1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận môn kinh tế vĩ mô tại sao việt nam trải qua lạm phát cao và suy giảm tăng trưởng kinh tế vào năm 2011

14 287 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 41,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm chung về lạm phát và suy giảm kinh tế Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian, và sự mất giá trị của một loại tiền tệ.. Kh

Trang 1

ĐỀ TÀI: TẠI SAO VIỆT NAM TRẢI QUA LẠM PHÁT CAO VÀ SUY GIẢM

KINH TẾ 2011 Phần 1: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 2011

1 Khái niệm chung về lạm phát và suy giảm kinh tế

Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch

vụ theo thời gian, và sự mất giá trị của một loại tiền tệ Khi so sánh với các nước

khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác Theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền

tệ đó Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả"

Thuật ngữ "lạm phát" ban đầu được chỉ các gia tăng trong số lượng tiền trong lưu thông, và một số nhà kinh tế vẫn sử dụng từ này theo cách này Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế hiện nay sử dụng thuật ngữ "lạm phát" để chỉ một sự gia tăng trong mức giá Sự gia tăng cung tiền có thể được gọi là lạm phát tiền tệ, để phân biệt với sự tăng giá cả, mà cũng có thể được gọi cho rõ ràng là 'lạm phát giá cả' Các nhà kinh tế nói chung đều đồng ý rằng về lâu dài, lạm phát là do tăng cung tiền

Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác

Khi thực trạng lạm phát sảy ra, sẽ kéo theo hệ lụy là nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng suy giảm kinh tế, suy thoái, và khủng hoảng Suy thoái hay suy giảm kinh tế được định nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý) Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế còn mập mờ hơn "là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng" Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư,

và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm

Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế Sự tan

vỡ tàn phá nền kinh tế là suy sụp/đổ vỡ kinh tế Các nền kinh tế theo định hướng thị trường có đặc điểm là tăng giảm theo chu kỳ kinh tế, nhưng sự suy giảm thực tế (suy giảm các hoạt động kinh tế) không thường xảy ra Nhiều tranh luận về việc chính phủ

có nên can thiệp để điều hòa kinh tế , khuếch đại chu kỳ kinh tế , hoặc thậm chí là tạo

ra chu kỳ kinh tế

2 Thực trạng lạm phát cao và suy giảm kinh tế Việt Nam 2011

Bước vào năm 2011, năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015, nước ta có những thuận lợi cơ bản: Tình hình chính trị ổn định; kinh

Trang 2

tế-xã hội phục hồi trong năm 2010 sau hơn một năm bị tác động mạnh của lạm phát tăng cao và suy thoái kinh tế toàn cầu

Tuy nhiên, ngay sau đó những khó khăn, thách thức tiềm ẩn trong nội tại nền kinh tế thế giới với vấn đề nợ công, tăng trưởng kinh tế chậm lại Giá hàng hóa, giá dầu mỏ và giá một số nguyên vật liệu chủ yếu tăng cao và có diễn biến phức tạp Ở trong nước, lạm phát và mặt bằng lãi suất cao gây áp lực cho sản xuất và đời sống dân cư

Trước tình hình đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên và quyết liệt các ngành, các cấp, địa phương và tập đoàn kinh tế cùng nhân dân cả nước trên tinh thần chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, quyết tâm thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra Nhiều văn bản quan trọng được Trung ương Đảng, Quốc Hội và Chính phủ ban hành kịp thời nhằm thực hiện mục tiêu ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Trong

đó trọng tâm là Nghị quyết số 59/2011/QH12 của Quốc hội, Kết luận số 02/KL-TW ngày 16 tháng 3 năm 2011 của Bộ Chính trị về tình hình kinh tế-xã hội năm 2011, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2011 và Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2011 của Chính phủ

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 ước tính tăng 5,89% so với năm

2010, tuy thấp hơn mức tăng 6,78% của năm 2010 nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn và cả nước tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế

vĩ mô thì mức tăng trưởng trên là khá cao và hợp lý Tổng sản phẩm trong nước tăng đều trong cả ba khu vực và một lần nữa lại thể hiện rõ tính trụ đỡ của khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản So với cùng kỳ năm trước, tổng sản phẩm trong nước quý I tăng 5,57%; quý II tăng 5,68%; quý III tăng 6,07% và quý IV tăng 6,10% Trong 5,89% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,53%, đóng góp 2,32 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 6,99%, đóng góp 2,91 điểm phần trăm Kết quả trên khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành và chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện

Trang 3

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

theo giá so sánh 1994

Phân theo khu

vực kinh tế

Công nghiệp và

Phân theo quý

trong năm

ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

Xây dựng, đầu tư phát triển

Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2011 của Chính phủ, các cấp, các ngành đã thực hiện cắt giảm và điều chuyển 81,5 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư phát triển khu vực Nhà nước Khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn được khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi Giá trị sản xuất xây dựng năm 2011 theo giá thực tế cả nước ước tính đạt 676,4 nghìn

tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 119,6 nghìn tỷ đồng; khu vực ngoài nhà nước đạt 529,4 nghìn tỷ đồng; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 27,4 nghìn tỷ đồng

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2011 theo giá thực tế ước tính đạt 877,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm 2010 (Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì bằng 90,6% năm 2010) và bằng 34,6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 341,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 309,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,2% và tăng 3,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 226,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,9% và tăng 5,8%

Trang 4

Vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế thực hiện năm 2011

2010

TỔNG

Khu vực

Khu vực

ngoài Nhà

Khu vực

có vốn ĐT TT

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2011 ước tính đạt 178 nghìn tỷ đồng, bằng 101,8% kế hoạch năm và tăng 6,7%

so với năm 2010, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 42 nghìn tỷ đồng, bằng 100,4% kế hoạch năm và tăng 7,1% so với năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Công thương là

4079 tỷ đồng, bằng 100% và tăng 8%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 3882

tỷ đồng, bằng 105,7% và tăng 7,8%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 945 tỷ đồng, bằng 105,1% và tăng 5,7%; Bộ Y tế 922 tỷ đồng, bằng 102,5% và tăng 5,2%; Bộ Xây dựng 873 tỷ đồng, bằng 89% và tăng 7,2%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 593 tỷ đồng, bằng 106,4% và tăng 3,9%

- Vốn địa phương quản lý đạt 136 nghìn tỷ đồng, bằng 102,3% kế hoạch năm

và tăng 6,5% so với năm 2010 Một số địa phương có khối lượng vốn đầu tư thực hiện lớn là: Thành phố Hồ Chí Minh đạt 17862 tỷ đồng, bằng 97% kế hoạch năm và giảm 4,3% so với năm 2010; Hà Nội 16859 tỷ đồng, bằng 80,6% và tăng 12,7%; Đà Nẵng 7697 tỷ đồng, bằng 134,6% và tăng 3,3%; Quảng Ninh 5120 tỷ đồng, bằng 81,6% và tăng 3,3%; Thanh Hóa 4396 tỷ đồng, bằng 123,7% và tăng 4,3%

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 12/2011 ước tính đạt 8,9 tỷ USD, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 18% so với cùng kỳ năm 2010 Tính chung năm

2011, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 96,3 tỷ USD, tăng 33,3% so với năm 2010, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 41,8 tỷ USD, tăng 26,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 54,5 tỷ USD, tăng 39,3% Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 47,2 tỷ USD, tăng 38,4% so với năm trước

Nhập khẩu hàng hóa

Trang 5

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 12/2011 ước tính đạt 9,6 tỷ USD, tăng

1,9% so với tháng trước và tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2010 Kim ngạch hàng hóa

nhập khẩu năm 2011 đạt 105,8 tỷ USD, tăng 24,7% so với năm trước, bao gồm: Khu

vực kinh tế trong nước đạt 58 tỷ USD, tăng 21,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

đạt 47,8 tỷ USD, tăng 29,2% Kim ngạch nhập khẩu của nhiều mặt hàng năm nay

tăng so với năm trước, chủ yếu vẫn là nhóm hàng máy móc thiết bị và nguyên liệu

phục vụ sản xuất trong nước, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 15,2

tỷ USD, tăng 12%; xăng, dầu đạt 9,9 tỷ USD, tăng 62,2%; vải đạt 6,8 tỷ USD, tăng

26,1%; chất dẻo đạt 4,7 tỷ USD, tăng 25,7%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép 2,9

tỷ USD, tăng 12%; hóa chất đạt 2,7 tỷ USD, tăng 25,7%; sản phẩm hóa chất đạt 2,4

tỷ USD, tăng 16,3%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2,3 tỷ USD, tăng 7,2%

Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tuy vẫn ở mức cao nhưng đã có xu hướng giảm Chỉ số giá

tiêu dùng tháng 12/2011 tăng 0,53% so với tháng trước, thấp hơn nhiều so với mức

tăng 1,38% và 1,98% của cùng kỳ năm 2009 và năm 2010 Tháng Mười Hai là tháng

thứ năm liên tiếp trong năm nay có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp hơn 1% Trong các

nhóm hàng hóa và dịch vụ, các nhóm có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung là:

May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,86%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng

0,69% (Lương thực tăng 1,40%; thực phẩm tăng 0,49%); Thiết bị và đồ dùng gia

đình tăng 0,68% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn mức

tăng chung gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,51%; đồ uống và thuốc lá tăng

0,49%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,35%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,24%; giao

thông tăng 0,16%; giáo dục tăng 0,05% Riêng nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số

giá giảm 0,09%

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 so với tháng 12/2010 tăng 18,13% Chỉ số

giá tiêu dùng bình quân năm 2011 tăng 18,58% so với bình quân năm 2010

Chỉ số giá vàng tháng 12/2011 giảm 0,97% so với tháng trước; tăng 24,09% so

với cùng kỳ năm 2010 Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2011 tăng 0,02% so với tháng

trước; tăng 2,24% so với cùng kỳ năm 2010

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) các tháng năm 2011

Thá

ng

0

1 1

1 2 So

với tháng

trước 01,7

1 02,09

1 02,17

1 03,32

1 02,21

1 01,09

1 01,17

1 00,93

1 00,82

1 00,36

1 00,39

1 00,53

So

với tháng

12 năm

01,7

1 03,87

1 06,12

1 09,64

1 12,07

1 13,29

1 14,61

1 15,68

1 16,63

1 17,05

1 17,50

1 18,13

Trang 6

Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2011 tăng 31,8% so với năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 33,49%; hàng lâm nghiệp tăng 13,58%; hàng thủy sản tăng 27,23% Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp năm nay tăng 18,43% so với năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 30,33%; sản phẩm công nghiệp chế biến tăng 16,49%; điện, nước tăng 11,92%

Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất năm 2011 tăng 21,27% so với năm 2010, trong đó chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất của một

số ngành tăng cao là: Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 30,65%; thực phẩm, đồ uống và thuốc lá tăng 22,75%; than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 27,68%; khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 21,8%; hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 18,33%

Chỉ số giá cước vận tải năm 2011 tăng 18,52% so với năm trước, trong đó giá cước vận tải hành khách tăng 22,96%; vận tải hàng hóa tăng 16,23% Chỉ số giá cước vận tải đường sắt năm 2011 tăng 20,34% so với năm 2010; đường bộ tăng 18,77%; đường thủy tăng 16,65%; đường hàng không tăng 13,13%

Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá năm 2011 tăng 19,62% so với năm trước, trong

đó chỉ số giá lương thực, thực phẩm tăng 21,41%; hàng phi lương thực, thực phẩm tăng 13,27%; nguyên liệu tăng 25,40%; máy móc, thiết bị tăng 7,74% Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá năm nay tăng 20,18% so với năm trước, trong đó chỉ số giá lương thực, thực phẩm tăng 20,65%; hàng phi lương thực, thực phẩm tăng 18,60%; nguyên liệu tăng 22,89%; máy móc, thiết bị tăng 12,72%

Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta năm 2011 đối mặt với một loạt khó khăn

và thách thức: Lạm phát tăng trở lại đạt mốc 18,12% ; kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn; lãi suất tăng cao; doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh do tín dụng thu hẹp; tỷ giá có những thời điểm biến động phức tạp Những bất ổn trên đây

do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó chủ yếu là các cân đối vĩ mô không ổn định, thiếu vững chắc tiềm ẩn trong nền kinh tế nước ta từ nhiều năm qua Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, chưa tập trung quan tâm đến chiều sâu, đặc biệt là chưa coi trọng chất lượng và sự bền vững trong phát triển của từng ngành, lĩnh vực nói riêng và của tăng trưởng toàn nền kinh tế nói chung

Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã nhìn nhận khách quan, toàn diện về những thiếu sót và tồn tại của nền kinh tế, trên cơ sở đó đề ra nhiều giải pháp, biện pháp

Trang 7

quan trọng, cùng với sự quyết tâm và đồng thuận cao của nhân dân cả nước Các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát được triển khai đồng bộ đã phát huy tác dụng Chỉ số giá tiêu dùng tuy vẫn ở mức cao nhưng diễn biến theo hướng tích cực trong sáu tháng cuối năm Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng cao Nhập siêu được kiểm soát và đã giảm ở mức hợp lý Mức tăng tổng phương tiện thanh toán, tổng dư nợ tín dụng và tỷ lệ bội chi ngân sách Nhà nước thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá An sinh xã hội và phúc lợi xã hội được Chính phủ quan tâm chỉ đạo thường xuyên

Vào nửa cuối năm 2011, thanh khoản của hệ thống TCTD thiếu hụt nghiêm trọng, lãi suất liên ngân hàng tăng cao, có thời điểm lên đến 30%/năm, nguy cơ đổ vỡ

hệ thống hiện hữu có tình trạng các ngân hàng hạn chế cho vay lẫn nhau

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế-xã hội nước ta trong năm tới tiếp tục đối mặt với những thách thức và có nhiều dấu hiệu bất lợi: Kinh tế thế giới thiếu ổn định do một số nền kinh tế lớn gặp rủi ro và có xu hướng suy thoái Đặc biệt là tình trạng lạm phát đang ở mức cao, cần được giải quyết để ổn định kinh tế vĩ mô

Trang 8

Phần 2: NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT CAO VÀ SUY GIẢM TĂNG TRƯỞNG

KINH TẾ Ở VIỆT NAM NĂM 2011

1 Nguyên nhân lạm phát cao

Ta biết rằng lạm phát là mức tăng giá chung của cả nền kinh tế Nguyên nhân gây ra lạm phát có thể là từ bên ngoài (khách quan) hay những vấn đề nội tại của nền kinh tế (nguyên nhân chủ quan), nhưng căn nguyên của lạm phát Việt Nam năm 2011 chính là yếu tố tiềntệ

1.1Lạm phát do yếu tố tiền tệ

Có thể nhận định, nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát của Việt Nam không phải do các yếu tố bên ngoài Trong thời gian qua, lạm phát của Việt Nam luôn cao hơn một cách bất thường so với các nước trong khu vực hay các đối thủ cạnh tranh cũng như các nước có điều kiện tương tự

Nguyên nhân của tình trạng lạm phát cao trong năm 2011 về cơ bản là do tiền tệ

đã được nới lỏng trong một thời gian dài So với các nước trong khu vực, tốc độ tăng cung tiền M2 của Việt Nam khá cao Tính trung bình giai đoạn 2000-2010, tốc độ tăng cung tiền M2 của Việt Nam dẫn đầu với mức tăng 31,4%, sau đó là của Trung Quốc (17,8%), Inđônêxia (13%), Philipin (10,2%), Malaysia (8,7%) và Thái Lan (6,2%) Riêng năm 2010, tốc độ tăng cung tiền của Việt Nam thậm chí lên tới 33,3%

Do cung tiền tăng nhanh nên tỷ lệ cung tiền M2 trên GDP của Việt Nam tăng lên rất nhanh Từ sau khủng hoảng tài chính 1997-1999, trong khi các nước trong khu vực

có xu hướng duy trì ổn định tỷ lệ cung tiền trên GDP thì tỷ lệ này luôn có xu hướng tăng ở Việt Nam Nếu như năm 2000 tỷ lệ cung tiền M2 trên GDP của Việt Nam chỉ

là 50,5% thì tỷ lệ này đã lên tới 140,8% vào năm 2010 Đồng thời, tỷ lệ tín dụng trên GDP cũng tăng nhanh, từ 39,7% năm 2001 lên 71,2% năm 2005 và 135,8% năm

2010 Tín dụng tăng nhanh đã giúp giới đầu cơ đẩy giá bất động sản tăng cao trong một thời gian dài, đặt nền kinh tế trong trạng thái “bong bóng” bất động sản Bong bóng bất động sản khuyến khích người dân tiết kiệm ít đi và tiêu dùng nhiều hơn, tạo

áp lực cho giá cả

1.2 Lạm phát do cầu kéo

Bao gồm nhiều yếu tố liên quan đến quan hệ cung- cầu , quan hệ đến tiền – hàng với các giải pháp tăng cung (tăng thêm khối lượng hàng hóa, chủng loại hàng hóa), đồng thời phân phối hàng hóa đến người sử dụng kịp thời, đúng lúc, đúng địa chỉ , giảm lượng tiền mà xã hội sử dụng vào mục đích tiêu dùng Xét tổng quát là sản xuất trong nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùng cuối cùng, hay đầu tư và tiêu dùng vượt

Trang 9

qua sản xuất lên đến trên dưới 10% hàng năm, phải nhập siêu, phải vay nợ từ nước ngoài để bù đắp

Khi tổng cầu vượt quá tổng cung thì Việt Nam không chỉ ở vị thế nhập siêu,

mà còn rất dễ rơi vào lạm phát cao, nếu có sự bất ổn ở bên ngoài (khủng hoảng, lạm phát ) và có trục trặc ở bên trong (thiên tai, dịch bệnh, bất ổn vĩ mô )

Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó đáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhập khẩu lớn như thủy sản, sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu mỡ động thực vật, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, cao su, gỗ và nguyên phụ liệu, đường, thịt; mà một nước có

bờ biển dài nhưng phải nhập muối; một nước có tỷ lệ xuất khẩu/GDP cao, nhưng do tính gia công, lắp ráp cao mà nhập khẩu nguyên phụ liệu lớn, như nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, chất dẻo nguyên liệu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; một số loại hàng tiêu dùng có kim ngạch lớn, như điện thoại các loại và linh kiện, ô

tô nguyên chiếc, xe máy nguyên chiếc, hóa mỹ phẩm lên đến mấy tỷ USD

 Do đầu tư công quá mức Không thể phủ nhận sự cần thiết của đầu tư công Nhưng nhà nước chỉ nên tham gia vào những lĩnh vực đem lại lợi ích lớn cho cả nền kinh tế Trên thực tế nhà nước đã tham gia quá nhiều vào các hoạt động kinh tế và nhiều khi còn cạnh tranh và chèn lấn khu vực tư nhân Với mức chi tiêu của khu vực công (bao gồm chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư) trong những năm vừa qua luôn ở mức 35-40% GDP và đầu tư của nhà nước bằng khoảng 20% GDP (một nửa tổng đầu

tư toàn xã hội) là một mức quá cao

 Sự thiên lệch trong việc phân bổ vốn ở khu vực doanh nghiệp (khuvựcthịtrường) Nhìn vào nền kinh tế sẽ thấy rằng các doanh nghiệp nhà nước và một số doanh nghiệp tư nhân lớn có nhiều quan hệ đang là đối tượng dành được sự

ưu ái trong việc phân bổ vốn Câu chuyện của Vinashin đã chi tiêu hoang phí trong thời gian qua và hiện vẫn được khoanh nợ và tiếp tục vay vốn là một ví dụ rất điển hình của sự ưu ái dành cho các doanh nghiệp nhà nước

1.3Lạm phát do chi phí đẩy

Riêng với ngành chế biến, Việt Nam gần như là công xưởng gia công cho nước ngoài, bởi nguyên liệu chính cho các ngành giầy da, dệt, may mặc, nhựa, hầu hết phụ thuộc vào nhập khẩu, đặc biệt 100% nhiên liệu lỏng đã chế biến (xăng dầu) phải nhập khẩu Vì vậy giá cả phụ thuộc rất nhiều vào phía đối tác Trong tình hình, giá cả thế giới đang tăng cao, không tránh khỏi chi phí sản xuất, gia công của các doanh nghiệp trong nước cũng tăngcao

Trang 10

Tỷ lệ xuất, nhập khẩu/GDP của Việt Nam đã tăng nhanh và hiện ở mức khá cao (năm 1992 đạt 51,6%, năm 1995 đạt 65,4%, năm 2000 đạt 96,5%, năm 2005 đạt 130,8%, năm 2010 đạt 154,4%),tứclàcóđộmởkhácao,đứngthứ5thếgiớinênbiếnđộnggiá

cả trên thế giới sẽ tác động nhiều đến biến động giá ở Việt Nam hơn các nước khác Giá thế giới tăng sẽ làm cho chi phí đẩy ở trong nước tính bằng VND tăng kép: vừa tăng do đơn giá tính bằng USD tăng, vừa tăng do tính bằng VND tăng

1.4Một số nguyên nhânkhác

 Hiệu quả đầu tư và năng suất lao động thấp Hiệu quả đầu tư thấp thể hiện ở hệ số ICOR cao và tăng lên qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 là 5 lần, thời

kỳ 2001-2005 lên 5,2 lần, thời kỳ 2006-2010 lên 6,2 lần, cao gấp đôi nhiều nước trong khuvực)

Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư của Việt Nam từ năm 2003 trở

về trước ở mức trên dưới 57%, từ 2004 đã giảm xuống nhưng vẫn ở mức trên dưới 40%, trong khi ICOR của khu vực này cao gấp rưỡi hệ số chung của cả nước

Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2010 đạt 40,3 triệu đồng/người, chỉ tương đương với 2.067 USD, thấp xa so với các con số tương ứng của một số nước (năm 2008 của Nhật ản 73.824 USD, runei 72.500 USD, Singapore 62.724 USD, HànQuốc38.235USD, Malaysia17.718USD, TháiLan6.915USD, TrungQuốc5.460 USD, Indonesia 4.597 USD, Philippines 4.535 USD, Ấn Độ 2.706 USD )

 Tình trạng vàng hóa và Đô la hóa khá cao, tác động tiêu cực đối với lạm phát trên 4 mặt

Hút vào đây một lượng vốn lớn của xã hội mà không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm để cân đối vớitiền

Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương tiện thanh toán tănglên

Giá vàng trong nước biến động, nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới, tác động tới nhập lậu, kéo tỷ giá biến động theo Khi giá vàng và tỷ giá tăng cao lại tác động đến tâm lý, đến lòng tin vào đồng nộitệ

Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại lạm phát ở trong nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn lạm phát của thế giới; làm tăng nợ quốc gia khi tính bằngVND

 Việc thực hiện lộ trình giá thị trường khi chuyển sang kinh tế thị

Ngày đăng: 03/12/2017, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w