1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẢI CÁCH CƠ CHẾ KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH KINH TẾ 2016 2017

44 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 896,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời buổi kinh tế hội nhập, mỗi quốc gia đều cố gắng thể hiện vị thế của mình trên trường quốc tế. Tất cả các quốc gia đều phải thay đổi từng ngày cho phù hợp với sự vận động của thế giới. Vì vậy, công cuộc đổi mới là điều tất yếu. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đổi mới thể hiện ở hai mặt chính, đó là đẩy mạnh cải cách kinh tế trong nước và mở rộng hợp tác quốc tế. Trong đó, cải cách kinh tế là quan trọng hơn cả bởi kinh tế là nền tảng trụ cột để phát triển đất nước. Hơn hết, Việt Nam cần cải cách các chế độ quản lý kinh tế của nhà nước, các luật lệ chung để thích ứng với nhu cầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Do vậy điều kiện tiền đề cho việc ổn định nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế trong dài hạn… là đổi mới tư duy và quản lý nhà nước, thành phần kinh tế, cách thức quản lý các bộ phận kinh tế, các quan hệ quốc tế, các hoạt động và giao dịch trong nền kinh tế… Toàn bộ những thay đổi đó tạo ra một cơ chế và mô hình kinh tế mới cho mỗi quốc gia trong quá trình đổi mới nền kinh tế. Bởi vậy mà nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài “Cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế”. Bài nghiên cứu tập trung làm rõ các vấn đề khái niệm, nguyên nhân cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế, từ đó đưa ra những nhân tố ảnh hưởng tới sự thay đổi này, đồng thời đi sâu phân tích quá trình cải cách và đổi mới ở một số quốc gia trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc, Hoa Kỳ) cũng như tác động của chúng.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

******

CHUYÊN ĐỀ:

CẢI CÁCH CƠ CHẾ KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH

KINH TẾ

Môn: Nhà nước và công ty toàn cầu

Giảng viên: Kim Ngọc

Thực hiện: Nhóm 4

1 Đặng Nguyễn Quỳnh Anh

2 Nguyễn Thị Hải Anh

Trang 2

i

MỤC LỤC

Lời mở đầu iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH v

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ KINH TẾ VÀ MÔ HÌNH KINH TẾ 1 1.1 Lý luận chung về cơ chế kinh tế 1

1.1.1 Khái niệm 1

1.1.2 Phân loại cơ chế kinh tế 2

1.2 Lý luận chung về mô hình kinh tế 4

1.2.1 Khái niệm 4

1.2.2 Phân loại 4

1.3 Phân biệt cơ chế kinh tế, mô hình kinh tế với thể chế kinh tế và chế độ kinh tế 10 1.4 Nguyên nhân cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế 11

CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH CƠ CHẾ KINH TẾ 13

2.1 Những nhân tố thúc đẩy cải cách cơ chế kinh tế 13

2.2 Quá trình cải cách cơ chế kinh tế ở Trung Quốc 14

2.2.1 Nội dung cải cách 14

2.2.2 Thành tựu 16

2.3 Thực trạng cải cách cơ chế kinh tế ở Việt Nam 18

2.3.1 Cơ chế quản lý kinh tế của Việt Nam trước đổi mới 18

2.3.2 Cơ chế quản lý kinh tế của Việt Nam sau đổi mới 20

2.3.3 Đề án cải cách cơ chế kinh tế từ năm 2013 22

2.3.4 Thành tựu 23

Trang 3

ii

2.3.5 Các hạn chế 27

CHƯƠNG 3: ĐỔI MỚI MÔ HÌNH KINH TẾ 29

3.1 Những nhân tố thúc đẩy đổi mới 29

3.2 Tiến trình đổi mới 29

3.3 Tác động của đổi mới từ mô hình kinh tế thị trường tự do sang mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp ở Hoa Kỳ 31

3.3.1 Thực trạng của mô hình kinh tế thị trường tự do 31

3.3.2 Sau khi chuyển sang mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp 32

3.4 Thực trạng đổi mới mô hình kinh tế ở Việt Nam 34

3.4.1 Kinh tế Việt Nam trước đổi mới: Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung 34

3.4.2 Kinh tế Việt Nam sau đổi mới đến nay: Mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN 35

Tài liệu tham khảo 38

Trang 4

iii

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời buổi kinh tế hội nhập, mỗi quốc gia đều cố gắng thể hiện vị thế của mình trên trường quốc tế Tất cả các quốc gia đều phải thay đổi từng ngày cho phù hợp với sự vận động của thế giới Vì vậy, công cuộc đổi mới là điều tất yếu Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Đổi mới thể hiện ở hai mặt chính,

đó là đẩy mạnh cải cách kinh tế trong nước và mở rộng hợp tác quốc tế Trong đó, cải cách kinh tế là quan trọng hơn cả bởi kinh tế là nền tảng trụ cột để phát triển đất nước Hơn hết, Việt Nam cần cải cách các chế độ quản lý kinh tế của nhà nước, các luật lệ chung để thích ứng với nhu cầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới

Do vậy điều kiện tiền đề cho việc ổn định nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế trong dài hạn… là đổi mới tư duy và quản lý nhà nước, thành phần kinh tế, cách thức quản lý các bộ phận kinh tế, các quan hệ quốc tế, các hoạt động

và giao dịch trong nền kinh tế… Toàn bộ những thay đổi đó tạo ra một cơ chế và

mô hình kinh tế mới cho mỗi quốc gia trong quá trình đổi mới nền kinh tế

Bởi vậy mà nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài “Cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế” Bài nghiên cứu tập trung làm rõ các vấn đề khái niệm, nguyên nhân cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế, từ đó đưa ra những nhân tố ảnh hưởng tới sự thay đổi này, đồng thời đi sâu phân tích quá trình cải cách và đổi mới ở một số quốc gia trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc, Hoa Kỳ) cũng như tác động của chúng

Trang 5

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 6

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cơ chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

3

Bảng 1.2 Ưu, nhược điểm của mô hình hình tế thị trường và mô hình

kinh tế kế hoạch hóa tập trung

8

Bảng 2.1 Tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng GDP theo

ngành, 2001-2005

24

Bảng 2.3 Bảng 2.3 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 9 tháng

Trang 7

là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau" Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “cơ chế

là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện” Từ "cơ chế" được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối những năm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý

Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm "cơ chế” Trong cuốn “Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO” (Nxb Chính trị quốc gia năm 2004), các nhà khoa học cho rằng “cơ chế là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một

sự vật hay hiện tượng” Một quan điểm cụ thể hơn về cơ chế được đề cập trong cuốn “Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp” của Tổ chức thương mại thế giới – WTO (Nxb Lao động xã hội năm 2006) Theo các tác giả của cuốn sách này thì nói đến cơ chế bao giờ cũng gồm hai mặt: bên ngoài (thể hiện ở cách thức tổ chức nên nó) và bên trong (sự tổ chức và hoạt động ngay trong nội tại của sự vật, hiện tượng) Nói cách khác, cơ chế là hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức, hoạt động, cách thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Cơ chế là một quá trình, một hệ thống, là tổng thể các yếu

tố tạo nên sự hoạt động của sự vật, hiện tượng

Trang 8

Từ định nghĩa cơ chế, có thể hiểu cơ chế kinh tế chính là mối quan hệ giữa con người với nền kinh tế: Cơ chế kinh tế là toàn bộ hệ thống những tác động có

ý thức và có tổ chức của con người đến kinh tế vĩ mô và vi mô, phản ánh đúng các quy luật kinh tế khách quan, bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo định hướng mục tiêu đã xác định Cơ chế kinh tế mang tính khách quan và có vai trò quan trọng trong việc nhận thức, phản ánh và vận dụng quy luật khách quan

1.1.2 Phân loại cơ chế kinh tế

Các cơ chế kinh tế gồm cơ chế kinh tế thị trường, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung và cơ chế kinh tế hỗn hợp

 Cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung gồm các cơ quan, tổ chức với hệ thống các quy tắc, quy chế được sử dụng để điều chỉnh sự vận động của nền kinh

tế mà trong đó nhà nước quản lí nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên

hệ thống áp đặt chỉ tiêu mệnh lệnh từ trên xuống dưới

 Cơ chế kinh tế thị trường là một tổng thể bao gồm các bộ quy tắc, luật lệ đối với các thực thể, tổ chức kinh tế, được tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch, trao đổi trên thị trường Các hoạt động kinh tế ở đây tuân theo quy luật cung cầu, chịu sự quản lý của nhà nước nhưng ở mức độ vừa phải

 Cơ chế kinh tế hỗn hợp là cơ chế kinh tế trong đó khu vực nhà nước

và khu vực tư nhân tương tác với nhau trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế Chính phủ kiểm soát một phần đáng kể của sản lượng thông qua việc đánh thuế, thanh toán chuyển giao cung cấp các hàng hóa và dịch vụ như lực lượng vũ trang, cảnh sát Chính phủ cũng điều tiết mức độ theo đuổi lợi ích cá nhân

Trang 9

3

Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay đều thực hiện cơ chế kinh tế thị trường Tuy nhiên cơ chế kinh tế thị trường cũng được phân thành hai nhánh nhỏ hơn là cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Bảng 1.1: Cơ chế kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Cơ chế kinh tế thị trường TBCN

Cơ chế kinh tế thị trường định hướng

Phân công lao động ngày càng xã hội hóa cao Mở rộng quan hệ nhiều loại thị trường từ thị trường địa phương, thị trường khu vực và dân tộc, thị trường quốc tế

Tạo xu thế liên doanh, liên kết đẩy mạnh giao lưu kinh tế, các nước đang phát triển có cơ hội được tiếp xúc chuyển giao công nghệ sản xuất, chuyển giao công nghệ quản lí từ các nước phát triển để thúc đẩy công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế nước nhà

Kinh tế thị trường góp phần thúc đẩy giao lưu giữa các nước dưới sự thể hiện qua các sản phẩm, dịch vụ mang bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, từng quốc gia

Khác

nhau

Trong hệ thống quy phạm pháp luật

vai trò kinh tế của nhà

nước bị giảm sút chịu

lí và kiểm soát các vi phạm trong hoạt động kinh tế, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh

tế và xã hội

Trang 10

Khác với mô hình kinh tế lượng, mô hình toán học… Trong khi các mô hình kinh tế toán học thể hiện mối quan hệ giữa các biến số kinh tế thì mô hình kinh tế trong trường hợp này mang một khái niệm khác, nó không phải là một hàm được lập nên bởi các biến mà nó là một thuật ngữ đùng để đặc trưng cho nền kinh tế của một Nhà nước trong một khoảng thời gian Mô hình kinh tế được đặc trưng bởi nhiều yếu tố: các thành phần kinh tế, chủ thể kinh tế, các hình thức hoạt động hay giao dịch, các cơ chế của mô hình kinh tế… Sự tồn tại lâu dài hay ngắn ngủi của một mô hình kinh tế được quyết định dựa trên hiệu quả của mô hình đó đối với nền kinh tế đương thời

1.2.2 Phân loại

Dựa vào cách thức giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh tế học, các quốc gia trên thế giới đã và đang áp dụng ba mô hình kinh tế chủ yếu, đó là mô hình kinh tế thị trường, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung và mô hình kinh tế hỗn hợp

• Mô hình kinh tế thị trường (market economy)

Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế phổ biến của thế giới đương đại Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành dưới tác động của quy luật thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh Nhà nước hầu như

Trang 11

5

không can thiệp hoặc can thiệp rất ít vào nền kinh tế Mô hình này là thành tựu chung của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm mang tính đặc thù của chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, việc áp dụng và thực hiện mô hình kinh tế thị trường trên thế giới rất phong phú, đa dạng

Các mô hình kinh tế thị trường đang vận hành ở các nước tư bản phát triển trên thế giới thành 3 nhóm tiêu biểu:

- Mô hình thể chế kinh tế thị trường tự do do (tiêu biểu là nền kinh tế thị trường của Mỹ, Anh, Ốx-trây-li-a…)

Đây là mô hình kinh tế được các nhà kinh tế theo trường phái tự do của Mỹ

đề xuất, bản chất của nó là giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước và để cho nền kinh tế tự vận hành thông qua công cụ của nó

- Mô hình thể chế kinh tế thị trường xã hội (tiêu biểu là Đức, Thụy Điển và các nước Bắc Âu khác)

Kinh tế thị trường xã hội là một khái niệm về một hình thái kinh tế thị trường mới ra đời đầu tiên ở Tây Đức (Cộng hòa Liên bang Đức) mà tác giả là những người theo trường phái kinh tế thị trường như Freibrug, Frederich, F.A.von Hayek, Wolf Ogen Về bản chất, kinh tế thị trường xã hội gần giống với kinh tế thị trường nhưng mục tiêu của nó là “gắn kết trên cơ sở thị trường các nguyên tắc

tự do và bình đẳng xã hội.”

Mô hình kinh tế thị trường xã hội là một dạng biến thể của mô hình kinh tế thị trường tự do Nhưng nó có nội dung thực chất là sự gắn kết trên cơ sở thị trường một cách hợp lý giữa các mặt kinh tế – xã hội và chính trị, từ bỏ chủ nghĩa

tự do, đồng thời chống độc quyền, bảo vệ nguyên lý của kinh tế thị trường Hiểu một cách đơn giản thì kinh tế thị trường xã hội là một nền kinh tế thị trường kết hợp tự do với công bằng xã hội Coi các thị trường chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ và coi luật pháp, nhà nước, đạo đức… không hề kém quan trọng hơn so với các chính sách kinh tế, tài chính

- Thể chế kinh tế của mô hình nhà nước phát triển (tiêu biểu là nền kinh tế Pháp, Nhật Bản)

Trang 12

6

Chức năng chủ yếu của nhà nước trong mô hình này là thúc đẩy tăng trưởng

và phát triển kinh tế dài hạn Do đó, nhà nước phải chủ động thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ trên cơ sở những thành tựu của công nghiệp hóa và tái công nghiệp hóa dựa vào tri thức, nhằm thích ứng với sự biến động nhanh chóng của nhu cầu thị trường để luôn tạo ra được lợi thế so sánh mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh, không thụ động chấp nhận sự phân công lao động quốc tế dựa trên những lợi thế so sánh có sẵn Cơ sở lý thuyết về chức năng phát triển của nhà nước là những phân tích “lợi thế so sánh động” của một nền kinh tế dựa vào tri thức

Bên cạnh những điểm khác biệt của mỗi mô hình như đã nêu trên, giữa 3 mô hình này cũng có những điểm tương đồng rất cơ bản:

Thứ nhất, cả ba mô hình thể chế kinh tế thị trường nêu trên đều được xây dựng và vận hành dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi là: sở hữu tư nhân, lợi ích cá nhân, cạnh tranh thị trường và tự do dân chủ theo kiểu phương Tây

Thứ hai, những thể chế, chính sách trước đây bị coi là phi kinh tế như chính sách giáo dục – đào tạo, khoa học, công nghệ thì ngày nay trở thành những chính sách phát triển hàng đầu, do giáo dục – đào tạo và khoa học, công nghệ trong những thập niên gần đây đã trở thành những động lực trọng yếu của tăng trưởng

và phát triển kinh tế Chính nhờ tập trung những khoản đầu tư lớn cho phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học, công nghệ mà Mỹ trở thành nước đang dẫn đầu trong các ngành mới, hiện đại và thu được nhiều khoản lợi nhuận kếch sù từ các ngành công nghiệp bán dẫn, máy tính, In-tơ-nét, công nghệ sinh học,… Đó chính

là cơ sở trọng yếu để nền kinh tế Mỹ duy trì được đà tăng trưởng mạnh mẽ trong suốt thập niên vừa qua

Trên thực tế, cả 3 mô hình này đều sử dụng rộng rãi sự điều tiết và quản lý

vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế Tuy nhiên, vai trò điều tiết và quản lý vĩ

mô của nhà nước luôn được thay đổi linh hoạt, theo những hình thức và phương pháp phù hợp với diễn biến và yêu cầu khách quan của tình hình thực tế

Chính phủ ở các nước này đều sử dụng những biện pháp can thiệp có chủ đích nhằm trợ giúp một số ngành công nghiệp có vai trò quan trọng trong sự phát

Trang 13

Vai trò của kinh tế kế hoạch hóa tập trung:

 Có đóng góp quan trọng vào việc cải tạo quan hệ sản xuất, tập trung

tư liệu sản xuất vào trong tay nhà nước, do đó có điều kiện tập trung sức sản xuất

để nâng cao nâng suất lao động

 Việc tập trung các tư liệu sản xuất và sản xuất có kế hoạch tạo điều kiện tập trung sức lao động và vốn đầu tư vào những ngành trọng điểm, những công trình quan trọng nhằm đưa đến sự thay đổi cơ bản nền kinh tế quốc dân - Tập trung hóa, kế hoạch hóa cao độ dưới sự lãnh đạo của Nhà nước, như vậy có tác dụng dễ dàng tập trung được nguồn lực quốc gia cho các mục tiêu trọng điểm, những ưu tiên của đất nước ví dụ điển hình như quá trình Công nghiệp hóa những năm 1930 ở Xô Viết đã thành công bất kể các căng thẳng của nền kinh tế, cũng như các dự án chạy đua vũ trang và các dự án lớn khác của Liên Xô sau này

 Kinh tế có kế hoạch và tách xa thị trường nên nền kinh tế tránh được lạm phát, tránh được các khủng hoảng và các rủi ro của thị trường như trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá cả có khi được duy trì cố định trong vài chục năm Giá cả cố định trong một thời gian khá dài cộng với thu nhập tăng đều theo

kế hoạch điều này là có lợi cho tầng lớp dân cư lớp dưới kém năng động thích được sống bao cấp, sức mua của người dân tăng cao

Mỗi mô hình kinh tế không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả tốt nhất cho các quốc gia Bảng 1.2 dưới đây phân tích các ưu, nhược điểm của 2 mô hình kinh

Trang 14

8

tế Cũng từ đó mô hình kinh tế hỗn hợp được hình thành với mục đích tận dụng

ưu điểm và khắc phục các nhược điểm của 2 mô hình kinh tế trên

Bảng 1.2 Ưu, nhược điểm của mô hình hình tế thị trường và mô hình kinh

tế kế hoạch hóa tập trung

Mô hình kinh tế thị trường Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập

động sáng tạo cao hơn, thường

xuyên đổi mới công nghệ và

kích thích nâng cao năng xuất,

chất lượng hiệu quả trong sản

xuất kinh doanh;

Khai thác và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và thúc

đẩy nền kinh tế phát triển

Tất cả các vấn đề đều do nhà nước thống nhất, tập trung quản lý nên các vấn đề kinh tế lớn được giải quyết một cách dễ dàng hơn như xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng và củng cố an ninh quốc phòng, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng; quan hệ giữa con người với nhau bình đẳng, bác ái; hạn chế phân hóa giàu nghèo và đảm bảo sự công bằng xã hội Nhược

kinh tế với mối quan hệ truyền

thống, tệ nạn xã hội nảy sinh,

phân hóa giàu ngèo và bất công

xã hội tăng, các nhu cầu công

cộng xã hội khó được thực hiện,

chịu nhiều rủi ro

Bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu, bao cấp; người sản xuất

và người tiêu dùng không có quyền

tự do lựa chon nên tính năng động

và chủ động không cao, chậm đổi mới công nghệ; Phân phối mang tính chất bình quân nên không kích thích người lao động, khai thác và

sử dụng nguồn lực khan hiếm kém hiệu quả

Trang 15

9

Mô hình kinh tế hỗn hợp (mixed economy)

Kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế mà trong đó chính phủ vận hành nền kinh

tế theo tín hiệu thị trường, chủ trương phải kết hợp hai mặt "bàn tay vô hình" của

A Smith và lý thuyết “bàn tay hữu hình”

Cơ chế thị trường xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế: cái gì? như thế nào? cho ai? Nhưng "bàn tay vô hình" cũng có những khuyết tật và đưa đến những sai lầm; cho nên cần "bàn tay hữu hình" của chính phủ thông qua những chính sách và biện pháp thuế khoá, chi tiêu (đầu tư, tín dụng, ), lãi suất, thanh toán chuyển khoản và kiểm soát nền kinh tế Bằng những biện pháp ấy, nhà nước thực hiện các chức năng: định ra khuôn khổ pháp luật, điều tiết thị trường, bảo đảm sự công bằng, ổn định nền kinh tế vĩ mô Nhưng "bàn tay hữu hình" cũng có những khuyết tật của nó, do chính phủ có những nhận định sai lầm và đưa ra những quyết định can thiệp trái với sự vận động khách quan của thị trường Cho nên phải kết hợp cả hai mặt và hình thành nên nền "kinh tế hỗn hợp"

Kinh tế hỗn hợp cho rằng do kết quả hoạt động của nhà nước tư sản, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hiện đại không còn là nền kinh tế tư nhân nữa, mà là sự kết hợp hai khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước bổ sung cho nhau thành một nền "kinh tế hỗn hợp" Khu vực Nhà nước đã mất tính chất tư bản chủ nghĩa

xã hội Sự kiểm soát nền kinh tế do nhà nước và các cơ quan tư nhân thực hiện là nhằm mục đích "nâng cao phúc lợi xã hội của nhân dân" Theo thuyết này, nhà nước tư sản có khả năng xoá bỏ một phần những mâu thuẫn nảy sinh trong nền kinh tế, giảm dần và đi đến không có khủng hoảng và bảo đảm một sự phát triển nhịp độ cao và ổn định Thuyết này đưa ra những biện pháp kinh tế - xã hội của nhà nước tư sản, của kinh tế tư bản nhà nước trong chủ nghĩa tư bản Ở đây, hai khu vực tư bản tư doanh và kinh tế nhà nước hợp thành một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thống nhất, trong đó vai trò quyết định là thuộc các tổ chức kinh tế tài chính trong tổ chức độc quyền mạnh Mô hình này phát huy hiệu quả của các nhân

Trang 16

10

tố chủ quan như các quy luật của thị trường lại vừa coi trọng các nhân tố chủ quan như vai trò của chính phủ Tuy nhiên còn tùy vào từng trường hợp của mỗi quốc gia mà mà vận dụng vai trò của chính phủ và thị trường cho phù hợp Do những tính ưu việt đó mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp Tùy theo mức độ chính phủ can thiệp vào nền kinh tế mà một nền kinh

tế có thể lệch về hướng thị trường hay kế hoạch tập trung

1.3 Phân biệt cơ chế kinh tế, mô hình kinh tế với thể chế kinh tế và chế độ kinh tế

 Thể chế kinh tế

Thể chế kinh tế là hệ thống những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế Thể chế kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu: các đạo luật, luật lệ, quy định, quy tắc… về kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm; các tổ chức kinh tế; cơ chế vận hành nền kinh tế

Có thể nói, thể chế kinh tế và cơ chế vận hành kinh tế là hai mặt của một vấn

đề Thể chế kinh tế xây dựng khuôn khổ, xác định phạm vi hoạt động cho các chủ thể hành vi phải tuân theo trong hệ thống Còn cơ chế vận hành kinh tế chỉ ra cho các chủ thể phương thức hoạt động trong phạm vi đã được qui định và quan hệ giữa họ Có thể so sánh theo cách mà Thomas L.Friedman hình dung giữa hệ thống kinh tế xã hội với chiếc Computer: nếu hệ thống kinh tế xã hội là chiếc Computer thì hệ thống kinh tế thị trường và cơ chế hoạt động của nó là phần cứng, còn thể chế kinh tế là phần mềm Cùng với phần cứng chứa đựng nền kinh tế và

cơ chế hoạt động của nó, thì cần có phần mềm để vận hành sự hoạt động đó

 Chế độ kinh tế

Chế độ kinh tế là một bộ phận hợp thành của chế độ xã hội của mỗi quốc gia

Nó bao gồm một tổng thể các qui định pháp luật ghi nhận những quan hệ kinh tế phù hợp với bản chất của nhà nước, truyền thống lịch sử và hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác Các quan hệ này vừa là yếu tố quyết định tính chất nhà nước, vừa là cơ

Trang 17

- vô sản, trong đó giai cấp tư sản là người sở hữu tư liệu sản xuất trong xã hội, là quan hệ chiếm địa vị thống trị của chế độ kinh tế tư bản chủ nghĩa

1.4 Nguyên nhân cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế

Một khi những khuôn khổ cơ chế, mô hình cũ đã trở nên chật chội, những cuộc cách mạng, cải cách trước đây tạo ra đã không còn đủ lực để thúc đẩy phát triển thì cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế là công việc tất yếu Trước hết phải tìm hiểu cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế

là gì? Theo Từ điển Tiếng việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn, xuất bản năm

2003, “Cải cách là sửa đổi những bộ phận cũ (trong lĩnh vực kinh tế xã hội) cho thành hợp lý và dáp ứng yêu cầu khách quan hơn”1 Từ đó rút ra cải cách cơ chế kinh tế là cải thiện cách quản lý nền kinh tế bằng cách cải tiến các quy định, luật định, đạo luật gắn với nền kinh tế để tạo ra động lực đột phá, phù hợp hơn với sự vận động không ngừng của nền kinh tế

Trong khi đó, “Đổi mới là thay đổi cho khác hẳn với trước, tiến bộ hơn, khắc phụ tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”2 Như vậy, đổi mới mô hình kinh tế là quá trình một quốc gia chuyển đổi từ mô hình kinh tế này sang mô hình kinh tế khác tiến bộ hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đã đặt ra Bản chất của đổi mới mô

hình kinh tế chính là thay đổi cách thức vận hành nền kinh tế

1 Từ điển tiếng Việt, tr104, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, năm 2003

2 Từ điển tiếng Việt, tr337, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, năm 2003

Trang 18

12

Tóm lại, cải cách cơ chế kinh tế và đổi mới mô hình kinh tế đều là thay đổi sang một loại hình khác tiến bộ hơn Vậy nguyên nhân nào khiến các quốc gia phải thay đổi?

 Nguyên nhân chủ quan

- Mô hình và cơ chế cũ biểu hiện nhiều khuyết tật lỗi thời do không phù hợp với xu thế khách quan của thời đại Vì vậy, yêu cầu đặt ra là vừa có sự điều chỉnh, loại bỏ cái lỗi thời vừa bổ sung và hoàn thiện mô hình mới; tức là phát hiện những khuyết tật của mô hình cũ để có giải pháp loại bỏ đồng thời phát triển những thế mạnh của mô hình đã có để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của

mô hình mới

- Khoa học và công nghệ là động lực quyết định; nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm bởi đó là chủ thể sáng tạo và sử dụng khoa học, công nghệ, đồng thời thực hiện chức năng quản lý

 Nguyên nhân khách quan

- Xu thế hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, phân chia lao động quốc tế và khu vực

- Xu hướng toàn cầu hóa, sự phát triển mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia…

- Vai trò của nhà nước trong điều hành kinh tế vĩ mô ngày càng trở nên quan trọng trước các cơ hội cũng như thách thức khi hội nhập vào thị trường thế giới

Trang 19

13

CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH CƠ CHẾ KINH TẾ 2.1 Những nhân tố thúc đẩy cải cách cơ chế kinh tế

Có rất nhiều nhân tố tác động tới việc hình thành và phát triển cơ chế kinh

tế, nhưng trong đó các nhân tố dưới đây được coi là quan trọng nhất

Phương thức sản xuất là một trong những yếu tố rất quan trọng làm thay đổi

phần lớn các cơ chế chính thức, trong đó có cơ chế kinh tế Việc chuyển từ phương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất khác sẽ làm thay đổi căn bản cơ chế nói chung của một quốc gia, do sự khác biệt cơ bản về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, sự thay đổi các quan hệ về sở hữu, phân phối, trao đổi và tiêu dùng, sự khác biệt về cơ cấu bộ máy nhà nước, sự thay đổi trong địa vị của những người ban hành và cả những người thực thi cơ chế

Chế độ sở hữu và cơ cấu quyền tài sản là những yếu tố rất quan trọng tác

động tới cơ chế mà trước hết là cơ chế kinh tế

Hệ tư tưởng là nền tảng tinh thần làm thay đổi nhận thức của con người về

thế giới quan, nhân sinh quan Hệ tư tưởng có tác động lớn tới việc giải thích thế giới xung quanh và các hoạt động kinh tế Chính vì vậy, hệ tư tưởng có tác động rất lớn tới hệ thống cơ chế nói chung, cơ chế quản lý kinh tế nói riêng

Mô hình kinh tế cũng có tác động mạnh tới cơ chế Sự khác biệt giữa các mô

hình kinh tế, chẳng hạn như giữa mô hình kinh tế thị trường với mô hình kinh tế

kế hoạch hoá tập trung cũng tạo ra sự khác biệt lớn trong cơ chế kinh tế Ngoài

ra, sự khác nhau giữa các mô hình kinh tế thị trường (kinh tế thị trường tự do, kinh

tế thị trường xã hội, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ) cũng tạo ra

sự khác biệt lớn trong cơ chế kinh tế

Cơ cấu quyền lực chính trị, sự tập trung quyền lực hay phân quyền sẽ tạo ra

sự khác nhau cơ bản dẫn tới khác nhau đáng kể trong cả tổ chức nhà nước lẫn cơ chế kinh tế

Trình độ của chủ thể quản lý vĩ mô thể hiện trình độ nhận thức các quy luật

khách quan, nhận thức về kinh tế - xã hội, con người, nhận thức về đối tượng điều

Trang 20

14

chỉnh Điều này có tác động lớn đến chất lượng của cơ chế kinh tế, vì các cơ chế

do con người tạo lập ra

2.2 Quá trình cải cách cơ chế kinh tế ở Trung Quốc

2.2.1 Nội dung cải cách

Tại hội nghị Trung ương 3 khóa XI (12/1978), Đảng Cộng sản Trung Quốc

đã đưa ra đường lối cải cách và mở cửa kinh tế, với mục tiêu “tạo ra giá trị thặng

dư đủ để cung cấp tài chính cho quá trình hiện đại hóa nền kinh tế của Trung Hoa Đại lục”, hay nói cách khác là chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường XHCN Từ đó cho đến nay, qua các kỳ hội nghị và đại họi Đảng, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngừng phát triển tư duy lý luận, làm phong phú thêm nhận thức về con đường cũng như nội dung công cuộc cải cách kinh tế của đất nước

Khái niệm “Cải cách cơ chế kinh tế” tuy không được nhắc đến trực tiếp trong chính sách cải cách mở cửa nhưng nó được thể hiện gián tiếp qua các quan điểm cải cách Đó là,

 Cải cách kinh tế

- Sự thay đổi trong quan điểm về chế độ sở hữu ở Trung Quốc: Trước cải cách, do tư duy giáo điều về CNXH, đã đồng nhất CNXH với chế độ công hưu Nay Trung Quốc chủ trương đa dạng hóa sở hữu và thành phần kinh tế và coi đó là đường lối cơ bản trong xây dựng CNXH

- Sự thay đổi trong quan điểm về mô hình kinh tế XHCN: Từ quan điểm CNXH với mô hình kế hoạch hóa tập trung, nay Trung Quốc chuyển sang chủ trương phát triển thể chế kinh tế thị trường XHCN

- Sự thay đổi trong quan điểm về công nghiệp hóa XHCN: Trước cải cách đó là mô hình công nghiệp hóa theo phương thức kế hoạch hóa tập trung, nay Trung Quốc chuyển sang quan điểm công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, nhằm giải phóng sức sản xuất

- Sự thay đổi trong quan điểm về phân phối thu nhập: Trước cải cách

đó là quan điểm bình quân chủ nghĩa, không coi trọng lợi ích cá nhân người lao

Trang 21

15

động Nay Trung Quốc chủ trương phương thức phân phối thông qua thị trường, kết hợp phân phối theo lao động và phân phối theo yếu tố sản xuất

 Cải cách cơ chế quản lý

Từ khi thực hiện đường lối mở cửa (1978), Trung Quốc đã trải qua 5 giai đoạn cải cách hành chính, trong đó đáng chú ý nhất là 3 giai đoạn tiến hành từ 9 năm trở lại đây:

- Giai đoạn 1995-1998: Nhiệm vụ trọng tâm là tách dần quản lý hành chính nhà nước và quản lý doanh nghiệp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; điều chỉnh chức năng quản lý của bộ máy hành chính nhà nước, nhất là trong quan hệ với doanh nghiệp

- Giai đoạn 1998-2002: cải cách bộ máy hành chính nhà nước các cấp được tiến hành trên quy mô lớn, gắn đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của các cơ quan Đảng, phương thức hoạt động của các đoàn thể, cải cách các cơ quan lập pháp và tư pháp Nhiệm vụ trọng tâm là cơ cấu lại Chính phủ, điều chỉnh lại chức năng của các cơ quan Chính phủ để phù hợp với sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, bảo đảm thích ứng với quá trình hội nhập, đặc biệt là để tham gia WTO Trong giai đoạn này toàn Trung Quốc đã giảm 900 trên tổng số 2000 cơ cấu tổ chức ở cấp 4 cấp chính quyền; giảm 50% biên chế bộ máy hành chính

- Giai đoạn từ cuối 2003 trở đi: Phát huy kết quả các giai đoạn trước, đưa cải cách đi vào chiều sâu để thực sự thay đổi chức năng của chính quyền theo phương châm: biến từ chính quyền vô hạn (cái gì cũng làm) sang chính quyền hữu hạn (quản lý bằng pháp luật, chỉ làm những việc thuộc chức năng đích thực là quản lý hành chính nhà nước)

Đầu năm 2003, Chương trình cải cách hành chính của Quốc vụ viện đã được thông qua; các nhiệm vụ chính là:

• Cải cách cơ chế quản lý tài sản công; lập cơ quan quản lý công sản để triệt để tách chức năng quản lý hành chính của cơ quan công quyền với quản lý của các doanh nghiệp nhà nước

Trang 22

16

• Đổi mới cơ chế điều tiết vĩ mô thông qua chính sách phát triển; thành lập

Uỷ ban cải cách và phát triển thay cho Uỷ ban kế hoạch phát triển Quốc

vụ viện; thành lập cơ quan hợp tác và giao lưu khu vực để thực hiện chức năng phối hợp phát triển

• Đẩy mạnh Chương trình tin học hoá, từng bước xây dựng chính phủ điện

2.2.2 Thành tựu

Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc cải cách và mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã có những bước tiến nhanh chóng và cơ bản Dưới đây là một số thành tựu nổi bật, phản ánh sự chuyển biến hết sức to lớn của nền kinh tế Trung Quốc dưới tác động của đường lối cải cách và mở cửa kinh tế

- Kinh tế tăng trưởng nhanh cả về tốc độ và quy mô

Trong thời gian từ 1978 đến 2007, tốc độ tăng trưởng trung bình của GDP Trung Quốc là 9,8%, cao hơn 3% so với tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm của thế giới trong cùng thời kỳ

Đặc biệt là giai đoạn từ năm 2010 khi Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế, theo đó, GDP tăng mạnh, tuy tốc độ tăng trưởng giảm nhưng vẫn ở mức rất cao trên 7%

Ngày đăng: 04/12/2017, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2001
2. Đức Bình (2015), Định hướng đổi mới môi trường tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, VGP News số 9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: VGP News
Tác giả: Đức Bình
Năm: 2015
3. Hoàng Toan (2008), Khủng hoảng tài chính Mỹ - hệ quả tất yếu của chủ nghĩa tự do, Tạp chí Kiến thức Quốc phòng hiện đại, số 12/2008, tr.65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kiến thức Quốc phòng hiện đại
Tác giả: Hoàng Toan
Năm: 2008
4. Larousse-Bordas (1999), Từ điển bách khoa “Le Petit Larousse”, Nhà xuất bản Thế giới, trang 894 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa “Le Petit Larousse”
Tác giả: Larousse-Bordas
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 1999
5. Lê Văn Sang, “Các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới”; NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới”
Nhà XB: NXB Thống kê
6. Mã Hồng (1995), “Kinh tế thị trường XHCN”, NXB Chính trị Quốc gia; 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường XHCN”
Tác giả: Mã Hồng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia; 1995
Năm: 1995
8. Nguyễn Khánh Dư (2013), Tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản số 6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Khánh Dư
Năm: 2013
12. Trần Đình Thiên (2014), Đổi mới mô hình tăng trưởng từ tái cơ cấu kinh tế, Báo điện tử Tầm nhìn số 6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo điện tử Tầm nhìn
Tác giả: Trần Đình Thiên
Năm: 2014
13. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
7. Nguyễn Kim Bảo (2014), Cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc: Thành tựu và kinh nghiệm Khác
9. Nguyễn Thanh Tuyền và Nguyễn Lê Anh (2014), Mối quan hệ hữu cơ giữa thể chế, cơ chế, chính sách, cơ chế điều hành và hành vi ứng xử Khác
10. Những vấn đề Kinh tế & Chính trị thế giới, Viện KHXH Việt Nam, tháng 10/2008 Khác
11. Trần Đình Thiên (2013), Bàn về những nhân tố xã hội thành công của Trung Quốc trong 30 năm cải cách mở cửa Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w