Câu 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành hệ thống chính trị ở nước ta. Vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị của nước ta. Câu 2: Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Liên hệ thực tiễn. Câu 3: Vị trí, vai trò, chức năng của HĐND? Liên hệ. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND. Liên hệ. Câu 4: Nguồn gốc và bản chất của Pháp luật. Bản chất của pháp luật XHCN? Hệ thống pháp luật XHCN? Câu 5: Các quan điểm và nội dung thực hiện dân chủ cơ sở. Liên hệ thực tiễn. Câu 6: Khái niệm pháp chế XHCN. Mối quan hệ giữa pháp luật và pháp chế. Các biện pháp tăng cường pháp chế XHCN. Liên hệ thực tiễn. Câu 7: Cơ cấu tổ chức, chức năng của TAND và VKSND? Câu 8: Nội dung cơ bản các ngành luật: Hiến pháp, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, đất đai.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Câu 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành hệ thống chính trị ở nước ta Vị trí, vai trò của các
tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị của nước ta
Câu 2: Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Liên hệ thực tiễn.
Câu 3: Vị trí, vai trò, chức năng của HĐND? Liên hệ Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của UBND Liên hệ
Câu 4: Nguồn gốc và bản chất của Pháp luật Bản chất của pháp luật XHCN? Hệ thống pháp luật
XHCN?
Câu 5: Các quan điểm và nội dung thực hiện dân chủ cơ sở Liên hệ thực tiễn.
Câu 6: Khái niệm pháp chế XHCN Mối quan hệ giữa pháp luật và pháp chế Các biện pháp tăng
cường pháp chế XHCN Liên hệ thực tiễn
Câu 7: Cơ cấu tổ chức, chức năng của TAND và VKSND?
Câu 8: Nội dung cơ bản các ngành luật: Hiến pháp, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, đất đai.
Trang 2Câu 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành hệ thống chính trị ở nước ta Vai trò của các
tổ chức chính trị trong hệ thống chính trị của nước ta.
Chính trị là hoạt động gắn với những quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia và các
nhóm xã hội khác nhau, xoay quanh vấn đề trung tâm - vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhànước
Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhànước, các đảng chính trị, các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội…) được xây dựng trêncác quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theonhững nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị
Hệ thống chính trị được tạo thành từ nhiều bộ phận là một kết cấu phức tạp gồm nhiều bộ phận nhỏkhác, như:
Trang 3+ Cơ chế là phương thức hoạt động,
+ Các nguyên tắc vận hành nhằm đảm bảo HTCT vận hành thông suốt
Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nước ta:
Hệ thống chính trị nước ta về tổ chức bộ máy bao gồm: ĐCS VN, Nhà nước, Mặt trận TQVN vàcác TCCTXH
Chủ tịch nước là người đứng đầu NN, thay mặt NN về đối nội và đối ngoại CTN do QH bầu ratrong số các Đại biểu QH CTN phải chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước QH
CP là cơ quan chấp hành của QH, cơ quan HCNN cao nhất của Nước CHXHCNVN CP thốngnhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, k tế, v hóa, x hội, QP, AN và đối ngoại của NN TAND và VKSND có chức năng nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, pháp luật của NN Để thực hiệnnhiệm vụ đó, các cơ quan này phải thực hiện một số nhiệm vụ như điều tra, tố tụng, truy tố, xét xử,thi hành án
Hệ thống Tòa án ở nước ta bao gồm: TAND Tối cao, các TAND địa phương, các Tòa quân sự vàcác Tòa án khác do Luật định Đó là những cơ quan xét xử của Nước CHXHCNVN
Hệ thống VKS ở nước ta bao gồm: VKSND Tối cao, các VKSND địa phương, các VKS Quân
sự VKS thực hành quyền công tố và kiểm soát các hoạt động tư pháp
Đối với địa phương: Nhân dân các địa phương bầu ra HĐND cấp mình
Trang 4HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra HĐND bầu
ra UBND, UBND là cơ quan chấp hành của HĐND và là cơ quan HCNN ở địa phương, chịu tráchnhiệm chấp hành HP, luật, các VB của cơ quan NN cấp trên và Nghị quyết của HĐND cùng cấp
- MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, là nơi thểhiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,tham gia công tác bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp, xây dựng chủ trương chính sách pháp luật, vậnđộng nhân dân thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện giám sát,phản biện hoạt động các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, CB,CC, đảng viên, giải quyết những mâuthuẫn trong nội bộ nhân dân
+ cơ chế tư vấn: tuyên truyền, giáo dục theo định hướng chính trị nhất định
+ Cơ chế kiểm soát quyền lực (có hai hệ thống):
- Các cơ quan nhà nước (QH, HĐND, thanh tra, kiểm toán…), đây là hệ thống kiểm soát quyền lựcbên trong
- Các tổ chức Đảng, đoàn thể, dư luận xã hội, hệ thống thông tin đại chúng, quyền khiếu nại, tốcáo của nhân dân Đây Là hệ thống kiểm soát quyền lực bên ngoài
Các cơ chế vận hành này có quan hệ chặt chẽ với nhau Mỗi một loại tổ chức trong hệ thốngchính trị tuy theo chức năng, nhiệm vụ, phương thức tổ chức và hoạt động để sử dụng và kết hợp các
cơ chế sao cho quá trình thực thi quyền lực chính trị có hiệu lực và hiệu quả nhất
Vị trí, vai trò của Nhà nước trong Hệ thống chính trị XHCN ở VN:
Nhà nước Việt Nam có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị được quyđịnh bởi chức năng và nhiệm vụ của nó trong hệ thống chính trị, trong đời sống xã hội và được thểhiện trong mối quan hệ giữa Nhà nước với Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thốngchính trị Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành hiến pháp, pháp luật và chínhsách làm công cụ quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong hệ thống chính trị nước ta, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột, làcông cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệmtrước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Đó chính là Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo và thực hiện đường lối chính trịcủa Đảng Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân
Vị trí, vai trò của Nhà nước trong Hệ thống chính trị XHCN ở VN thể hiện ở các mặt sau đây:
Trang 5Thứ nhất: Nhà nước là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực chính trị
- là đại diện của các tầng lớp, giai cấp, nhóm lợi ích chủ yếu trong xã hội;
- là đại diện chính thức của toàn xã hội;
- Nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan đạidiện;
Thứ hai: Nhà nước là công cụ chủ yếu, hữu hiệu nhất để thực hiên quyền lực chính trị
- Cưỡng chế nhà nước trong thực hiện quyền lực chính trị;
- Đầy đủ phương tiện, cơ sở vật chất để thực hiện quyền lực chính trị;
- Là chủ thể duy nhất mang chủ quyền trong quan hệ quốc tế về chính trị
Thứ ba: Thể hiện ở mối quan hệ của Nhà nước với Đảng và các tổ chức CTXH
- Đảng hoạch định chiến lược và mục tiêu cơ bản, đường lối, chủ trương phát triển kinh tế xã hội
để từ đó Nhà nước thể chế hóa và thực hiện Đảng là nguồn nhân sự quan trọng cho cơ quan nhànước Đảng kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện đường lối chủ trương,chính sách
- Tổ chức CTXH là tập hợp quần chúng nhân dân liên kết theo nguyên tắc tự nguyện nhằm đáp ứngcác lợi ích cho các thành viên Tham gia vào quá trình tổ chức cơ quan nhà nước và giám sát thựchiện quyền lực nhà nước theo quy định của pháp luật Đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật, chủtrương, đường lối chính sách phát triển của đất nước
Trang 6Câu 2: Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Liên hệ thực tiễn.
Trang 7Qua thực tiễn tồn tại và phát triển của lịch sử nhân loại, qua nghiên cứu các quan điểm tư tưởng
về tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy nhà nước qua các thời kỳ lịch sử, chúng tôi cho rằng,khái niệm nhà nước pháp quyền đề cập đến phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhànước nói chung thông qua hệ thống pháp luật, như hiến pháp, luật và các văn bản pháp quy khác Nóicách khác, nhà nước pháp quyền là nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật, trong đó tính tốicao của pháp luật được tôn trọng, các tư tưởng và hành vi chính trị, tôn giáo của bất cứ tổ chức hoặc
cá nhân nào cũng được giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật
Với cách tiếp cận này, chúng ta có thể thấy, tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền đã có từrất lâu trong lịch sử nhân loại và tương ứng với mỗi kiểu nhà nước (chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hộichủ nghĩa) đều có một hệ thống pháp luật tương ứng và đạt mức độ phát triển khác nhau Tuy nhiên,chúng tôi cũng không thống nhất với quan điểm cho rằng, "bất cứ nhà nước nào có hiến pháp, luật vàcác văn bản quy phạm khác nhau đều coi là nhà nước pháp quyền" mà cần xác định rằng, tư tưởng vềnhà nước pháp quyền phát triển không ngừng, là thành quả của nhân loại, nó hình thành và phát triểncùng với sự tiến bộ xã hội và cho đến nay đã được thế giới thừa nhận về mặt lý luận như một họcthuyết về nhà nước pháp quyền Tại Hội nghị quốc tế về nhà nước pháp quyền được tổ chức tại Bê-nanh, năm 1992, các luật gia đã đưa ra nhiều khái niệm, tiêu chí về một nhà nước pháp quyền vàđược đông đảo dư luận quốc tế đồng tình, bao gồm: sự thừa nhận tính tối cao của pháp luật; việc xácđịnh quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong bộ máy quyền lực nhà nước; việc tôn trọng quyền vàlợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng pháp luật quốc tế v.v Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, vấn
đề nhà nước pháp quyền đề cập đến phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nướcdưới góc độ pháp luật, mà pháp luật thì bao giờ cũng mang tính giai cấp và tính đặc thù của mỗi nhànước, mỗi dân tộc; do đó, phương thức tổ chức xây dựng và vận hành của nhà nước pháp quyền sẽthể hiện cụ thể khác nhau về bản chất chế độ chính trị, hệ thống quan điểm, mục đích nhiệm vụ củatừng thời kỳ phát triển hoặc điều kiện cụ thể của mỗi nước, chứ không có mô hình, tiêu chí về nhànước pháp quyền đồng nhất cho tất cả các nước khác nhau
Qua nghiên cứu sự hình thành, phát triển và các quan điểm lý luận về nhà nước pháp quyền hiệnnay, chúng ta có thể xác định, nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó phương thức tổ chức, xâydựng và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định và thừa nhận tính tối cao của pháp luật;bao hàm việc xác định rõ ràng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với hệ thống pháp luật đầy đủ,
rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ phápluật phát sinh trong xã hội, nhất là việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản của công dân (hoặccon người nói chung)
Từ đó, chúng ta có thể rút ra bốn tiêu chí chung của nhà nước pháp quyền như sau:
- Phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước phải do pháp luật quy định;
- Nhà nước và công dân phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật (đảng phái, tổ chức, tôn giáo phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật);
- Quyền lực nhà nước được xác định gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp;
- Có hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân
để điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong xã hội; đặc biệt là bảo đảm quyền và lợi íchhợp pháp cơ bản của công dân (hoặc con người nói chung)
Trang 8Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước gắn với một giai cấp mà là mộthình thức tổ chức quyền lực nhà nước, thực hiện quản lý xã hội theo pháp luật, đảm bảo quyền tự dodân chủ của nhân dân.
Qua mấy chục năm xây dựng và đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (1994), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ và phươnghướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân Đây là nhiệm vụ lớn lao của Đảng và của toàn dân tộc, cho nên Đảng ta luôn quan tâm chỉđạo thực hiện và cụ thể hóa trong các văn kiện của Đảng như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8,khóa VII, năm 1995; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, v.v
Tiếp thu những tiến bộ khoa học về nhà nước pháp quyền đồng thời quán triệt quan điểm chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật kiểu mới có thể khái quát nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa như sau:
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, quản lý
xã hội bằng pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, do Đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân và sự giám sát của nhân dân.
Tham khảo thêm: - Sự khác nhau giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước
về tổ chức, cơ cấu nhân sự và việc xây dựng, vận hành của bộ máy quyền lực như: Quốc hội và Nghịviện; Tổng thống và Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án, Tòa án Hiến pháp, v.v Pháp luậttrong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân,
do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính phủ ) và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặcthông qua các đại biểu của mình là chủ thể duy nhất có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của Quốchội, Chính phủ hoặc tổ chức ra Quốc hội và Chính phủ nhiệm kỳ mới Trong khi đó, Hiến pháp vàpháp luật tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng thống hoặc cá nhân Thủ tướng có quyềngiải tán Nghị viện (Quốc hội) hoặc giải tán Chính phủ
2 - Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và công dân đều phải thừa nhận tínhtối cao của pháp luật, vì pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhândân Trong Nhà nước pháp quyền tư sản, nhà nước và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao củapháp luật, nhưng pháp luật tư sản không phải là pháp luật của toàn dân, không thể hiện đầy đủ ý chí,nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng của một bộ phận nhân dân, đó lànhững người giàu, là giai cấp tư sản Nói cách khác, luật pháp của Nhà nước pháp quyền tư sản chỉbảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và gạt ra ngoài lề quyền lợi của người lao động - những người bị ápbức bóc lột Đây là nội dung khác biệt cơ bản nhất giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vàNhà nước pháp quyền tư sản
Trang 93 - Nhà nước pháp quyền tư sản coi thuyết "tam quyền phân lập" là học thuyết cơ bản trong việcthực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp hoàn toàn độc lập với nhautrong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩakhông thừa nhận việc phân chia quyền lực mà coi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhândân; trong đó, có sự phân công, phối hợp, để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư phápnhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước thống nhất, được thực hiện với hiệu quả cao nhất.
4 - Về hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền
tư sản cũng có nhiều điểm khác nhau Bên cạnh sự khác nhau về tính giai cấp, Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa chỉ công nhận các quy phạm pháp luật khi nó được xác lập và thông qua theo mộttrình tự và thủ tục nhất định; trong khi đó, Nhà nước pháp quyền tư sản thường coi "án lệ" hoặc "tậpquán" như một loại quy phạm pháp luật "bất thành văn"
Xây dựng nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế khách quan tất yếu đối với các quốcgia dân chủ trong thế giới hiện đại Việt Nam cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó Yếu cầu xâydựng nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được Đảng ta chính thức đưa vào văn kiện Đại hội VIII củaĐảng và qua các kỳ ĐH tiếp theo, tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI của Đảng, trong đó Đảng tađặc biệt chú ý đến việc “nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăngcường pháp chế XHCN và kỷ lụa, kỷ cương”
Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền lần đầu tiên được Đảng ta chính thức đưa vào văn kiệnĐại hội VII của Đảng, trong đó nêu rõ: “Quốc hội cần hướng vào việc thực hiện hai yêu cầu cơ bản:Một là, xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước có năng lực định ra một hệ thống luật pháp đồng
bộ đáp ứng được yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội và quản lý mọi mặt xã hội văn minh,tiến bộ; hệ thống pháp luật đó là cơ sở bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước được thực thi có hiệu quả, là một nhân tố trọng yếu làm cho các quan hệ xã hội của chúng
ta trở nên lành mạnh hơn Hai là, bảo đảm quyền lực và hiệu lực trên thực tế của Quốc hội, do Hiếnpháp quy định”(1)
Từ Đại hội VII đến Đại hội VIII, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước phápquyền đã có bước phát triển Nếu như ở Đại hội VII, Đảng ta mới chỉ xác định yêu cầu phải xây dựngnhà nước pháp quyền và mới chỉ định hình được rằng, đó là nhà nước có năng lực định ra một hệthống luật pháp đồng bộ để quản lý mọi mặt đời sống xã hội, thì đến Đại hội VIII, Đảng ta lại xácđịnh thêm tính “xã hội chủ nghĩa” cho nhà nước pháp quyền, tức là chủ trương xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Ở đây, chúng ta thấy bước phát triển tư duy lý luận của Đảng về nhànước pháp quyền là ở chỗ đã đề cao tính pháp chế, coi đó là đặc trưng cơ bản của nhà nước phápquyền, đồng thời cũng coi trọng khía cạnh đạo đức như một thuộc tính của xã hội chủ nghĩa
Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vàxác định bản chất của nhà nước, đó là của dân, do dân và vì dân Đồng thời với chủ trương tăngcường pháp chế, các Nghị quyết của Đại hội IX cũng chủ trương mở rộng dân chủ - là cơ sở chính trị
- xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Còn về cơ sở kinh tế - chính trị của nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa được Đảng ta dựa trên bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa của nềnkinh tế thị trường
Trang 10Chủ trương xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Đảng takhẳng định lại ở Đại hội X: “Xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thốngnhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản phápluật Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động vàquyết định của các cơ quan công quyền”(2) Như vậy, ở đây chúng ta vẫn dễ dàng nhận thấy rằng,tính pháp chế là đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền và bản chất của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Về mặt tư duy lý luận, có lẽ điểm khác biệtcủa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với các nhà nước pháp quyền khác là ở cơchế vận hành của nhà nước, bởi vì ở các nhà nước pháp quyền tư sản thì cơ chế vận hành phổ biến là
“tam quyền phân lập” Việc Đảng ta xây dựng cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trongthực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, chính
là dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nhà nước và pháp luật
Chủ trương đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những đặctrưng đã nêu ở trên vẫn tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI của Đảng, trong đó Đảng ta đặc biệtchú ý đến việc “nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương”(3)
Qua quá trình đổi mới và phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, có thể thấy:
Một là, Đảng đã chỉ rõ tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và coi đó là yêu cầu, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước
Hai là, nhận diện được hình hài của nhà nước pháp quyền: là phương thức tổ chức dân chủ
quyền lực nhà nước mà theo đó pháp luật là cơ sở cho việc thực hiện quyền lực cũng như thực hiệncác quyền và nghĩa vụ của mọi chủ thể trong xã hội
Ba là, nhất quán chỉ rõ bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà
nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân
Bốn là, nhận rõ đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền là tính pháp chế, khẳng định vai trò,
vị trí của pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội, tính tối cao của Hiến pháp trong đời sống xãhội
Năm là, xác định được cơ chế vận hành của các cơ quan quyền lực nhà nước: quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp
Sáu là, thấy rõ yêu cầu mở rộng dân chủ đồng thời với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương, giáo
dục đạo đức trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 11Bảy là, khẳng định nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà
nước trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều đó không chỉmang tính nguyên tắc được khẳng định từ lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là kếtluận chắc chắn được rút ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay Tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm bảo đảm chonhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân, thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân Sự lãnh đạo của Đảng tạo điều kiện phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thốngchính trị, giúp nhà nước hoàn thành mọi nhiệm vụ của mình và giữ vững tính chất xã hội chủ nghĩacủa nhà nước pháp quyền
Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, Đảng ta đã ban hành 02 nghị quyết đểlãnh đạo, chỉ đạo thực hiện khâu đột phá trong tiến trình hoàn thiện tổ chức quyền lực nhà nước Nghịquyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” đã đề ra mục tiêu xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch Trong đó, trọng tâm làhoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhândân, do nhân dân, vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực thi pháp luật; phát huy vaitrò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh
tế, mở rộng hội nhập quốc tế; xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh; thực hiện quyền con người,quyền tự do, dân chủ của công dân; góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại vào năm 2020 Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020” đã đề ra các giải pháp đồng bộ nhằm vừa giải quyết những vấn đề bứcxúc trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài vì mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vữngmạnh, công bằng, phụng sự công lý, phục vụ Tổ quốc và nhân dân; tạo cơ sở quan trọng cho côngcuộc cải cách tư pháp đi vào chiều sâu, đặc biệt là việc thay đổi về chất các thể chế, nguyên tắc, điềukiện bảo đảm độc lập xét xử và nâng cao năng lực, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ các chức danh tưpháp
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam được hình thành trên cơ sởnhững nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng, hoàn thiện kiến trúc thượng tầng phù hợpvới cơ sở hạ tầng Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, cần thiết phải xâydựng các thiết chế quyền lực phù hợp Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Trong nền kinh tế đó, cơ chế thị trường cần được vận hành đầy đủ, linh hoạt đểphát huy mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống của nhândân, xóa đói giảm nghèo, tăng cường đoàn kết, đồng thuận xã hội; phát triển kinh tế đi đôi với pháttriển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; chủđộng, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững, tăng cường tính độc lập, tự chủ Trong điều kiệnphát triển nền kinh tế thị trường với sự tác động của nhiều yếu tố trong và ngoài nước, với sự thamgia ngày càng nhiều chủ thể thuộc nhiều thành phần kinh tế như hiện nay, Nhà nước phải bảo đảm vàphát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật để mọi công dân có nhu cầu, có điều kiện đều đượctham gia hoạt động kinh doanh; mọi thành phần kinh tế, mọi chủ thể kinh tế đều được coi trọng, cạnhtranh bình đẳng theo pháp luật, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Trang 12Nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN bằng luật pháp, cơ chế, chính sách,chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế; bảo đảm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô,tạo lập, phát triển đầy đủ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; cải thiện môi trường kinhdoanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; định hướng phát triển, phát huy mặt tích cực, hạn chếmặt trái, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường Trong điều kiện các quy luật thị trường chưa vận hànhđồng bộ, nhà nước cần thực hiện “tròn vai” chức năng quản lý KT-XH, làm tốt vai trò “bà đỡ” cho sự
ra đời của các loại thị trường, giúp cho thị trường vận hành thông suốt
Thực tiễn tiến hành công cuộc đổi mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hơn hai mươinăm qua cho phép chúng ta rút ra những bài học quý báu, làm tiền đề cho việc tiếp tục nghiên cứu,đúc kết thực tiễn, làm sâu sắc hơn lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN; bổ sung, làm giàu thêm lýluận về tổ chức quyền lực trong Nhà nước XHCN
Trước hết, cần kiên trì học thuyết Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức quyền lực nhà
nước; kiên trì mục tiêu Nhà nước XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, mang lại
lợi ích, tự do, dân chủ, công bằng, bình đẳng và cuộc sống hạnh phúc cho người dân Đó cũng làchuẩn mực cao quý để đánh giá bản chất vì con người của Nhà nước pháp quyền XHCN Đây là điều
mà ngay từ những năm 20 của thế kỷ trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến khi đề ra yêu cầu xâydựng Nhà nước, xây dựng xã hội trên nguyên tắc pháp quyền Theo đó, mọi hành vi, mọi hoạt động ởmọi nơi, mọi lúc của bộ máy nhà nước, của từng công chức đều phải thể hiện được “ thần linh pháp
quyền”[2]; ý thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm, kỷ cương, kỷ luật phải là yếu tố chi phối toàn bộ
hoạt động của bộ máy công quyền; môi trường pháp chế phải trở thành yếu tố tự nhiên của xã hội
Thứ hai, bám sát thực tiễn, giải quyết những vấn đề thực tiễn; kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và
thực tiễn; bảo đảm mọi lý luận đều có khởi nguồn và là nhu cầu giải quyết các vấn đề thực tiễn Cànggiải quyết đúng đắn các đòi hỏi của thực tiễn thì tính pháp quyền XHCN của Nhà nước càng nhiều, lýluận về Nhà nước pháp quyền XHCN càng khẳng định sức sống của mình
Thứ ba, cần tiến hành từng bước vững chắc, với lộ trình phù hợp để bảo đảm chắc chắn thành
công Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là vấn đề mới, chưa có tiền lệ, liên quan đến thể chế
quản lý từ Trung ương đến địa phương, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống KT-XH Vì vậy, khôngthể nóng vội, “rũ tung” vấn đề rồi sắp xếp lại, mà phải tìm cho được khâu đột phá; vừa làm, vừa rútkinh nghiệm để triển khai ở các khâu khác Cụ thể, chúng ta dành ưu tiên cho việc hoàn thiện phápluật, cải cách hành chính, nâng cao chất lượng tranh tụng của Tòa án và thành quả triển khai ở cáclĩnh vực này đã tạo tiền đề thuận lợi để tiến hành những bước tiếp theo
Trang 13Với việc xác định xây dựng pháp luật là khâu đột phá và tập trung nguồn lực triển khai, trongthời gian không dài, hệ thống pháp luật của nước ta đã hình thành, điều chỉnh ngày càng sâu rộng cácquan hệ phát sinh trong xã hội và đang bước vào giai đoạn hoàn thiện Các chính sách của Nhà nướctrên các lĩnh vực khác nhau của đời sống KT-XH đã được điều chỉnh ngày càng đầy đủ trong các đạoluật chuyên ngành Năm 1991, nước ta mới có 92 luật, sắc lệnh, pháp lệnh (trong đó có 35 luật) chủyếu tập trung điều chỉnh các lĩnh vực về tổ chức bộ máy, an ninh, quốc phòng, kinh tế thì đến năm
2011, nước ta đã có 330 luật, pháp lệnh, điều chỉnh tương đối đầy đủ các lĩnh vực của đời sống xãhội, nhất là các luật, pháp lệnh liên quan đến chế độ kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ,quyền và nghĩa vụ của công dân Cải cách hành chính, trước hết là cải cách thủ tục hành chính đãgóp phần từng bước xây dựng nền hành chính tuân thủ pháp luật, trong sạch, trách nhiệm, gần dân,tinh gọn với các nội dung cơ bản là cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới,nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công Mục tiêu của Chương trình
là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động
có hiệu lực, hiệu quả theo các nguyên tắc pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, đáp ứngyêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN…
Thứ tư, tăng cường và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng Nhà
nước pháp quyền Nhà nước, quyền lực nhà nước là các phạm trù chính trị - pháp lý Lãnh đạo xây
dựng Nhà nước, tổ chức quyền lực nhà nước là sứ mệnh chính trị của Đảng nhằm giữ vững bản chấtcủa Nhà nước XHCN, bảo đảm thực hiện đúng đắn vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lựcnhà nước thuộc về nhân dân, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước đều vì lợi ích của nhân dân
Thứ năm, học tập có chọn lọc kinh nghiệm của các nước Nhà nước pháp quyền là một giá trị tư
tưởng được tích lũy trong lịch sử nhân loại, gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ, ngăn ngừa, loạitrừ chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô pháp luật Tuy nhiên, việc vận dụng tư tưởng này cầnđược thực hiện phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, lịch sử của mỗi quốc gia, dântộc Đây cũng là vấn đề liên quan đến bài học bám sát thực tiễn nêu trên Hiện nay, có một số ngườikhông thích nói đến “thực tế Việt Nam”, “đặc thù Việt Nam”, coi đó là sự ngụy biện cản trở hội nhậpquốc tế Họ cho rằng, cần lấy mô hình thành công của các nước tiên tiến để “áp dụng trọn gói” khixây dựng các thiết chế nhà nước của Việt Nam Tuy nhiên, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN làmột sự nghiệp lớn, là một trong những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự phát triển của đất nước, đếncuộc sống của nhân dân; vì vậy, không thể nôn nóng, chủ quan, khinh suất hoặc sao chép kinh nghiệmnước ngoài
Để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, chúng ta cần nắmvững các định hướng lớn sau:
- Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm Nhà nước tathực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; xây dựng, bổ sung các thểchế, cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc vềnhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quantrong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, tạo thành sức mạnh tổng hợp của quyềnlực nhà nước
Trang 14- Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Theo đó, cần đẩy mạnh việc đổi mới tổchức, hoạt động của Quốc hội nhằm: một mặt, bảo đảm Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất củanhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện quyền lập hiến, lập pháp; mặt khác, tạo cơchế phù hợp, có hiệu lực, hiệu quả để Quốc hội thực hiện tốt chức năng giám sát tối cao và quyết địnhnhững vấn đề quan trọng của đất nước; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật,tăng tính khả thi của pháp luật
- Xác định rõ hơn vị trí, vai trò của Chủ tịch nước trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, đặcbiệt là mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; trách nhiệm,quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc thực hiện chức năng nguyên thủ quốc gia, thay mặt nhà nước
về đối nội, đối ngoại và thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân
- Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quanhành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp Làm
rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ phù hợp với vị trí, tính chất đó của Chính phủ
- Xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyềncon người, quyền công dân Xác định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCNViệt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạtđộng tư pháp Sửa đổi, bổ sung một số quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhândân, Viện kiểm sát nhân dân theo định hướng cải cách tư pháp; cần nghiên cứu thấu đáo cơ chế bảo
vệ Hiến pháp, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp, nghiêm chỉnh chấp hànhpháp luật của các cơ quan trong bộ máy nhà nước
- Về chính quyền địa phương, cần xác định rõ hơn địa vị pháp lý, mô hình tổ chức, thẩm quyềncủa các cấp chính quyền địa phương; quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; tăngcường phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương nhằm bảo đảm sự điều hành, chỉ đạothống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy tính tự chủ, tăng cường trách nhiệm của chính quyềnđịa phương
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN không chỉ là công việc của Nhà nước mà là sự nghiệpcủa toàn Đảng, toàn dân Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổquốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảođảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội là vấn đề cốt tử, là tiền đề quan trọng để xây dựngthành công Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam Đây là một sự nghiệp lớn, là quá trình lâu dài,nhưng phải tiến hành với nhịp độ khẩn trương, đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực của cả hệ thống chính trị,của toàn thể cán bộ, công chức và nhân dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân có vai trò hết sứcquan trọng
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là một sáng tạo trong tư duy lý luận và chỉđạo thực tiễn của Đảng ta về tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng và tổ chức quản lý xã hội nói chung
Từ chỗ cơ bản quan tâm đến các vấn đề bên ngoài của tổ chức quyền lực nhà nước (như kiện toàn tổchức, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước…), chúng ta đã coi trọng bảnchất của nhà nước Đó là việc xác lập nguyên tắc pháp quyền XHCN, coi trọng tính pháp quyền trong
tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước Từ nhận thức đúng đắn về nguyên tắc này, chúng ta ngàycàng ý thức được đây là tinh hoa của khoa học tổ chức quyền lực nhà nước, quản lý xã hội của loàingười và vận dụng sáng tạo, hài hòa với các nguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của Nhà nướcXHCN
Trang 15Một số vấn đề đặt ra hiện nay Bên cạnh những kết quả đã đạt được về mặt lý luận, thực tiễn
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong những năm đổi mới đã bộc lộkhông ít những vấn đề cần phải giải quyết cả về lý luận lẫn thực tiễn
Về phương diện lý luận, cần giải quyết một số vấn đề sau:
Một là, cần xác định rõ những đặc trưng xã hội chủ nghĩa của nhà nước pháp quyền mà chúng
ta đang xây dựng Một số ý kiến cho rằng, nếu chỉ dựa trên cơ sở tính pháp chế và dân chủ thì bất cứ
nhà nước pháp quyền nào cũng như vậy Còn nói đến cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền củachúng ta là ở tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường thì vẫn chưa rõ và có phầnkhiên cưỡng, thiếu sức thuyết phục Trong khi chính tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tếthị trường cũng chưa được được làm rõ về mặt lý luận, thì có nên chăng lấy điều đó để lý giải chomột vấn đề chưa rõ khác? Hơn nữa, khi nền kinh tế - tức cơ sở hạ tầng mới chỉ là định hướng xã hộichủ nghĩa, thì nhà nước - tức kiến trúc thượng tầng có thể gọi là xã hội chủ nghĩa được không haycũng chỉ mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa? Đó là vấn đề đặt ra cần được lý giải một cách khoahọc Chính vì trong lịch sử chưa từng có một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đích thực, chonên trong lý luận về nhà nước pháp quyền vẫn còn một mảng trống mà chúng ta cần bổ sung và pháttriển
Hai là, cần làm rõ cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Cần làm sáng tỏ “tính độc lập tương đối” của
mỗi quyền, sự chế ước lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực, bảo đảm quyền lực không bị tha hóa và bịlạm dụng Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tránh chồng chéo cũng như tránh lạm quyền trong hoạtđộng của các cơ quan nhà nước
Ba là, làm sáng tỏ hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Vấn đề đặt ra là chỉ ra được
phạm vi tác động của Đảng cầm quyền đối với các cơ quan quyền lực nhà nước, chỉ rõ sự tối cao củapháp luật, tránh sự can thiệp tùy tiện của Đảng đối với hoạt động của các cơ quan quyền lực nhànước, tránh sự bao biện, ôm đồm, không tôn trọng luật pháp
Bốn là, làm rõ cơ chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân, của Mặt trận, của các đoàn thể chính trị - xã hội đối với hoạt động của Nhà nước Sở dĩ vấn đề này được đặt ra là vì, mọi
quyền hành chỉ thuộc về nhân dân khi có một cơ chế thích hợp để nhân dân có thể trực tiếp giám sátcác hoạt động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội, của hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhândân các cấp, cũng như giám sát mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước và công chức nhà nước.Phải có cơ chế thích hợp để cử tri có thể bày tỏ sự tín nhiệm hay bất tín nhiệm của mình đối với cácđại biểu mà mình bầu ra, tạo điều kiện để các đại biểu gắn bó hơn với cử tri, đề cao ý thức tráchnhiệm của người đại diện nhân dân
Năm là, đổi mới tư duy pháp lý trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước ta.
Mặc dầu trong gần 30 năm đổi mới toàn diện của đất nước, chúng ta đã có nhiều đổi mới trong lĩnhvực lập pháp, song hệ thống luật pháp của chúng ta cho đến nay vẫn tỏ ra chưa theo kịp thực tiễn vàcòn nhiều bất cập Do vậy, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, yêu cầu đổi mới tư duypháp lý lại được đặt ra một cách cấp thiết hơn, nhằm xây dựng hệ thống luật pháp của Việt Nam mộtcách hoàn chỉnh và ổn định hơn, làm cơ sở cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 16Đổi mới tư duy pháp lý cần hướng đến giải quyết những nhiệm vụ như xác định mô hình luậtpháp của nước ta; nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm trong và ngoài nước trong lĩnh vực xây dựng vàthực thi các thể chế pháp lý, để tiếp thu có chọn lọc các giá trị và kinh nghiệm trong lĩnh vực này; đổimới công tác kế hoạch lập pháp; thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật, nên tập trung xây dựng
và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh hẹp Một đạo luật với ít các điều khoản sẽ đượcnhanh chóng xây dựng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ dàng tương thích vớicác không gian pháp lý quốc tế Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản không chỉ được thể hiện
ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ xây dựng, mà còn thể hiện ở việc dễ kiểm soát tính đồng bộ và thốngnhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên thực tế
Về phương diện thực tiễn, cần giải quyết một số vấn đề như:
Đẩy mạnh việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nghĩa là xây dựng và phát triển kinh tế bền vững.
Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc như xóa đói, giảm nghèo, xóa dần khoảng
cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi vàmiền ngược, vấn đề tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, khám chữa bệnh cho người nghèo…
Tăng cường kỷ cương phép nước, phải kiên quyết đấu tranh chống lại những hiện tượng vi phạm
pháp luật mà nổi bật là tham nhũng và buôn lậu, xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân;làm hàng giả, trốn, gian lận thuế… gây tổn thất lớn cho Nhà nước và nhân dân Thực hiện chế độcông khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, về cơ chế chính sách, về quản lý và sử dụng đất đai, tàisản công, về công tác cán bộ,…
Tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật Bên cạnh việc xây dựng pháp luật, việc thực hiện pháp
luật cũng có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền, hệ thống pháp luật cóthể rất đầy đủ, hoàn thiện nhưng việc thực hiện không nghiêm thì cũng không thể nói đến sự hiệndiện của nhà nước pháp quyền
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật.
Thực tiễn cho thấy rằng, một trong những nguyên nhân của việc thực hiện pháp luật chưa tốt là dokiến thức về luật pháp chưa tốt, nhiều người dân chưa am hiểu về luật pháp, chưa ý thức được sự cầnthiết phải chấp hành luật, hoặc do không nắm được luật nên vi phạm mà không biết Chính vì vậy, đểtăng cường việc thực thi pháp luật, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và giáodục ý thức chấp hành pháp luật, chú trọng sự tham gia của các phương tiện thông tin đại chúng, củacác đoàn thể chính trị - xã hội cũng như bộ máy chính quyền các cấp và cuối cùng là siết chặt kỷ luật,
kỷ cương hành chính, để mệnh lệnh hành chính luôn được chấp hành một cách nghiêm túc và thôngsuốt từ trung ương đến cơ sở
Tăng cường hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân các cấp, của các cơ quan và từng đại biểu hội đồng nhân dân, nhằm kiểm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các
văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền cấp trên; kiểm tra, đánh giá và kết luận, xử lýđối với việc thực hiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân
Trang 17Tăng cường đạo đức công vụ của cán bộ, công chức Đây là vấn đề được đặt ra hết sức bức thiết
nhằm ngăn chặn và hạn chế những tiêu cực, tình trạng sách nhiễu, quan liêu, tham nhũng,… trong các
cơ quan nhà nước Thực tiễn cho thấy, dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có đạt đến độ hoànhảo tuyệt đối, quy chế, quy tắc ứng xử của cơ quan quản lý nhà nước có đạt đến độ hoàn mỹ thì cũngkhó có thể đem lại hiệu quả như mong muốn nếu như trong quá trình thực thi công vụ, cán bộ, côngchức không thực hiện nghiêm pháp luật, chấp hành không đúng quy chế, quy tắc ứng xử đã được thểchế hóa
Đổi mới và chỉnh đốn Đảng Đây không phải là một vấn đề mới vì nó được đặt ra một cáchthường xuyên, liên tục, theo yêu cầu của thực tiễn Tuy nhiên, trước thực trạng yếu kém và bất cậpcủa các tổ chức Đảng, sự thoái hóa, tụt hậu và biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảngviên như hiện nay, thì vấn đề đổi mới và chỉnh đốn Đảng lại được đặt ra một cách bức thiết hơn baogiờ hết Đổi mới và tự chỉnh đốn Đảng gồm nhiều nội dung như: Đổi mới công tác tư tưởng, rènluyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đổi mới công tác tổ chức,
bộ máy của Đảng và của hệ thống chính trị; công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát; công tácquần chúng,… Chỉ có tiến hành đồng bộ những nội dung đó mới làm cho Đảng ngày càng vững mạnhhơn, đủ năng lực lãnh đạo công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Như vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan đối với ViệtNam Tuy nhiên, cũng cần xác định rằng, đây là sự nghiệp dài lâu của toàn Đảng, toàn dân, bởi vìtrong việc này còn ngổn ngang nhiều vấn đề mà chúng ta cần phải giải quyết cả về phương diện lýluận lẫn thực tiễn Những vấn đề đó không phải dễ gì một sớm một chiều mà giải quyết được Để đạttới một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo đúng nghĩa của nó cần có sự nỗ lực rất lớn củaĐảng và Nhà nước, sự đầu tư về trí tuệ, sức người, sức của, của toàn xã hội./
Liên hệ:
Về phương diện thực tiễn Hiện nay cẩn giải quyết một số vấn đề như:
- Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc như xóa đói, giảm nghèo, xóa dần khoảng
cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi vàmiền ngược, vấn đề tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, khám chữa bệnh cho người nghèo
- Tăng cường kỷ cương phép nước, phải kiên quyết đấu tranh chống lại những hiện tượng vi
phạm pháp luật mà nổi bật là tham nhũng và buôn lậu, xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của côngdân; làm hàng giả, trốn, gian lận thuế gây tổn thất lớn cho Nhà nước và nhân dân Thực hiện chế độcông khai, minh bạch về kinh tế, tài chính, về cơ chế chính sách, về quản lý và sử dụng đất đai,tài sảncông, về công tác cán bộ,
- Tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật
Bên cạch việc xây dựng pháp luật, việc thực hiện pháp luật cũng có vai trò hết sức quan trọng
trong xây dựng nhà nước pháp quyền, hệ thống pháp luật có thể rất đầy đủ, hoàn thiện nhưng việc
thực hiện không nghiêm thì cũng không thế nói đến sự hiện diện của nhà nước pháp quyền
-Đấy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật
Trang 18Thực tiễn cho thấy rằng, một trong những nguyên nhân của việc thực hiện pháp luật chưa tốt là
do kiến thức về luật pháp chưa tốt, nhiều người dân chưa am hiểu về luật pháp, chưa ý thúc được sựcần thiết phải chấp hành luật hoặc do không nắm được luật nên vi phạm mà không biết Chính vì vậy,
để tăng cường việc thi pháp luật cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và giáo dục
ý thức chấp hành pháp luật, chú trọng sự tham gia của các phương tiện thông tin đại chúng, của đàothể chính trị xã hội cũng như bộ máy chính quyền các cấp và cuối cùng là siết chặt kỷ luật, kỷ cươnghành chính để mệnh lệnh hành chính luôn được chấp hành một cách nghiêm túc và thông suốt từ
trung ương đến cơ sở
-Tăng cường hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân các cấp, của các cơ quan và từng đại biểu hội đồng nhân dân,
Nhằm kiếm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bàn quy phạmpháp luật của cơ quan có thẩm quyền cấp trên; kiểm tra, đánh giá và kết luận, xử lý đối với và thựchiện các nghị quyết của hội đồng nhân dân
- Tăng cường đạo đức công vụ của cán bộ, công chức
Đây là vấn đề được đặt ra hết sức bức thiết nhằm ngăn chặn và hạn chế những tiêu cực, tìnhtrạng sách nhiễu, quan liêu, tham những, trong các cơ quan Nhà nước Thực tiễn cho thấy dù hệthống văn bản quy phạm pháp luật có đạt đến độ hoàn hảo tuyệt đối, quy chế, quy tắc ứng xử của cơquan quản lý nhà nước có đạt đốn độ hoàn mỹ thì cũng khó có thể đem lại hiệu quả như mong muốnnếu như trong quá trinh thục thi công vụ, cán bộ, công chức không thực hiện nghiêm pháp luật, chấphành không đúng quy chế quy tắc ứng xử đã được thế chế hóa
- Đổi mớí và chỉnh đốn đảng.
Trước thực trạng yếu kém và bất cập của các tổ chức Đảng, sự thoái hóa, tụt và biến chất của một
số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên như hiện nay thì vấn đề đổi mói và chỉnh đốn Đảng lại đượcđặt ra một cách bức thiết hơn bao giờ hết Đổi mới và tự chỉnh đốn gồm nhiều nội dung như: Đổi móicông tác tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, phòng chống tham nhũng, lãng phí; côngtác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát,… Chỉ có tiến hành đồng bộ những nội dung đó mới làm choĐảng ngày càng vững mạnh hớn, đủ năng lực lãnh đạo công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyềnXHCN
Như vậy, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là tất yếu khách quan đối với Việt Nam Tuy nhiên,cũng cần xác định rằng, đây là sự nghiệp lâu dài của toàn Đảng, toàn dân Những vấn đề đó khôngphải dề gì một sớm một chiều mà giải quyết Để đạt tói một nhà nước pháp quyền XHCH theo đúngnghĩa của nó cần có sự nỗ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước, sự đầu tư về trí tuệ, sức người, sức của,của toàn xã hội
Trang 19Câu 3: Vị trí, vai trò, chức năng của HĐND? Liên hệ Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND Liên hệ.
Hiến pháp 2013 khẳng định địa vị pháp lý của chính quyền địa phương là thiết chế không thểthiếu trong tổ chức bộ máy của Nhà nước, là nơi có tính chất quyết định đối với việc đưa chủ trương,đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống Là thiết chế quan trọng bảođảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân đồng thời khẳng định nguyên tắc tổ chức của chínhquyền gồm UBND và HĐND:”chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính củanước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND được
tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt do luậtđịnh” (Điều 111)
Vị trí, vai trò, chức năng của HĐND:
Vị trí, vai trò của HĐND
HP năm 1992 (sửa đổi bổ sung 2001) khẳng định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhànước ở địa phương, đại diện cho ý chí , nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địaphương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”
Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định:” HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương,đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịutrách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết địnhcác vấn đề của dịa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương
và việc thực hiện nghị quyết của HĐND ” (Điều 113)
Như vậy dựa vào đó ta thấy rằng HĐND có 2 vị trí, vai trò cơ bản:
- Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
Trang 20- Là cơ quan đại diện cho nhân dân địa phương.
Về chức năng của HĐND
HĐND thực hiện 2 chức năng cơ bản đó là chức năng quyết định và chức năng giám sát
- HĐND quyết định những chủ trương và biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địaphương; xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, khôngngừng cải thiện đời sống vất chất tinh thần của nhân dân địa phương làm tròn nghĩa vụ của địaphương đối với cả nước Đây là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhất đối vơi đời sống KT-XH ởđịa phương
- Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhândân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện cácnghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chứckinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương
Liên hệ:
Liên hệ thức tiễn với HĐND xã, phường, thị trấn:
Thực tế hiện nay HĐND xã, phường, thị trấn đôi khi chưa phát huy đầy đủ vị trí,vai trò của cơquan quyền lực nhà nước ở địa phương:
+ Hoạt động của HĐND xã, phường, thị trấn nhìn chung còn hạn chế, công tác tham gia xâydựng và tuyên truyền, phả biện pháp luật, chủ trương của Đảng Nhà nước, nghị quyết của HĐND cònthiếu chủ động, chất lượng các nghị quyết của HĐND chưa cao
+ Việc xem xét, quyết đinh những vấn đề quan trọng, nhất là về kinh tế - xã hội, ngân sách nhànước, xây dựng cơ bản có lúc còn mang tính hình thức, nhiều kiến nghị thông qua hoạt động giám sátchưa được các cơ quan có trách nhiệm giải quyết kịp thời;
+ Việc giám sát giải quyền khiêu nại, tố cáo của công dân, công tác hỏa giải ở cơ sở còn hạn chếchưa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; một số đại biểu HĐND chưa làm tròntrách nhiệm của người đại biểu dân cử
Nguyên nhân của những tồn tại,hạn chế:
+Do một số cấp ủy thiếu quan tâm đến hoạt động HĐND, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt độngcòn nhiều bất cập;
+Thường trực HĐND xã, phường, thị trấn, nhất là Phó chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách ởmột số địa phương còn hạn chế về trình độ và năng lực, lại thiếu ổn định
+Một số ban, ngành, cán bộ, đảng viên,chưa nhận thức đầy đủ về vị trí vai trò của HĐND, cóbiểu hiện xem nhẹ hoạt động của HĐND;
+ một số cơ quan nhà nước ý thức chấp hành nghị quyết cúa HĐND chưa cao; một số đại biểuhạn chế về trình độ, năng lực, thiếu tâm huyết với HĐND; điều kiện bảo đám cho các hoạt động củaHĐND, đại biểu HĐND còn hạn chế
Trang 21Giải pháp :
+ Thời gian tới cấp ủy ở cơ sở cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạtđộng của HĐND, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của cấp ủy Đảng ở địa phương đối vớihoạt động của HĐND, quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, phân công cán bộ có tâm, có tầm làmcông tác HĐND, để xây dựng HĐND thật sự là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
+ Cần cải tiến và nâng cao chất lượng kỳ họp HĐND Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu của
cơ quan dân cử, lả hoạt động tập trưng cao từ tuệ của đại biểu HĐND Tại kỳ họp, HĐND sẽ thảoluận và thông qua các quyết định quan trọng thực hiện các chức năng thẩm quyền của HĐND Kỳhọp HĐND xã, phường, thị trấn thực hiện công khai, dân chủ, diễn ra sôi nổi, là diễn đàn của nhândân trong cộng ứng khu dân cư, lả nơi từ hiện phương châm dân biết dân bàn dân làm dân kiểm trả ,
để thu hút sự quan tâm theo dõi của cử tri đối với hoạt động của HĐND, công khai những vấn đề màHĐND bàn và ra quyết định Do vậy, tổ chức kỳ họp phải có sự chuẩn bị chu đáo, cung cấp đầy đủ vàkịp thời các báo cáo Tờ trình cho đại biểu nghiên cứu, dành thời gian thỏa đáng cho đại biểu thảoluận và chất vấn
+ Thực hiện từ chức năng giám sát của HĐND xã, thị trấn Giám sát là một trong các chức năng
cơ bản của HĐND, có vai trò quan trọng trong việc chấp hách pháp luật và nghị quyết của HĐNDtrên các inh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an luận ở địa phương
+ Đối mới và nâng cao chất lượng tiếp xúc củ tri, tiếp dân của đại biểu HĐND sẽ tác động trựctiếp đến hiệu quả hệ động của HĐND Thông qua tiếp xúc cử tri, tiếp dân, người đại biểu sẽ thực hiệntốt hơn quyền giám sát của mình nhất là giám sát việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của côngdân và công tác hòa giải ở cơ sở
Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND:
Vị trí, vai trò, chức năng của UBND:
- Ủy ban nhân dân do HĐND bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhànước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên
- Chịu trách nhiệm chấp hành HP, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và NQ củaHĐND cùng cấp
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địaphương
Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND thể hiện ở các lĩnh vực cụ thể sau đây:
Với vai trò là cơ quan chấp hành của HĐND, UBND thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của minhtrong những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đến đời sống của nhân dân địa phương bao gồm các lĩnh vực
cụ thể sau đây:
1.Về kinh tế: Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, kế hoạch đầu tư, kế hoạch ngân sách 2.Về nông, lâm, ngư: Thực hiện quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư
Trang 223.Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Thực hiện các dự án phát triển khu công nghiệp, khu kinh
12.Về xây dựng chính quyền: Tổ chức tốt các cuộc bầu cử; tổ chức bộ máy theo quy định củanhà nước; xây dựng đề án thành lập, chia tách các cơ quan và đơn vị hành chính theo quy định củapháp luật
Trong điều kiện hiện nay, nhiều địa phương đang trong quá trình đô thị hóa, và mỗi địa phươnglại có những đặc điểm, tính chất riêng thì ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn chung UBND ở một sốnơi cũng có những nhiệm vụ và quyền hạn riêng biệt cụ thể
Ngoài ra UBND ở từng cấp hành chính khác nhau sẽ có những nhiệm vụ và quyền hạn khácnhau Vấn đề này được quy định rất cụ thể trong Luật Tổ chức HĐND và UBND 2003
Như vậy UBND sẽ tiến hành quản lý tất cả các lĩnh vực ở địa phương , trong phạm vi nhiệm vụ
và quyền hạn do pháp luật quy định thì UBND ra quyết định chỉ thị và tổ chức thực hiện, kiểm traviệc thi hành các văn bản pháp luật, nghị quyết của HĐND cùng cấp và cấp trên.UBND phải chịutrách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và UBND cấp trên trực tiếp
Liên hệ UBND cấp xã
Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là đơn vi hành chính cơ sở, là cấp gần dân nhất và nơidiễn ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của các tầng lớp nhân dân
Trang 23Thời gian qua Bộ máy chính quyền cấp xã đã tăng cường quản lý, điều hành theo pháp luật, gópphần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng Trình độ, kiếnthức và năng là công tác của cán bộ cơ sở từng bước được nâng cao
+ Việc phòng, chống các vi phạm, tệ nạn và hành vi vi phạm pháp luật chưa hiệu quả, vấn đề tàđạo, tôn giáo trái phép còn xảy ra ở một số nơi những cấp ủy, chinh quyền, mặt trận và các đoàn thế ở
cơ sở chưa kịp thời nắm bắt thông tin Một bộ phận cán bộ, công chức cơ sở quan liêu, tham nhũngcửa quyền, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân
+ Chính sách, chế độ đối với cán bộ cơ sở còn bất cập, chưa động viên, khuyên khích được cán
bộ có năng lực về công tác ở cơ sở Đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn quá đông số cán
bộ được hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp, bồi dưỡng Số lượng cán bộ hoạt động không chuyên tráchtăng nhanh đang lả gánh nặng cho ngân sách nhà nước Số lượng, chức danh và mức phụ cấp hoặcsinh hoạt phí đối với cán bộ không chuyện trách (ở xã và thôn) do HĐND các tỉnh, thành phố quyếtđịnh có sự chênh lệch quá lớn trong đội ngũ cán bộ cơ sở giữa các địa phương
+ Trình độ, kiến thức, năng lực cán bộ cấp xã nhiều mặt còn hạn chế: tỷ lệ cán bộ chưa đạt chuẩn
về chuyên môn còn cao, Công tác đào tạo cán bộ còn chạy theo bằng cấp, Đội ngũ cán bộ, công chức
cơ sở chưa được đào tạo cơ bản, chủ yếu là học tại chức, thậm chí một số chưa được đào tạo vềchuyên môn, nghiệp vụ Một số cán bộ chủ chốt ở xã, phường, thị trấn tuổi cao, năng lực hạn chếnhưng chưa đủ điều kiện về tuổi và năm công tác để nghỉ chế độ nên không bố trí được cán bộ trẻ, cónăng lực thay thế
+ Sự chỉ đạo của các cấp, các ngảnh đối với cơ sở thiếu thống nhất; việc ban hành văn bản các cơquan cấp trên còn nhiều chồng chéo
+ Cơ sở hạ tầng và điều kiện, giao thông liên lạc, phương tiện làm việc của nhiều xã còn khó khăn.Nhất là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, nhiều thôn, tổ dân phố chưa có nhà văn hóa, không cónơi.để sinh hoạt chi bộ, họp dân hoặc tổ chức các buổi sinh hoạt văn hóa cộng đồng
Trang 24Câu 4: Nguồn gốc và bản chất của Pháp luật Bản chất của pháp luật XHCN? Hệ thống pháp luật XHCN?