kém và thành tựu có được của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư từ các công
ty toàn cầu Dựa vào những yếu kém đó đưa ra giải pháp giúp làm tăng nguồn vốn mà các công ty toàn cầu đầu tư vào Việt Nam
Trang 116 Dự kiến đóng góp của đề tài
Đề tài mong muốn đưa ra được cái nhìn khách quan nhất về mối quan hệ hợp tác giữa
nhà nước và công ty toàn cầu, từ đó liên hệ với Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư từ các công ty toàn cầu, góp phần giúp nền kinh tế Việt Nam ngày càng trở nên vững mạnh
7 Bố cục bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước
và công ty toàn cầu
- Chương 2: Mối quan hệ giữa nhà nước và công ty toàn cầu
- Chương 3: Việt Nam và vấn đề thu hút công ty toàn cầu
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN
HỆ KINH TẾ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG TY TOÀN CẦU
1.1 Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nhà nước và công ty toàn cầu
1.1.1 Lý luận chung về nhà nước
a Khái niệm và nguồn gốc ra đời nhà nước
Nguồn gốc ra đời của nhà nước
Nhà nước là một hiện tượng xã hội rất phức tạp, do khác nhau về ý thức hệ, về cách nhìn nhận lịch sử và do những hạn chế có tính chất lịch sử, trong việc giải thích nguồn gốc nhà nước đã hình thành nhiều quan điểm, nhiều học thuyết khác nhau Nhìn nhận một cách khái quát chúng ta có thể phân chia chúng thành hai loại:
- Học thuyết phi Mácxít về nguồn gốc nhà nước:
Thuyết thần học: Nhà nước do thượng đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung Do
vậy, quyền lực nhà nước là vĩnh cửu Sự phục tùng quyền lực nhà nước là cần thiết và tất yếu
Thuyết gia trưởng: Nhà nước là kết quả của sự phát triển từ gia đình, là hình thức tổ
chức tự nhiên của đời sống con người Vì vậy, nó tồn tại trong mọi xã hội
Thuyết khế ước xã hội: Nhà nước là kết quả của một khế ước (một hợp đồng) được
kí kết giữa con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước
Thuyết bạo lực: Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lực của thị tộc
này đối với thị tộc khác
Thuyết tâm lí: Nhà nước xuất hiện do nhu cầu tâm lý của con người nguyên thủy
luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh
Tóm lại, các học thuyết phi Mác xít khi giải thích về nguồn gốc nhà nước đã tách rời nhà nước và phát triển của đời sống vật chất xã hội loài người, không nhìn thấy nguyên
Trang 13nhân vật chất của sự ra đời nhà nước Theo họ, nhà nước là hiện tượng tồn tại mãi cùng
xã hội loài người, là một tổ chức quyền lực của tất cả các thành viên trong xã hội
- Học thuyết của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin về nguồn gốc nhà nước:
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin giải thích nguồn gốc nhà nước trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử, đã chỉ ra rằng: nhà nước không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu bất biến mà là một quá trình lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong Lịch sử xã hội loài người đã trải qua một thời kì chưa có nhà nước đó là chế độ công xã nguyên thủy và sẽ phát triển đến giai đoạn không cần nhà nước Nhà nước này sinh từ trong đời sống xã hội, xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định và khi những điều kiện khách quan của sự tồn tại nhà nước không còn nữa thì nhà nước sẽ tiêu vong
Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy Ở chế độ công xã nguyên thủy, con người bình đẳng về mọi mặt, cùng làm, cùng ăn, cùng hưởng thụ không có sự phân chia giai cấp Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển, dẫn đến sự
ra đời chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và từ đó xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hoà được xuất hiện Điều đó dẫn đến nguy cơ các giai cấp chẳng những tiêu diệt lẫn nhau mà còn tiêu diệt luôn cả xã hội, tạo
ra một tình trạng loạn lạc hỗn độn Xã hội lúc này đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức dập tắt cuộc xung đột công khai giữa các giai cấp ấy, hoặc cùng lắm là để làm cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp và
để thảm hoạ đó không diễn ra, một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời và đó chính là nhà nước
Khái niệm nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội với mục đích bảo về địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội
Trang 14b Bản chất, đặc điểm của nhà nước
Bản chất của nhà nước
Nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với xã hội có giai cấp, nó ra đời khi xã hội loài người phát triển đến một trình độ nhất định nhằm đáp ứng những đòi hỏi của sự phát triển đó Nhà nước là công cụ để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, là một tổ chức quyền lực đặc biệt, có bộ máy chuyên trách để cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lí xã hội Vì thế, nhà nước vừa mang bản chất giai cấp vừa mang tính chất xã hội
Tính giai cấp nhà nước được thể hiện ở chố nhà nước là công cụ thống trị trong xã hội để thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, củng cố và bảo vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội Bản chất giai cấp của nhà nước chỉ rõ nhà nước đó của ai,
do giai cấp nào tổ chức và lãnh đạo, phục vụ lợi ích của giai cấp nào?
Tính xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ trong nhà nước giai cấp thống trị chỉ tồn tại trong mối quan hệ với các giai cấp tầng lớp khác, do vậy ngoài tư cách là công cụ duy trì
sự thống trị, nhà nước còn là công cụ để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội để xã hội tồn tại và phát triển
Đặc điểm của nhà nước
Các nhà nước trong lịch sử có sự khác nhau về bản chất nhưng đều có những đặc điểm chung sau:
Thứ nhất, nhà nước là một tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, có bộ
máy chuyên thực hiện cưỡng chế và quản lý những công việc chung của xã hội Quyền lực này không hòa nhập vào dân cư mà tách khỏi xã hội Chủ thể của quyền lực này là giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế và chính trị trong xã hội
Trang 15Thứ hai, nhà nước thực hiện quản lí dân cư theo lãnh thổ Nhà nước phân chia lãnh
thổ thành các đơn vị hành chính làm cho sự tác động của nhà nước diễn ra trên quy mô rộng lớn nhất, hình thành bộ máy nhà nước ở trung ương và địa phương
Thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia Nhà nước có quyền tự quyết về tất cả các
vấn đề đối nội cũng như đối ngoại
Thứ tư, nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện quản lí bắt buộc với mọi công
dân
nhằm duy trì trật tự và an ninh xã hội, đảm bảo mọi công dân bình đẳng trước pháp luật
Thứ năm, nhà nước quy định các loại thuế và thực hiện thu thuế dưới hình thức bắt
buộc Thuế góp phần xác lập mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước và công dân, tăng cường vai trò quản lý của nhà nước
c Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế
Nhà nước được quy định bởi kinh tế, do điều kiện kinh tế quyết định Từ sự xuất hiện của nhà nước, bản chất, chức năng, hình thức, bộ máy nhà nước đều phụ thuộc vào đòi hỏi khách quan của cơ sở kinh tế Nhà nước cùng các bộ phận khác của kinh tế tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách tỷ giá, nhằm quản lý, điều tiết, chi phối nền kinh tế của quốc gia
Nhà nước ban hành hệ thống đặc biệt là luật kinh tế nhằm tạo ra hành lang pháp lý
an toàn cho sản xuất kinh doanh, duy trì được kỷ cương trật tự về kinh tế và xã hội, hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo quy định của Pháp luật Pháp luật
là công cụ cưỡng chế hành vi của doanh nhiệp nếu như hoạt động kinh doanh của họ làm tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội Pháp luật là còn là công cụ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp
Trang 16Nhà nước sử dụng chính sách tài chính kết hợp với chính sách tiền tệ nhằm đẩy lùi
và kìm chế lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái, giá trị đồng tiền trong nước tạo môi trường
ổn định cho tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao và bền vững, đồng thời điều tiết hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước
Nhà nước sử dụng chính sách tín dụng, ngoại hối, ngoại thương nhằm tìm kiếm tài trợ, nguồn vốn từ nước ngoài và thu hút kiều hối, ổn định tỷ giá hối đoái kiềm chế lạm phát, tiếp nhận viện trợ hoặc vay vốn từ nước ngoài, chuyển giao công nghệ trong và ngoài nước
1.1.2 Lý luận chung về công ty toàn cầu
a Khái niệm và sự hình thành công ty toàn cầu
Trong các tài liệu về công ty toàn cầu, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như: “công
ty quốc tế” (International Enterprise/Firm), “công ty đa quốc gia” (Multinational Corporation – MNC hay Multinational Enterprise – MNE), “công ty xuyên quốc gia” (Transnational Corporation – TNC) và “công ty toàn cầu” (Global Corporation) Tuy nhiên, đó chỉ là cách tiếp cận, sử dụng thuật ngữ trong từng giai đoạn
Những năm 1960, thuật ngữ “công ty quốc tế” được sử dụng nhiều bởi họ muốn nhấn mạnh đặc điểm mang tính quốc tế của công ty Công ty quốc tế là các công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia Công tác quản lí mang tính tập trung cao, việc ra quyết định có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa đồng thời các
vị trí then chốt tại các chi nhánh nước ngoài đều do người của công ty mẹ sang nắm giữ Những năm 1970, thuật ngữ công ty đa quốc gia (MNCs) được sử dụng nhiều hơn nhằm nhấn mạnh tính đa quốc tịch của loại hình công ty Công ty đa quốc gia là các công
ty có chủ sở hữu vốn thuộc công ty mẹ của nhiều quốc gia
Những năm 1980, thuật ngữ công ty xuyên quốc gia (TNCs) được sử dụng rộng rãi
để chỉ các hoạt động xuyên suốt nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, sự chuyển biến trong hoạt động của công ty Công ty xuyên quốc gia là những công ty tư bản độc quyền, chủ sở hữu
Trang 17tư bản là của một nước nhất định Theo quan điểm này,người ta chú ý đến tính chất sở hữu quốc tế của tư bản: vốn đầu tư kinh doanh là của ai, ở đâu…
Tóm lại, xét về bản chất các thuật ngữ trên là tương đương Khi nói về công ty toàn cầu, ta chính là đang nói về công ty đa quốc gia hay ngược lại Chúng đều có đặc điểm chung:
- Hoạt động vượt khỏi biên giới quốc gia
- Có nhiều chi nhánh ở nước ngoài (Theo trường phái Havard: số chi nhánh ở nước ngoài của TNCs tối thiểu là 6 chi nhánh )
- Doanh thu từ các chi nhánh nước ngoài phải chiếm ít nhất 1/3 tổng doanh thu của công ty
Sự khác biệt chủ yếu chỉ là tên gọi và vấn đề sở hữu vốn và các quá trình công nghệ
- Khi nhắc đến Công ty xuyên quốc gia, khái niệm này không bao hàm đến các vấn đề
về sở hữu vốn mà chỉ quan tâm đến các hoạt động kinh doanh như: sản xuất, thương mại, đầu tư quốc tế của công ty
- Còn đối với các tên gọi còn lại, thì các quan niệm này hàm ý rằng sở hữu vốn và các quá trình công nghệ thuộc nhiều quốc gia trên thế giới
Như vậy, trong chuyên đề này, nhóm sẽ sử dụng thuật ngữ “Công ty toàn cầu” và sử dụng tên viết tắt là TNCs để các chương được thống nhất Suy cho cùng về bản chất, các thuật ngữ này có sự tương đồng với nhau
Khái niệm công ty toàn cầu
Công ty toàn cầu, thường viết tắt là GC (Global Corporation) hoặc GE (Global Enterprise) hoặc TNCs (Transnational Corporations) là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ít nhất hai quốc gia Các công ty toàn cầu lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia Công ty toàn cầu có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia
Trang 18Sự hình thành các công ty toàn cầu
Sự hình thành các công ty toàn cầu là kết quả của sự phát triển lâu dài của nền sản xuất và quan hệ quốc tế, nó là kết quả của quá trình tích tụ, tập trung sản xuất trên quy
mô quốc tế làm cho các tổ chức độc quyền quốc gia vươn ra thị trường thế giới, cụ thể có năm nguyên nhân chính:
Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất và tính chất quốc tế hóa của nó biểu
hiện thông qua tích tụ tập trung sản xuất trên quy mô quốc tế (nguyên nhân sâu xa) vì lực lượng sản xuất phát triển đòi hỏi quan hệ sản xuất phát triển thích ứng, xuyên quốc gia chính là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất và doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế marketing, xuyên quốc gia là hình thức tổ chức xí nghiệp quốc tế thích ứng với tính chất quốc tế hóa của lực lượng sản xuất
Hai là sự phát triển của công cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt thành
tựu của cuộc cách mạng thông tin đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho quản lý từ xa vì cách mạng khoa học công nghệ phát triển dẫn đến năng suất lao động cao, các ngành công nghiệp mới ra đời, mối quan hệ kinh tế thế giới thay đổi, thị trường thế giới mở rộng, mối quan hệ đầu tư, chuyển giao công nghệ tạo sự phụ thuộc giữa các nước
Ba là, sự phát triển của đầu tư quốc tế đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo sự
phụ thuộc giữa các quốc gia Đầu tư quốc tế tạo ra mạng lưới liên hệ mật thiết lẫn nhau giữa các công ty và các nền kinh tế
Bốn là, vai trò điều tiết của nhà nước, nhà nước như “ bà đỡ”, chất xúc tác không
thể thiếu cho sự ra đời của các TNCs đặc biệt trong kinh tế đối ngoại, những hỗ trợ thông tin, ưu đãi tín dụng, thuế
Năm là lợi ích của kinh doanh quốc tế thông qua các chi nhánh có thể tận dụng
được lợi thế của nước chủ nhà góp phần tăng sức cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất và tăng tối đa lợi nhuận
b Cấu trúc, đặc trưng và đặc điểm hoạt động của công ty toàn cầu
Trang 19Cấu trúc của các công ty toàn cầu: Các công ty toàn cầu có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất:
- Công ty toàn cầu “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương
tự ở các quốc gia khác nhau (Ví dụ: McDonalds)
- Công ty toàn cầu “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (Ví dụ: Adidas)
- Công ty toàn cầu “đa chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (Ví dụ: Microsoft)
Đặc trưng của công ty toàn cầu
Một trong những đặc điểm của TNCs chính là các chi nhánh của nó phải chịu tác động của các áp lực môi trường quan trọng như các đối thủ cạnh tranh, khách hàng, nhà cung ứng, các tổ chức tài chính, và nhà nước kể cả trong và ngoài nước Trong một số trường hợp, các áp lực tương tự nhau cùng hiện hữu tại nước nhà và nước khách Ví dụ, rất nhiều đối thủ cạnh tranh của công ty GMC tại thị trường Hoa Kỳ thì cũng tương tự như tại thị trường Châu Âu: Ford, Chrysler, Honda, Volkswagen và Volvo
Một đặc điểm thứ hai của TNCs đó là các chi nhánh của chúng cùng sử dụng một nguồn lực chung, các nguồn lực này bao gồm các tài sản hữu hình, sáng chế, nhãn hiệu, thông tin, và nhân lực Do các chi nhánh là một bộ phận của TNC cho nên nó được quyền
sử dụng những tài sản mà các đơn vị bên ngoài không được quyền sử dụng Ví dụ, cả Ford và GMC cạnh tranh với nhau rất quyết liệt tại thị trường EU và rất nhiều kiểu dáng được thiết kế và phát triển tại thị trường EU cũng đã được sử dụng tại thị trường Hoa Kỳ Mặt khác dòng thông tin hai chiều giữa thị trường EU và Hoa Kỳ do các chi nhánh thực hiện đã góp phần phát triển một thị trường thế giới hoàn chỉnh Tương tự như vậy, nếu một chi nhánh tại Nhật Bản cần mở rộng ngân quỹ, TNC sẽ xem xét khả năng vay nguồn
Trang 20ngân quỹ nầy tại thị trường địa phương có thấp hay không, nếu không thì TNC sẽ sử dụng nguồn lực từ công ty để cho chi nhánh nầy sử dụng
Một đặc điểm thứ ba của TNC chính là các chi nhánh của TNC được liên kết với nhau bởi một sứ mệnh chiến lược chung Mỗi TNC sẽ xây dựng một kế hoạch chiến lược
để phối hợp hoạt động của các chi nhánh một cách đồng bộ và có hiệu quả nhất Tùy theo đặc điểm của từng TNC, các kế hoạch chiến lược này sẽ được xây dựng một cách tập trung hay phân quyền từ cơ sở Một số TNC kết hợp cả hai phương thức này trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược, tiêu biểu cho sự kết hợp này đó là cách làm của GMC
Đặc điểm hoạt động của các công ty toàn cầu
- Quyền sở hữu tập trung: chi nhánh, công ty con, đại lí trên khắp thế giới thuộc quyền sở hữu tập trung của công ty mẹ cho dù chúng có hoạt động hàng ngày khác nhau
- Thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị, điều hành và kinh doanh có tính toàn cầu (nhưng vẫn có những chiến lược, chính sách thích ứng với từng địa phương)
c Tác động của các công ty toàn cầu tới nền kinh tế thế giới
TNCs có sức mạnh vô cùng to lớn, chúng tác động và gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới nền kinh tế thế giới:
TNCs thúc đẩy quá trình quốc tế hóa sản xuất và quốc tế hóa tư bản
Với khả năng huy động vốn và tài chính lớn mạnh cùng hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp thế giới, các TNCs đã thúc đẩy quá trình quốc tế hóa sản xuất và tư bản thông qua việc di chuyển vốn và phân công lao động trong nội bộ công ty, điều này ảnh hưởng đến quá trình quốc tế hóa sản xuất và quá trình tư bản
Thúc đầy hoạt động đầu tư nước ngoài
Trang 21Với lợi thế về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lí và mạng lưới thị trường rộng khắp, hoạt động đầu tư của các TNCs tác động mạnh tới dòng chảy FDI, làm thay đổi xu hướng đầu tư giữa các nước và tác động trực tiếp tới lượng vốn đầu tư vào các nước
Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh TNCs Các TNCs hiện chi phối trên 90% Tổng FDI trên toàn thế giới Chỉ tính riêng TNCs của tam giác kinh tế (Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu) đã chiếm 1/3 lượng FDI toàn cầu Giá trị của lượng vốn FDI thực sự là thước đo vai trò to lớn của các TNCs trong nền kinh
tế thế giới vì FDI là công cụ quan trọng nhất của các TNCs trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu của mình
Thúc đầy quá trình phát triển khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ
Với hơn 80% số bằng phát minh sáng chế TNCs chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển Cùng với năng lực tài chính và khoa học mạnh, TNCs có thể luôn giữ được vị thế của mình và tăng cường bành trướng bằng vốn
và công nghệ để giảm thiểu chi phí do hao mòn vô hình, từ đó các TNCs thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ trên thế giới
Tuy nhiên, trong vấn đề chuyển giao công nghệ, các TNCs chỉ chuyển giao một phần công nghệ hoặc chuyển giao giữa công nghệ lạc hậu cho các nước kém phát triển Chính điều này tạo ra sự chênh lệch giữa các quốc gia về trình độ khoa học công nghệ, các nước kém phát triển hơn mong muốn có được công nghệ để giảm chi phí nghiên cứu nhưng cuối cùng lại là bãi thải công nghệ cho nước phát triển
Tăng cường sự phân công lao động quốc tế
Các TNCs đưa ra những chiến lược dài hạn, cùng với sự phân công sản xuất cụ thể cho từng chi nhánh, mỗi chi nhánh đảm nhiệm chuyên sâu về một công đoạn, sự phân công này tạo điều kiện thúc đầy sự phân công lao động quốc tế trên phạm vi thế giới
Tăng cường lưu thông hàng hóa và dịch vụ quốc tế
Trang 22Với số lượng hàng trăm ngàn chi nhánh cắm sâu vào nên nền kinh tế thế giới TNCs
đã tạo ra một hệ thống mạng lưới bao trùm trong lĩnh vực lưu thông Không một khâu nào của quá trình lưu thông hàng hóa lại không có sự tham gia của TNCs.Thông qua việc trao đổi nội bộ giữa công ty mẹ và các chi nhánh TNCs đã tạo ra một kênh lưu thông chiếm tới hơn 1/3 thương mại thế giới Với khối lượng giao dịch nội bộ lớn như vậy, nên khi có khủng hoảng, sự điều tiết của các TNCs đối với các chi nhánh sẽ góp phần vào sự
ổn định, giảm bớt thiệt hại do khủng hoảng Nhưng bên cạnh đó, có thể vì mục tiêu lợi nhuận mà TNCs làm méo mó quá trình vận động thương mại quốc tế
Tác động tới vấn đề điều tiết nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mỗi quốc gia
Hầu hết các chi nhánh đều phải hoạt động theo kế hoạch của công ty mẹ đề ra, thông qua kế hoạch này ở mỗi nước nhận đầu tư lại có sự điều tiết của nước chủ nhà, từ đó TNCs tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa nước chủ nhà và nước chính quốc do sự phụ thuộc giữa công ty mẹ và công ty con Khi thực hiện FDI ở mỗi nước thì các TNCs lại có chiến lược riêng, tuy nhiên hầu hết các công ty đầu tư hoạt động riêng, tuy nhiên hầu hết các công ty thường đầu tư hoạt động ở các lĩnh vực có lợi nhuận cao như lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp… Từ đó các công ty này góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở các quốc gia đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Tác động thúc đẩy phát triển các nguồn lực
Để phục vụ mục tiêu lợi nhuận, TNCs thường quan tâm đến trình độ lao động và ngay cả khi tuyển dụng lao động thì TNCs cũng phải chọn những đối tác có trình độ thỏa mãn Thông thường TNCs thường tổ chức đào tạo nâng cao trình độ cho lực lượng lao động của mình ở nước nhận đầu tư để phù hợp với công nghệ áp dụng nên trình độ lao động hoạt động trong khu vực có vốn FDI ngày càng được tăng cường
Tóm lại, nói chung tác động của TNCs luôn có tính hai mặt, vì vậy các nước nhận đầu tư phải tích cực tìm hiểu về để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, khuyến khích những mặt tích cực… Để làm được điều này, các nước phải xem xét tác động của TNCs
Trang 23phải đặt chúng trong điều kiện và hoàn cảnh phát triển của nước mình để rồi có những đối cách hợp lý
1.2 Cơ sở thực tiễn của mối quan hệ giữa nhà nước và công ty toàn cầu
1.2.1 Mục đích của mối quan hệ giữa nhà nước và công ty toàn cầu
TNCs và nhà nước hỗ trợ, hợp tác với nhau đều nhằm mục đích thúc đẩy thương mại, đầu tư, phát triển khoa học công nghệ , phát triển nguồn nhân lực, cùng hợp tác để đạt được lợi ích cho cả hai bên Tuy nhiên, mỗi bên lại có mục đích riêng cho mình
Về phía các công ty toàn cầu
Các TNCs là người định hình cơ bản nền kinh tế toàn cầu bởi khả năng tiềm tàng của chúng trong việc kiểm soát và phối hợp mạng lưới sản xuất giữa các nước Trong một thế giới đang toàn cầu hoá, rõ ràng các TNCs là những người được hưởng lợi Các TNCs kiểm soát phần lớn nguồn vốn đầu tư, công nghệ của thế giới và tiếp cận các thị trường quốc tế Nhìn vào doanh số của các công ty và lượng GDP của các nước cho thấy rằng 51 trong tổng số 100 nền kinh tế lớn nhất của thế giới là các công ty Chính vì thế, quyền lực ngày càng tăng của các TNCs đã làm thay đổi mạnh mẽ cấu trúc và chức năng của nền kinh tế quốc tế
Các TNCs và các chiến lược kinh doanh toàn cầu của họ đã trở thành những yếu tố quyết định đối với các luồng thương mại, sự định vị của các ngành công nghiệp, và các hoạt động kinh tế khác trên khắp thế giới Kết quả là, các TNCs đã trở thành những người chơi cực kỳ quan trọng có ảnh hưởng sâu rộng đến các chính sách kinh tế của nhiều quốc gia
Các TNCs phát triển nhằm mục đích:
- Quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh những hạn chế thương mại, quốc tế, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng, tận dụng được nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ (thường ở các nước đang phát triển như Việt Nam, Trung Quốc,
Ấn Độ…), khai thác các tiềm năng tại chỗ
Trang 24- Sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh của nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao
- Tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro Cũng như tránh những bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất
- Bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở một ngành không muốn chuyển giao cũng là lý do phải mở rộng địa phương để sản xuất Bên cạnh
đó, tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường cũng là mục đích của TNC
Tuy nhiên, TNCs muốn đầu tư vào một quốc gia thì phải được sự cho phép của chính phủ quốc gia đó và dưới sự kiểm soát của luật pháp nước sở tại Chính vì thế, để có thể đầu tư, phát triển các chi nhánh của mình thì các TNCs phải có quan hệ với nhà nước
sở tại của quốc gia đó
Về phía nhà nước:
Hoạt động của các TNCs tại một nước sở tại có tác động rất lớn tới quốc gia đó cả
về kinh tế, chính trị văn hóa và xã hội TNCs làm tăng GDP, thúc đẩy phát triển nền kinh
tế nước đó, thúc đẩy phát triển khoa học, giải quyết một phần nạn thất nghiệp, tạo công
ăn việc làm cho người lao động, đóng góp một lượng lớn thuế, làm thay đổi văn hóa lao động thậm chí là văn hóa ẩm thực, thói quen tiêu dùng của người dân nơi đây, làm phong phú thêm các chiều của xã hội
1.2.2 Thực tiễn mối quan hệ giữa nhà nước và các công ty toàn cầu
TNCs và nhà nước có quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng hợp tác với mục đích hỗ trợ lẫn nhau nhằm tối đa hóa lợi ích cho cả hai bên nhưng chúng cạnh tranh để đạt được lợi ích cho riêng mình
Quan hệ hợp tác
Hợp tác là một khái niệm rộng, không những tồn tại trong lĩnh vực kinh tế mà còn tồn tại trong lĩnh vực xã hội, chỉ sự chung sức, trợ giúp qua lại với nhau Trong kinh tế thị
Trang 25trường, các chủ thể kinh tế với mục đích hỗ trợ lẫn nhau đã hợp tác nhằm tối đa hóa lợi ích cho các bên
Các TNCs thường nắm trong tay nhiều lợi thế về nguồn vốn, khoa học kĩ thuật và các TNCs chuyển giao kĩ thuật, sản phẩm , vốn và kĩ năng quản lý hiệu quả cho các quốc gia nhận đầu tư Bản thân TNCs khi đến hoạt động ở các quốc gia đều mang đến cho các nước này một lượng vốn nhất định Hơn nữa, trong quá trình hoạt động các TNCs cũng đóng cho ngân sách nhà nước qua các khoản thu như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, chính sách viễn thông, điện nước… Mặt khác còn tạo công ăn việc làm
và nâng cao tay nghề cho người dân Còn nhà nước sẽ cho phép các TNCs đầu tư vào nước mình để thúc đẩy kinh tế phát tiển theo quy luật và hỗ trợ các TNCs trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật
- TNCs có thể không hoạt động trong quyền tự chủ quốc gia, họ có thể gây ra mối đe dọa đến chủ quyền kinh tế và chính của nước sở tại
- TNCs có thể giết chết ngành công nghiệp trong nước bằng độc quyền thị trường của nước sở tại
- Để tối đa hóa lợi nhuân, TNCs có thể sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước một cách bừa bãi và gây ra sự suy giảm các nguồn lực
Trang 26- Một số tiền lớn chảy ra nước ngoài trong lĩnh vực thanh toán đối với lợi nhuận, cổ tức và tiền bản quyền
Chính vì thế, nhà nước cần phải đưa ra những quy định nghiêm ngặt và kiểm soát chặt chẽ các TNCs
1.3 Nguyên nhân của mối quan hệ hợp tác giữa nhà nước và công ty toàn cầu
1.3.1 Nguyên nhân khách quan
Xu hướng hợp tác phát triển kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới Để xu hướng này phát triển hơn nữa, Nhà nước và các công ty toàn cầu buộc phải hợp tác với nhau để thúc đẩy xu hướng này Ngoài ra, dưới tác động của toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế gắn liền với tự do hóa các hoạt động kinh tế, việc hội nhập kinh tế quốc tế với các hoạt động kinh tế vượt ra khuôn khổ của biên giới quốc gia diễn ra như một xu hướng tất yếu Trong quá trình hội nhập đó, các công ty toàn cầu thể hiện sự bành trướng khổng lồ và tạo ra sự ảnh hưởng của riêng mình bằng chính việc hợp tác với các nước chủ nhà với một mục tiêu phát triển chung
1.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Nhà nước và công ty toàn cầu là những chủ thể tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với chủ thể còn lại Nói cách khác, hoạt động của nhà nước và công ty toàn cầu có liên hệ
và ảnh hưởng lẫn nhau, hoạt động của chủ thể này có thể tác động tích cực hoặc tác động tiêu cực tới hoạt động của những chủ thể còn lại Khi TNCs đầu tư vào nước chủ nhà, nó
sẽ đem lại những ảnh hưởng về mặt kinh tế, khoa học - công nghệ, thậm chí là văn hóa Cùng lúc đó, để có thể kiểm soát và điều chỉnh sao cho phù hợp với đường lối mục tiêu kinh tế của mình, Nhà nước cũng đưa ra những quy định, chính sách áp dụng đối với các TNCs
Vì thế để hai chủ thể này hoạt động hiệu quả và mang lại lợi ích cho nhau, nhà nước
và công ty toàn cầu cần có mối quan hệ hợp tác để giao lưu và có những chính sách đường lối hợp lý để thúc đẩy phát triển kinh tế nói riêng và những lĩnh vực khác nói
Trang 27chung Nói cách khác, nguyên nhân sâu xa cuối cùng của mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa Nhà nước và Công ty toàn cầu chính là mục đích phát triển kinh tế, cả hai bên cùng
có lợi
Trang 28Chương 2: MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG TY
TOÀN CẦU
2.1 Quan hệ hợp tác từ phía các công ty toàn cầu
2.1.1 Quan hệ hợp tác thương mại
a Mục đích mối quan hệ hợp tác thương mại
Mục đích chung của chính phủ các nước và các TNC khi thực hiện quan hệ thương mại đều nhằm mở rộng thị trường các bên liên quan, tận dụng tối đa nguồn lực nội tại của mình, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển Có thể thấy mục đích cụ thể của các TNC và các quốc gia như sau:
Hợp tác thương mại góp phần thúc đẩy
hoạt động thương mại thế giới:
+ Các TNC thúc đẩy hoạt động xuất nhập
khẩu giữa các quốc gia và gia công quốc tế
với 3 dòng lưu thông hàng hoá cơ bản:
hàng hoá xuất nhập khẩu từ công ty mẹ,
hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước
ngoài và hàng hoá trao đổi giữa các công ty
trong cùng một tập đoàn
+ TNC chi phối các luồng chu chuyển hàng
hoá giữa các quốc gia bởi các kênh lưu
thông xuyên quốc gia của mình
Hợp tác thương mại cho phép các quốc gia
sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn:
+ Chuyên môn hóa trong thương mại quốc tế: các quốc gia có thế mạnh khác nhau về các tài sản và tài nguyên thiên nhiên nên chỉ có khả năng sản xuất một số hàng hóa nhất định mà mình có lợi thế và mua các hàng hóa mà không thể sản xuất hiệu quả
b Biểu hiện của mối quan hệ
Thúc đẩy thương mại thế giới phát triển
Trang 29Trong quá trình hoạt động của mình, các TNC đã thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia và gia công quốc tế Các TNC thúc đẩy thương mại phát triển với
ba dòng lưu thông hàng hoá cơ bản là: hàng hoá xuất nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở nước ngoài và hàng hoá trao đổi giữa các công ty trong cùng một tập đoàn
Theo WIR 2013, các chuỗi giá trị điều hành bởi các TNC chiếm tới 80% trong tổng
số 20000 tỉ USD thương mại hàng năm của thế giới Trao đổi nội bộ giữa các chi nhánh TNC chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thương mại thế giới Vai trò thúc đẩy thương mại quốc tế của TNC được thể hiện rõ thông qua tổng giá trị xuất khẩu và doanh thu của các công ty chi nhánh ở nước ngoài cũng như tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của TNC Điều đó đã được thể hiện rõ thông qua các số liệu dưới đây:
Bảng 2.1: Tỷ trọng xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài năm 2001
Quốc gia Gía trị xuất khẩu
(Triệu USD)
Giá trị xuất khẩu của TNCs (Triệu USD)
Tỷ trọng xuất khẩu của TNCs (% ) Astralia 92.411 24.855 27
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2006
Dựa vào số liệu về tỷ trọng xuất khẩu của các chi nhánh nước ngoài năm 2001, có thể thấy các TNC chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của các quốc gia Chẳng hạn, giá trị xuất khẩu của TNC chiếm tới 66% giá trị xuất khẩu của Ai-len, với Trung Quốc là 44%
Trang 30Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của thương mại toàn cầu vẫn liên tục tăng
và thậm chí nó còn có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn GDP toàn cầu (hình 2.1)
Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng thương mại, GDP và việc làm (2008-2015)
Đơn vị: %
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2014, Tr23
Theo hình 2.1, tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu biến động mạnh trong giai đoạn 2008-2011 Do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu giảm xuống tới -10.6% Trong hoàn cảnh đó, các TNC phải
áp dụng các chính sách cắt giảm nhân sự, đóng cửa bớt một số chi nhánh sản xuất nước ngoài, thu hẹp quy mô hoạt động Ngay lập tức điều này ảnh hưởng đến giá trị thương mại thế giới giai đoạn này Tuy nhiên, từ những năm 2012 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng thương mại đã bắt đầu giữ ở mức ổn định và liên tục tăng qua các năm Có thể thấy, tăng trưởng thương mại toàn cầu có tốc độ nhanh hơn so với tăng trưởng việc làm và GDP toàn cầu hàng năm
Trang 31Bên cạnh đó, thương mại nội bộ giữa các công ty trong tập đoàn ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng giá trị thương mại thế giới Giá trị trao đổi nội bộ này ngày càng
tăng nhanh và cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại thế giới
Bảng 2.2: Chỉ số FDI và giá trị xuất khẩu của chi nhánh nước ngoài 1990-2014
(Đơn vị: Tỷ USD)
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2015
Từ bảng 2.2 có thể thấy giá trị xuất khẩu từ các chi nhánh của TNCs ở nước ngoài
tăng 540% trong giai đoạn 1990-2014 Điều này nói lên rằng TNCs đã đóng vai trò rất to
lớn đối với thúc đẩy thương mại thế giới
Thay đổi cơ cấu thương mại quốc tế
Ngày nay, kinh tế thế giới càng phát triển thì vai trò của các TNCs cũng ngày càng
cao Với tỷ trọng lớn trong thương mại thế giới thì các TNC chính là chủ thể chính làm
thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu đối tác trong thương mại thế giới
Thứ nhất, thay đổi cơ cấu hàng hóa
Trang 32Chiến lược phát triển của TNCs gắn liền với các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu Qua đó ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu Trong những năm gần đây, tỷ suất lợi nhuận trong ngành dịch vụ tăng cao còn trong ngành nông nghiệp và công nghiệp giảm dần Do đó, các công ty nói chung và các TNCs nói riêng cũng chuyển mạnh sang đầu tư vào các ngành dịch vụ và thúc đẩy giá trị xuất khẩu của hàng hoá dịch vụ tăng cao Bên cạnh đó, hiện nay giao dịch trên thế giới đang thay đổi theo chiều hướng tăng tỉ trọng hàng hoá có hàm lượng vốn hoặc kỹ thuật cao và giảm dần tỉ trọng hàng sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu Nếu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới năm 1983, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao chỉ chiếm 24% thì đến năm 1998 con
số này đã tăng lên 39,3% Những sản phẩm quan trọng nhất trong thương mại thế giới hiện nay chủ yếu thuộc ngành sản xuất không dựa vào nguyên liệu trong đó các sản phẩm bán dẫn là một trong những sản phẩm mũi nhọn
Hình 2.2: Dòng vốn FDI trong các ngành năm 2012
(Đơn vị: %)
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2015
Theo hình 2.2 có thể thấy riêng năm 2012, tỉ trọng mà các TNCs đầu tư cho ngành dịch vụ là 63% và các ngành chế tạo là 26% Trong tương lai xu hướng này còn có thể tiếp tục tăng mạnh hơn nữa
Trang 33Nguyên nhân của xu hướng này xuất phát từ chiến lược tập trung phát triển các ngành có trình độ công nghệ cao của TNC nhằm duy trì khả năng cạnh tranh cao và thu lợi nhuận tối đa Điều này được thể hiện qua tỉ trọng hàng xuất khẩu của hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao trong nội bộ TNC chiếm tới 43,1% tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu Như vậy, sự thay đổi trong chiến lược toàn cầu của TNC tác động trực tiếp tới cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước hướng về xuất khẩu
Thứ hai, thay đổi cơ cấu đối tác
Cùng với sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá thì cơ cấu đối tác trong thương mại thế giới hiện nay cũng đang dần thay đổi Tổng giá trị xuất khẩu của các chi nhánh TNC tại các nước trên thế giới ngày càng chiếm tỉ lệ lớn Trong những năm gần đây, TNC chiếm khoảng 40% giá trị nhập khẩu và 60% giá trị xuất khẩu của toàn thế giới Trong đó, tỷ trọng của hàng hoá xuất khẩu của các nước đang phát triển ngày càng cao, đặc biệt là các nước mới công nghiệp Sự thay đổi chiến lược của các TNC và hệ thống sản xuất quốc tế
mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi tham gia vào các hoạt động hướng về xuất khẩu Theo Báo cáo của UNCTAD năm 2013, trong cơ cấu thương mại thế giới, tỷ trọng thương mại của các nước đang phát triển chiếm 33,6% trong khi năm 1985 là 30.3% Mặc dù các nước phát triển vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong thương mại thế giới (63.5%) song tỉ trọng thương mại của các nước đang phát triển ngày càng tăng lên Xét một cách riêng rẽ thì bên cạnh các nền kinh tế phát triển (Mỹ, Nhật Bản, Đức) thì chính những nền kinh tế đang phát triển (Trung Quốc, Singapore, Ấn Độ, Đài Loan…) lại chiếm thị phần xuất khẩu lớn trong thương mại thế giới
2.1.2 Quan hệ đầu tư
a Mục đích mối quan hệ đầu tư giữa TNC và nhà nước
Có 2 hình thức đầu từ mà TNC áp dụng là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Khác biệt lớn nhất giữa 2 hình thức này liên quan đến
sự tham gia của nhà đầu tư trong khâu quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, hình thức đầu tư
Trang 34chủ yếu của các TNC là FDI, vậy nên trong bài chuyên đề này chủ yếu chủ yếu phân tích quan hệ đầu tư dựa trên nguồn vốn FDI của các TNC
Mục đích của
quan hệ đầu tư
+ Mở rộng thị trưởng tiêu thụ sản phẩm
+ Giảm được chi phí sản xuất, đổi mới cơ cấu sản xuất
+ Tìm kiếm được nguồn nguyên vật liệu ổn định, nhằm áp dụng công nghệ mới và nâng cao năng lực cạnh tranh
+ Giải quyết được tình trạng thiếu vốn
+ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc thu hút thêm lao động, tạo ra công ăn việc làm
+ Nâng cao được năng lực quản lý + Tăng nguồn thu quan trọng cho ngân sách của các quốc gia
b Biểu hiện của mối quan hệ đầu tư
Mối quan hệ đầu tư giữa nhà nước và các TNC đã thúc đẩy lưu thông dòng vốn đầu
tư trên thế giới cũng như làm tăng tích lũy vốn của nước chủ nhà
TNC thúc đẩy lưu thông dòng vốn đầu tư trên toàn thế giới
Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh TNC Theo báo cáo Đầu tư Thế giới (WIR) của UNCTAD, TNC hiện chi phối trên 90% tổng FDI trên toàn thế giới Chỉ tính riêng TNC của Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu đã chiếm 1/3 lượng FDI toàn cầu Giá trị của lượng vốn FDI thực sự là thước đo vai trò to lớn của các TNC trong nền kinh tế thế giới vì FDI là công cụ quan trọng nhất của các TNC trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu của mình
Với tư cách là chủ thể của hoạt động đầu tư trên thế giới, TNC là nhân tố đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng mang tính quyết định tới toàn bộ hoạt động đầu tư quốc tế Vai trò điều tiết hoạt động đầu tư trên quy mô toàn cầu của TNC thể hiện như sau:
Trang 35Vào thời kỳ suy thoái kinh tế năm 2001, hầu hết các ngành đều có tốc độ tăng trưởng chậm lại Các TNC giảm hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực Động thái đó ảnh hưởng trực tiếp tới dòng lưu chuyển FDI trên thế giới Tổng đầu tư vào các nước giảm 51%, từ 1492 tỉ USD xuống còn 735 tỉ USD Trong xu thế đó thì các nước phát triển lại
bị ảnh hưởng nhiều nhất do hầu hết các hoạt động sáp nhập (M&A) đều diễn ra tại các nước phát triển Trong giai đoạn 1982-1994 dòng vốn FDI nước ngoài tăng lên 4 lần và đạt con số 3,2 nghìn tỉ USD vào năm 1996 Trong thời kỳ những năm 2004-2006 nguồn vốn FDI lại tăng lên Tổng vốn FDI trên toàn cầu năm 2005 tăng 29% và đạt 916 tỉ USD Nguyên nhân chủ yếu là do các vụ M&A tăng lên cả về số lượng và giá trị Chủ yếu là từ các TNC của Mỹ và Tây Âu
Các TNC làm thay đổi xu hướng đầu tư giữa các quốc gia Hai cuộc bùng nổ trước (lần 1: 1979-1981 đầu tư vào các nước sản xuất dầu mỏ, lần 2: 1987-1990: đầu tư giữa các nước công nghiệp phát triển) cuộc bùng nổ đầu tư lần 3 (1995-1996) có sự tham gia đáng kể của các nước đang phát triển Trong cơ cấu vốn FDI trên thế giới tỷ trọng vốn FDI vào các nước phát triển chiểm phần lớn Tuy nhiên tỷ trọng này có xu hướng giảm dần trong khi các nước đang phát triển lại có tỷ trọng ngày càng cao do lượng vốn FDI đổ vào các nước đang phát triển ngày càng tăng
Bảng 2.3: Dòng FDI vào các nền kinh tế trên thế giới giai đoạn
Trang 36Nền kinh tế
chuyển đổi
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2014, Tr2
Qua bảng 2.3, có thể thấy trong giai đoạn 2005-2007 dòng vốn chủ yếu được đổ vào các nền kinh tế phát triển, chiếm đến 65% lượng vốn đầu tư trực tiếp của các TNC trên toàn thế giới Tuy nhiên từ giai đoạn 2009 trở về đây, có lẽ một phần do sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 mà dòng chảy vốn FDI bắt đầu có chiều hướng gia tăng liên tục ở các nền kinh tế đang phát triển và nền kinh tế chuyển đổi
Bên cạnh đó, dòng vốn FDI ghi nhận được cho thấy sự tăng trưởng ở tất cả các nhóm nước: Các nền kinh tế phát triển, đang phát triển và đang chuyển đổi Cụ thể năm
2013, các nền kinh tế đang phát triển đứng đầu thế giới về lượng vốn FDI chảy vào với số vốn lên đến 778 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn FDI toàn cầu, riêng năm 2014 đã tăng lên 55% Trong khi đó, FDI chảy vào các nước phát triển chiếm 39% tồng FDI thế giới, và các nền kinh tế chuyển đổi nhận được 108 tỷ USD vốn FDI
Hình 2.3: Dòng vốn FDI phân theo khu vực kinh tế, 2012 -2014
Đơn vị: Tỉ USD
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2015
Trang 37Xét theo khu vực thì châu Á, đặc biệt là các nước châu Á đang phát triển vẫn là điểm đến đầu tư hàng đầu thế giới với dòng vốn FDI vào đạt 428 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn FDI toàn cầu trong năm 2013
Làm tăng tích lũy vốn nước chủ nhà
Với thế mạnh về vốn TNC đóng vai trò là động lực thúc đẩy tích luỹ vốn của nước chủ nhà Thông qua kênh TNC, nước chủ nhà có thể tăng cường thu hút vốn FDI đầu tư vào nước mình Vai trò này của TNC được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Thứ nhất: bản thân các TNC khi đến hoạt động ở các quốc gia đều mang đến cho
nước này một số lượng vốn nào đó Hơn nữa, trong quá trình hoạt động các TNC cũng đóng cho ngân sách của nước chủ nhà qua các khoản như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, chi phí về viễn thông, điện nước… Mặt khác, nhờ có các TNC mà một bộ phận đáng kể người dân có thêm thu nhập do làm việc trực tiếp trong các công ty chi nhánh nước ngoài hoặc gián tiếp thông qua việc cung cấp các dịch vụ cho các TNC
và hoặc những người lao động khác Tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển thì các TNC làm ăn hiệu quả chính là kênh để thu hút tiền nhàn rỗi của người dân và của các nhà đầu tư trong việc mua cổ phiếu của các công ty này
Thứ hai: ngoài việc vốn ban đầu để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh
các TNC còn thực hiện các biện pháp huy động thêm vốn từ công ty mẹ, từ các chi nhánh thành viên của tập đoàn, từ các đối tác, các tổ chức tài chính và thế giới… Đây chính là hình thức thu hút đầu tư của các nước đang phát triển hiện nay
Thứ ba: TNC góp phần cải thiện cán cân thanh toán của các nước thông qua việc
tích luỹ ngoại hối như các hoạt động xuất khẩu Như đã phân tích ở trên, hoạt động xuất khẩu của TNC chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò thúc đẩy thương mại thế giới của các TNC mà còn đem lại một nguồn ngoại tệ quan trọng, góp phần tạo thế cân bằng cho cán cân thanh toán của nước chủ nhà
Trang 38Hình 2.4: Các khoản đóng góp từ chi nhánh nước ngoài của TNC trong nguồn
thu chính phủ năm 2012
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2015
Hình 2.4 cho thấy các khoản đóng góp của TNC trong tổng nguồn thu chính phủ Có thể thấy, tổng thu của chính phủ năm 2012 là 6900 tỷ USD trong đó nguồn thu từ chi nhánh nước ngoài của TNC chiếm 10% Trong đó, 6% nguồn thu là từ thuế và các đóng góp cho xã hội Trong các khoản thuế, thuế doanh nghiệp chiếm tới 50%, thuế thương mại chiếm 30%, còn lại là một số loại thuế khác
Tóm lại, TNC đóng vai trò rất to lớn trong hoạt động đầu tư quốc tế Xét trên góc độ nền kinh tế toàn cầu thì TNC thúc đẩy lưu thông dòng vốn FDI trên phạm vi toàn thế
Trang 39giới Mặt khác, ở góc độ từng quốc gia riêng thì TNC góp phần làm tăng tích luỹ vốn cho nước chủ nhà
2.1.3 Quan hệ hỗ trợ phát triển và chuyển giao công nghệ
a Mục đích của mối quan hệ hỗ trợ phát triển và chuyển giao công nghệ
TNC là những chủ thể quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động chuyển giao và phát triển công nghệ TNC kiểm soát tới 80% công nghệ cao của toàn thế giới Công nghệ là yếu tố tạo nên “giá trị cốt lõi” trong chuỗi giá trị của TNC, do đó TNC thường giữ bí mật công nghệ và thực hiện các hoạt động chuyển giao công nghệ theo phương thức thích hợp để bảo vệ và phát triển các giá trị cốt lõi đó
Việc chuyển giao và phát triển công nghệ được thực hiện có hiệu quả, một mặt, tạo điều kiện để các nước tiếp nhận có công nghệ phù hợp phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội; mặt khác góp phần mở rộng thị trường công nghệ của TNC để hình thành những cơ hội mới trong quá trình phát triển công nghệ ở TNC này Quá trình này làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về công nghệ giữa các TNC và các chủ nhà
Với các nước đang phát triển, việc tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ từ TNC và phát triển công nghệ nội sinh là một vấn đề quan trọng trong quá trình khắc phục
sự tụt hậu về công nghệ của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
b Biểu hiện của mối quan hệ hỗ trợ phát triển và chuyển giao công nghệ
TNC trở thành chủ thể chính trong phát triển công nghệ thế giới
Trong chiến lược cạnh tranh, các công ty xuyên quốc gia luôn coi công nghệ là yếu
tố quan trọng, giữ vị trí hàng đầu Do đo, thúc đẩy đổi mới công nghệ bằng hoạt động Nghiên cứu và Triển khai (R&D) là nhiệm vụ sống còn của các công ty Đi đầu trong đổi mới công nghệ đồng nghĩa với nâng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và giữ
vị trí độc quyền
Các TNC là chủ thể và tác nhân phát triển công nghệ chủ yếu trong nền kinh tế thế giới Hiện nay, các công nghệ hiện đại nhất đều thuộc sở hữu của các TNC Hiện nay,
Trang 40TNC chiếm tới 80% tổng công nghệ mới toàn thế giới và quyết định đến chiến lược phát triển công nghệ của toàn thế giới
Ngày nay, đã có sự chuyển biến trong hoạt động phát triển công nghệ Công nghệ mới ra đời không chỉ từ các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu, các trường đại học
mà còn từ chính các cơ sở sản xuất của TNC Ngoài ra, cũng có những thay đổi trong chính sách hoạt động R&D của các TNC Nếu trước đây các công ty đầu tư cao cho công tác R&D tại công ty mẹ thì nay đang thực hiện chính sách phi tập trung hoá để tận dụng tiềm năng tri thức trên thế giới Các hoạt động R&D không chỉ được thực hiện ở công ty
mẹ, mà còn được thực hiện ở các chi nhánh và tập trung tại những khu vực dồi dào nguồn tri thức (Ấn Độ, Trung Quốc…)
Chính việc phát triển công nghệ đã tạo ra nền sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn với sự gia tăng của các hàng hóa có hàm lượng kỹ thuật cao Chẳng hạn, trong năm 1985-
1998, hàng hoá chế tạo có hàm lượng khoa học cao tăng 21,4%, hàng hoá có hàm lượng khoa học công nghệ trung bình tăng 14,3% Như vậy, nhờ tiếp thu khoa học công nghệ
mà giá trị gia tăng của hàng hoá xuất khẩu qua chế biến đạt tỷ lệ tăng trưởng cao Có thể thấy rõ điều đó thông qua bảng dưới đây:
Bảng 2.4: Giá trị gia tăng của sản phẩm của các chi nhánh nước ngoài
1990-2014
Đơn vị: tỷ USD
1990 2005-2007 2012 2013 2014 Giá trị gia tăng của sản phẩm
của các chi nhánh nước ngoài 881 4878 7105 7562 7882
Nguồn: UNCTAD, World Investment Report 2015
Phương thức chuyển giao:
Không chỉ nắm giữ trong tay phần lớn công nghệ tiên tiến của thế giới TNC còn biết cách sử dụng và khai thác các công nghệ đó một cách có hiệu quả nhất nhằm duy trì vị trí