1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ky yeu toa dam khoa hoc vè bộ luật dân sự 2015

75 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự thảo tuyên bố thiếu suy nghĩ về nguyên tắc bình đẳng tạiĐiều 3 rằng: “Trong quan hệ dân sự, các cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, khôngđược lấy bất kỳ lý do nào để đối xử không bình đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT

Kỷ YếU TọA ĐàM KHOA HọC

Chế định quyền nhân thân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi

(Hỗ trợ bởi ISEE)

Hà Nội, ngày 17 thỏng 03 năm 2015

Trang 2

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀN Ộ I

Bộ môn LuậtDânsự Trung tâm NC Quyềnc o n

người – Quyền công dân Bộ môn Luật Hiến pháp-Hành chính

CHƯƠNG TRÌNH TỌA ĐÀM

“Chế định quyền nhân thân trong Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi”

Thời gian: Sáng ngày 17/3/2015 (từ 08:00 – 12:00)

Địa điểm: Phòng 306, Nhà E1, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội

08:00 – 08:30 - Đăng ký đại biểu

08:30 – 08:35 - Tuyên bố lý do, giới thiệu đạib i ể u

08:35 – 08:50 Tham luận 1:Tính hệ thống của các quy định về quyền nhân thân

trong Dự thảo BLDS 2005 sửađ ổ i

PGS TS Ngô Huy Cương, Chủ nhiệm Bộ môn Luật Dân sự,

KhoaLuật ĐQHG Hà Nội

08:50 – 9:05 Tham luận 2:Tổng quan về quyền nhân thân và đánh giá về sự ghi

nhận quyền nhân thân trong Dự thảo BLDS sửa đổi

TS Nguyễn Thị Quế Anh, Phó Chủ nhiệm Khoa Luật ĐQHG Hà Nội

09:05– 09:20 Tham luận 3: Chế định quyền nhân thân trong Dự thảo BLDS sửa

đổi: Tóm tắt ý kiến góp ý của các tổ chức xã hội dân sự trongkhuôn khổ Dự ánG I G

PGS TS Vũ Công Giao, Phụ trách Bộ môn Luật Hiến

pháp-Hànhchính, Khoa Luật ĐQHG HàN ộ i

9:20 – 10:00 Thảo luận

10:00 – 10:20 Giải lao

10:20– 10:35 Tham luận 4: Một số phân tích, góp ý về việc bảo đảm quyền nhân

thân của LGBT trong Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi

Mr Lương Thế Huy, Nghiên cứu viên Viện nghiên cứu Xã

hội,Kinh tế và Môi trường( i S E E ) ,

10:35– 11:30 Thảo luận

12.00-13.00 Ăn trưa (tại S-Club, sau Tòa nhà của Đại học Công nghệ,

cạnhKhoaLuật)

Trang 3

MỤC LỤC

TÍNH HỆ THỐNG CỦA CÁC QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN NHÂN THÂN

TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ SỬA ĐỔI (từ trang 1 đến trang 11)

KHÁI QUÁT TIẾN TRÌNH VÀ KẾT QUẢ GÓP Ý CỦA CÁC TỔ CHỨC

XÃ HỘI VỚI DỰ THẢO BLDS SỬA ĐỔI, TRONG KHUÔN KHỔ DỰ

ÁN GIG (từ trang 32 đến trang 44)

PGS TS Vũ Công Giao

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHÂN THÂN TRONG BỘ LUẬTDÂN SỰ LIÊN

QUAN ĐẾN NGƯỜI CHUYỂN GIỚI (từ trang 45 đến trang 58)

Lương Thế Huy

PHỤ LỤC (từ trang 59 đến trang 71)

Trang 4

TÍNH HỆ THỐNG CỦA CÁC QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN NHÂN THÂN

TRONG DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ SỬA ĐỔI

vợ chồng của họ có sự can thiệp của pháp luật Vậy khi pháp luật xen vào một lợiích nào đó để điều chỉnh thì làm phát sinh ra một quyền lợi Và quyền lợi phải gắnvới một chủ thể nhất định (trừ một số kỹ thuật pháp lý đặc biệt) Suy cho cùngquyền lợi có hai loại là quyền lợi nhân thân và quyền lợi tài sản Việc phân loạiquyền lợi như vậy phản ánh về mặt hình thức pháp lý của việc đáp ứng nhu cầu vậtchất và tinh thần của con người Luật dân sự điều chỉnh các quyền lợi nhân thân vàquyềnlợitài sản của tư nhân Và Bộ luật Dân sự theo truyền thống Civil Law luôn cốgắng bao quát tất cả các qui tắc của ngành luật dân sự (mặc dù không thể), vì vậykhông thể không xác lập và giới hạn các loại quyền lợi chủ quannày

Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi (Dự thảo) của Việt Nam hiện nay, dù có thểtheo truyền thống Sovietique Law, song vẫn cố gắng theo ý tưởng bao quát như vậy

và theo định hướng kinh tế thị trường Để góp ý cho Dự thảo, bài viết này, trongphạm vi có hạn, chỉ có thể nói về tính hệ thống của các quyền nhânthân

Trong Dựthảo, Chương III, Mục2có têngọi là“Quyềnnhânthân”.Tại

Trang 5

đây tập trung 22 điều (từ Điều 30 tới Điều 51) qui định về một số quyền, song thiếu

sự suy xét kỹ lưỡng quyền nào thuộc phạm vi điều chỉnh của luật dân sự, thiếu sự xácđịnh nguyên tắc ghi nhận và giải thích các quyền, thiếu sự gắn kết các quyền với cácchế định liên quan, và thiếu sự xác định nội dung của một số quyền, đồng thời kỹthuật thể hiện một số quyền thiếu thỏa đáng

I Khái niệm quyền nhân thân và phạm vi điều chỉnh của luật dân

sự đối với quyền nhânt h â n

Quyền nhân thân là một lĩnh vực rộng không chỉ được điều chỉnh bởichỉmộtngành luật Các quyền lợi, kể cả quyền lợi nhân thân và quyền lợi tài sản, đượcchia thành quyền lợi công và quyền lợi tư Luật công xác lập và giới hạn các quyềnlợi công Còn luật tư xác lập và giới hạn các quyền lợi tư Do đó quyền nhân thânkhông chỉ được điều chỉnh bởi luật dân sự,màcòn là đối tượng điều chỉnh của cácngành luật công, trong đó điển hình là luật hiến pháp và luật hành chính Vậy có mộtcâu hỏi được đặt ra: Luật dân sự điều chỉnh quyền nhân thân trong phạm vi nào? Việcxác định được phạm vi này liên quan tới tính hệ thống của pháp luật nói chung và củaluật dân sự nói riêng, đồng thời liên quan tới việc xác định các nguyên tắc điều chỉnhvàkỹthuật lập pháp… Muốn xác định được phạm vi này trước hết cần làm rõ kháiniệm quyền nhânthân

Dự thảo định nghĩa tại Điều 30, khoản 1 rằng: “Quyền nhân thân được quyđịnh trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền vớimỗicá nhân, không thể chuyểngiao cho người khác, trừ trường hợp luật có quy định khác” Để bình luận định nghĩakhái niệm quyền nhân thân vừa dẫn của Dự thảo, trước tiên cần tìm hiểu thuật ngữdiễn đạt quyền nhân thân Khi nói tới quyền nhân thân hay quyền lợi nhân thân cónghĩa là nói tới quan hệ nhân thân, giống như khi nói quyền đối vật hay vật quyền lànói tớimốiquan hệ giữa người và vật (một phạm trù của luật dân sự dùng để chỉ các

bộ phận khác nhau của thế giới vật chất có khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất hoặctinh thần của con người và đã được quan hệ xã hội hóa); hoặc giống như khi nóiquyền đối nhân hay trái quyền là nói tới mối quan hệ giữa trái chủ (chủ nợ hay người

có quyền yêu cầu) và người thụ trái (con nợ hay người có nghĩa vụ) xácđịnh

Trang 6

Hiện nay việc xác định quyền nhân thân và phạm vi điều chỉnh của luật dân sựđối với quyền nhân thân chưa được làm rõ tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam.

“Giáo trình Luật Dân sự ViệtNam”xuất bản năm 2006 của Trường Đại học Luật HàNội chỉ dành 34 dòng trong khổ sách 14, 5 × 20,5 cm để nói chung về các quyềnnhân thân1 Trước đó, “Giáo trình Luật Dâns ự

Việt Nam” xuất bản năm 1995 của cơ sở đào tạo luật này dành 23 dòng trong khổsách 13 × 19 cm để nói về vấn đề này2 Cũng như vậy, “Giáo trình Luật Dân sự ViệtNam (Phần chung)” xuất bản năm 2002 của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nộidành 63 dòng trong khổ sách 14, 5 × 20,5 cm để nói về vấn đề này3 Vượt lên trên cácgiáo trình này, “Giáo trình luật dân sự” của Học viện Tư pháp xuất bản năm 2007 đãdành 122 dòng trong khổ sách 16 × 24 cm nói chung về quan hệ nhân thân, tuynhiên thiếu sự dẫn dắt để có thể tìm đến nguồn tài liệu tham khảo4 Có lẽ vì vậy cóthể có ý kiến lo lắng về tính thuyết phục của các dòng kiến thức này? Điểm khiếmkhuyết chung của các giáo trình này là không có sự xác định rõ quyền nhân thân vàphạm vi điều chỉnh của luật dân sự đối với quyền nhân thân Phải chăng vì thế Dựthảo quá rộng rãi trong việc qui định các quyền nhân thân xét từ luật dân sự, nhưnglại quá chật hẹp trong việc đề cập tới cácquyềncon người xét từ giác độ luật hiếnpháp hay công pháp quốct ế ?

Trường Đại học Luật Hà Nội quan niệm:

“Quyền nhânthân như làmột bộ phận cấuthànhcủaquyềnconngười: nhưdanh dự,nhânphẩm, uytín,têngọi,quốctịch,hìnhảnh,

bí mật đời tư… (từ Điều 24 đến Điều 51 BLDSnăm2005).Vềnguyêntắcchung, cácquyềnnhânthânluôn gắn với chủthểvàkhôngthểdịchchuyển đượctrừ trường hợp phápluật cóquiđịnhk h á c ”5

1Trường Đại học Luật Hà Nội,Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập I, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội,

2006, tr 69 & 73.

2Trường Đại học Luật Hà Nội,Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Lưu hành nội bộ, 1995, tr 334 - 335.

3Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2002, tr 15 – 17.

4Học viện Tư pháp,Giáo trình luật dân sự, Nxb Công an Nhân dân, 2007, tr 20 – 24.

5

Trường Đại học Luật Hà Nội,Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập I, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội,

2006, tr 69.

Trang 7

Quan niệmnàycoi quyền nhân thân có bản chất là quyền con người Và quyềnnhân thân có các đặc điểm là luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao Khôngkhẳng định bản chất của quyền nhân thân, nhưng đồng quan điểm với Trường Đạihọc Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội lýgiải:

“Quan hệ nhân thân là những quan hệ xã hội phát sinhtừmộtgiá trị tinh thần như danh dự, nhân phẩm, uy tín củacánhânv.v… Vì vậy, nó không mang tính giá trị, không tính được thànhtiền và do đó, nó không là đối tượng để trao đổi, chuyển dịch từ chủthể của các giá trị đó sang các chủ thể khác Vì vậy, trong LuậtDânsự,

quan hệ nhân thân được xem là một loại quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối”6

Tuy nhiên tính tuyệt đối của quan hệ này theo nghĩa của luật dân sự phảiđược hiểu là: chủ thể của quyền dân sự (cụ thể ở đây là chủ thể của quyền nhânthân) được xác định; còn chủ thể của nghĩa vụ không xác định Khi có sự kiện xâmphạm quyền nhân thân, có thể phát sinh ramộtquan hệ pháp luật dân sự tươngđốimàtrong đó chủ thể của quyền và chủ thể của nghĩa vụ đều xác định Và cần phảihiểu giá trị tinh thần như danh dự, nhân phẩm,uytín của cá nhân v.v… không phải làcăn cứ hay nguồn gốc phát sinh ra quan hệ nhân thân hay quyền nhân thân bởi căn cứhay nguồn gốc phát sinh ra quyền lợi hay quan hệ pháp luật, suy đến cùng, chỉ có baloại là hành vi pháp lý, sự kiện pháp lý và hiệu lực củal u ậ t

Các đoạn văn vừa dẫn chủ yếu nói tới các đặc tính của quyền nhân thân hayquan hệ nhân thân, nhưng không đưa ra định nghĩa về quyền nhân thân Học viện Tưpháp định nghĩa: “Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa các chủ thể pháp luật dân sự vềquyền nhân thân”7 Chưa bàn tới pháp nhân (một chủ thể của luật dân sự) có haykhông sự hưởng quyền nhân thân, có thể thấy định nghĩa này đã xem quyền nhânthân không phải là một quan hệ, và xem quyền nhân thân là khách thể của quan hệnhân thân Trong khi đó, cuốn giáo trình

6Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2002, tr 15.

7Học viện Tư pháp,Giáo trình luật dân sự, Nxb Công an Nhân dân, 2007, tr 20.

Trang 8

đưa ra định nghĩa này, sau đó hơn 100 trang, lại xác định khách thể của quan hệ phápluật bao gồm “Các giá trị nhân thân phi tài sản”8 Giáo trình này tự mâuthuẫnmànguyên nhân của nó có lẽ là do sự chia sẻ nội dung của giáo trình cho nhiềungười viết, không có ý tưởng thống nhất, và người chắp nối không đủ khả năng? Cóquan niệm nhấn mạnh “Những giá trị nhân thân là đối tượng củamộtphạm trù quyềnchủ thể đặc biệt – quyền nhân thân”9 Đây là quan niệm cần được ủngh ộ

Quyền nhân thân có bản chất của quyền con người hay không làmộtc â u h ỏ i

Dự thảo được nhắc tới trong điều khoản vừa dẫn qui định về các phương thức bảo vệcác quyền dân sự Thực chất điều luật này liệt kê các chế tài dân sựmặcdù thiếu thỏađáng Nếu chỉ dừng lại ở đó thì người ta có thể nhận định rằng quyền nhân thân theo

Dự thảo không có bản chất quyền con người Thế nhưng Dự thảo cũng lại cókhuynh hướng trái ngược là đồng nhất quyền dân sự với quyền con người Chẳng hạnĐiều 2, khoản 2 của Dự thảo gần như chép lại nguyên văn Điều 14, khoản 2 của Hiếnpháp 2013 với nội dung: “Quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân chỉ có thể bị hạn chếtheo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốcgia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” Hơn nữa Dựthảo còn qui định về nhiều quyền trong hệ thống quyền con người tại mục nói về cácquyền nhân thân, chẳng hạn như: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 44); quyền

quyềnlaođộng(Điều46);quyềntựdokinhdoanh(Điều47);quyềntiếpcận

8Học viện Tư pháp,Giáo trình luật dân sự, Nxb Công an Nhân dân, 2007, tr 122.

9

Nguyễn Thị Quế Anh,Ghi nhận và bảo vệ các giá trị nhân thân trong pháp luật dân sự, Đề tài nghiên cứu

khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Mã số QL.09.02, Hà Nội, 2011, tr 14.

Trang 9

thông tin (Điều 48); quyền lập hội (Điều 49); quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo(Điều 50) Nói tóm lại Dự thảo đã tựmâuthuẫn khi xác định bản chất pháp lý củaquyền nhânt h â n

Quyền con người có các đặc tính cơ bản là “vốn có”, “không thể chuyểngiao” và “phổ biến” Đặc tính vốn có của quyền con người được hiểu: con người sinh

ra là có các quyền này chỉ bởi lý do họ là người, có nghĩa là các quyềnnàykhôngphải được ban phát bởi người cai trị Đặc tính không thể chuyển giao của quyền conngười nói lên rằng quyền này không thể dời bỏ con người Đặc tính phổ biến củaquyền con người có nghĩa là mọi người đều có các quyền đó không kể đến quốc tịch,địa vị xã hội, giới tính hay chủng tộc10 Xét cho cùng một số quyền nhân thân thuộcphạm vi điều chỉnh củal u ậ t

dân sự có đặc tính giống với quyền con người (chẳng hạn quyền sống, quyền toànvẹn về thân thể, quyền riêng tư ) Tuy nhiênmộtsố quyền ởmộtvài khía cạnh khôngphản ánh đủ các đặc tính của quyền con người (chẳng hạn quyền đối với họ tên ).Thực tế cho thấy các điều ước quốc tế về quyền con người không qui định vềmốiquan

hệ giữa các tư nhân với nhaumàqui định các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng, ghi nhận

và bảo vệ quyền con người Vì vậy quyền con người thuộc lĩnh vực luật công Cácqui định của luật công về quyền con người có mục đích bảo vệ cá nhân trước sự xâmphạm của công quyền Đối với quyền con người, bất kể người nào dù là người bản xứhay ngườinước ngoàiđềuđược hưởng,cónghĩa là ởbấtcứn ơ i đâu,mọin g ư ờ iđều có các quyền như nhau Còn quyền nhân thân do luật tư qui định bảo vệ cá nhântrước sự xâm phạm của tư nhân11 Tuy nhiên quyền con người và quyền nhân thân cóchungmộthạt nhân lý luận là phẩm giá Bộ luật Dân sự Nhật Bản 2005 công bốnguyên tắc giải thích Bộ luật Dân sự này rằng: “Bộ luật này phải được giải thích phùhợp với sự tôn trọng phẩm giá của các cá

nhânvàsự bìnhđ ẳ n g t h ự c c h ấ t g i ữ a c á c giới” ( Đ i ề u 2 ) L ư u ýrằng:Quyền

con người có phạm vi rất rộng nếu xét từ phương diện chính trị hay xã hội nói chung,song khi được ghi nhận vào pháp luật, thì sự ghi nhận đó phải thỏa

10Department of Foreign Affairs and Trade,Human Rights Manual, Australian Government Publishing

Service, Canbera, 1993, p 10.

11

Trần Văn Liêm,Dân luật, Quyển 1 – Dân luật nhập môn, Sài Gòn, 1972, tr 288.

Trang 10

đáng xét từ giác độ kỹ thuật pháp lýmàởđâychí ít là giác độ phân chia các ngành luật.Nếu không có sự tôn trọng kỹ thuật pháp lý, thì khó có thể có pháp điển hóa nóiriêng hay luật lệ nóic h u n g

Nói về các đặc tính của quyền nhân thân, ở Việt Nam có nhiều quan điểm khácnhau Trường Đại học Luật Hà Nội coi quyền nhân thân có hai đặc tính là: (1) luônluôn gắn với chủ thể; và (2) không thể chuyển dịch được,12trừ trường hợp pháp luật

có qui định khác Quan điểm này hoàn toàn giống quan điểm của Khoa Luật – Đạihọc Quốc gia Hà Nội13 Có lẽ vì thế Bộ luật Dân sự 2005 và Dự thảo đều phản ánhquan điểm này tại Điều 24 và Điều 30 tương ứng Khác hơn thế, nhiều luật gia cho

(1)đốitượngcủaquyềnlàmộtgiátrịtinhthần(phivậtchất);

(2) gắn liền với chủ thể và không thể chuyển giao; và (3) cá thể hóa chủ thể14.Đặc tính cá thể hóa thể nhân giúp người ta phân biệt được thể nhân này với thể nhânkhác Có bốnyếutố chủyếucủa vấn đề cá thể hóa, bao gồm: họ tên, nơi cư trú, nghềnghiệp và quốc tịch15 John E C Brierley và Roderick A Macdonald chia quyền

nhân thân thành ba nhóm như sau:Nhóm thứ nhấtbao gồm các quyền gắn với sự toàn

vẹn về thể chất và tinh thần của thể nhân như nguyên tắc bất khả xâm phạm, quyền

của một người đối với họ tên hoặc hình ảnh của mình;nhóm thứ haibao gồm các

quyền gắn với tự do củamộtngười như bảo đảm các quyền con người căn bản, tự dobiểu lộ tư tưởng và tự dol ậ p

hội; vànhóm thứ babao gồm các quyền gắn với qui chế pháp lý của một người như

quyền phụ hệ, quyền kết hôn, quyềnlyhôn16 Một số luật gia Việt Nam trước kia cũng

sử dụng sự phân loại nhưv ậ y17

Vì tính phức tạp và phong phú của các quyền nhân thân, Dự thảo không

12

Trường Đại học Luật Hà Nội,Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Tập I, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội,

2006, tr 69.

13

Xem Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội,Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, 2002, tr 15.

17Xem Vũ Văn Mẫu,Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia Giáo dục Xuất bản, In lần thứ hai, Sài Gòn, 1960, tr

381 – 406; Trần Văn Liêm,Dân luật, Quyển 1 – Dân luật nhập môn, Sài Gòn, 1972, tr 263 – 297.

Trang 11

nên đưa ra định nghĩa quyền nhân thân và loại bỏmộtsố quyền con người thuộc lĩnhvực công pháp ra khỏi Dự thảo Thực tế, nhiều Bộ luật Dân sự trên thế giới không cóchương,mụcriêng cho các quyền nhân thân Chẳng hạn Bộ luật Dân sự Đức 2002, Bộluật Dân sự Nhật Bản 2005, Bộ luật Dân sự Pháp 1804, Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha

1889, Bộ luật Dân sự Hà Lan 2008, Bộ luật Dân sự và ThươngmạiThái Lan 1992,

Bộ luật Dân sự Louisiana (Hoa Kỳ) 2009, Bộ luật Dân sự Quebec (Canada) 1994,

Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1031, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936, Bộ luật Dân sự 1972của Chính quyền Sài Gòn cũ Khi nói về thể nhân tức là nói về quyền nhân thân Vìthế Bộ luật Dân sự 1972 của Chính quyền Sài Gòn cũ có quyển đầu tiên mang tên

“Quyển thứ nhứt – Nói về nhânt h â n ”

Song tại đây lại có một câu chuyện đặt ra: Pháp nhân có được hưởng quyềnnhân thân hay không? Dự thảo tuyên bố thiếu suy nghĩ về nguyên tắc bình đẳng tạiĐiều 3 rằng: “Trong quan hệ dân sự, các cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, khôngđược lấy bất kỳ lý do nào để đối xử không bình đẳng với nhau; được pháp luật bảo hộnhư nhau về các quyền nhân thân và tài sản, không chịu sự can thiệp trái pháp luậtcủa cá nhân, pháp nhân khác, trong việc thực hiện quyền, khôi phục quyền khi bị viphạm và bảo vệ quyền theo các phương thức được Bộ luật này, luật khác có liên quanquy định” Theo nguyên tắc này, pháp nhân được hưởng quyền nhân thân Các giáotrình về luật dân sự đã nói ở trên không đưa ra một gợi ý thật rõ ràng nào về việcnày, vậy tại sao Dự thảo lại tuyên bố như vậy? Có công trình khoa học đã bảo vệtrước sự ra đời của Dự thảo định nghĩa: “Nhưvậy,quyền nhân thân trongLuậtD â n s ự l à q uyề n c h ủ t h ểc ủ a các c á nhânx u ấ t h i ệ n d ov i ệ c đ iề u c h ỉ n h

bởi các qui phạm pháp luật dân sự đối với các quan hệ liên quan đến các giá trị nhânthân của các chủ thẻ đó”18 Định nghĩa này khẳng định quyền nhân thân là quyền củathể nhân Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga 1994 qui định tạiĐiều152bả ov ệ danhdự , p h ẩ m giávàdanh ti ến g kinhd oan h T h e o A nd re i

V Rakhmilovich,d a n h t i ế n g k i n h d o a n h c ủ a t h ể n h â n k h á c v ớ i d a n h t i

ế n g

18

Nguyễn Thị Quế Anh,Ghi nhận và bảo vệ các giá trị nhân thân trong pháp luật dân sự, Đề tài nghiên cứu

khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Mã số QL.09.02, Hà Nội, 2011, tr 16.

Trang 12

kinh doanh của pháp nhân ở chỗ nó không phải là lợi ích phi vật chấtmànó có giá trị vật chất và biểu hiện đầy đủ của quyền tàis ả n19.

II Cấu trúc của quyền nhânt h â n

Chủ thể của quyềnhayquyền lợi là ngườimàtheo quan niệm pháp lý là thểnhân và pháp nhân (con người thể chất và con người pháp định) Con người có đờisống hữu hạn- Đó làmộtqui luật không tránh khỏi Vì vậy thời điểm được hưởngquyền và thời điểm chấm dứt quyền là vấn đề pháp lý không thể bỏ qua trong các bộpháp điển hóa luật dân sự Từ đó khái niệm nhân cách pháp lý được đặt ra Vềnguyên tắc bất kỳ thể nhân nào từ lúc sinh ra cho tới lúc chết đều có nhân cách pháp

lý, có nghĩa là họ có khả năng hưởng các quyền lợi Vì vậy Bộ luật Dân sự Quecbec(Canada) 1994 tại Điều 1 tuyênbố:

“1 Mọi thể nhân (every human being) đều có nhân cách pháp

lý (judicial personality) và được hưởng đầy đủ các quyền dân sự

2.Mọingười (every person)đềucómộtsảnnghiệp(patrimony)”

Sự sử dụng các thuật ngữ khác nhau trong hai khoản của điều luật trênlàmộtcâu tổng kết cho những gì đã nghiên cứu ở trên Thuật ngữ “person” (người) đểchỉ cả thể nhân và pháp nhân Hai loại chủ thể này cómộtđiểm chung là đều có cácquyền dân sự liên quan tới sản nghiệp (một khái niệm của truyền thống Civil Lawdùng để chỉ quan hệ tài sản trong đó bao gồm cả phần tích sản và phần tiêu sảnmàởViệt Nam hiện nay nhiều người quen gọi là tài sản và nghĩa vụ tài sản) các quyềnnhân thân thuộc về các thể nhân Tuy nhiên trong lịch sử, dưới chế độ nô lệ, người

nô lệ không được xem là thể nhân, có nghĩa là không có nhân cách pháp lý (khôngphải là chủ thể của các quyền và có thể trở thành đối tượng của các quyền) Dự thảohiện nay cho rằng “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân

có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự” (khoản 1, Điều 21) Đoạn văn này khôngkhẳngđịnh:“làthểnhânlàcócác quyềndânsự”,màchỉngụýthểnhâncó

19 Andrei V Rakhmilovich, “The Protection of Honor, Dignity, and Business Reputation under the RF Civil

Code: Problems of Judicial Enforcement”,Private and Civil Law in the Russia Federation, Essays in Honorof

F.J.M Feldbrugge, Edited by William Simons, Martinus Nijhoff Publisher, Leiden Boston, 2009, (pp 231

– 249), p 231.

Trang 13

khả năng hưởng các quyền dân sự Như vậy có thể có băn khoăn Dự thảo về vấn đềnày có phần nào đó không phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự vàchính trị 1966màViệt Nam là một thành viên Công ước này tuyên bố “Mọi ngườiđều có quyền được công nhân là thể nhân trước pháp luật ở mọi nơi” (Điều 16).Lịch sử pháp luật cho thấy (hiện vẫn còn dấu tích), luật dân sự Pháp (ảnh hưởng tới

cả Quebec – Canada) có khái niệm “cái chết dân sự” (civil death), có nghĩa là tử tùhoặc bị tù chung thân bị tước bỏ nhân cách pháp lý (không được hưởng các quyềndân sự)20 Vì vậy ý niệm tước quyền công dân của người bị án tù cứ ám ảnh mãinhiều người ở Việt Nam cho đến tận hômnay

Liên quan tới nhân cách pháp lý cần phải giải quyết các vấn đề cơ bản sau:Thứ

nhất, Có và chấm dứt nhân cách pháp lý như thời điểm có quyền, các trường hợp

hạn chế liên quan tới quyền, các trường hợp bỏ đi khỏi nơi cư trú,mấttích, bị coi là đã

chết và chết;thứ hai, cá thể hóa nhân cách pháp lý như họ tên, nơi cư trú; vàthứ ba,

các quyền về nhân cách như: các quyền toàn vẹn về thể chất và tinh thần, các quyềngắn với qui chế pháp lý củamộtngười như quyền phụ hệ, quyền kết hôn, quyềnlyh ô n

Do sự lựa chọn không mấy thỏa đáng, pháp luật Việt Nam pháp điển hóariêng luật hôn nhân và gia đình Tuy nhiên để có được qui chế nhân thân tương đốiđầy đủ và hệ thống Bộ luật Dân sự tương lai nên làm rõ sự gắn kết giữa bộ luật này

và đạo luật về hôn nhân và gia đình, nếu như không hợp nhất chúng Sẽ là phù hợpnhất và đỡ tốn kém nhất, cũng như dễ dàng nhất cho vấn đề thi hành, nên pháp điểnhóa Bộ luật Dân sự gần với tư tưởng và kỹ thuật pháp lý của thể giớimàmột trongnhững vấn đề đó là đưa các qui tắc về hôn nhân và gia đình vào Bộ luật Dân sự nếu

có pháp điển hóa luật dânsự

20 Xem John E C Brierley and Roderick A Macdonald, Quebec Civil Law – An Introduction to Quebec

Private law, Emond Montgomery Publication Limited, Toronto, Canada, 1993, p 203; Vũ Văn Mẫu,Dânluật

khái luận, Bộ Quốc gia Giáo dục Xuất bản, In lần thứ hai, Sài Gòn, 1960, tr 380; Trần Văn Liêm,Dânluật, Quyển 1 – Dân luật nhập môn, Sài Gòn, 1972, tr 263; Bộ luật Dân sự Pháp 1804 (các điều từ 17 tới 33)

trước khi bị bãi bỏ từ ngày 31/5/1854 và 10/8/1927 Hiện Bộ luật Dân sự Pháp vẫn để tên Chương II, Quyển thứ nhất là “Tước quyền dân sự”.

Trang 14

III Kiến nghịchung

Trong khuôn khổ có hạn, bài viết này khó có thể bao quát hết các vấn đề vềquyền nhân thân, nhưng trong chừngmựccủa các nghiên cứu tại đây, có thể thấyviệc nghiên cứu luật dân sự và hiểu vai trò của luật dân sự hiện nay của các luật giaViệt Nam, nhất là tại khu vực Miền Bắc, còn nhiều hạn chế Vì vậy rất khó khăn đểxây dựng đượcmộtBộ luật Dân sự đúng với nghĩa của nó góp phần lầm ổn định đờisống xã hội Bởit h ế :

Thứ nhất, nên xác định thật rànhmạchvềmôhình một Bộ luật Dân sự tương lai

và xây dựngmộtkhung các điều khoản tỉmỉcó kèm theo lý giải về mặt lý luận,vèmặtthực tiễn và khả năng thi hành trước khi viết các điều khoảncụthể;

Thứ hai, nên thành lậpmộtủy ban cải cách pháp luật có nhiệm vụ xây

dựngmôhình hệ thống pháp luật, đồng thời lãnh đạo tiểu ban xây dựng Bộ luật Dân

sự tương lai mà trong tiêu ban đó tập hợp các chuyên gai đứng đầu về luật dân sự ởtrong nước không kể học hàm học vị hay địa vị xãhội./

Trang 15

TỔNG QUAN VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ GHI NHẬN QUYỀN NHÂN THÂN TRONG DỰ THẢO BLDS SỬA ĐỔI

TS GVC Nguyễn Thị Quế Anh

Khoa Luật ĐHQGHN

A Tổng quan về quyền nhân thân trong pháp luật dâns ự

Sự gắn kết giữa xã hội và tự do cá nhân đã trở thành những điều kiện bắt buộccủa tiến bộ xã hội Xuất phát từ đó, cần thiết phải làm rõ những tiêu chí bắtbuộcmàmộtxã hội công dân và cá nhân hướng tới địa vị tự do cần phải tuân thủ Nhànước thực hiện chức năng của mình thông quamộttrong những công cụ quan trọng –

đó chính là pháp luật Tương ứng, cần phải có một chế định điều chỉnh và bảo vệ sựđộc lập xã hội của con người cũng như việc cá thể hoá con người với tư cách là mộtthành viên của xã hội công dân - một cá nhân Xác lập và bảo đảm mức độ tự do củacác nhân đồng nghĩa với điều kiện sinh tồn và nhu cầu phát triển của xã hội Việc xáclập và bảo đảm này có thể đạt được thông qua những cấp độ khác nhau: cấp độ phápluật chung, cấp độ pháp lụât tư và ở cấp độ từng cá nhân con người riêng biệt Công

cụ điều chỉnh ở cấp độ thứ nhất chính là bản thân hệ thống luật tư, công cụ điều chỉnh

ở cấp độ thứ hai – đó chính là phạm trù năng lực chủ thể và ở cấp độ thứ ba – làphạm trù các quyền chủ thể về nhân thân hay còn gọi là quyền nhânthân

1 Việc ghi nhận, phát triển và thực thi các quyền nhân thân ngày càngphản ánh nhiều hơn qui trình phát triển lịch sử mang tính qui luật của việctăng cường những nền tảng dân chủ trong những hình thái xã hội khác nhau

Do tính chất xã hội quan trọng của nhiệm vụ bảo đảm các quyền nhân thâncúa công dân, việc phân tích, nghiên cứu vấn đề này cần được thực hiện cùngvới việc xem xét những kinh nghiệm lịch sử cũng như những xu hướng pháttriển của pháp luật quốc tế và quốcg i a

Thế giới cổ đại,mặcdù có sự phát triển cao về văn hoá và tương đối hoàn thiện

về hình thái chính trị, trong quá khứ đã không hề thừa nhận hay nói đúng hơn là đãkhông biết đến, đã bỏ qua các quyền cá nhân, ngoàiq u y ề n

Trang 16

tham gia của các cá nhân đầy đủ năng lực hành vi vào đời sống xã hội chung mộtcách hình thức Mặc dù có những hình thái xã hội tự do cộng hoà, nhưng nhà nước cổđại dường như đã “triệt tiêu” các cá nhân Trao cho từng công dân địnhđoạtmộtphần nền chuyên chế tự quản của nhân dân thuộc về người đó với tư cách làthành viên của cộng đồng, nhà nước cổ đại cũng không cho phép từng công dân cụthể có những ý kiến riêng biệt của mình nếu chúng mâu thuẫn với những qui tắc xử

sự và tín ngưỡng chung đã được chấp nhận Nguyên tắc chuyên chế tự quản của nhândân được thực hiện trong các cộng hoà của Hy Lạp và La Mã đượcápdụng rất rộngrãi và toàn diện, trực tiếp ảnh hưởng và gây thiệt hại cho các quyền của cá nhân Sựphát triểnyếuớt của các quyền cá nhân trong thế giớicổđại, địa vị thái quá của chủquyền nhân dân với tư cách làmộtnguồn duy nhất của các qui phạm pháp luật và đạođức, cuối cùng đã đóng vai trò nguy hại đối với các thể chế cộng hoà của La Mã Tuynhiên, vềmặthình thức cũng không thể phủ nhận được rằng phạm trù pháp lý về cácquyền cá nhân (mà sau này đã chuyển hoá thành phạm trù các quyền cá nhân phi vậtchất) có nguồn gốc ban đầu chính từ trong Luật tư của La Mã Trong hệ thống Luật

tư La Mã lần đầu tiên ghi nhận những đơn kiện cá nhân và các quyền cá nhân.Trong số rất nhiều loại đơn kiện có hai loại đơn kiện được coi là quan trọng nhất:actio in rem (đơn kiện vật quyền) và actio in personam (đơn kiện cá nhân) Actio inpersonam được áp dụng để bảo vệ những quan hệ pháp luật có tính chất cá nhân giữahai hoặc nhiều người trong trường hợp người vi phạm quyền cá nhân đã đượcxácđịnh

bởi loại đơn kiện này chỉ có thể áp dụng chống lạimộtchủ thể cụ thể nào đó.21Trong

hệ thống luật dành riêng cho công dân La Mã (ius civile hay còn gọi là ius quiritium)

sự phân loại đơn kiện này cũng phù hợp với việc phân loại các giao dịch và cácquyền thành mancipium (các giao dịch mang tính chất vật quyền và các quyền đượcbảo vệ bởi các actio in rem tương ứng) và nexum (các giao dịch mang tính nghĩa vụ,

cá nhân được bảo vệ bởi các actio inpersonam).22

21

Xem: Новицкий И Б Римское право: Учебник для вузов M.: ИКД ЗЕРЦАЛО – М, 2007

22

Xem: Муромцев С Ф Гражданское право Древнего Рима V., 2003

Trang 17

Nhà nước phong kiến được xác lập, về bản chất, xuất phát từ những khởi đầuhoàn toàn khác so với nền đế chế trước đây Chủ nghĩa phong kiến được thiết lập trên

cơ sở lý tưởng cá nhân, những quan hệ cá nhân giữa người cầm quyền và những kẻphục tùng Trong giai đoạn được gọi là “đêm trường trung cổ”, sự thay đổi củaphương thức sản xuất đã dần biến người nông dân ngày càng lệ thuộc vào các lãnhchúa, không những chỉ vềmặttư liệu sản xuấtmàcòn lệ thuộc cả vềmặtcá nhân conngười họ Không thể bàn về quyền cá nhân trong giai đoạn quân chủ tuyệt đối vàokhoảng thểkỷXVII- XVIII là điều hết sức hiển nhiên Cá nhân trongmộtnhà nước

“cảnh sát” hoàn toàn rơi vào tình trạng vô quyền, đa phần các cá nhân (trừ những kẻnắm giữ quyền lực) trở thành đối tượng chứ không phải chủ thể của pháp luật Vai tròcủa cá nhân hoàn toàn thụ động, họ chỉ có nghĩa vụ phải tuân theo những mệnh lệnh

từ chính quyền phí trên dội xuống và những người phụ thuộc không có bấtcứmộtbảo đảm nào chống lại sự lạm quyền của nhàn ư ớ c

Theo tiến trình phát triển của nhân loại cũng như sự gia tăng tính chất phức tạpcủa cấu trúc xã hội và sự phát triển của giao lưu kinh tế việcmởrộng tự do cá nhân đãdiễn ra nhưmộthệ lụy mang tính qui luật “Sự tiến triển theo xu hướng bảo vệ cánhân con người với tư cách làmộttổng thể những lợi ích và khả năng cá nhân càng

xuấthiệnmanhnhacủaphươngthứcsảnxuấttưbảnchủnghĩavàocuốithời

kỳphong kiến đã thúc đẩy những quá trình thay đổi lớn lao trong xã hội, trong đó có

sự thay đổi về nhận thức đối với các giá trị nhân thân củamỗicá nhân Với sự ra đờicủa nền sản xuất công nghiệp, với từng bước phát triển vững chắc của giai cấp tư sản,con người ngày càng ý thức sâu sắc về các giá trị nhân thân bất khả xâm phạm củamình Những ý tưởng khởi đầu sơ khai về về tự do cá nhân trongTuyênngôn vềquyền con người và công dân (được Quốc hội Pháp thông qua ngày 26.8.1789) này

đã trở thành kim chỉ nam cho pháp luật hiện đại của các quốc gia Châu Âu Những ýtưởng này được thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập 1776 và Hiến phápMỹ1787.Muộn hơn sau này, quyền của mỗi con người đối với cuộc sống, tự do, sự bất khảxâmp h ạ m

23

Xem: Покровский И А Основные проблемы гражданского права М, 1998 ст 121

Trang 18

về đời sống cá nhân, hôn nhân, danh dự, uy tín, tự do đi đi lại, tự do lựa chọn nơi sinhsống, v,v,… đã được thể hiện trong Tuyên ngôn chung về quyền con người 1948,Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước Châu

Âu về bảo vệ quyền con người và những tự do cơ bản năm 1950 với những sửa đổi

và bổ sung vào các năm 1970, 1971, 1990, 1992, 1994 Những qui định nêu trên đềuđược thể hiện trong hệ thống pháp luật các quốc gia ở các cấp độ khác nhau

2 Các giá trị nhân thân và việc bảo vệ các giá trị này có ý nghĩa hết sứcquan trọng vềmặtchính trị, kinh tế, xã hội Các giá trị nhân thân liên quan mậtthiết tới những khái niệm về công bằng, tự do, bất khả xâm phạm của các cánhân Dấu hiệu đầu tiên về sự độc lập pháp lý của cá nhân đó chính là sự thừanhận cá nhân là chủ thể của các quyền và nghĩa vụ pháp lý Nếu như vào thời

kỳ xa xưa người ta có thể định đoạt cả cá nhân các chủ thể, người tự do có thể

tự bán mình hoặc đặt mình cho người khác thì cho đến hiện nay những sự địnhđoạt kiểu nhưvậyđã không còn được thừa nhận, bản chất pháp lý của chủ thể làkhông thể tách rời khỏi con người thực của từng cá nhân Tiếp theo đó, khikhái niệm và ý thức về cá nhân ngày càng phát triển và được đề cao, cá nhânngày càng đạt được nhiều hơn nữa sự thừa nhận cho mình những quyền năngngày càng mới Lẽ dĩ nhiên, sự phát triển của các quyền chủ thể luôn songsong hành với sự phát triển của nội dung bên trongmỗichủ thể cũng nhưnhững lợi ích của họ Cùng với sự phát triển không ngừng của trình độ kinh tế

và văn hoá trong xã hội nhữngyêucầu về bảo vệ những quyền lợi của cá nhâncũng ngày càng gia tăng Bên cạnh đó, sự tiến bộ xã hội chỉ có thể đạt đượcvới sự tiến bộ của từng cá nhân; sự thịnh vượng, phát triển đích thực củamộtxãhội được thể hiện trong sự phát triển của từng cá nhân và trongmốiquan hệgiữa các cá nhân với nhau

Ý nghĩa xã hội của các quyền nhân thân thể hiện ở khía cạnh sau: bản thân cácgiá trị nhân thân cùng việc bảo vệ các giá trị này góp phần xác định vị trí của conngười trong xã hội, và do vậy, chúng có ý nghĩa như là sự thể hiện trình độ phát triểncủa toàn xã hội Bằng cách đó,mứcđộ tự do của cá nhân trong xã hội được qui chiếuvớimứcđộ công bằng và tự do của chínhxã

Trang 19

hội Điều đó đã được thể hiện trong Tuyên bố chung về quyền con người của Liênhiệp quốc ngày 10.10.1948 và trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội

và văn hóa năm 1966

Vấnđề bảovệ giátrịnhânthâncủa cá nhânkhôngchỉ có ýnghĩavề mặtnhânđạovàchínhtrị màcònmangđầyđủ nhữngýnghĩavề mặtkinhtế.Sựchuyển đổi sangnền kinh tế thị trườngvà liên quan tới nó làvấnđề tự dokinh doanh đã tạo dựngnhững nền tảng vữngchắc cho sự tự dokinh tếcủacácchủthể, trongđó có các cánhân Tự dotronglĩnhvực kinh tếtấtnhiênsẽtạo ranhữngnhu cầu mang tính khách quanđối với tự do cá nhân, tự do tinhthần

3 Theo nghĩa khách quan, quyền nhân thân là một chế định pháp lýmang tính chất đa ngành, trong đó chứa đựng qui phạm pháp luật của nhiềungành luật khác nhau Cơ sở nền tảng của việc điều chỉnh pháp lý đối với cácgiá trị nhân thân là những qui định của Hiến pháp, trong đó ghi nhậnmộtc á c h

mang tính chất hiến định các quyền và tự do của cá nhân thì sẽ là không đầy đủ choviệc thực thi cũng như bảo vệ các giá trị nàymộtcách hiệu quả trongtrườnghợphànhvixâmphạmxảyra.Dovậy,cầncósựvậnhànhcơchếcủa

24

Xem: Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” - Hiến pháp sửa đổi năm 2013

Trang 20

nhiều lĩnh vực pháp luật, thông qua đó việc thực thi các quyền con người được ghinhận bởi Hiến pháp sẽ được bảo đảm bởi những công cụ, phương tiện pháp lý cụ thể,đặc trưng của từng ngành luật khác nhau Trong số nhiều ngành luật khác nhau, LuậtDân sự có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và bảo vệ các giá trị nhân thân.Việc bảo vệ những giá trị nhân thân trong pháp luật dân sự xuất phát trực tiếp từnhững qui định của pháp luật về sự không tách rời, không chuyển giao của các quyền

và tự do của các nhân, về bảo vệ đời sống của các nhân, tự do, danh dự, nhân phẩmcủa mỗi con người Các chủ thể nắm giữ các giá trị nhân thân có thể sử dụng nhữngbiện pháp trách nhiệm dân sự để bảo vệ quyền lợi của mình, trong đó việc áp dụngnhững biện pháp này cần tính đến những đặc trưng của các quan hệ nhân thân.Không cómộtlĩnh vực pháp luật nào khác có khả năng trao cho các cá nhân nhữngkhả năng có được sự bảo hộ pháp lý cho sự bất khả xâm phạm của nhân thân cánhân đó như lĩnh vực pháp luật dân sự Các lĩnh vực pháp luật khác cũng đều cónhững qui định hướng tới việc bảo vệ các lợi ích phi vật chất của cá nhân Theo

đó, chủ thể của quyền nhân thân phi tài sản hoàn toàn không thụ độngmàchủ động sửdụng những quyền năng này và nghĩa vụ của những người thứ ba không chỉ dừng lại

ở việc không thực hiện những hành vi xâm phạm Chức năng điều chỉnh của luật dân

sự đối với các giá trị nhân thân thể hiện dưới hình thức thừa nhận vềmặtpháp lý đốivới các giá trịnày

Học giả N.V Vitruc phân biệt hai giai đoạn thể hiện của quyền và tự do của

cá nhân Ở giai đoạn thứ nhất (giai đoạn thủ đắc), học giả cho rằngcác

25

Xem: Красавчикова Л.О Понятие и система личных, не связанных с имущественными, прав граждан (физических лиц) в гражданском праве РФ: Дис докт юрид наук Екатеринбург, 1994 С 42-43

Trang 21

quyền qui định chocánhân với tư cách là quyền nhân thân xuất phát từ qui định phápluậtmộtcách trực tiếp, không cần có các sự kiện pháp lý Theo quan điểm của họcgiả, ở giai đoạn này để thủ đắc quyền nhân thân không cần thiết đòi hỏi phải có sựkiện pháp lý đặc biệt Thủ đặc quyền – đó chưa phải là thực hiện, sử dụng quyền màmới chỉ là khả năng thực tế đối với việc sử dụng một lợi ích cụ thể, xác định Giaiđoạn thứ hai (giai đoạn sử dụng) là giai đoạnquyềnc h ủ t h ể t h ự c s ự đ ư ợ c t h ự c t h i 26N h ưvậy,h ọ c t h u y ế t p h á p l ý n à y đã

giúp cho chúng ta làm rõ về vai trò của việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệnhân thân

Bêncạnhđó,có quanđiểm cho rằng có sự tồntạicủanhữngcấp độ khácnhautrongviệc thực thi các nhóm quyền nhân thân Ví dụ,L.O Craxavtrickovđưa ranhận địnhrằngnhững quan hệ xuất phát từ lợi ích nhân thân như họ tên chỉcầnđượcxây dựngtrêncơ sở qui định pháp luật vềtrìnhtựđặt tên,thay đổi họ tên;cònđối với danh

dự, uy tín, nhân phẩm và đời tư thì đòi hỏitrướchết phảicó cơ chếbảo vệ được xáclậpbởi phápluật dân sự.27

4 Quyền nhân thân trong pháp luật dân sự là tổng thể cácmốiquan hệgiữa những chủ thể xác định liên quan đến các giá trị nhân thân được điềuchỉnh bởi các qui phạm pháp luật dân sự Liên quan đến đời sống củamộtcánhân trong xã hội có rất nhiều các giá trị nhân thân khác nhau Pháp luật, nhìnchung, không thể bảo vệ hết thảy các giá trị nhân thân đó, pháp lụât chỉ thừanhận và bảo vệmộtsố giá trị nhân thân quan trọng và mang tính chất chung chomọi cá nhân sống trong xã hội Trong đó, pháp lụât dân sự điều chỉnh các quan

hệ nhân thân bằng cách qui định những giá trị nhân thân nào được coi là quyềnnhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn các quyền nhân thân cũng như các biệnpháp thực hiện, bảo vệ các quyền nhân thân Trong khoa học pháp lý về dân

sự, quyền nhân thân là những quan hệ được điều chỉnh bởi các qui phạm phápluật giữa các chủ thể liên quan đến những giá trị nhân thân Như vậy, quyềnnhân thân trong Luật dân sự là quyền chủ thể của các cá nhânx u ấ t

26

Xem: Витрук H.B Общая теория правового положения личности М., 2008.С.103 - 105

27

Xem: Красавчикова Л.О Понятие и система личных, не связанных с имущественными, прав граждан (физических лиц) в гражданском праве РФ: Дис докт юрид наук Екатеринбург, 1994 С.59-60

Trang 22

hiện do việc điều chỉnh bởi các qui phạm pháp luật dân sự đối với các quan hệ liênquan đến các giá trị nhân thân của các chủ thể đó Quyền nhân thân tồn tại nhưnhững quyền chủ thể và được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự không phụ thuộc vàonhững hành vi xâm phạm đối với những quyền này Dưới góc độ khách quan, quyềnnhân thân trong pháp luật dân sự là những quan hệ được điều chỉnh bởi các quiphạm pháp luật dân sự giữa các chủ thể xác định liên quan đến các giá trị nhân thân.

Về mặt chủ quan, quyền nhân thân là các mức độ hành vi cho phép của chủ thể quyềnthể hiện ở sự tự do lựa chọn hành xử trong đời sống cá nhân theo sự nhìn nhận củamình, loại bỏ bất cứ sự can thiệp nào từ phía các chủ thể khác, trừ những trường hợp

do pháp luậtquyđịnh Do vậy, quyền nhân thân là quyền chủ thể xuất hiện do hệ quảcủa việc điều chỉnh các quan hệ nhân thân bởi các qui phạm pháp luật Quyên nhânthâncónhững đặc trưng cơ bản nhưs a u :

Trước hết cần ghi nhận rằng: những quyền này mang tính chất cá nhân tuyệtđối Điều đó có nghĩa là những quyền nhân thân được ghi nhận và điều chỉnh trongluật dân sự thuộc về các cá nhân từ khi họ sinh ra hoặc theo qui định của pháp luật,chúng không thể bị trưngmuahay chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp khi cóqui định của pháp luật về việc các quyền nhân thân thuộc về người đã chết có thểđược thực thi và bảo vệ bởi những chủ thể khác, trong đó có người thừa kế của chủthể đã chết Quyền nhân thân luôn gắn vớimộtchủ thể xácđ ị n h

Quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản, quyền nhân thân không mang nộidung tài sản Quyền nhân thân không được xác định bằng tiền Quyền nhân thân điềuchỉnh những quan hệ liên quanmậtthiết và không thể tách rời khỏimộtcá nhân nhấtđịnh Giá trị nhân thân là đối tượng của một quyền nhân thân nhất định hướng tớiviệc cá thể hóa cá nhân là chủ thể quyền này, làm cho bản thân nhân thân cá nhân đókhông thể bị lặp lại Những giá trị nhân thân là đối tượng của quyền nhân thân biểuhiện tình trạng xã hội của chủ thể mang các giá trị nhân thân đó, trở thànhmộtbảnchất không thể tách rời của cá nhân,mặcdù bản chất này có thể thay đổi trong suốt

tạicủachủthểnày.Là cácyếutốcấuthànhkhôngthểtáchrờikhỏicánhân

Trang 23

chủ thể, những giá trị nhân thân được cá thể hoá, làm cho bản thân người mang cácgiá trị đó là hoàn toàn không thể lặp lại Các giá trị nhân thân tạo nên địa vị xã hộicủa người mang các giá trị nhân thân đó và trở thành những yếu tố không thể táchrời,mặcdù chúng có thể thay đổi trong suốt quá trình tồn tại củamộtcá nhân Nhữnggiá trị nhân thân tồn tại không có giới hạn về thời gian.28Mỗi chủ thể có các giá trịnhân thân khác nhau nhưng được bảo vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâmp h ạ m

Vềmặttính chất, có thể coi quyền nhân thân làmộtloại quyền tuyệt đối Người

có quyền đối lập với phạm vi không xác định các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọngnhững giá trị nhân thân được bảo vệ Bên cạnh đó, cần phân biệt quyền nhân thân với

tư cách làmộtloại quyền tuyệt đối với các loại quyền dân sự tuỵêt đối khác (chẳnghạn nhưquyềnsở hữu) Một trong những đặc trưng cơ bản của các quyền nhân thân làcấu trúc của chúng không giống như cấu trúc của các loại quyền tuyệt đối khác Nếunhư quyền sở hữu qui định khả năng của chủ thể quyền thực hiện các quyền năngchiếm hữu, sử dụng và định đoạt bằng những phương thức khác nhau có thể do phápluật qui định thì đối với quyền nhân thân điều đó là hoàn toàn không được áp dụng.Đối với quyền nhân thân, chủ thể quyền thực hiện quyền bằng những hành vi riêngcủa mình, trong đó những hành vi này thể nằm ngoài sự điều chỉnh cụ thể của phápluật Ví dụ:mộtcá nhân thực hiện những hành vi nhất định để tạo uy tín đối với nhữngngười xung quanh Liên quan đến vấn đề này, đối với quyền nhân thân, dường nhưtồn tại hai quyền năng: thứ nhất, khả năng của người có quyền đòi hỏi một phạm vikhông xác định những những người có nghĩa vụ không được xâm phạm quyền nhân

Trang 24

Cần nhấn mạnh rằng, những đặc trưng trên của quyền nhân thân, dưới một góc

độ nhất định, đều mang tính chất tương đối Việc xâm hại các quyền nhân thân có thểgây ra cho chủ thể những hậu quả kinh tế khôn lường Ví dụ: khi uy tín cá nhân bịxâm hại có thể gây thiệt hại lớn về doanh thu, có thể dẫn tới những điều kiện bất lợitrong vay vốn, Mặt khác, một uy tín vững vàng sẽ là bảo đảm chắc chắn chonhững lợi ích kinh tế trướcmắtvà lâu dài của các chủ thể Liên quan đến đặc tính cánhân tuyệt đối của quyền nhân thân, vấn đề này cũng không cần thiết phải tuyệt đốihoá Một số quyền nhân thân hướng tới việc bảo vệ các lợi ích nhân thân nhằm mụcđích trước tiên là đưa chúng vào lưu thông trong giao lưu dân sự và mang lại lợinhuận từ các lợi ích đó Ví dụ: các quyền nhân thân trong lĩnh vực sở hữu trítuệ

Việc thực thi các quyền nhân thân cũng có đặc trưng riêng Đặc trưng của việcthực thi quyền nhân thân là ở chỗ pháp luật không qui định những giới hạn cho việcthực thi quyền nhân thân mà chỉ đặt ra những ranh giới ngăn chặn sự can thiệp củanhững người thứ ba đối với lĩnh vực cá nhân của một con người Nếu những ranhgiới này bị xâm phạm thì được phép áp dụng những biện pháp khôi phục lại chúng.Trong đó, những qui phạm đạo đức có ý nghĩa quan trọng đối với việc qui địnhnhững ranh giới được phép đối với chủ thể quyền và chủ thể nghĩa vụ Bản chất củaviệc bảo vệcácgiá trị nhân thân trong pháp luật dân sự là ở việc bảo đảm tự do chocác cá nhân trong việc xác định hành vi của mình trong đời sống cá nhân theo ý chí,theo nhìn nhận của bản thân, loại bỏ sự can thiệp từ phía các chủ thể khác vào đờisống cá nhân của mình, trừ những trường hợp do pháp luật qui định Việc xác lập cácquan hệ pháp lý quyền nhân thân cũng có những đặc trưng khác biệt so với các quan

hệ trong lĩnh vực quyền tài sản: quyền nhân thân được xác lập không phải dựa trênnhững sự kiện pháp lýmàchúng được xác lập trực tiếp trên cơ sở những qui định củaphápl ụ â t

5 Trong thời đại hiện nay, dưới sự ảnh hưởng của cácyếutố kinh tế,chính trị, xã hội cũng như cácyếutố pháp lý quốc tế việc điều chỉnh các quyềnnhân thân có xu hướng đượcmởrộng, trong đó bao gồm cả việc việcgiatăng,bổsungliệtkêcácquyềnnhânthânđượcbảovệbằngcáccôngcụ

Trang 25

dân sự Tuy nhiên, để có thể có được sự bảo hộ đó các quyền nhân thân phải đáp ứngđược những tiêu chí nhất định Tiêu chí đầu tiên phải kể đến - đó chính là địnhhướng mang tính chất “cá thể hóa và phát triển cá nhân” của các quyền này Địnhhướng này cho phép xác định cơ sở nền tảng của các quyền nhân thân trong các vấn

đề liên quan đến năng lực pháp luật dân sự Tiêu chí thứ hai là điều kiện đủđểmộtquyền nhân thân nhất định có thể được ghi nhận trong Bộ luật dân sự - đóchính là khả năng khôi phục quyền đó hoặc loại bỏ những xâm phạm đối với nótrong tương lai Khả năng khôi phục quyền nhân thân hoặc loại bỏ những xâm phạmtrong tương lai cómốiliên hệ trực tiếp với chức năng đền bù, khôi phục của các công

cụ bảo vệ mang tính chất dân sự, thể hiện một trong những đặc trưng quan trọng củaphương pháp điều chỉnh trong luật dân sự Những tiêu chí này có ý nghĩa quyết địnhtrong việc xác định ranh giới, phạm vi các quyền nhân thân được điều chỉnh bởiluật dân sự Nếu như luật dân sự không có khả năng bảo vệ đượcmộtquyền cá nhânnào đó thì việc đưa quyền này khuôn khổ của Bộ luật dân sự sẽ hoàn toàn khôngmang lại hiệu quả điều chỉnh pháp lý cần thiết và hơn thế nữa, nó làm cho quy định

đó chỉ còn tồn tại trên danh nghĩamàthôi Trong trường hợp này tốt nhất là tìm kiếmcho đứng khác cho chúng, điều chỉnh chúng bằng những công cụ của các ngành luậtkhác, ngoài luật dânsự

6 Cuối cùng, việc phân loại các quyền nhân thân cũng là điều hết sức

có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn Trước hết, phân loại quyền nhân thâncho phép xác định đặc trưng của một loại quyền nhân thân nhất định -những đặc trưngnàyảnh hưởng mang tính chất quyết định tới vấn đề xác địnhcấu trúc pháp lý, nội dung của từng loại quyền nhân thân Phân loại quyềnnhân thân bảođảmcho tính logic và hệ thống trong hình thành cách tiếp cậnkhoa học, phù hợp để lựa chọn hình thức và phương pháp điều chỉnh cácquan hệ liên quan đến các nhóm quyền nhân thân Việc phân loại các quyềnnhân thân cũng đồng thời giúp cho việc hình dung về bản chất cũng như sựkhác biệt giữa các loại quyền nhân thân Hơn thế nữa, việc thiết lập một phânloại hoàn thiện, rút ra những vấn đề mang tínhquyluật trong việc phát triểncác quyền nhân thân sẽ giúp cho việc khámphánhữngmối

Trang 26

liên hệ giữa chúng, định hướng trong giải quyết những tình huống phức tạp, tạo cơ

sở để khái quát hóa những kết luận cũng như các dựb á o

Việc phân loại quyền nhân thân có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau:Theo mối liên hệ giữa quyền nhân thân với tài sản, các quyền nhân thân được phân chí thành:

, -quyền nhân thân phi tài sản

- quyền nhân thân liên quan đến tàis ả n Theo các nhóm lợi ích nhân thân, nguồn gốc vàmốiquan hệ với các khía cạnhkhác nhau của đời sống, quyền nhân thân được phân chiathành:

- quyền nhân thân mang tính chất không tách rời khỏi đời sống con người (sức khỏe, bất khả xâm phạm cá nhân,… )

- quyền nhân thân hướng tới việc cá thể hóa cá nhân trong một cộng đồng nhất định (họ tên, danh dự, nhân phẩm,… )

- quyền nhân thân trong lĩnh vực hôn nhân, giađ ì n h

- quyền nhân thân xuất phát từ sự tham gia của cá nhân trong lao động

xã hội (bao gồm cả những lao động mang tính chất sángtạo)

Theo tính chất của giá trị nhân thân mà quyền nhân thân hướng tới bảo vệ, quyền nhân thân được chia thành:

- quyền nhân thân cá thể hóa cá nhân trong xã hội (họ tên, hình ảnh, danh dự, nhân phẩm,… )

- quyền nhân thân bảo đảm bất khả xâm phạm cá nhân (quyền an toàn

về tính mạng, sức khỏe, thân thể; bất khả xâm phạm đối với chỗ ở;…)

- quyền nhân thân bảo đảm bí mật cá nhân (bímậtđời tư, bất khả xâm phạm đối với chỗ ở; bímậtthư tín; bí mật nuôi con nuôi;…)

- quyền nhân thân hướng tới thúc đẩy sự phát triển toàn diện của các nhân và thể hiện lao động sáng tạo cá nhân (tự do sáng tạo, nghiên cứu…)Theo tính chất pháp lý, đặc tính thể hiện cũng như đặc trưng của

phương thức thực thi, quyền nhân thân có thể được phân chia thành:

- quyền nhân thân không tách rời khỏi cá thể con người (quyền đối với tính mạng, sức khỏe, bất khả xâm pham cá nhân,… )

- quyền nhân thân đối với việc thể hiện các đặc tính xã hội của cán h â n

Trang 27

cũng như đảm bảo sự vẹn toàn của các trạng thái đó (quyền đối với họ tên, danh dự,nhân phẩm, hình ảnh, …)

- quyền nhân thân đối với bất khả xâm phạm và bímậtđời sống cá nhân(quyền bất khả xâm phạm đối với chỗ ở; quyền bímậtthư tín; quyền bí mật giấy

tờ cán hân … )

- quyền nhân thân đối với hoạt động sáng tạo và việc sử dụng các kếtquảcủahoạtđộngnày(quyềnsửdụngcácthànhtựuvănhóa;quyềntácgiả;

Theo định hướng mục đích, các quyền nhân thân baog ồ m :

- quyền nhân thân hướng tới việc cá thể hóa cá nhân (quyền đối với họtên; quyền đối với danh dự, nhân phẩm… )

- quyền nhân thân hướng tới việc đảm bảo bất khả xâm phạm cá nhân(quyền đối với tính mạnh, sức khỏe, tự do lựa chọn nơi cư trú…)

- quyền nhân thân hướng tới đảm bảo bất khả xâm phạm cuộc sống cánhân (quyền đối với bímậtcá nhân và gia đình; quyền đối với việc được đảmbảo không bị xâm phạm đời sống cá nhân… )

Cần nhấn mạnh rằngmỗicách phân loại nêu trên chỉ mang tính chất tương đối.Điều đó càng trở nên rõ ràng hơn trong trường hợp một hành vi trái pháp luật đồngthời xâm phạm tớimộtsố quyền nhân thân cómốiquan hệ mật thiết với nhau như:quyền đối với sức khỏe và quyền đối với việc đảm bảo môi trường sống; quyền bấtkhả xâm phạm đời sống cá nhân và quyền bất khả xâm phạm thânt h ể …

B Đánh giá về sự ghi nhận quyền nhân thân trong Dự thảo Bộ Luật Dân sự sửađổi

Dự thảo BLDS sửa đổi nói chung và các quy định về quyền nhân thân trong

Dự thảo nói riêng đã cụ thể hóa những tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của Hiếm pháp

2013 về việc tăng cường các biện pháp để bảo vệ các quyền con người, quyền côngdân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự Đây làmộtxu thế khách quan, là điềukhông thể khác được trong bối cảnh sửa đổi BLDS hiện hành Tuy nhiên, việc ghinhận các quyền nhân thân trong BLDS sửa đổi với những tham biến, những nội hàm

cụ thể ra sao, với cách tiếp cậnv à t r o n g

Trang 28

tương quan tổng thể với tính logic và tính hệ thống của toàn bộ hệ thống pháp luậttheo “chiều ngang” và ‘chiều dọc” như thế nào thì còn là điều cần cần được tiếp tụcbànluận.

1 Về khái niệm quyền nhân thân tại Điều 30 của Dự thảo Theo k.1Điều 30 của Dự thảo:” Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này làquyền dân sự gắn liền vớimỗicá nhân, không thể chuyển giao cho người khác,trừ trường hợp luật có quy định khác” Theo tác giả, quy định này của Dự thảothực chất chưa đưa ra được khái niệm quyền nhân thânmàmới chỉ liệt kê cácđặc tính chung của quyền nhân thân Không thể phủ nhận rằng việc đưa ra kháiniệm củamộthiện tượng pháp lý thông qua liệt kê những đặc trưng của hiệntượng đó làmộtthực tế trong khoa học pháp lý Tuy nhiên, trong trường hợpnày các đặc trưng nêu trên của quyền nhân thân thực sự chưa đủ để phân biệtquyền nhân thân với các quyền dân sự khác, bởi lẽ một số quyền tài sản cũng

có đặc điểm này Ví dụ: quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viêntrong gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình cũng gắn liền với những cánhân nhất định như: giữa cha,mẹvà con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông

bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bácruộtvàcháuruột;giữavợvàchồng.Ngoàira,nghĩavụcấpdưỡngkhôngthểthay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.30Hoặc quyền bầu cử, ứng cử củamỗicông dân cũng có những đặc điểm trên Quyềnnhân thân trong pháp luật dân sự là quyền chủ thể xuất hiện do hệ quả của việc điềuchỉnh các quan hệ nhân thân bởi các qui phạm pháp luật dân sự Đó là tổng thể cácmối quan hệ giữa các chủ thể xác định liên quan đến các giá trị nhân thân được điềuchỉnh bởi các qui phạm pháp luật dân sự Bên cạnh đó, việc xác định các giá nhânthân nào phù hợp và đáp ứng các điều kiện để trở thành đối tượng của quyền nhânthân trong pháp luật dân sự là điều hết sức cần thiết Do vậy, sẽ là hợp lý hơn nếukhái niệm quyền nhân thân được đưa ra trong Dự thảo thông qua hình thức liệt kêcác giá trị nhân thân nào là đối tượng của các quyền nhân thân trong dự thảo BLDS

Trang 29

mang tính ”mở” Ngoài ra, quy định về khái niệm quyền nhân thân cũng cần thể hiệnđược tính chất cũng như những nguyên tắc chung của việc thực thi các quyềnnhânthân.

2 Về việc lựa chọn các giá trị nhân thân nào để đưa vào nội dung cácquyền nhân thân Như đã phân tích ở trên, việc xác định ranh giới, phạm vicác quyền nhân thân được điều chỉnh bởi luật dân sự có thể được thực hiệndựa theo các tiêu chí như sau: thứ nhất, các quyền nhân thân được điều chỉnhBLDS cần gắn liền với định hướng mang tính chất “cá thể hóa và phát triển cánhân” – chủ thể của các quyền này; thứ hai, khả năng khôi phục các quyền đóhoặc loại bỏ những xâm phạm đối với chúng trong tương lai bằng những biệnpháp dân sự Dự thảo BLDS hiện nay đã đưa toàn bộ các quyền con ngườiđược quy định tại Chương 2 Hiến pháp 2013 vào nội dung các quyền nhânthân tại Mục 2 Chương III về “Cá nhân” với các điều luật cụ thể về: quyềnxác định dân tộc (Điều 33), quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tínhmạng, sức khỏe, thân thể (Điều 37), quyền được bảo vệ danh dự, nhânphẩm,uytín (Điều 38), quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể và hiến xác (Điều39), quyền được bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bímậtcá nhân (Điều41), quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình (Điều 42), quyền bất khả xâmphạm về chỗ ở (Điều 43), quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo (Điều 44), quyền

tự do đi lại và cư trú (Điều 45), quyền lao động (Điều 46), quyền tự do kinhdoanh (Điều 47), quyền tiếp cận thông tin (Điều 48), quyền lập hội (Điều 49),quyền tự do nghiên cứu sáng tạo (Điều 50) Ngoài ra, cácquyềnnhân thân khácđược quy định trong Dự thảo baogồm:quyền đối với họ, tên và thay đổi họ tên(Điều 31 và 32); quyền được khai sinh, khai tử (Điều 34); quyền đối với quốctịch (Điều 35); quyền đối với hình ảnh(Điều 35); quyền xác định lại giới tính(Điều 40) Nhìn chung hệ thống quyền nhân thân trong pháp luật dân sự hiệnhành đã thể hiện đã thể hiện rõ nét xu thế ngày càngmởrộng phạm vi các giátrị nhân thân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, tôn trọng cá nhân với cácquyền con người trongmọilĩnh vực Tuy nhiên, trong hệ thống các giá trị nhânthân này có một số giá trị nhân thân không nhất thiết phải được ghi nhậntrong BLDS vì việc ghi nhận chúngh o à n t o à n c h ư a t h ể h i ệ n

Trang 30

đầy đủ tính chất dân sự của các giá trị đó Một số quyền nhân thân như quyền đối vớiquốc tịch; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do kinh doanh; quyền lập hội;quyền tiếp cận thông tin; quyền lao động, quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo là nhữngquyền cơ bản của con người nhưng mang tính chất chính trị, xã hội, văn hóa nhiềuhơn là những quyền dân sự Các quyền này, mặc dù trực tiếp hoặc gián tiếp đềuhướng tới việc cá thể hóa và phát triển cá nhân, tuy nhiên bằng các biện pháp dân sựthì không thể khôi phục lại hoặc loại bỏ hành vi xâm phạm đối với chúng Do vậyđối với quyền này cơ chế ghi nhận cần thiết và hợp lý sẽ là từ qui định của Hiếnpháp đến thẳng những qui định của các luật chuyên ngành Như đã phân tích ở trên,Nếu như luật dân sự không có khả năng bảo vệ được một quyền cá nhân nào đó thìviệc đưa quyền này khuôn khổ của Bộ luật dân sự sẽ hoàn toàn không mang lại hiệuquả điều chỉnh pháp lý cần thiết và hơn thế nữa, nó làm cho quy định đó chỉ còn tồntại trên danh nghĩamàt h ô i

3 Về cấu trúc quyền nhân thân trong Dự thảo Nội dung quyền nhânthân chính là cácmứcđộ hành vi cho phép của chủ thể quyền thể hiện ở sự tự

do lựa chọn hành xử trong đời sống cá nhân theo sự nhìn nhận của mình, loại

bỏ bất cứ sự can thiệp nào từ phía các chủ thể khác, trừ những trường hợp dopháp luật quy định Chủ thể quyền nhân thân thực hiện quyền của mình bằngnhững hành vi mang tính chất cá nhân, thậm chí nằm ngoài sự điều chỉnh cụthể của pháp luật Nóimộtcách khác, đối vớimộtquyền nhân thân cụ thể, phápluật dân sự không qui định những giới hạn cho việc thực thi quyền nhânthânmàchỉ đặt ra những ranh giới ngăn chặn sự can thiệp của những người thứ

ba đối với lĩnh vực cá nhân củamộtcon người Ví dụ: quyền đối với danh dự,nhân phẩm, uy tín; quyền tự do đi lại và cư trú, quyền đối với hình ảnh cánhân; quyền xác định lại giới tính Trongmộtsố trường hợp, giới hạn chỉ thểhiện ở việc lựa chọn những hành vi cụ thể nào để điều chỉnh trong nội dungmột quyền nhân thân nhất định Điều này phụ thuộc vào chính bản chất của giátrị nhân thân được bảo vệ Ví dụ: quyền đối với họ, tên; quyền hiến,nhậnmô,bộ phận cơ thể và hiến xác; Điều đó cũng không có nghĩa là việcthực thi quyền nhân này chỉ giới hạn trong những hành vi cụ thể được liệtkê

Trang 31

trong điều luật tương ứng Chỉ cómộtgiới hạn chung nhất đối với việc thực hiện cácquyền nhân thân: không ai được lạm dụng quyền nhân thân của mình để xâm phạmtới lợi ích của nhà nước, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ich hợp pháp của ngườikhác Như vậy, cấu trúc các quyền nhân thân, về logic, sẽ thể hiện các khía cạnh cơbản như: 1)ghi nhận giá trị cá nhân mà quyền nhân hướng tới; 2) ghi nhận cách xử sự

cụ thể vàmứcđộ xử sự cho phép trên cơ sở sự tự do lựa chọn hành xử của cá nhânđối với các giá trị cá thân đó; 3) khả năng khôi phục hoặc loại bỏ bất cứ sự canthiệp nào từ phía các chủ thể khác bằng các biện pháp dân sự, trừ trường hợp do phápluật quy định Tồn tại của những cấp độ khác nhau trong việc thực thi các nhómquyền nhân thân khác nhau, do vậy, tùy vào tính chất, đặc trưng của từng giá trị nhânthânmàcác quyền nhân thân tương ứng có thể có hoặc không có nội dung thứ hai nêutrên Ví dụ: pháp luật không thể quy định cách hành xử cụ thể của một cá nhân đốivới với danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình; trong khi khía cạnh này lại rất quantrọng trong trường hợp quyền đối với họ, tên; quyền hiến, nhậnmô,bộ phân cơ thể vàhiến xác Trong Dự thảo hiện nay, cấu trúc tất cả các quyền nhân thân được quy định

từ Điều 31 dến Điều 50 hầu hết đã tuân thủ khía cạnh thứ nhất và thứ hai trong cấutrúc nêu trên Tuy nhiên, trong các điều khoản này chưa chú trọng đến việc đưa racác biện pháp, công cụ cụ thể, phù hợp trong từng trường hợp nhằm khôi phục hoặcloại bỏ sự can thiệp trái phép từ phía những người khác đối với các giá nhân thânthân tương ứng Đành rằng, tại k.2 Điều 30 của Dự thảo có quy định: Khi quyềnnhân thânc ủ a

cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền tự mình cải chính hoặc áp dụng cácphương thức bảo vệ quy định tại Điều 16 của Bộ luật này.31Trong đó, cónhữngb i ệ n p h á p b ả o v ệ m a n g t í n h t r u y ề n t h ố n g t r o n g l ĩ n h v ự c q u y ề n n h â n

31 Các phương thức bảo vệ theo Điều 16 Dự thảo bao gồm:

1 TựbảovệtheoquyđịnhcủaBộluậtnàyvàcácluậtliênquan;

2 Yêucầuchủthể kháchoặccơquan,tổchứccóthẩmquyền:

a) Công nhận, tôn trọng, bảo vệvàbảo đảm quyềncủa mình;

b) Buộc chấm dứt hành vi viphạm;

c) Buộc xin lỗi, cải chính côngkhai;

d) Buộc thực hiện nghĩa vụ;

đ) Buộc bồi thường thiệthại;

e) Yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác hủy bỏ quyết định cá biệt trái

pháp luật của cơ quan, tổchức;

g) Các yêu cầu khác theo quy định của luật.

Trang 32

thân như: công nhận và bảo vệ quyền; buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xinlỗi, cải chính công khai; buộc bồi thượng thiệt hại; Tuy nhiên, với sự phát triểnkhông ngừng của hệ thống các giá trị nhân thân được ghi nhận trong pháp luật dân

sự và đặc biệt là với tính chất phức tạp và những dạng thức ngày đa dạng của cáchành vi xâm phạm quyền nhân thân, đòi hỏi phải có thêm những biện pháp, nhữngcông cụ bảo vệ đặc trưng cho lĩnh vực quyền nhân thân nói chung và từng quyềnnhân thân cụ thể nói riêng Ví dụ: đăng tải quyết định của Tòa án về hành vi xâmphạm; ngăn chặn hành vi xâm phạm hoặc có nguy cơ xâm phạm quyền nhân thân;tịch thu, tiêu hủy những vật thểmàtrên đó thể hiện hành vi xâm phạm quyền nhânthân; Trong đó, việc áp dụng các chế tài bảo vệ, khôi phục quyền nhân thân được

áp dụng không phụ thuộc vàoyếutố lỗi của người có hành vi xâmphạm

4 Về trình tự sắp xếp các quyền nhân thân trong Mục 2 của Chương 3trong Dự thảo Trình tự các quyền nhân thân như trong Dự thảo hiện naydường như chưa bảo đảm tính logic và hệ thống, không rõ được ý tưởng củacác nhà làm luật, qua đó là ảnh hưởng đến việc viêc xác định cấu trúc pháp lýcũng như nội dung của từng quyền nhân thân Như đã đề cập ở trên, việcphân loại các quyền nhân thân có thể được thực hiện theo nhiều tiêu chí khácnhau Tuy nhiên, việc luận chứng cho tính ưu việt, nổi trội của một tiêu chínhất định và sắp xếp trình tự các quyền nhân trong BLDS theo tiêu chí đó làmột điều không tưởng Nhìn chung,mỗicách phân loại đều có những ưu việt vàhạn chế nhất định, trong đó giữa các cách phân loại có nhiều sự trùng lặp hơn

là sự khác biệt Điều này được lý giải bởi đặc tính của quyền nhân thân làchúng có mối liên hệ nhất định với nhau, tạo nên tổng thể những bản chất cánhân -xã hội củamộtcon người cụ thể Xuất phát từ việc xác địnhmộttrongnhữngmụcđích cụ thể của việc phân loại là để hình thànhmộttrật tự, sắp xếpmột cách logic và hệ thống các quyền nhân thân trong BLDS,mộttrong nhữngquan điểm phân loại được cho là phù hợp có thể sử dụng ở đây làquan

điểm cho rằng hệ thống các quyền nhân thân được cấu trúc theo hai cấp độ.32

32

Xem: Понятие и система личных, не связанных с имущественными прав граждан (физических лиц)

в гражданском праве Российской Федерации, Tема диссертации и автореферата по ВАК 12.00.03,

Trang 33

Cấp độ thứ nhất bao gồm các quyền nhân thân bảo đảm cho sự tồn tại vềmặtvật chấtcủa cá nhân, cụ thể: quyền sống; quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sứckhỏe, thân thể; quyền hiên, nhậnmô,bộ phận cơ thể, hiến xác; quyền xác định lại giớitính; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được bảo đảm an toàn đời sống riêng

tư, bímậtcá nhân; Cấp độ thứ hai bao gồm các quyền nhân thân bảo đảm cho sựtồn tại xã hội của một cá nhân, cụ thể: quyền đối với họ, tên; quyền đối với danh dự,nhân phẩm,uytín; quyền đối với hình ảnh; quyền tự do đi lại, cư trú… Cách phânloại như trên dựa trên cơ sởmốiliên hệmậtthiết của các giá trị nhân thân với cá nhân,các giá trị nhân thân này thể hiện tính độc đáo của từng cá nhân và do đó các thể hóa

cá nhân đó trongmọiloại quanh ệ

5 Về giới hạn thực thi quyền nhân thân Đặc trưng của việc thực thiquyền nhân thân là ở chỗ pháp luật không qui định những giới hạn cho việcthực thi quyền nhân thânmàchỉ đặt ra những ranh giới ngăn chặn sự can thiệpcủa những người thứ ba đối với lĩnh vực cá nhân của một con người Như đãphân tích ở trên, việc thực hiệnquyềnnhân không bị giới hạn trong những hành

vi cụ thể được liệt kê trong điều luật tương ứng Tuy nhiên, có một giới hạnchung nhất đối với việc thực thi các quyền nhân thân: không ai được lạm dụngquyền nhân thân của mình để xâm phạm tới lợi ích của nhà nước, lợi ích cộngđồng, quyền và lợi ich hợp pháp của người khác Mọi người có nghĩa vụ tôntrọng quyền nhân thân của người khác Điều này đã được ghi nhận tại Điều 26BLDS 1995 Tuy nhiên, điều này lại không được thể hiện trong BLDS 2005

và trong Dự thảo sửa đổi Việc không đưa ra những nguyên tắc, giới hạnchung của việc thực hiện quyền nhân thân như trên dẫn tới tính thiếu kháiquát của các quy định, đồng thời lại làm cho nội dungmộtsố điều luật trở nên

“cồng kềnh” thêm với việc nhắc lại đâu đó về nguyên tắc này trong từng quy

việcđặttên,sửdụ ng bídanh,bútdanh khôngđược tr ái vớiđạođứcxã hội,

доктор юридических наук Красавчикова, Л О Научная библиотека диссертаций и авторефератов (disserCat http://www.dissercat.com/content/ponyatie-i-sistema-lichnykh-ne-svyazannykh-s- imushchestvennymi-prav-grazhdan-fizicheskikh-li#ixzz3TmVd0SFa)

Trang 34

thuần phong mỹ tục, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặclợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc (k.3 Điều 31); cấm lạm dụng việc xác định lại dântộc để hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước (k5 Điều 33); khôngaiđược xâmphạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâmphạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích quốc gia, dân tộc (k.2 Điều44) Trong khi tại các điều luật về các quyền nhân thân khác thì lại không có nhữnggiới hạnn à y

Các quy định về quyền nhân thân trong Dự thảo BLDS đã thể hiện mongmuốn của các nhà lập pháp cũng như toàn thể xã hội nói chung trong việc nâng caomột cách đáng kể trình độ và tính hiệu quả đối với việc bảo hộ các giá trị nhân thâncủa cá nhân Hy vọng rằng những ý kiến, đánh giá sẽ được ghi nhận và tiếp thu để

Dự thảo tiếp tục được hoànthiện

Trân trọng cảm ơn các quý vị đại biểu!

Trang 35

NỘI DUNG Bối cảnh, tiến trình và kết quả góp ý của các tổ chức nhân dân với dự thảo BLDS sửa đổi từ tháng 6/2014 đến nay.

Những góp ý đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục xem xét.

Một số góp ý mới trong các Hội thảo ngày 11.12.2014 tại Hà Nội và ngày 4/2/2015 tại TP.HCM.

Kháiquáttiếntrìnhvàkếtquảgópýcủa cáctổchứcxãhộivớiDựthảoBLDSsửađổi, trong

khuôn khổ Dự án GIG

PGS TS Vũ Công

Giao

Hà Nội, 17/3/2015

Trang 36

I Bối cảnh, tiến trình và kết quả

Các quyền dân sự

Quyền dân sự (nhân thân và tài sản) là nhóm quyền lớn nhất trong pháp luật nhân quyền (quốc tế và quốc gia)

Quyền dân sự được thể hiện tập trung trong nhiều công ước quốc tế về nhân quyền (ICCPR, ICESCR, CRC, CEDAW, CRPD…) mà Việt Nam đã tham gia

Hiến pháp 2013 có nhiều sửa đổi, bổ sung về chế định quyền con người, quyền công dân, trong đó đặc biệt là về các quyền dân sự - đặt ra yêu cầu phải làm mới và sửa đổi nhiều bộ luật, đạo luật, trong đó bao gồm BLDS 2005

Trang 37

Các quyền dân sự trong Hiến pháp 2013 và BLDS 2005

Theo nghĩa rộng, hầu hết quyền trong Chương II Hiến pháp 2013 thuộc về nhóm quyền dân sự (xem slide sau).

BLDS 2005 quy định 26 quyền nhân thân (Mục 2 Chương III) (xem slide sau) và các phần riêng về quyền sở hữu, quyền thừa kế, quyền sử dụng đất, quyền về khoa học công nghệ… Một số quyền tỏ ra chưa tương thích với quy định của HP 2013 và các tiêu chuẩn liên quan của luật nhân quyền quốc tế, nên được xem xét sửa đổi.

Ngày đăng: 03/12/2017, 14:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w