1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

31 334 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Chủ Yếu Nhằm Mở Rộng Và Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Đối Ngoại
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Đối Ngoại
Thể loại Đề Án Môn Học
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 148,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những thập kỷ gần đây nền kinh tế thế giới phát triển với tốc độ chóng mặt. Ước tính tính nguồn của cải vật chất nhân loại làm ra trong thế kỉ qua bằng tất cả nguồn của cải đã làm ra trước đó, kể từ khi con người xuất hiện trên trái đất. Trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới chưa bao giờ lại có sự hợp tác để phát triển rộng rãi đan xen lồng ghép và nhiều tầng nấc như hiện nay. Điều này đã tạo ra một xu thế nổi bật trong quan hệ quốc tế hiện đại như Nghi quyết Đại hội lần thứ 8 của Đảng ta nhận định:“Các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Các quốc gia lớn nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại, mở rộng kinh tế đối ngoại” Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khoa học và công nghệ đã có những bước tiến nhảy vọt thì kinh tế đối ngoại đang trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, giúp cho nền kinh tế các nước có thể hỗ trợ cho nhau để cùng phát triển. Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng minh rằng không có nền kinh tế quốc gia nào có thể tỗn tại và phát triển nếu thực hiện chính sách kinh tế biệt lập, bế quan toả cảng, tự cấp tự túc, đứng ngoài dòng chảy chung của nền kinh tế toàn cầu

Trang 1

PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU Trong những thập kỷ gần đây nền kinh tế thế giới phát triển với tốc độ chóng mặt.Ước tính tính nguồn của cải vật chất nhân loại làm ra trong thế kỉ qua bằng tất cảnguồn của cải đã làm ra trước đó, kể từ khi con người xuất hiện trên trái đất Tronglịch sử phát triển kinh tế thế giới chưa bao giờ lại có sự hợp tác để phát triển rộng rãiđan xen lồng ghép và nhiều tầng nấc như hiện nay Điều này đã tạo ra một xu thế nổibật trong quan hệ quốc tế hiện đại như Nghi quyết Đại hội lần thứ 8 của Đảng tanhận định:“Các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ýnghĩa quyết định để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia Các quốc gia lớnnhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kếtquốc tế về kinh tế, thương mại, mở rộng kinh tế đối ngoại”

Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khoa học và công nghệ đã có những bước tiếnnhảy vọt thì kinh tế đối ngoại đang trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng trongnền kinh tế của mỗi quốc gia, giúp cho nền kinh tế các nước có thể hỗ trợ cho nhau đểcùng phát triển Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng minh rằng không có nền kinh tếquốc gia nào có thể tỗn tại và phát triển nếu thực hiện chính sách kinh tế biệt lập, bếquan toả cảng, tự cấp tự túc, đứng ngoài dòng chảy chung của nền kinh tế toàn cầu Việt Nam là một đất nước đang trên đà phát triển với nhiều thuận lợi nhưng cũngkhông ít những khó khăn, vai trò của kinh tế đối ngoại là hết sức quan trọng nókhông những giúp chúng ta tranh thủ được vốn, khoa học công nghệ để nhanh chóngphát triển hoà mình vào dòng chảy chung của nền kinh tế thế giới mà còn giúp chúng

ta sớm đạt được mục tiêu”Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ vănminh”

Chính bởi vai trò to lớn của Kinh tế đối ngoại mà em xin lấy đó làm đề tài nghiêncứu Nhưng do thời gian và khả năng của bản thân có hạn em xin được nghiên cứuvấn đề dưới giác độ của Kinh tế chính trị học và trong phạm vi đề án môn học Đề án

sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch

Trang 2

sử, phương pháp trừu tượng hoá, phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch

sử

PHẦN II: NỘI DUNG

I Một số vấn đề về mặt lí luận cơ bản của kinh tế đối ngoại

1 Một số khái niệm

1.1 Thế nào là kinh tế đối ngoại?

Kinh tế đối ngoại là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Vai trò đó thể hiện rõnét thông qua định nghĩa Kinh tế đối ngoại

“Kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thểcác quan hệ kinh tế, khoa học kĩ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất định vớicác quốc gia khác còn lại hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiệndưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sảnxuất và phân công lao động quốc tế

1.2 Thế nào là kinh tế quốc tế ?

“Kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế lẫn nhau giữa hai hoặc nhiều nước, là tổngthể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước ”

Như vậy, kinh tế đối ngoại và kinh tế quốc tế là hai khái niệm có mối liên hệ vớinhau song không đồng nhất với nhau Kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế mà chủthể của nó là một quốc gia với bên ngoài với nước khác hoặc với tổ chức kinh tếkhác Còn kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế giữa hai hoặc nhiều nước, là tổngthể các quan hệ kinh tế của cộng đồng quốc tế

1.3 Thế nào là toàn cầu hoá?

Tuỳ theo cách hiểu nội dung toàn cầu hoá như thế nào mà người ta xác định thờiđiểm toàn cầu hoá bắt đầu và cái đích mà nó đi tới cùng với những hình thức đa dạngcủa nó

Trang 3

Nhưng nếu hiểu toàn cầu hoá là một quá trình quốc tế kinh tế đã phát triển trênquy mô toàn cầu thì “Toàn cầu hoá bao gồm trong nó hai quá trình phát triển songsong –tự do hoá kinh tế và hội nhập quốc tế”

Như vậy, toàn cầu hoá là các quan hệ kinh tế không những được tự do phát triểntrên phạm vi toàn cầu mà còn phải tuân theo những cam kết toàn cầu đa dạng Cáiđích cuối cùng mà toàn cầu hoá vươn tới là một nền kinh tế toàn cầu thống nhấtkhông còn biên giới quốc gia về kinh tế

1.4 Quốc tế hoá đời sống kinh tế

Do sự phát triển của khoa học kĩ thuật, sự chuyên môn hoá và hợp tác hoá, sảnxuất trên phạm vi quốc tế nên lao động không còn mang sắc thái biệt lập mà mangmàu sắc toàn cầu Không còn gianh giới giữa các nước trong lĩnh vực sản xuất

2 Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại

2.1 Vai trò của kinh tế đối ngoại

Trong những thập kỉ gần đây nền kinh tế thế giới phát triển với tốc độ chóng mặt.Nhân loại đã làm ra một lượng của cải vật chất khổng lồ Cung với sự phát triểnvượt bậc của khoa học kĩ thuật, thế giới trong xu thế phát triển hợp tác hữu nghị do

đó kinh tế đối ngoại có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết

Vai trò của kinh tế đối ngoại thể hiện ở một số mặt :

Thứ nhất nó góp phần nối liền sản xuất và trao đổi trong nướcvới sản xuất và traođổi quốc tế, nối liền thị trường trong nước với thị trường thế giới và khu vực

Thứ hai hoạt động kinh tế đối ngoại giúp thu hút vốn đầu tư và vốn viện trợ từ bên

ngoài, thu hút khoa học công nghệ, khai thác và ứng dụng những kinh nghiệm xâydựng và quản lí nền kinh tế hiện đại vào trong nước

Thứ ba góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tạo ra nhiều công ăn việc làm giảm tỉ

lệ thất nghiệp, tăng thu nhập, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân

2.2 Cơ sở khách quan của việc hình thành kinh tế đối ngoại

Trang 4

2.2.1 Phân công lao động quốc tế

Phân công lao động quốc tế xuất hiện như là hệ quả tất yếu của phân công laođộng xã hội phát triển vượt khuôn khổ mỗi quốc gia Nó diễn ra giữa các ngành, giữanhững người sản xuất của những nước khác nhau và thể hiện như là một hình thứcđặc biệt của sự phân công lao động theo lãnh thổ diễn ra trên phạm vi thế giới Phân công lao động quốc tế là quá trình tập trung việc sản xuất và cung cấp mộthoặc một số loại sản phẩm và dịch vụ của một quốc gia nhất định dựa trên những cơ

sở lợi thế của quốc gia đó về các điều kiện tự nhiên và xã hội

Ngày nay phân công lao động vận động theo những xu hướng mới :phân công laođộng quốc tế diễn ra trên phạm vi ngày càng rộng, trên nhiều lĩnh vực Sự phát triểncủa khoa học kĩ thuật làm phân công lao động quốc tế diễn ra theo chiều sâu, chiềucao và từ đó nó ảnh hưởng nhanh chóng đến cơ cấu ngành và cơ cấu lao động trongtừng nước và trên phạm vi thế giới

2.2.2 Lý thuyết về lợi thế - cơ sở lựa chọn của thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là một hình thức của quan hệ khinh tế đối ngoại xuất hiện từrất lâu đời Lý thuyết về lợi thế giải đáp cho câu hỏi trong trao đổi ai là người đợclợi, giữa các quốc gia phát triển cao với các quốc gia phát triển thấp có nên trao đổithương mại hay không ?

Trong lịch sử đã có nhiều nhà kinh tế học đưa ra lí thuyết về lợi thếnhư A.Smithvới lí thuyết về lợi thế tuyệt đối C.Mac với quan điểm nói về năng suất lao động dântộc và năng suất lao động quốc tế H.Habeerleer lí giải theo lí thuyết về chi phí cơhội, và sau này còn nhiều lí thuyết có cách lí giải khác nhau và cách xem xét riêngsong mọi cách lí giải đều đi đến một chân lí chung là lợi thế so sánh tồn tại là kháchquan mà mỗi quốc gia phải lợi dụng để góp phần vào sư phân công lao động vàthương mại quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế đối ngoại

Trang 5

2.2.3 Xu thế thị trường thế giới

Từ những thập kỉ 70 của thế kỉ 20 lại đây toàn cầu hoá và khu vực hoá trở thành

xu thế tất yếu của thời đại dẫn tới”mở cửa “và “hội nhập “ở mỗi quốc gia vào cộngđồng quốc tế trong đó có xu thế phát triển của thị trường thế giới Xu thế này có liênquan đến sự phân công lao động quốc tế và việc vận dụng lợi thế so sánh giữa cácquốc gia trong thương mại giữa các nước với nhau

Những biểu hiện của xu hướng phát triển thị trường thế giới :Thương mại giữa cácngành tăng lên rõ rệt Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 cùng với sự phát triển củakhoa học công nghệ phân công lao động quốc tế cũng có sự thay đổi lớn về hìnhthức Thể hiện ở việc từ phân công lao động giữa các ngành chuyển sang phân cônglao động giữa nội bộ ngành do đó thương mại trong các ngành phát triển rất mạnh,đặc biệt là công ty xuyên quốc gia Khối lượng thương mại trong nội bộ các tập đoànkinh tế khu vực không ngừng mở rộng, thương mại công nghệ phát triển nhanhchóng, cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên gay gắt

Thương mại phát triển theo hướng tập đoàn hoá kinh tế khu vực :nền kinh tế thếgiới đang phát triển theo hướng tập đoàn hoá khu vực và bị chi phối bởi những nhân

tố : cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt cục diện thế giới chuyển từ hai cực sang đacực Khoa học và công nghệ phát triển nhanh chóng làm thay đổi cơ cấu ngành trênquy mô thế giới Xu thế tập đoàn hoá kinh tế khu vực ngày càng có ảnh hưởng quantrọng đến tình hình kinh tế thương mại

Tóm lại, sự hình thành và phát triển kinh tế đối ngoại mà cơ sở khoa học của nóchủ yếu được quyết định bởi sự phân công và hợp tác lao động trên phạm vi quốc tếđược các quốc gia vận dụng thông qua lợi thế so sánh để ra quyết định lựa chọn cáchình thức kinh tế đối ngoại diễn ra trong điều kiện toàn cầu hoá, khu vực hoá vàđược biểu hiện rõ nhất ở xu thế phát triển của thị trường thế giới trong thời gian gầnđây

Trang 6

2.3 Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại

Cho đến nay không một quốc gia nào trên thế giới có thể phát triển kinh tế có hiệuquả mà không chủ động gắn sự phát triển của đất nước mình với sự phát triển của cácnước khác cùng khu vực cũng như trên phạm vi toàn thế giới Trong xu thế quốc tếhoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới sản xuất ngày càng được chuyên môn hoá sâuhơn, sự phân công lao động ngày càng sâu sắc trên quy mô toàn cầu làm cho mốiquan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các nước dù lớn hay nhỏ, pháttriển hay đang phát triển ngày càng tăng lên Kinh tế đối ngoại đang trở thành bộphận ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia giúp cho các nền kinh

tế các nước có thể hỗ trợ nhau một cách cùng có lợi và mỗi nước đều phát huy đượclợi thế so sánh của nền kinh tế nước mình

Lịch sử kinh tế thé giớo đã chứng minh rằng không có nền kinh tế quốc gia nào cóthể tồn tại và phát triển nếu thực hiện chính sách kinh tế biệt lập bế quan toả cảng, tưcấp tự túc, đứng ngoài dòng chảy chung của nền kinh tế toàn cầu

II Những hình thức chủ yếu của kinh tế đối ngoại

1 Ngoại thương

Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại ngoại thương giữ vị trí trung tâm và có tácdụng to lớn góp phần làm tăng sức mạnh tổng hợp, tăng tích luỹ của mỗi quốc gianhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế làđộng lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sốngcủa người lao động nhất kà trong các ngành xuất khẩu

Ngoại thương hay còn gọi là thương mại quốc tế là sự trao đổi hang hoá hoặc dịch

vụ (bao gồm cả hàng hoá vô hình và hàng hoá hữu hình ) giữa các quốc gia thôngqua xuất nhập khẩu

Trang 7

Nội dung của ngoại thương bao gồm :xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, thuê nướcngoài gia công tái xuất khẩu trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểmcủa kinh tế đối ngoại

Hoạt động kinh tế đối ngoại mấy thập kỉ gần đây do chịu tác động của khoa họccông nghệ nên mang những đặc điểm mới :tốc độ tăng trưởng của ngoại thương quốc

tế tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân Tốc độ tăngtrưởng của ngoại thương hàng hoá vô hình tăng nhanh hơn hàng hoá hữu hình Cơcấu mặt hàng cngx có sự biến đổi Phạm vi, phương thức và công cụ cạnh tranh củathương mại quốc tế fiễn ra rất đa dạng và phong phú

Muốn biến ngoai thương thành đòn bẩy có sức mạnh phát triển nền kinh tế quốcdân cần phải nắm bắt được lợi thế so sánh nhưng lợi thế so sánh không ở trạng tháitĩnh mà luôn luôn thay đổi Các nước thuộc thế giới thứ ba khi sử dụng lợi thế sosánh phải không ngừng học tập đẻ vươn len khắc phục thế yếu kém của mình

2.Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất

Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất bao gồm gia công xây dựng xí nghiệp chungchuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất quốc tế Do tác động của cuộc cách mạngkhoa học công nghệ các nước công nghiệp đã tiến hành cải tổ cơ cấu kinh tế quốcdân theo hướng tập trung ưu tiên những ngành có hàm lượng khoa học cao chuyểnnhững ngành có hàm lượng lao động và nguyên liệu cao sang các nước đang pháttriển

Bên cạnh hình thức gia công một hình thức phổ biến khác là xây dựng những xínghiệp chung với sự hùn vốn và công nghệ từ nước ngoài Hiện nay các xí nghiệploại này đang tồn tại phổ biến ở nhiều nước.Về mặt pháp lí xí nghiệp chung thườngđược tổ chức dưới dạng công ty cổ phần với trách nhiệm hữu hạn tương ứng với sốvốn đóng góp của các thành viên Các xí nghiệp này thường đựơc ưu tiên xây dựng ởnhững ngành kinh tế quốc dân hướng vào xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu

Trang 8

Hợp tác sản xuất trên cơ sở chuyên môn hoá bao gồm chuyên môn hoá nhữngngành khác nhau và chuyên môn hoá trong cùng một ngành Hình thức hợp tác nàylàm cho cơ cấu kinh tế ngành của các nước tham gia đan kết vào nhau, phụ thuộc lẫnnhau

3 Hợp tác khoa học kĩ thuật

Hợp tác khoa học kĩ thuật đựoc thực hiện dưới nhiều hình thức như trao đổi nhữngtài liệu kĩ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép trao đổi kinh nghiệm chuyển giaocông nghệ Đối với những nước lạc hậu về kĩ thuật vốn chi cho nghiên cứu khoa học

và công nghệ còn ít, đội ngũ cán bộ khoa học chưa nhiều, phương tiện vật chất cònthiếu thốn thì việc tham gia hợp tác khoa học với nước ngoài là vô cùng quan trọng

Đó là một điều kiện thiết yếu để rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến

Việc đưa lao động và chuyên gia đi lao động ở nước ngoàitheo hợp đồng là mộthình thức hợp tác đaò tạo cán bộ và công nhân Vì vậy cùng với việc nhận gia công

từ nước ngoài cần tổ chức tốt việc đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở mỗinước Tổ chức quản lí người lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài đếnviệc sử dụng số người này sau khi họ về nước

4 Đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế là một hình thức cơ bản của kinh tế đối ngoại Nó là quá trình trong

đó hai hay nhiều bên cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư quốc

tế nhằm mục đích sinh lợi

Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư Nó làm tăngnguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lí tiên tiến, tạo thêm việclàm đào tạo tay nghề, khai thác tài nguyên chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiệnđại, tiếp cận với nền kinh tế thị trường hiện đại của thế giới Mặt khác đầu tư quốc tếcũng có khả năng làm gia tăng sự phân hoá giữa các giai tầng trong xã hội, giữa các

Trang 9

vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái, tăng tỉ lệ phụthuộc vào bên ngoài Vì quá trình đầu tư còn nhiều mặt hạn chế nên mỗi quốc gia cầnphải tính toán cân nhắc kĩ trong qúa trình xây dựng, thẩm định kí kết

Có hai loại hình đầu tư là trực tiếp và gián tiếp :

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà quyền sở hữuvà quyền sử dụng quản lí vốncủa người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn dầu tư trực tiếp tham giavào việc tổ chức quản lí và điều hành dự án đầu tư tự chỉutách nhiệm về kết quả rủi

ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận Có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp như :ngườiđầu tư tự lập xí nghiệp mới, mua hoặc liên kết với xí nghiệp ở nước đầu tư, mua cổphiếu…

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốnđầu tư, tức là người có vốn không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức điều hành dự

án mà thu lợi dưới hình thứ lợi tức cho vay hoặc lợi tức cổ phần, hoăc không thu lợi

Sự khác biệt lớn giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp là người đầu tư trực tiếp cóquyền khống chế xí nghiệp đầu tư còn người đầu tư gián tiếp thì không có quyềnkhống chế xí nghiệp đàu tư Nguồn vốn đầu tư gián tiếp rất đa dạng về chủ thể vàhình thức, trong đầu tư gián tiếp chủ đầu tư về thực chất là tìm đường thoát cho tưbản thừa, phân tán đầu tư nhằm giảm bớt rủi ro

5 Các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ khác

Các dịch vụ thu ngoại tệ là một bộ phận quan trọng của kinh tế đối ngoại Xu thếhiện nay là tỉ trọng các hoạt động dịch vụ tăng lên so với các hàng hoá khác trên thịtrường thế giới Mỗi nước sẽ căn cứ vào tiềm năng và tình hình cụ thể của quốc giamình sẽ có hướng thu hút ngoại tệ riêng :du lịch quốc tế xuất khẩu lao động ra nướcngoài và tại chỗ, các hoạt động thu ngoại tệ khác

Việt Nam cần chú trọng hai hình thức dịch vụ cơ bản là du lịch và xuất khẩu laođộng do Việt Nam có vị trí địa lí thuận lợi, nhiều cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát

Trang 10

triển du lịch hơn nữa dân số Việt Nam, số người ở độ tuổi lao động lớn, con ngườiViệt Nam cần cù sáng tạo

III Mục tiêu phương hướng và nguyên tắc cơ bản nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại ở nước ta

1 Vai trò tác dụng của kinh tế đối ngoại với việc phát triển kinh tế xã hội nước ta

Cho đến nay nền kinh tế Việt Nam vẫn bị sếp vào loại thấp kém nhất thế giới.Chúng ta vẫn đang đứng trươc những khó khăn thử thách, những mối quan hệ có tínhchất truyền thống trong buôn bán bị đảo lộn Trong bối cảnh quốc tế hoá toàn cầuhoá đang trở thành xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới mỗi nứơc đều cố gắng vàchủ động tham gia vào quá trình này để có được một vị trí thuận lợi trong phân cônglao động và trao đổi thương mại quốc tế Việt Nam đi lên từ một điểm xuất phát thấp

và kém phát triển so với nhiều nước trong khu vực Nền kinh tế nước ta với mục tiêuvào năm 2020 sẽ trở thành một nước công nghiệp có lực lượng sản xuất phát triển ởmức trung bình trong khu vực càng cần thiết phải tăng cường và mở rộng các hoạtđộng kinh tế đối ngoại để tạo nguồn vốn, tranh thủ các nguồn vốn đầu tư trực tiếp vàcông nghệ của nước ngoài Vai trò này càng trở nên quan trọng khi nước ta bước vàoCNH-HĐH trong điều kiện các nước trên thế giới đều đang tích cực bước vao thế kỉXXI với nhiều cơ hội và thách thức to lớn

2 Mục tiêu của kinh tế đối ngoại

Đối với nước ta việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải nhằm từng bước thựchiện mục tiêu “Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh “theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Trong thời gian trước mắt việc mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước –nhiệm vụ trung tâm của thời kì quá độ Mục tiêu đó phải được quán triệt tới mọingành mọi cầp trong hoạt động kinh tế đối ngoại cũng như phải được quán triệt trong

Trang 11

mọi lĩnh vực của kinh tế đối ngoại Hoạt động kinh tế đối ngoại theo quan điểm haitầng một mặt đảm bảo một số cơ sở đạt trình độ tiên tiến của thế giớ mặt khác vẫnduy trì những doanh nghiệp có trình độ công nghệ chưa cao song thu hút nhiều laođộng

3 Phương hướng cơ bản

Xuất phát từ quan điểm của Đảng “Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy củacác nước trong cộng đồng quốc tế không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắctôn trọng độc lập chủ quyền bình đẳng và cùng có lợi” Củng cố và tăng cường vị trícủa Việt Nam ở các thị trường quen thuộc và với bạn hàng truyền thống, tích cựcthâm nhập tạo chỗ đứng ở các thị trường mới, phát triển các quan hệ dưới mọi hìnhthức

Kinh tế đối ngoại là một trong các công cụ kinh tế đảm bảo cho việc thực hiệnmục tiêu kinh tế xã hội đề ra cho từng giai đoạn lịch sử cụ thể và phục vụ đắc lực chomục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Thực hiện CNH-HĐH theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Chủ động tạo những điều kiện để hội nhập có hiệu quả vào nèn kinh tế thế giới,phát huy ý chí tự lực tự cường, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại dựavào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài

4 Những nguyên tắc cần quán triệt trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại

Trang 12

cách khác là đảm bảo tư cách pháp nhân của mỗi quốc gia trước pháp luật và cộngđồng quốc tế

4.2 Cùng có lợi.

Bình đẳng là nguyên tắc giữ vai trò chung cho việc hình thành và phát triển quan

hệ đối ngoại thì nguyên tắc cùng có lợi lại giữ vai trò làm nền tảng kinh tế để thiếtlập và mở rộng quan hệ kinh tế giữa các nước với nhau

Cơ sở khách quan của nguyên tắc này bắt nguồn từ yêu cầu phải thực hiện đúngcác quy luật kinh tế của thị trường diễn ra trên phạm vi quốc tế mà mỗi nước có lợiích kinh tể dân tộc khác nhau Nguyên tắc cùng có lợi còn là động kinh tế để thiết lập

và duy trì lâu dài mối quan hệ kinh tế giưã các quốc gia với nhau Cùng có lợi íchkinh tế là một trong những nguyên tắc làm cơ sở cho chính sách kinh tế đối và luậtđầu tư nước ngoài Nguyên tắc này được cụ thể hoá thành những điều khoản làm cơ

sở để kí kết trong các nghị định thư giữa các chính phủ và trong hợp đồng giữa các tổchức kinh tế các nước với nhau

4.3 Tôn trọng độc lập chủ quyền không can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia

Trong quan hệ quốc tế mỗi quốc gia với tư cách là quồc gia độc lập có chủ quyền

về mặt chính trị kinh tế xã hội và địa lí

Cơ sơ khách quan của nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc bình đẳng trongquan hệ đối ngoại giưã các quốc gia với nhau nó cũng bắt nguồn từ nguyên tắc cùng

có lợi, mà xét cho cùng chỉ khi cùng có lợi về mặt kinh tế mới tạo cơ sở để cùng cócác lợi ích khác nhau về chính trị xã hội và quân sự

Một số yêu cầu mà hai bên phải thực hiện trong nguyên tắc này :

- Tôn trọng các điều khoản đã được kí kết trong các nghị định giữa các chính Phủ Và trong các hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau

- Không được đưa ra những điều kiện làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của nhau

Trang 13

- Không được dùng các thủ đoạn có tính chất can thiệp vào công việc nội bộ củaquốc gia có quan hệ nhất là dùng các thủ đoạn kinh tế để can thiệp vao chính trị

4.4 Giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa

Đây là nguyên tắc vừa mang tính chất chung cho tất cả các nước khi thiết lập và

thực hiện quan hệ đối ngoại vừa là nguyên tắc có tính đặc thù đối với các nước xã hộichủ nghĩa Trong quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước với nhau không đơn thuầnphải xử lí tốt mối quan hệ về lợi ích kinh tế mà còn phải xử lí tốt mối quan hệ giữalợi ích kinh tế và lợi ích cính trị Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là để tạo ra sựtăng trưởng kinh tế cao và bền vững Nhưng tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với việcthực hiện từng bước những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội Do vậy mở rộng quan hệkinh tế đối ngoại phải chủ động đảm bảo sao cho vừa khai thác được nhiều nguồn lựcbên ngoài vừa phát huy được nguồn lực bên trong, không lệ thuộc vào nước ngoài vàxây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Tóm lại, bốn nguyên tắc nói trên có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều có tácdụng chi phối hoạt động kinh tế đối ngoại giữa các nước trong đố có nước ta Vì vậykhông được xem nhẹ nguyên tắc nào khi thiết lập duy trì và mở rộng kinh tế đốingoại

IV Kinh tế đối ngoại Việt Nam

1 Những hướng phát triển chiến lược của kinh tế đối ngoại Việt Nam

1.1 Đa dạng hoá các loại hình kinh tế đối ngoại

“Đa dạng hoá và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế đối ngoại “là một trong

những điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiệnnay Cơ sở của đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại là quá trình quốc tế hoá đời

Trang 14

sống và sản xuất, quá trình giao lưu kinh tế giữa các nước với quy mô trao đổi lớn,cường độ cao và chủng loại trao đổi rất đa dạng và phức tạp Cách mạng khoa học

và công nghệ thúc đẩy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các khâu, các yếu tố của quá trìnhsản xuất và làm tăng thêm tính phức tạp của các quan hệ kinh tế đối ngoaị Đồngthời tính phụ thuộc về mặt kĩ thuật công nghệ trong quá trình sản xuất đã dẫn tới sựphát triển những hình thức mới của kinh tế đối ngoại Đa dạng hoá các quan hệ kinh

tế đối ngoại là quá trình hình thành và phát triển nhiều hình thức quan hệ khác nhaugiữa các nước Mỗi nước trên thế giới dù là giàu có cũng không thể đảm bảo đủ tất

cả những yếu tố của quá trình sản xuất

1.1.1 Xuất nhập khẩu hàng hoá

Hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam khá đa dạng và phong phú Nhiều mặt hàng

quan trọng có ý nghĩa với nhiều nước trên thế giới Để có giải pháp đúng về vấn đềhàng xuất khẩu cần tiếp cận một số khía cạnh chủ yếu :số lượng chất lượng chủngloại, khả năng của từng mặt hàng và xu thế vận động của nó

Hiện nay trên thế giới tồn tại hai cách thức xuất khẩu hàng hoá chủ yếu ;Một là cócái gì bán cái đó hai là tập trung vào những mặt hàng mũi nhọn mỗi cách thức sẽđem lại một ưu thế riêng cho nền kinh tế Nhập khẩu là hoạt động nhằm mục đích bùđắp những hàng hoá vật tư nguyên liệu mà trong nước không có hoặc sản xuất chưa

đủ và kém hiệu quả Về phương diện lí luận nhập khẩu là đưa vào trong nước nhữngthế mạnh của thế giới do đó việc nhâọ khẩu rất quan trọng và cấp bách cần giải quyếtmột cách chặt chẽ

Trước hết phải đánh giá một cách xác thực tình hình xuất nhập khẩu của nước tahiện nay Về mặt xuất khẩu : những năm trước đây do ảnh hưởng của cơ chế quanliêu bao cấp dẫn tới tình hình xuất khẩu rất thấp so với tiềm năng Hơn nữa số lượnghàng xuất khẩu không lớn làm cho hiệu quả không cao Yêu cầu của thương trường

Trang 15

quốc tế đòi hỏi quy mô hàng hoá phải có khối lượng đáng kể Việc mua bán quốc tếphức tạp và khó khăn hơn trong nước rất nhiều, chi phí vận chuyển tốn kém

Ở ta do thiếu quy hoạch tổng thể, thiếu chiến lược xuất khẩu, chất lương mẫu mãhàng hoá còn thấp và xấu chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng Điều đặc biệtquan trọng là chúng ta thiếu hệ thống đo lường chất lượng nên không đánh giá đươcchất lượng hàng, dãn tới bị thua thiệt trong việc mặc cả và định giá

Với xuất khẩu chúng ta đã đưa ra được những giải pháp cụ thể

Phải có quy hoạch tổng thể, chuyên môn hoá sản xuất hàng xuất khẩu, từng bướclựa chọn hàng chủ lực tiến tới hàng mũi nhọn Từng bước nâng cao chất lượng hàngxuất, không để tâm lí coi thường hàng Việt Nam trở thành phổ biến, coi trọng chữ tínđối với khách hàng, sáng tạo học tập cách thức quảng cáo, đóng gói và bảo quảnhàng hoá

Với việc nhập khẩu : nguyên tắc nhập khẩu chỉ nhập hàng hoá có hàm lượng chấtxám cao, chủ yếu là tư liệu sản xuất với công nghệ hiện đại

Một số giải pháp then chốt với việc nhập khẩu : nhập đúng số lượng chủng loại kịpthời và liên tục, hạn chế tối đa việc nhập hàng tiêu dùng đặc bạêt là xa xỉ phẩm,nhập khẩu phải trên cơ sở bảo hộ sản xuất trong nước Đây là một giải pháp có ýnghĩa nhiều mặt vừa tiết kiệm được ngoại tệ vừa bảo vệ được sản xuất trong nước

1.1.2 Hợp tác đầu tư liên doanh liên kết.

Đây là hình thức kinh tế đối ngoại rất quan trọng và ngày càng quan trọng Tuy rađời sau hình thức ngoại thương nhưng tốc độ và quy mô phát triển ngày càng lớnchiếm tỉ trọng ngày càng cao trong tất cả các hình thức của kinh tế đối ngoại Hìnhthức đâu tư ra nước ngoài nhằm khai thác các tiềm năng đã được CNTB sử dụng từrất lâu, đặc biệt là từ khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cuối thế kỷ XVIII nổ radẫn tới cơ khí hoá ngành vận tải quốc tế

Ngày đăng: 25/07/2013, 20:27

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w