Sự tăng giảm của chỉ số giá tiêu dùng liên quan đến nhiều yếu tố trực tiếp và gián tiếp như lượng hàng hoá dịch vụ được sản xuất, cung cấp ra thị trường, giá thành sản xuất, cung cấp hàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠO HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ ỨNG DỤNG (3TC)
ĐỀ TÀI:
CÁC CHỈ SỐ GIÁ, LẠM PHÁT LÕI VÀ LẠM PHÁT TỔNG THỂ
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Hoàng Oanh
Nhóm 1
Hà nội, tháng 10 năm 2017
Trang 2BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM I Môn kinh tế vĩ mô ứng dụng ( 3TC) Phân công công việc :
1 BÙI THỊ KIM ANH – Thực hiện phần III Lạm phát tổng thể
2 BÙI THỊ LAN ANH – Xây dựng khung lý thuyết chung , Tổng hợp các phần thành bài word hoàn chỉnh, làm slide.
3 VŨ NGUYỄN CÔNG ANH – Thực hiện phần I Các chỉ số giá
4 NGUYỄN TRỌNG CƯỜNG – Thực hiện phần II Lạm phát lõi + In bài tổng hợp và slide.
I Các chỉ số giá.
Trang 31 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
- Khái niệm: CPI là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của
giá hàng hóa và dịch vụ theo thời gian
- Ý nghĩa: Chỉ số giá tiêu dùng đo lường sự biến động của giá tiêu dùng Sự tăng giảm
của chỉ số giá tiêu dùng liên quan đến nhiều yếu tố trực tiếp và gián tiếp như lượng hàng hoá dịch vụ được sản xuất, cung cấp ra thị trường, giá thành sản xuất, cung cấp hàng hoá dịch vụ, sức mua của dân cư Vì vậy, Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, thường được sử dụng trong phân tích kinh tế, đánh giá tình hình lạm phát, quan hệ cung cầu, sức mua của dân cư, là cơ sở tham khảo cho việc điều chỉnh lãi suất ngân hàng, tiền lương, tính toán điều chỉnh tiền công trong các hợp đồng sản xuất kinh doanh
- Cách tính:
CPIt =
Chi phí mua để mua “rổ”
hàng hóa năm t x 100 =
∑ PitQi0
x 100 Chi phí mua để mua “rổ”
hàng hóa năm gốc ∑ Pi0Qi0
Trong đó:
Để tính chỉ số giá tiêu dùng, cần xác định “rổ” hàng hóa ( là danh mục hàng hóa
và dịch vụ tiêu dùng phổ biến của người dân) và thực hiện thu thập giá hàng tháng đối với các loại hàng hóa và dịch vụ này; đồng thời xác định Quyền số cố định tương ứng với các nhóm trong “rổ” hàng hóa
Quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng là tỷ trọng mức tiêu dùng tương ứng của mỗi nhóm hàng hóa và dịch vụ đại diện trong tổng mức chi tiêu dùng cho đời sống hàng ngày của người dân
Tại Việt Nam, tổng số mặt hàng đại diện trong “rổ” hàng hoá thời kỳ 2015-2020 là 654 mặt hàng (tăng 82 mặt hàng so với “rổ” hàng hoá kỳ trước)
Quyền số chỉ số giá tiêu dùng thời kỳ 2015-2020 của Việt Nam
Trang 4STT Các nhóm hàng và dịch vụ Quyền số (%)
Tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng 100
1 Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 36,12
3 May mặc, mũ nón, giầy dép 6,37
4 Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD 15,73
5 Thiết bị và đồ dùng gia đình 7,31
10 Văn hoá, giải trí và du lịch 4,29
11 Hàng hoá và dịch vụ khác 3,30
(Nguồn: Tổng cục Thống kê )
2 Chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP)
- Khái niệm: là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại
hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước
- Ý nghĩa: DGDP là một công cụ để tính lạm phát và nó cho biết một đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ sở
- Cách tính:
DGDP = GDP danh nghĩa năm t x100 = ∑ PiQi x100
GDP thực tế năm t ∑ Pi0Qit
3 Chỉ số giá sản xuất (PPI):
- Khái niệm: Chỉ số PPI là chỉ số đo lường sự thay đổi giá của hàng hoá do người sản
xuất bán ra cho những người sản xuất khác chứ không phải bán cho người tiêu dùng
Trang 5- Chỉ số PPI: phản ánh sự biến động giá cả đầu vào (giá cả chi phí sản xuất) Việc biến
động giá cả đầu vào sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà sản xuất và qua đó tác động đến giá cả thị trường
- Cách tính: tương tự như cách tính CPI.
4 So sánh CPI và DGDP
- Sử dụng “rổ” hàng hóa cố định (lượng
hàng hóa năm cơ sở)
- Sử dụng “rổ” hàng hóa thay đổi (lượng hàng hóa tại năm tính)
- Phản ánh giá của hàng hóa dịch vụ mà
người tiêu dùng mua
- Phản ánh giá của tất cá hàng hóa, dịch vụ
mà nền kinh tế sản xuất ra (bao gồm cả những hàng hóa, dịch vụ mà Chính phủ và doanh nghiệp mua)
- Tính cho tất cả hàng hóa và dịch vụ được
mua, kể cả hàng hóa nhập khẩu
- Chỉ tính cho hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước
Ví dụ:
Sự gia tăng giá cả của một chiếc tủ lạnh được nhập khẩu từ Nhật không làm thay đổi
DGDP nhưng nó lại gây nên sự gia tăng CPI vì những chiếc tủ lạnh là bộ phận trong “rổ” hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng mua
II Lạm phát lõi (Lạm phát cơ bản)
1 Khái niệm
- Lạm phát lõi là sự thay đổi giá cả của hàng hoá và dịch vụ đã loại bỏ những biến
động tạm thời hay cú sốc về giá của một số mặt hàng trong chỉ số phản ánh mức độ lạm phát chung hay nói cách khác, lạm phát lõi phản ánh sự thay đổi giá cả của hàng hóa dịch vụ mang tính chất lâu dài
2 Ý nghĩa
- Giúp cho các nhà hoạch định chính sách xác định được yếu tố dài hạn, xu hướng lạm
phát hiện hành và trong tương lai để từ đó có thể đề ra được các chính sách tiền tệ đúng
đắn phù hợp với diễn biến của nền kinh tế Vì: Với lạm phát chung, khi có các cú sốc
hoặc các biến động tạm thời về giá của một số mặt hàng dễ bị biến động như: lương thực, thực phẩm, năng lượng,… khiến cho tỷ lệ lạm phát biến động tạm thời và sẽ ổn định trở
Trang 6lại khi các cú sốc đi qua Do đó, sử dụng lạm phát lõi sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách đề ra được các chính sách tiền tệ phù hợp với diễn biến của nền kinh tế
3 Lạm phát cơ bản của một số quốc gia trên thế giới
- Xu hướng từ nhiều năm nay trên thế giới đặc biệt ở những nước công nghiệp tiên tiến
như Mỹ hay các nước EU đã xem xét tỷ lệ Lạm phát cơ bản làm cơ sở cho việc điều hành
chính sách tiền tệ Tuy nhiên, tuỳ từng nước mà những điều chỉnh đặc biệt về phạm vi giới hạn tính toán CPI phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh và khái niệm của từng cơ quan thống kê trung ương của mỗi nước
Ví dụ: NHTW Anh chỉ loại bỏ các khoản chi phí trả lãi mua nhà trả chậm vì nếu lãi suất
cho vay ngắn hạn tăng sẽ dẫn đến sự gia tăng tạm thời của lạm phát; NHTW Thụy Điển còn loại trừ giá các loại nhiên liệu và những biến động giá hàng nhập khẩu ra khỏi chỉ số này vì Thụy điển là nước có tỷ lệ nhập khẩu cao; NHTW Mỹ, Canađa, Australia, ECB loại bỏ chỉ số giá nhiên liệu và các loại thực phẩm theo thời vụ chưa chế biến hoặc Cơ quan thống kê liên minh Châu Âu loại bỏ giá cả thực phẩm, rượu, thuốc lá và nhiên liệu Mục đích của việc loại trừ nhiên liệu, thực phẩm theo thời vụ trong chừng mực nào đó cả thuốc lá và rượu tại khu vực sử dụng đồng Euro là để luôn có được chỉ số đáng tin cậy hơn về xu hướng lạm phát
III Lạm phát tổng thể
1 Khái niệm
- Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát hay lạm phát tổng thể là sự tăng mức giá chung của
hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ Lạm phát được
định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không nhất thiết có
nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh
- Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền Trong
bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ hơn Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định
- Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác Theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu lạm
Trang 7phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền tệ đó
2 Phân Loại
- Lạm phát thể hiện những mức độ nghiêm trọng khác nhau Chúng được phân thành ba cấp: Lạm phát vừa phải, Lạm phát phi mã và siêu lạm phát
Lạm phát vừa phải: được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và có thể dự đoán
được, tỷ lệ lạm phát hàng năm là một chữ số và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế Khi giá tương đối ổn định, mọi người tin tưởng vào đồng tiền, họ sẵn sàng giữ tiền vì nó hầu như giữ nguyên giá trị trong vòng một tháng hay một năm Mọi người sẳn sàng làm những hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền vì họ tin rằng giá trị và chi phí của họ mua và bán sẽ không chệch đi quá xa
Lạm phát phi mã: tỷ lệ lạm phát tăng giá trên 10% trong phạm vi 2 hoặc 3 con
số Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, không ai muốn giữ tiền mặt mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cần thiết cho việc thanh toán hằng ngày Mọi người thích giữ hàng hóa, vàng hay ngoại tệ Thị trường tài chính không ổn định (do vốn chạy ra nước ngoài) Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường đều phải đổi mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách
Siêu lạm phát : tỷ lệ tăng giá khoảng trên 1000% /năm Đồng tiền gần như mất
giá hoàn toàn Các giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàng tiền không còn làm được chức năng trao đổi Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trong cung tiền, điều này thường bắt nguồn từ sự cần thiết phải tài
trợ cho thâm hụt ngân sách quá lớn (do sau chiến tranh, nội chiến, hoặc cách
mạng, do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ) Hơn nữa, một khi lạm phát cao
đã bắt đầu, tình hình thâm hụt ngân sách có thể trở nên không thể kiểm soát được: lạm phát cao dẫn đến giảm mạnh nguồn thu từ thuế tính theo phần trăm so với GDP, làm tăng thâm hụt ngân sách và chính phủ sẽ phải dựa nhiều hơn vào phát hành tiền mà điều này đến lượt sẽ đẩy lạm phát dâng lên cao hơn Nền tài chính
Trang 8khủng hoảng (siêu lạm phát đã từng xảy ra ở Đức 1923 với tỷ lệ 10.000.000.000%
và xảy ra ở Bolivia 1985 với 50.000%/năm)
3 Cách tính
- Đo lường lạm phát trong một nền kinh tế đòi hỏi phải có phương tiện Mục tiêu của việc phân biệt những thay đổi trong giá danh nghĩa trên một tập hợp chung của hàng hoá
và dịch vụ, và phân biệt với những thay đổi giá do những thay đổi trong giá trị như khối lượng, chất lượng hay hiệu suất
Ví dụ: Nếu giá của 10kg gạo có thể thay đổi từ 10.000vnd đến 15.000vnd trong suốt một
năm, không có thay đổi về chất lượng, thì chênh lệch giá này đại diện cho lạm phát Tuy nhiên, sự thay đổi mức giá đơn lẻ này sẽ không đại diện cho lạm phát chung trong một nền kinh tế tổng thể
- Để đo lường lạm phát tổng thể, sự thay đổi giá của một "giỏ" lớn kết hợp của nhiều hàng hóa và dịch vụ Giá kết hợp là tổng giá cả gia quyền của các mặt hàng trong
"giỏ" Để liên hệ tốt hơn các thay đổi giá theo thời gian, chỉ số này thường tính trong một năm cơ sở Chỉ số trong những năm tiếp theo sau đó được thể hiện trong mối quan hệ với chỉ số của năm cơ sở Trong khi so sánh các đo lường lạm phát đối với các thời gian khác nhau người ta cũng phải đi vào xem xét các hiệu ứng cơ bản của lạm phát
- Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhất định, các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính theo các cách sau:
Tính theo CPI:
Trong đó :
CPIt: chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng hóa và dịch vụ năm t
CPIt-1: chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng hóa và dịch vụ năm t-1
CPIt-1
Trang 9Ý nghĩa: Được người tiêu dùng quan tâm bởi không như phương pháp đo lường lạm
phát khác, chỉ bao gồm hàng hóa được sản xuất trong nước, CPI bao gồm luôn hàng hóa nhập khẩu được tiêu dùng trong nước
Tính theo chỉ số điều chỉnh DGDP:
Tỷ lệ lạm phát của năm t = 100
%x
DGDPt – DGDPt-1 DGDPt-1
Trong đó :
DGDPt : chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước năm t
DGDPt-1 : chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước năm t-1
Tính theo chỉ số giá sản xuất PPI:
PPIt-1
Trong đó :
PPIt chỉ số đo lường sự thay đổi giá của hàng hoá do người sản mua vào năm t
PPIt-1 : chỉ số đo lường sự thay đổi giá của hàng hoá do người sản xuất mua vào năm t-1
4 Các nguyên nhân gây ra lạm phát
4.1 Lạm phát do cầu kéo
- Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng, đặc biệt khi sản lượng đã đạt hoặc vượt quá mức tự nhiên Nguyên nhân của tình trạng dư cầu được giải thích do nền kinh tế chi tiêu nhiều hơn năng lực sản xuất
- Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăng đột biến trong nhu cầu về tiêu dùng và đầu tư Chẳng hạn, khi có những làn sóng mua sắm mới làm tăng mạnh tiêu dùng, giá cả của những mặt hàng này sẽ tăng, làm cho lạm phát dâng lên và ngược lại
- lạm phát cũng phụ thuộc vào sự biến động trong nhu cầu đầu tư: sự lạc quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu tư và do đó đẩy mức giá tăng lên
Trang 10- Trong nhiều trường hợp, lạm phát cũng bắt nguồn từ sự gia tăng quá mức trong các chương trình chi tiêu của chính phủ Khi chính phủ quyết định tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng, thì mức giá sẽ tăng Ngược lại, khi chính phủ quyết định cắt giảm các chương trình chi tiêu công cộng, hoặc các công trình đầu
tư lớn đã kết thúc, thì mức giá sẽ giảm
- Lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu Tuy nhiên, hàng xuất khẩu tác động tới lạm phát trong nước theo một cách khác: khi nhu cầu xuất khẩu tăng, lượng còn lại để cung ứng trong nước giảm và do vậy làm tăng mức giá trong nước Ngoài
ra, nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn chảy vào cũng có thể gây ra lạm phát, đặc biệt trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định, vì điều này có thể là nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng lượng tiền cung ứng Tình hình ngược lại sẽ xảy ra khi nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn nước ngoài chảy vào giảm do nền kinh tế thế giới hay trong khu vực lâm vào suy thoái
Trong đồ thị tổng cung-tổng cầu, lạm phát do cầu kéo xuất hiện khi có sự dịch chuyển sang bên phải của đường tổng cầu Sự gia tăng của một thành tố nào đó của tổng cầu sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu sang bên phải Do đường tổng cung dốc lên trong ngắn hạn, nền kinh tế sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn và thất nghiệp thấp hơn, nhưng đồng thời lại phải đối mặt với lạm phát Rõ ràng lạm phát do cầu kéo sẽ không phải là vấn đề
mà thực ra còn cần thiết và có lợi cho nền kinh tế nếu như nền kinh tế còn nhiều nguồn lực chưa sử dụng như trong trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD1:
Trang 11phát do cầu kéo sẽ trở thành vấn đề thực sự nếu như toàn bộ nguồn lực đã sử dụng hết và đường tổng cung trở nên rất dốc như trong trường hợp đường tổng cầu dịch chuyển từ AD1 đến AD2 Khi đó, sự gia tăng tổng cầu chủ yếu đẩy lạm phát dâng cao trong khi sản lượng và việc làm tăng lên rất ít
4.2 Lạm phát do chi phí đẩy
- Lạm phát cũng có thể xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ
nền kinh tế
Trong đồ thị tổng cung-tổng cầu, một cú sốc như vậy sẽ làm đường tổng cung dịch chuyển sang bên trái Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đều biến động theo chiều hướng bất lợi: sản lượng giảm, cả thất nghiệp và lạm phát đều tăng Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lạm phát đi kèm suy thoái Ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu Khi công đoàn thành công trong việc đẩy tiền lương lên cao, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện Vòng xoáy đi lên của tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên nghiêm trọng nếu chính phủ tìm cách tránh suy thoái bằng cách mở rộng tiền tệ
Việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cả các nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát Ở đây, thuế gián thu (kể cả thuế nhập khẩu, các loại lệ phí bắt buộc) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, vì chúng tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá Nếu so sánh với các nước phát triển là những nước có tỷ lệ thuế trực thu cao, chúng