1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

cv gui q h ve thuc hien luat ho tich KOQG

3 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 23,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỦY BAN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SỞ TƯ PHÁP Số: 937 /STP-HT V/v hướng dẫn nghiệp vụ hộ tịch CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Thành phố Hồ Chí Minh, ng

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

SỞ TƯ PHÁP

Số: 937 /STP-HT

V/v hướng dẫn nghiệp vụ

hộ tịch

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 0 2 tháng 3 năm

2016

Kính gửi: Ủy ban nhân dân quận - huyện

Trong thời gian gần đây, Sở Tư pháp nhận được một số phản ánh của người dân liên quan đến việc đăng ký hộ tịch, cũng như cơ sở trao đổi một số vướng mắc về nghiệp

vụ hộ tịch; Nhằm hỗ trợ các quận, huyện, phường, xã trong quá trình thực hiện Luật Hộ tịch, Sở Tư pháp hướng dẫn một số nội dung như sau:

1 Về việc xác nhận tình trạng hôn nhân:

Ngày 29/02/2016 Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh có đăng bài: “Nhọc nhằn xác định độc thân” của phóng viên Cẩm Tú phản ánh về những khó khăn trong việc xin cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Để thống nhất cách hiểu và cấp Giấy xác nhận tình trạng độc thân cho công dân tại phường, xã, thị trấn trên địa bàn Thành phố, tránh gây khó khăn, phiền hà cho người dân, Sở Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân quận- huyện hướng dẫn phường, xã, thị trấn trên địa bàn như sau:

Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch, quy định:

“Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân”.

Theo Khoản 4, Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP thì “Trường hợp người yêu

cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình Trường

hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người

đó”.

Trang 2

Điều 18 Luật Cư trú quy định: “Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi

thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp sổ hộ khẩu cho họ”.

Theo các quy định trên thì những người đã có Sổ hộ khẩu thường trú ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam phải chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình ở những nơi

đã từng thường trú Trường hợp người đó không chứng minh được thì Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản xác minh Việc xác minh này thực hiện ở những nơi thường trú trước đây của họ trên phạm vi đất nước Việt Nam Pháp luật không quy định việc chứng minh tình trạng hôn nhân trong giai đoạn công dân Việt Nam công tác, học tập, lao động ở nước ngoài trước đó

Việc này cũng có thể dẫn đến tình trạng bỏ sót, cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thiếu chính xác với thực tế, Sở Tư pháp đã có văn bản xin ý kiến của Bộ Tư pháp Trong khi chờ hướng dẫn của Bộ Tư pháp, để thuận lợi cho người dân, đề nghị Ủy ban nhân dân quận huyện hướng dẫn Ủy ban nhân dân phường xã thực hiện đúng các quy định nêu trên

2 Về việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam để làm thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài:

Thời gian gần đây, Sở Tư pháp nhận được một số công văn của Ủy ban nhân dân phường, xã về xin ý kiến về việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam để làm thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài Về vấn đề này, Sở Tư pháp hướng dẫn như sau:

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 21 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015

của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch thì “Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân” Khoản 2, Điều 23 Nghị định 123/2015/NĐ-CP cũng quy định: “Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được sử dụng để kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài hoặc sử dụng vào mục đích khác” Như vậy, kể từ ngày 01/01/2016 Ủy ban nhân dân

cấp xã có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Sở Tư pháp đề nghị Ủy ban nhân dân quận, huyện chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân phường, xã thực hiện đúng quy định nêu trên mà không gửi về Sở Tư pháp để phỏng vấn (theo quy định tại Điều 28 Nghị định 126/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình) như trước đây

3 Về lưu ý việc hủy kết hôn trái pháp luật:

Trang 3

Ngày 06/01/2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong đó có lưu ý một số điểm về căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp

luật Theo đó, tại điểm b mục 4 Điều 2 Thông tư liên tịch xác định “người đang có vợ có chồng” là “ Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc

vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết”

Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Ủy ban nhân dân Thành phố tại Văn bản số 1399/VP-PCNC ngày 29/2/2016, Sở Tư pháp đề nghị Ủy ban dân các quận, huyện chỉ đạo Phòng Tư pháp và Ủy ban nhân dân phường, xã khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký kết hôn cần lưu ý đảm bảo điều kiện về đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đồng thời tự rà soát các trường hợp đăng ký kết hôn tiếp nhận từ 01/01/2015 (đối với phường, xã) và từ ngày 01/01/2016 (đối với quận, huyện)

4 Một số nội dung khác:

Ngày 12/01/2016, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực-Bộ Tư pháp có văn bản số 375/HTQTCT-HT gửi Sở Tư pháp Hà Nội và ngày 02/02/2016 Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực-Bộ Tư pháp có văn bản số 460/HTQTCT-HT gửi Sở Tư pháp Kiên Giang hướng dẫn một số nội dung về nghiệp vụ hộ tịch

Sở Tư pháp đề nghị Ủy ban dân các quận, huyện chỉ đạo đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân phường, xã nghiên cứu các nội dung hướng dẫn của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực-Bộ Tư pháp tại các văn bản nêu trên để áp dụng thực hiện tại địa phương

Đính kèm:

- Công văn số 375/HTQTCT-HT của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực-Bộ Tư pháp;

- Công văn số 460/HTQTCT-HT của Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực-Bộ Tư pháp;

- Công văn số 1399/VP-PCNC của Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố

Nơi nhận:

- Như trên;

- Bộ Tư pháp (để báo cáo)

- UBNDTP (để báo cáo)

- Phòng Tư pháp quận, huyện;

- Lưu VT-HT.

KT.GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC

Lê Thị Bình Minh

Ngày đăng: 03/12/2017, 23:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w