Việt Nam đang tiếp tục công cuộc đổi mới kết hợp với công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chúng ta đang tiến gần hơn với thị trường quốc tế, đưa kinh tế của đất nước phát triển theo hướng hội nhập, mở cửa. Đặc biệt khi chúng ta chính thức tham gia TPP. Khi đất nước ngày một hội nhập với thị trường thế giới thì vấn đề tiền tệ, phương thức lưu thông là một trong những vấn đề nhạy cảm đầu tiên được bàn tới, nó ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế. Kế hoạch chính sách tiền tệ giai đoạn 20162020 đã đi qua bước lề năm 2016 với những dấu hiệu khả quan. Tuy nhiên, những tháng đầu năm 2017, nền kinh tế khá ảm đạm với tăng trưởng GDP thấp, theo số liệu công bố ngày 293 của Tổng cục Thống kê cho thấy tăng trưởng GDP quý I2017 chỉ là 5,1%, thấp nhất trong 2 năm trở lại đây (quý I2015 là 6,12%; quý I2016 là 5,48%), lạm phát cao là một trong những nỗi lo của kinh tế quý I2017 cũng như những tháng tiếp theo.Do đó việc hiểu rõ quy luật lưu thông tiền tệ, lạm phát là một trong những yếu tố quan trọng để giúp nền kinh tế có các giải pháp tốt trong việc điều tiết các chính sách tiền tệ, ổn đinh kinh tế vĩ mô.Vì vậy, em chọn đề tài “ Lý luận quy luật lưu thông tiền tệ và hiệu quả của 5 năm thực hiện chính sách tiền tệ 20112015”.Mục đích của đề tài nhằm tổng kết những kết quả đã đạt được của chính sách tiền tệ 5 năm giai đoạn 20112015, để rút ra bài học cho giai đoạn tiếp theo 20162020, cùng những những khó khăn trong giai đoạn 5 năm tiếp theo trong việc điều chỉnh chính sách tiền tệ, làm tiền đề để đưa ra nhưng giải pháp tốt nhất giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng.Bằng phương pháp phân tích dựa trên cơ sở lí thuyết về quy luật lưu thông tiền tệ, đề tài “ lý luận về quy luật lưu thông tiền tệ và hiệu quả của 5 năm thực hiện chính sách tiền tệ 20112015” đã hệ thống hóa vấn đề mạng tính khách quan về tiền tệ và sự vận dụng của nó thông qua việc điều tiết các chính sách tiền tệ, ổn đinh kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
- -BÀI TẬP LỚN
BỘ MÔN: NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 2
ĐỀ TÀI: LÍ LUẬN VỀ QUY LUẬT LƯU THÔNG TIỀN TỆ VÀ HIỆU QUẢ CỦA 5
NĂM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
HÀ NỘI 4/2017
Trang 2PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN 2: NỘI DUNG 4
1 Chương 1: cơ sở lí thuyết 4
1.1 Nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền tệ 4
1.1.1 Nguồn gốc của tiền tệ 4
1.1.2 Bản chất của tiền tệ 5
1.1.3 Chức năng của tiền tệ 5
1.2 Quy luật lưu thông tiền tệ và vấn đề lạm phát 6
1.2.1 Quy luật lưu thông tiền tệ 6
1.2.2 Lạm phát 7
2 Chương 2: Liên hệ thực tiễn với hiệu quả của 5 năm thực hiện chính sách tiền tệ.8 2.1 Hiệu quả của 5 năm thực hiện chính sách tiền tệ giai đoạn 2011-2015 8
2.1.1 Các thành tựu kinh tế đã đạt được 8
2.1.2 Những thách thức trong giai đoạn 2016-2020 13
Trong giai đoạn 5 năm tiếp theo 2016-2020, chính sách tiền tệ của chúng ta đang đứng trước 4 thách thức lớn: 13
PHẦN 3: DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 3PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang tiếp tục công cuộc đổi mới kết hợp với công nghiệp hóa hiện đại hóa Chúng ta đang tiến gần hơn với thị trường quốc tế, đưa kinh tế của đất nước phát triển theo hướng hội nhập, mở cửa Đặc biệt khi chúng ta chính thức tham gia TPP Khi đất nước ngày một hội nhập với thị trường thế giới thì vấn đề tiền tệ, phương thức lưu thông là một trong những vấn đề nhạy cảm đầu tiên được bàn tới, nó ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế Kế hoạch chính sách tiền tệ giai đoạn 2016-2020 đã đi qua bước lề năm 2016 với những dấu hiệu khả quan Tuy nhiên, những tháng đầu năm
2017, nền kinh tế khá ảm đạm với tăng trưởng GDP thấp, theo số liệu công bố ngày 29/3 của Tổng cục Thống kê cho thấy tăng trưởng GDP quý I/2017 chỉ là 5,1%, thấp nhất trong 2 năm trở lại đây (quý I/2015 là 6,12%; quý I/2016 là 5,48%), lạm phát cao
là một trong những nỗi lo của kinh tế quý I/2017 cũng như những tháng tiếp theo
Do đó việc hiểu rõ quy luật lưu thông tiền tệ, lạm phát là một trong những yếu
tố quan trọng để giúp nền kinh tế có các giải pháp tốt trong việc điều tiết các chính sách tiền tệ, ổn đinh kinh tế vĩ mô
Vì vậy, em chọn đề tài “ Lý luận quy luật lưu thông tiền tệ và hiệu quả của 5 năm thực hiện chính sách tiền tệ 2011-2015”
Mục đích của đề tài nhằm tổng kết những kết quả đã đạt được của chính sách tiền tệ 5 năm giai đoạn 2011-2015, để rút ra bài học cho giai đoạn tiếp theo
2016-2020, cùng những những khó khăn trong giai đoạn 5 năm tiếp theo trong việc điều chỉnh chính sách tiền tệ, làm tiền đề để đưa ra nhưng giải pháp tốt nhất giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng
Bằng phương pháp phân tích dựa trên cơ sở lí thuyết về quy luật lưu thông tiền
tệ, đề tài “ lý luận về quy luật lưu thông tiền tệ và hiệu quả của 5 năm thực hiện chính sách tiền tệ 2011-2015” đã hệ thống hóa vấn đề mạng tính khách quan về tiền tệ và sự vận dụng của nó thông qua việc điều tiết các chính sách tiền tệ, ổn đinh kinh tế vĩ mô của nhà nước
Bài làm của em còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ cô Em xin chân thành cảm ơn ạ
Trang 4PHẦN 2: NỘI DUNG
1 Chương 1: cơ sở lí thuyết
1.1 Nguồn gốc, bản chất và chức năng của tiền tệ.
1.1.1 Nguồn gốc của tiền tệ
Tiền tệ xuất hiện là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Về mặt giá trị sử dụng ( hình thái tự nhiên) của hàng hóa, ta có thể dễ dàng nhận biết trực tiếp bằng các giác quan Tuy nhiên, về mặt giá trị ( hình thái xã hội), ta không thể cầm, nắm hay nhìn thấy giá trị của nó Do đó, tiền tệ được tìm thấy thông qua sự nghiên cứu
4 hình thái biểu hiện của giá trị
Hình thái giá trị đơn giản hay ngẫu nhiên ( xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hóa): Tồn tại hai hình thái tương đối và ngang giá
Ví dụ: 1m vải = 5 kg thóc
Ở đây 1m vải là hình thái tương đối, còn 5 kg thóc là hình thái ngang giá Trong hình thái giá trị đơn giản hay ngẫu nhiên, tỷ lệ trao đổi chưa cố định
Hình thái giá trị đủ hay mở rộng( xuất hiện khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau phân công lao động xã hội lần thứ nhất): Hình thái này là sự mở rộng hình
thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên
Ví dụ : 1 m vải = 2 con gà hoặc 5kg thóc hoặc 0.1 chỉ vàng …
Như vậy hình thái vậy ngang giá đã được mở rộng ra 2 con gà, 5 kg thóc hay 0.1 chỉ vàng
Hình thái chung của giá trị ( xuất hiện khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, phân công lao động xã hội ): Xuất hiện một hình thái vật ngang giá chung của
một địa phương mà đượcnhiều người ưa chuộng
Ví dụ : 2 con gà hoặc 5kg thóc hoặc 0.1 chỉ vàng …=1 m vải, ở ví dụ này vật ngang giá chung được ưa chuộng là vải
Tuy nhiên, hình thức này vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng hóa
nà, các địa phương khác nhau sẽ có vật ngang giá chung khác nhau Vì vậy, xuất hiện hinh thái giá tị thứ tư
Hình thái tiền tệ ( xuất hiện trong phân công lao động lần thứ hai)
Lúc này vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn và phổ biến Khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hóa được chia làm hai cực: một bên là hàng hóa thông thường, một bên là hàng hóa đóng vai trò tiền tệ ( vàng) Tại hình thức này tỉ lệ trao đổi hàng hóa đã được cố định lại
Trang 51.1.2 Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung thông nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa
1.1.3 Chức năng của tiền tệ
Theo Các- Mác,tiền tệ có năm chức năng:
Thước đo giá trị
Tiền tệ dung để biểu hiện đo lường giá trị của hàng hóa Giá cả của hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa
Giá cả của hàng hóa chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau đây:
+ Giá trị hàng hóa: tỉ lệ thuận
+Giá trị của tiền: tỉ lệ nghịch
+Quan hệ cung- cầu về hàng hóa
Vì giá trị hàng hóa là nội dung của giá cả, nên trong ba nhân tố trên, giá trị là nhân tố quyết định giá cả
Phương tiện lưu thông
Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa Để làm chức năng lưu thông hàng hóa đòi hỏi phải có tiền mặt Công thức trao đổi trong lưu thông là H-T-H, dễ thấy, hành vi mua và hành vi bán có thể tách rời nhau, điều này là mầm mống của khủng hoảng kinh tế
Hơn nữa trong lưu thông, giá trị thực của tiền tách rời khỏi giá trị danh nghĩa của nó Khi nhà nước in tiền giấy, mà bản thân của tiền giấy không có giá, nó chỉ là kí hiệu của tiền vàng, nên nhà nước không thể tùy ý in bao nhiêu tiền giấy cũng được Quy luật đó là : “ việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số lượng vàng( hay bạc) do tiền giấy đó tượng trưng, lẽ ra phải lưu thông thực sự”.Nếu việc phát hành tiền
vi phạm quy luật này, khối lượng tiền phát hành và lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần cho lưu thông, thì giá trị của tiền tệ sẽ bị giảm xuống, tình trạng lạm phát xuất hiện
Phương tiện cất trữ :
Tiền làm được chức năng cất giữ vì tiền là đại biểu cho của cải xã hội, nên cất giữ tiền chính là cất giữ của cải Khi làm phương tiện cất giữ, tức tiền được rút ra khỏi lưu thông đi vào cất trữ Chức năng cất giữ làm cho lượng tiền trong lưu thông phù hợp với lượng tiền cần thiết cho lưu thông
Phương tiện thanh toán
Trang 6Trong hình thức giao dịch này, trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hóa Và thanh toán là việc trả tiền cho các hàng hóa mua chịu nên đến
kì hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán
Tiền tệ thế giới:
Do hàng hóa vượt khỏi biến giới quốc gia, nên tiền trong chức năng này phải là tiền có giá trị Trong trong chức năng này vàng được sử dụng làm phương tiện mua bán hàng hóa, thanh toán quốc tế và biểu hiện tiếng nói chung của xã hội
1.2 Quy luật lưu thông tiền tệ và vấn đề lạm phát
1.1.4 Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiên tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kì nhất định
Các-Mác cho rằng, số lượng tiền cần cho lưu thông do ba nhân tố quyết định:
số lượng hàng hóa lưu thông tên thị trường, giá cả trung bình của hàng hóa và tố độ lưu thông của các đơn vị tiền tệ cùng loại Sự tác động của các nhân tố này đối với khối lượng tiền tệ cần cho lưu thông diễn ra theo quy luật phổ biến là: Tổng giá cả của hàng hóa chia cho số vòng lưu thông của đông tiền cùng loại trong một thời kì nhất định
+Khi tiền chỉ thực hiện chức năng lưu thông, thì số lượng tiền cần cho lưu thông tính theo công thức:
Trong đó : M: là phương tiện cần thiết cho lưu thông
P: là một mức giá cả
Q: là khối lượng hàng hóa đem ra lưu thông
V: là số vong luân chuyển trong bình của một đơn vị tiền tệ
+ Khi thực hiện chức năng trong phương tiện thanh toán thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định như sau:
Trang 7Số tiền cần cho lưu thông hay cung tiền của từng quốc gia, từng thời kì là không giống nhau Nó phụ thuộc vào sự phát triển của từng nền kinh tế, quy chế tài chính và sự tiến bộ của công nghệ ngân hàng ở mỗi quốc gia
Ngân hàng nhà nước là tác nhân cung ứng tiền trực tiếp và quan trọng nhất cho lưu thông qua việc tái chiết khấu, tái cầm cố các thương phiếu các chứng chỉ tiền gửi
và các chứng từ có giá khác của các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, cung ứng tiền cho lưu thông còn có các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các tác nhân, các tổ chức phi ngân hàng…
Những cơ sở lí thuyết trên giúp chính phủ tính toán được cung tiền cần thiết cho lưu thông, hệ thông ngân hàng nhà nước và kinh doanh điều tiết lưu thông tiền tệ, khống chế lạm phát
1.1.5 Lạm phát
a) Định nghĩa
Lạm phát là tình trạng mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế tăng lên một thời gian nhất định
b) Nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát chỉ xuất hiện khi tiền giấy xuất hiện Vì tiền giấy chỉ là kí hiệu của giá trị, thay thế tiền vàng hay bạc trong chức năng phương tiện lưu thông, bản thân giấy không có giá trị thực Khi số lượng tiền giấy đưa vào lưu thông vượt quá số lượng tiền vàng hay bạc mà nó đại diện thì sẽ dẫn đến hiện tượng lạm phát
Căn cứ vào mức giá tăng lên có thể chia lạm phát thành: lạm phát vừa phải ( chỉ
số giá cả tăng dưới 10%/ năm ) , lạm phát phi mã ( trên 10%/năm) và siêu lạm phát( chỉ số giá cả tăng lên hàng tram, hàng nghìn lần và hơn nữa)
Thông thường lạm phát một con số là do hiện tượng kinh tế tự nhiên hoặc chính sách của chính phủ dùng cho một mục đích riêng, còn lạm phát phi mã hay siêu lạm phát sẽ có nhiều ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
Trang 8Về cơ bản, lạm phát là một hình thái kinh tế xã hội có nhiều tiêu cực cho nên kinh tế, do đó chống lạm phát luôn là một vấn đề đặt hàng đầu của các quốc gia
2 Chương 2: Liên hệ thực tiễn với hiệu quả của 5 năm thực hiện chính sách tiền tệ.
2.1 Hiệu quả của 5 năm thực hiện chính sách tiền tệ giai đoạn 2011-2015
Nhờ chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt, chủ động dẫn dắt thị trường, đồng thời có sự phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa đã mang lại nhiều kết quả tích cực đối với kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng là những hiệu quả dễ thấy của hiệu quả 5 năm hực hiện chính sách tiền tệ giai đoạn 2011-2015 Có thể thấy niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng tăng lên
Từ năm 2013, ngân hàng nhà nước (NHNN) đã khai thác khá tốt 3 trong 5 công
cụ điều tiết thị trường tiền tệ, đưa nền kinh tế giai đoạn 2008-2012 từ bở vực thẳm, đáy khủng hoảng để có những khởi sắc mạnh mẽ vào giai đoạn sau từ 2013, đó là lãi suất, giá, thị trường mở rộng, còn 2 công cụ là tái cơ cấu và dự trữ ít sử dụng hoặc sửa dụng chưa có hiệu quả
1.1.6 Các thành tựu kinh tế đã đạt được
Giảm mặt bằng lãi suất, tập trung cho lĩnh vực ưu
Ngày 03/03/2011 Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã ban hành thông tư số 02/TT-NHNN quy định trần lãi suất giúp giảm động cơ cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng ( TCTD), hỗ trợ siết chặt kỷ luật thị trường Trong khi đó, việc quy định trần lãi suất cho vay, đặc biệt đối với lĩnh vực ưu tiên, góp phần gia tăng
cơ hội tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp, kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng, giới hạn tổng phương tiện thanh toán tăng ở mức hợp lý nhằm điều tiết lượng cung tiền, ngăn chặn lạm phát gia tăng
Các mức lãi suất chính sách cũng có những bước chuyển biến căn bản theo hướng chủ động, dẫn dắt thị trường và được điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền tệ trong từng thời kỳ Điều này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ giảm mặt bằng lãi suất để tháo gỡ khó khăn về chi phí vay vốn cho doanh nghiệp, nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát được lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ Trên cơ sở bám sát tình hình diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền tệ, NHNN đã chủ động điều chỉnh giảm nhanh và mạnh các mức lãi suất chính sách để tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ Theo đó, đã giảm 9 lần các mức lãi suất điều hành với tổng mức giảm khoảng 8,5%/năm (lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15%/năm xuống 6,5%/năm, lãi suất tái chiết khấu giảm từ 13%/năm xuống 4,5%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng giảm từ 16%/năm xuống 7,5%/năm)
Trang 9Điều hành tỷ giá ổn định, hỗ trợ tích cực cho công tác kiểm soát, kiềm chế lạm phát.
Hàng năm, NHNN đã chủ động công bố định hướng điều hành tỷ giá giao động trong khoảng 1%-3% mỗi năm (mức điều chỉnh không quá 1% trong các tháng cuối năm 2011, không quá 2%-3% trong năm 2012 và 2013; không quá 1%-2% trong năm
2014, không quá 2% trong năm 2015) nhằm tăng cường tính minh bạch, định hướng thị trường, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh Bên cạnh các biện pháp trực tiếp như công bố tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng, các kỹ thuật can thiệp thị trường, NHNN đã chủ động phối hợp đồng bộ với các công cụ điều tiết tiền tệ để hạn chế tối đa các áp lực tác động đến
ổn định của tỷ giá Theo đó, NHNN đã chú trọng điều hành công cụ lãi suất, gồm cả lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ phù hợp với diễn biến của kinh tế vĩ mô, đảm bảo lợi ích nắm giữ đồng nội tệ, khuyến khích công chúng chuyển từ nắm giữ USD sang VND Giai đoạn 2008-2011, VND mất giá bình quân mỗi năm trên 7% so với USD Giai đoạn 2012-2014, tỷ giá được điều chỉnh khá ổn định, mất giá cả giai đoạn khoảng 2% Năm 2015, tỷ giá được điều chỉnh, VND mất giá khoảng 3% nhằm đối phó với việc Nhân dân tệ giảm giá mạnh và đón đầu các tác động có thể xảy ra nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) điều chỉnh tăng lãi suất
Ngoài ra, NHNN cũng tích cực sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở (OMO) trong việc điều tiết mức cung tiền một cách nhịp nhàng để hỗ trợ và đảm bảo thanh khoản hợp lý, nhằm hạn chế sự dịch chuyển của dòng tiền, đặc biệt vào thời điểm tỷ giá có biến động và thanh khoản hệ thống dư thừa
Tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong hoạt động kinh doanh và đầu tư vàng, tạo điều kiện cho thị trường hoạt động thông suốt
Trang 10Sự kiện ghi dấu ấn quan trọng nhất trong việc nỗ lực của NHNN về xây dựng hành lang pháp lí, điều tiết hoạt động kinh doanh và đầu tư vàng là việc tham mưu cho Chính phủ ban hành khuôn khổ pháp lý mới về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 24/2012/NĐ-CP, ngày 03/04/2012 để thay thế Nghị định 174 về quản lý thị trường vàng) Nghị định 24 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý mới nhằm tổ chức, sắp xếp lại thị trường vàng, giao cho NHNN cấp phép đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; tổ chức sản xuất vàng miếng; tổ chức xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng và tổ chức huy động và mua, bán vàng iếng
Trên cơ sở pháp lý mới ban hành, NHNN cũng đẩy nhanh việc chuyển quan hệ huy động-cho vay vàng sang quan hệ mua, bán vàng trên thị trường, đấu thầu vàng thông qua việc chỉ đạo đẩy nhanh việc tất toán số dư huy động vàng và giảm số dư cho vay vốn bằng vàng; giám sát chặt chẽ việc TCTD thực hiện lộ trình tất toán số dư cho vay vốn bằng vàng Nhờ vậy, thị trường vàng ngày càng đi vào ổn định, tự điều tiết theo quy luật cung cầu; không còn các “cơn sốt” vàng gây bất ổn kinh tế ngay cả khi giá vàng thế giới có biến động, tình trạng “vàng hóa” từng bước được ngăn chặn, qua
đó góp phần ổn định thị trường ngoại hối và kinh tế vĩ mô
Đến tháng 4/2015, các TCTD đã giảm dần số dư cho vay bằng vàng, dư nợ cho vay vàng của toàn hệ thống (giảm 90% so với ngày 30/4/2012) Điều đó đã loại bỏ toàn bộ rủi ro liên quan đến sự biến động giá vàng và chấm dứt tình trạng vàng hóa trong hệ thống TCTD
Chính sách tín dụng theo hướng tháo gỡ khó khăn cho khu vực sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ đắc lực chuyển dịch cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Trong vòng 2 năm 2010, 2011, trước hai thách thức lớn của nền kinh tế là lạm phát cao và khu vực sản xuất gặp nhiều khó khăn, NHNN đã mạnh dạn áp dụng cơ chế