Trước thời kỳ đổi mới, Việt Nam mang hình thức kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp. Điều đó làm trì trệ nền kinh tế vì đây là một mô hình hành chính áp đặt vào đời sống. Dưới áp lực của chuyên chính, có thể các thể chế của kinh tế thị trường và các hình thức bên ngoài của các loại hình hình tế tư nhân có thể bị xoá bỏ xong bản thân tiến trình nội sinh của kinh tế thị trường lại không bị xoá bỏ.Nghĩa là mầm mống kinh tế tư nhân vẫn sinh sôi, nảy nở, nó là nền tảng kinh tế thị trường và kinh tế thị trường là bộ máy kinh tế cần thiết, tất yếu của sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế.Chính vì thế trong quá trình chuyển từ một nền kinh tế chậm phát triển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì phát triển kinh tế nhiều thành phần là một chính sách đúng đắn, đặc biệt sự phát triển thành phần kinh tế tư nhân là một mục tiêu quan trọng, ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu thành phần kinh tế. Vì vậy, Đại hội VII Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quyết định đổi mới nền kinh tế nhằm đưa kinh tế thoát khỏi trạng thái suy thoái, bế tắc và khủng hoảng, điều cơ bản là thay đổi trong phương thức, mô hình phát triển kinh tế. Đồng thời thấy được sự sai lầm trong việc xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần và thành phần kinh tế tư nhân bởi vì xét cho cùng chuyển sang nền kinh tế thị trường tức là chuyển sang tiến trình kinh tế trong đó kinh tế tư nhân là nền tảng và rốt cuộc là thừa nhận quy luật tổng quát của sự phát triển: quy luật tăng thêm của giá trị.
Trang 2Trước thời kỳ đổi mới, Việt Nam mang hình thức kinh tế kế hoạch hoátập trung bao cấp Điều đó làm trì trệ nền kinh tế vì đây là một mô hình hànhchính áp đặt vào đời sống Dưới áp lực của chuyên chính, có thể các thể chếcủa kinh tế thị trường và các hình thức bên ngoài của các loại hình hình tế tưnhân có thể bị xoá bỏ xong bản thân tiến trình nội sinh của kinh tế thị trườnglại không bị xoá bỏ.Nghĩa là mầm mống kinh tế tư nhân vẫn sinh sôi, nảy
nở, nó là nền tảng kinh tế thị trường và kinh tế thị trường là bộ máy kinh tếcần thiết, tất yếu của sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế.Chính vì thếtrong quá trình chuyển từ một nền kinh tế chậm phát triển sang kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì phát triển kinh tế nhiềuthành phần là một chính sách đúng đắn, đặc biệt sự phát triển thành phầnkinh tế tư nhân là một mục tiêu quan trọng, ngày càng chiếm một vị trí quantrọng trong cơ cấu thành phần kinh tế Vì vậy, Đại hội VII Đảng Cộng SảnViệt Nam đã quyết định đổi mới nền kinh tế nhằm đưa kinh tế thoát khỏitrạng thái suy thoái, bế tắc và khủng hoảng, điều cơ bản là thay đổi trongphương thức, mô hình phát triển kinh tế Đồng thời thấy được sự sai lầmtrong việc xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần và thành phần kinh tế tưnhân bởi vì xét cho cùng chuyển sang nền kinh tế thị trường tức là chuyểnsang tiến trình kinh tế trong đó kinh tế tư nhân là nền tảng và rốt cuộc làthừa nhận quy luật tổng quát của sự phát triển: quy luật tăng thêm của giá trị.Đối với sinh viên chúng ta việc học tập, nghiên cứu khoa học, thực tiễnđời sống là rất cần thiết Tôi chọn đề tài này vì để có một cái nhìn tổng quát,toàn diện nền kinh tế đất nước Ngoài ra còn thấy vấn đề: “Đổi mới cơ chế,chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân là một vấn đề đáng quantâm” là một vấn đề đáng quan tâm Ngoài ra, chúng ta với cương vị là nhữngngười chủ tương lai của đấy nước tiếp nhận và mở mang thêm nhiều kiếnthức, rút ra những kinh nghiệm, hiểu rõ những ưu điểm và sai lầm, yếu kém
mà thực tế kinh tế Việt Nam đang còn nhiều vấn đề nan giải Để rồi chúng tathực hiện mục tiêu, định hướng phát triển: xây dựng nước ta thành một nước
có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần hợp lý,thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển để phát triển một nền kinh tế vững chắc
Trang 3NỘI DUNG CHÍNH I.Sự cần thiết đổi mới cơ chế chính sách để thúc đẩy phát triển kinh
tế tư nhân.
1.Khái niệm kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là một trong sáu thành phần kinh tế của nước ta hiệnnay: kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, kinh tế tậpthể phát triển với nhiều hình thức trong đó hợp tác xã là nòng cốt, kinh tế cáthể và tiểu chủ ở cả nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài, kinh
tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngànhnghề nào pháp luật không cấm, kinh tế tư bản nhà nước phát triển đa dạngdưới nhiều hình thức liên kết, liên doanh; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàiđược tạo môi trường phát triển thuận lợi Như vậy kinh tế tư nhân là bộ phậncấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường của Việt Nam, góp phầnthực hiện công nghiệp hoá đất nước ( Báo cáo chính trị của ban chấp hànhtrung ương Đảng khoá VIII tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX củaĐảng )
Trước những năm 1980, ở nước ta kinh tế tư nhân không được khuyếnkhích phát triển và là đối tượng cải tạo xã hội chủ nghĩa theo kiểu mệnh lệnhhành chính Trong thời gian này, nền kinh tế nước ta chỉ có hai hình thứckinh tế chính: kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Kinh tế cá thể, kinh tế giađình và kinh tế tiểu chủ tồn tại chủ yếu dưới dạng phụ thuộc vào kinh tế tậpthể và kinh tế nhà nước, còn kinh tế tư bản tư nhân hoặc đã chuyển thànhkinh tế tập thể, hoặc kinh tế nhà nước hay công ty hợp doanh
Kể từ khi thực hiện các chính sách đổi mới kinh tế, nhất là từ sau đại hộiđại biểu toàn quốc lần VI của Đảng(1986), kinh tế tư nhân đã đuợc hồi sinhtrở lại và mở rộng qui mô, phạm vi hoạt động khá nhanh chóng
Nhìn một cách tổng quát, khu vực kinh tế tư nhân như đã trình bày ở trênbao gồm các hình thức kinh tế sau đây:
Kinh tế cá thể: được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đìnhhay một cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệusản xuất và lao động của chính hộ hay cá nhân đó, không thuê mướn laođộnh làm thuê
Kinh tế tiểu chủ: là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý
và điều hành; hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và
có sử dụng lao động thuê mướn ngoài lao động của chủ, qui mô vốn đầu
Trang 4tư và lao động nhỏ hơn của các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công tytrách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Kinh tế tư bản tư nhân: bao gồm các công tỷtách nhiệm hữu hạn,doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần được thành lập theoluật doanhnghiệp tư nhân, luật công ty
Như vậy kinh tế tư nhân là một khái niệm hình thành từ hoạt động thựctiễn gắn liền với tiến trình cải tạo xã hội chủ nghĩa những loại hình kinh tếphi xã hội chủ nghĩa.Trong điều kiện của kinh tế tư bản cổ điển, sự xác lậpcủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện ra ở sự xác lậpcủa kinh tế tư bản tư nhân, và sự thắng lợi của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
là sự xác lập và thắng lợi của hệ thống kinh doanh tư bản chủ nghĩa với cácchủ thể tư bản tư nhân Ở đây, có thể nói tư bản tư nhân là đại biểu kinh tếcủa kinh tế hàng hoá phát triển, của phương thức sản xuất tư bản côngnghiệp, là hình thái kinh tế dặc trưng quyết định của kinh tế công nghiệpphát triển cổ điển Điều này có nghĩa là quá trình tiến hoá của kinh tế thịtrường dẫn đến kinh tế tư bản tư nhân với các chủ thể là các nhà tư bản tưnhân
Đại hội VI(12-1986) Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quyết định đổi mớinền kinh tế Công cuộc đổi mới này đã dược trực tiếp đặt ra nhằm đưa nềnkinh tế thoát khỏi trạng thái suy thoái, bế tắc và khủng hoảng, điều cơ bản làthay đổi trong phương thức , mô hình phát triển kinh tế Thực chất của sựđổi mới kinh tế là chuyển sang kinh tế thi trường định hướng xã hội chủnghĩa Và xét cho cùng chuyển sang nền kinh tế thị trường tức là chuyểnsang tiến trình kinh tế trong đó kinh tế tư nhân là nền tảngvà rốt cuộc là thừanhận quy luật tổng quát của sự phát triển: qui luật tăng thêm giá trị
2.Vai trò lịch sử kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển kinh tế
“Kinh tế tư nhân với tư cách là những “mảnh” của các phương thức sảnxuất trước chủ nghĩa xã hội sẽ còn chung sống với các “mảnh” xã hội chủnghĩa mới được khai sinh và lớn dần lên trong một xã hội quá độ lên chủnghĩa xã hội” (Mac_LêNin) Kinh tế tư nhân với những mặt mạnh và mặtyếu của chúng đang ngày càng được quan tâm, phát triển.Kinh tế tư nhân cơthể kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực trọng trong nền kinh tế, ngoại trừmột số ít lĩnh vực mà nhà nước giữ độc quyền nhằm đảm bảo an ninh-quốcphòng Sự phát triển của kinh tế tư nhân có vai trò lớn trong quá trình pháttriển kinh tế thị trường, dã và đang tiếp tục có những đóng góp tích cựctrong việc: góp phần quan trọng để tạo ra thành tựu tăng trưởng kinh tếchung, đổi mới bộ mặt kinh tế-xã hội, tạo ranhiều sản phẩm và dịch vụ cho
Trang 5xã hội Ngoài ra nó còn là lĩnh vực chính thu hút nhiều lao động xã hội vàhuy động các nguồn vốn trong dân cư vào phát triển kinh tế.
Mặt mạnh chủ yếu của khu vực kinh tế tư nhân là có động lực cá nhânmạnh mẽ, mà với nó hoạt động kih doanh diễn ra năng động, nhanh chóngđổi mới, hệ thống điều hành và quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả và chi phí thấp.Lợi ích cá nhân là một động lực mạnh mẽ của con người, tồn tại lâu dài.Việc sử dụng động lực đó phục vụ cho lợi ích chung của xã hội là việc làmcần thiết và khôn ngoan nhẩttong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nướcta
2.1.Kinh tế tư nhân và vấn đề bóc lột giá trị thặng dư.
Xuất phát từ quan niệm cho rằng kinh tế tư nhân gắn liền với bóc lột, qui
mô kinh tế nhỏ thì bóc lột ít, qui mô kinh tế lớn thì bóc lột nhiều nên mộtthời kinh tế tư nhân không được khuyến khích phát triển, là đối tượng cải tạo
xã hội chủ nghĩa để từng bứơc thu hẹp và xoá bỏ khu vực kinh tế này
Cùng với quá trình đổi mới, các chính sách đối với kinh tế tư nhân đãthay đổi khá căn bản: kinh tế hộ gia đình và kinh tế cá thể đựơc khuyếnkhích phát triển, kinh tế tư bản tư nhân mặc dù đã tuyên bố được phát triểnbình đẳng với các thành phần kinh tế khác, xong trong nhận thức lý luận củacác cấp hoạch dịnh chính sách trên thực tế còn nhiều quan điểm chưa nhấtquán Ít nhất có bốn quan điểm khác nhau về vị trí của kinh tế tư nhân trongnền kinh tế và thái độ ứng xử với kinh tế tư nhân như sau:
Coi kinh tế tư nhân gắn liền với bóc lột, vì vậy phải cải tạo, thuhẹp và từng bước xoá bỏ Đây là quan diểm đã từngchiếm vị trí thống trịtrong nhiều năm trước đây
Coi kinh tế cá thể và tiểu chủ là không có bóc lột nên có thểkhuyến khích phát triển, còn kinh tế tư bản tư nhân là có bác lột nên cóthể tạm thời chấp nhận trong một giai đoạn nào đó, xong về lâu dài phảigiới hạn sự phát triển
Coi kinh tế tư nhân là bộ phận cần thiết có vai trò và vị trí quantrọng trong cơ cấu kinh tế và có mối liên kết bổ sung hài hoà với kinh tếnhà nước trong quá trìng phát triển lâu dài của nền kinh tế
Coi kinh tế tư nhân là bộ phận chính, là động lực chủ yếu của nềnkinh tế quốc dân, quyết định rất lớn đến hiệu quả cũng như sự phát triểnchung của nền kinh tế Tronh khi đó kinh tế nhà nước đóng vai trò hỗtrợ, chỉ làm nhữnh gì mà kinh tế tư nhân không muốn làm hoặc làmkhông hiệu quả
Trang 62.2.Kinh tế tư nhân và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, các chính sách và biện pháp kinh
tế xã hội của Đảng và nhà nước phải nhằm tạo lập môi trường kinh tế mới,thích hợp trong đó mọi cá nhân có thể phát huy tài năng cuă mình làm giàucho bản thân và cho đất nước
Việc chấp nhận quan hệ trao đổi hàng hoá sức lao động và chấp nhận sụphân phối chưa cân bằng là phù hợp với qui luật của kinh tế thị trường- dùđiều này xét về mặt luân lý và đạo đức là điều mà chúng ta không mongmuốn
Tuy nhiên, nhà nước xã hội chủ nghĩa với quyền điều hành nền kinh tếcủa mình có thể có những chính sách làm hạn chế mức độ chênh lệch về thunhập và về sự bóc lột sức lao động Trong quan hệ mua bán sức lao động,nhà nước thông qua luật lao động : tiền lương, giờ làm việc, điều kiện antoàn lao động, vệ sinh lao động… Tương tự như vậy trong quan hệ phânphối và phân phối lại thu nhập Nhà nước hoàn có thể thông qua việc xácđịnh thể chế thuê mướn lao động, hợp đồng tiền lương, trả công lao động…
để trả lại một phần giá trị thặng dư cho người lao động đã tạo ra nó Nhưvậy, trong xã hội xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa chủ và nghười làm thuê
đã được nhà nước qui định và giám sát Đó là chưa kể vai trò kiểm tra, kiểmsoát của các tổ chức như Đảng, Công Đoàn, Nữ Công…đối với hoạt độngcủa giới chủ và người lao động
Tất cả những điều trêncho thấy giữa các doanh nghiệp tư bản tư nhântrong nền kinh tế thị trường tư bản chủ chủ nghĩa có sự khác nhau căn bản
Vì thế sẽ là không thoả đáng nếu cứ xem các doanh nghiệp tư bản tư nhânhàng ngày, hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản và do đó là đối tượng cải tạo củachủ nghĩa xã hội Ngược lại, các hình thức kinh tế tư bản tư nhân sẽ có đónggóp quan trọng, lâu dài vào sự nghiệp phát triển kinh tế theo cơ chế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Là một nước đi theo chủ nghĩa xã hội, Trung Quốc luôn quan tâm đến sựphát triển của kinh tế tư nhân.Thực vậy, trong nhiều năm qua mặc dù chỉ là
bộ phận mang tính chất bổ sung, xong kinh tế tư nhân ở Trung Quốc đã cóvai trò, tác dụng và hiệu quả to lớn làm tăng trưởng mạnh mẽ nền kinh tếquốc dân, đồng thời còn góp phần mở ra một môi trường tốt đẹp cho việckhai thác, phát triển thị trường và thúc đẩy kinh tế công hữu nhanh chónghoà nhập vào nền kinh tế thị trường Kinh tế tư nhân phát triển đã hình thànhnên những quan niệm mới về kinh tế thị trường Kinh tế tư nhân phát triển
đã dần có sự liên kết chặt chẽ với nền kinh tế thị trường, tạo môi trường vật
Trang 7chất và xã hội rộng lớn, đưa quan niệm kinh tế thị trường đi sâu vào đờisống hiện đại Do đó, nó là tiền đề đưa yếu tố thị trường vào lĩnh vực tưtưởng và hoạt động kinh tế trong giai đoạn hiện nay Kinh tế tư nhân còn làchủ thể tự nhiêncủa kinh tế thị trường, là nòng cốt của kinh tế thị trường.Mặt khác kinh tế tư nhân không ngừng bổ sung để hoàn thiện cơ cấu thịtrường, hoàn thiện thị trường hàng hoá và thị trường sức lao động, khắcphục những khiếm khuyết của thị trường Và kinh tế tư nhân có vai trò bổsung cần thiết không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường dịnh hướng xãhội chủ nghĩa.
3.Đặc điểm kinh tế tư nhân
Một đặc điểm nổi bật của kinh tế tư nhân là: kinh tế cá thể, kinh tế tiểuchủ thuộc kinh tế tư nhân nhìn chung nhỏ bé Sản xuất kinh doanh phần lớnchỉ là tái sản xuất giản đơn, khả năng tích luỹ, mở rộng thành doanh nghiệpqui mô lớn là khó khăn Xong, nó đóng vai trò quan trọng trong viẹc giảiquyết việc làm, huy động nguồn lực nhỏ phân tán trong dân cư….Nhữngdoanh nghiệp có mức vốn ít chiếm số lượng nhiều Năm 1992, với số lượng1.498.601 cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ đã sử dụng 2.577.611 lao động vàhuy động 14.400 tỷ đồng vốn, tạo ra 16.529 tỷ dồng doanh thu, tính bìnhquân một cơ sở sản xuất kinh doamh có 9 triệu đồng tiền vốn, sử dụng 1,7lao động, tạo ra 11 triệu đồng doanh thu Năm 1996, số lượng 2.215.000 cơ
sở nhưng qui mô bình quân của một cơ sở hầu như không đổi so với bìnhquân chung năm 1995 ( vốn kinh doanh 11 triệu đồng, lao dộng 1,9 người,doanh thu 17 triệu đồng ) Như vậy, một cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể,tiểu chủ ở nước ta về qui mô có những đặc điểm: vốn sản suất kinh doanhkhoảng 11 triệu đồng, sử dụng 3,3 lao động (kể cả chủ) ở nông thôn và 6,3lao động ở thành phố (1996) Doanh thu hàng năm khoảng 18 triệuđồng….Có thể những số liệu trên chưa phản ánh đầy đủ, nhưng cũng chothấy phần nào thực trạng qui mô vốn, lao động, doanh thu….của loại hình cáthể tiểu chủ ở nước ta, nhìn chung là nhỏ bé Nó không phải là loại hình kinh
tế chủ yếu để làm giầu, nhưng lại cần thiết cho bước quá độ sang nền kinh tếthị trường ở nước ta hiện nay nhất là trong phát triển sản xuất, hình thànhcác chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ và đội ngũ lao động cho nền kinh tế thịtrường Về tốc độ tăng trưởng và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân với
số lượng không đều: Các loại hình kinh tế cá thể, tiểu chủ cũng không đều,tăng cao vào năm 1994 với mức tăng 60% so với năm 1993, nhưng các nămtiếp théôc tốc độ tăng giảm dần, đạt bình quân khoảng 37%/năm ( 1994-
1997 ), giảm còn 4%/năm(1998) Xét về só lượng cơ sở sản xuất kinh doanhthì các doanh nghiệp tư bản tư nhân có tốc độ gia tăng mạnh và cao hơn sovới các loại hình kinh tế cá thể, tiểu chủ khoảng gần 3 lần Kinh tế tư nhân
Trang 8được đánh giá là có tốc độ phát triển khá nhanh và cao hơn so với tốc độphát triển của khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể nhưng kém hơn sovới khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Mức tăng trưởng của khu vựckinh tế ngoài quốc doanh trong ngành công nghiệp giai đoạn 1990-1995khoảng 11% nhưng bắt đầu từ năm 1997 có biểu hiện suy giảm xuống còn9% và năm 1998 còn 6,7%, năm 1999 còn giảm mạnh hơn Bình quân chungmức tăng trưởng của toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân được đánh giá làkhoảng 10% hàng năm, cao hơn khu vự kinh tế nhà nước nhưng thấp hơnkhu vực có vốn đầu tư nước ngoài Nhờ có tốc độ phát triển và tăng trưởngnhanh nên khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp ngày càng quan trọng vàoGDP của nền kinh tế: từ 102.468 tỷ đồng năm 1995 đã tăng lên 151.388 tỷđồng năm 1998, chiếm tỷ trọng 41,06% GDP Như vậy, toàn bộ khu vựckinh tế tư nhân(kể cả lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư, nghiệp) là đóng góprất đáng kể của toàn bộ khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân ởnước ta trong thời kì đổi mới.
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là tốc độ phát triển của khu vực kinh tế cáthể, tiểu chủ và tư bản tư nhân cũng như toàn bộ nền kinh tế nước ta đã códấu hiệu chững lại vào năm 1997 sau một thời gian phát triển có thể nói làkhá ngoạn mục Điều này thể hiện qua tốc độ tăng trưởng GDP của từng loạihình kinh tế nói riêng và cả nền kinh tế nói chung Sự suy giảm của khu vựckinh tế tư nhân một mặt là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khuvực, đây được coi là nguyên nhân trực tiếp trước mắt, còn nguyên nhân sâu
xa bên trong lại do cơ chế chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước tỏ ra chưaphù hợp với đòi hỏi của khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời do những hạnchế về năng lực nội tại của bản thân khu vực kinh tế tư nhân
II.Cơ sở thực tiễn nhằm đổi mới cơ chế chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.
1.Những kết quả đạt được của khu vực kinh tế tư nhân
Kể từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(tháng 12/1986) và nhất là
kể từ năm 1990 khi nhà nước ban hành luật công ty và luật doanh nghiệp tưnhân có hiệu lực từ năm 1991 thì kinh tế tư nhân đã được chú ý và có điềukiện phát triển Nếu như năm 1991 có 494 doanh nghiệp tư nhân, công tytrách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thì đến năm 1995 đã có 15276 doannghiệp và đến năm 1999 số doanh nghiệp được thành lập đã lên đến 30500doanh nghiệp, tăng gấp 74 lần so với năm 1991, tính bình quân giai đoạn1991-1999 mỗi năm tăng 3388 doanh nghiệp Đến năm 2000 là năm áp dụngluật doanh nghiệp mới( trên cơ sở hợp nhất luật công ty và luật doanhnghiệp có sửa đổi) ban hành ngày 12/6/1999 và có hiệu lực từ 1/1/2000, số
Trang 9doanh nghiệp đăng ký thành lập trong năm là 14443 với tổng số vốn đầu tư
là 24000 tỷ đồng chiếm 16% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội Nhà nướckhông phải bận tâm về vốn kinh doanh của khu vực tư nhân vì họ tự chịutrách nhiệm trước pháp luật, trước toà án và với đối tác hợp đồng làm ăn của
họ Ngoài ra, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân trongnhững năm qua đã góp phần thực hiện có kết quả mục tiêu huy động tiềmlực vốn trong nước để thúc đẩyphát triển kinh tế
Tính đến cuối năm 1996, kinh tế tư bản tư nhân đã huy động lượng vốnđầu tư vào sản xuất kinh doanh gần 21000 tỷ đồng Theo báo cáo của bộ tàichính, vốn điều lệ của các doanh nghiệp này đã tăng từ 70,5 tỷ đồng năm
1991 lên gần 12000 tỷ đồng vào cuối năm 1996 Chỉ tính riêng thành phố HồChí Minh, đến tháng 6/1996 đã có 7260 doanh nghiệp tư bản tư nhân đượccấp giấy phép kinh doanh với số vốn pháp định là 6927 tỷ đồng Trong thời
kì 1991-1996, bình quân mỗi năm vốn kinh doanh của kinh tế tư bản tư nhântăng thêm 3940 tỷ đồng, chiếm khoảng 5% tổng số vốn đầu tư của toàn xãhội
Kinh tế tư nhân đã tạo ra việc làm, toàn dụng lao động xã hội Thực vậy,
sự phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta trong thời gian qua đã đóng góp phầnquan trọng vào việc giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao động.Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là lực lượng tham giatích cực và có hiệu quả đối với vấn đề giải quyết việc làm Tính đến năm
1996 đã giải quyết việc làm cho 4.700.742 lao động, chiếm gần 70% lựclượng lao đọng xã hội trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp Xét ở góc độgiải quyết việc làm thì đây là khu vực có tỷ lệ thu hút lao động trên vốn đầu
tư cao nhất trong nền kinh tế Nếu như khu vực có vốn đầu tư nước ngoài làkhu vực có sự tăng trưởng mạnh, trong thời gian qua đã thu hút được
208000 lao động, thì riêng kinh tế tư bản tư nhân năm1996 đã giải quyếtviệc làm cho 370742 lao động Mặt khác doanh nghiệp tư bản tư nhân cònthu hút 20 lao động trên một tỷ đồng tiền vốn, kinh tế cá thể thu hút 165 laođộng trên 1 tỷ dồng tiền vốn Những con số này tuy so với hơn 30 triệu laođộng nước ta không nhiều nhưng rất có ý nghĩa đối với việc phát triển kinh
tế, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân lao động Trong khi đódoanh nghiệp nhà nước chỉ thu hút được 11,5 lao động trên 1 tỷ đồng tiềnvốn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thu hút được 1,7 lao động trên
1 tỷ đồng tiền vốn Riêng các doanh nghiệp tư bản tư nhân trong 5năm(1991-1996) tuy số vốn huy động chưa lớn nhưng bình quân mỗi nămgiải quyết thêm khoảng 72020 việc làm, năm 1996 cả nước có 336146 ngườiđang trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệmhữu hạn, công ty cổ phần Năm 1997 là 428009 lao động, năm 1998vào
Trang 10khoảng 497480 lao động ( tăng 16,2% so với năm 1997) chiếm 1,3% tổng sốlao động toàn xã hội Riêng khu vực hộ gia đình nông dân, năm1995 đã thuhút 30.820.224 lao động, chiếm 88,93% lao động xã hội Nếu gộp với 1,3%
số lao động trong khu vực doanh nghiệp tư bản tư nhân thì tốngr số lao độngthuộc kinh tế tư nhân chiếm 90,1% tổng số lao động toàn xã hội(khu vựcnhà nước chỉ giải quyết việc làm cho khoảng 9% tổng số lao động xã hội vàkhu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 0,67% tổng lao động toàn xã hội) Qua
đó ta càng thấy rõ đay là một khu vực kinh tế có vai trò thực sự quan trọngtrong việc tạo việc làm cho lao động xã hội cả ở hiện tại và trong tương lai.Đồng thời, các doanh nghiệp tư bản tư nhân đã tạo ra thu nhập ổn định chongười lao động trong khu vực này Ở thành phố Hồ Chí Minh, thu nhập củangười lao động trong các doanh nghiệp tư nhân khoảng 500.000 đến 600.000đồng/1 tháng, ở Hà Nội là 400.000 đến 500.000 đồng/1tháng
Kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng trong GDP và thúc đẩy tăngtrưỏng nền kinh tế Phát triển kinh tế tư bản tư nhân đã tạo thêm nguồn thucho ngân sách nhà nước
Bên cạnh mục tiêu cơ bản là huy động tiềm năng về vốn và giải quyếtviệc làm cho lao động xã hội, khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tưbản tư nhân còn đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm xã hội Năm 1995,khu vực tư nhân đóng góp 43,50% GDP, trong đó hộ gia đình và nông dânchiếm tỷ trọng 35,95% GDP, khối tư bản tư nhân chiếm 7,5%GDP Mặc dùcác năm 1996,1997 có sự giảm sút nhưng năm 1998 khu vực này vẫn chiếm
tỷ trọng 41,1%GDP, trong đó: hộ gia đình và nông dân chiếm 33,6%GDP,khu vực tư bản tư nhân chiếm trên 50%GDP cả nước Nhờ vậy, khu vựckinh tế nhà nước và đầu tư nước ngoài thúc đẩy nền kinh tế nước ta đạt tốc
đọ tăng trưởng cao trên 8%/năm liên tục trong giai đoạn 1992-1997, và đỉnhcao đạt 9,5% vào năm1995
Không chỉ đóng góp lớn vào tổng sản phẩm quốc nội và thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân còn góp phần quan trọng tăng nguồnthu ngân sách nhà nước, góp phần giải quyết nhiều vấn đề kinh tế, xã hội đặt
ra Nguồn thu ngân sách từ các doanh nghiệp tư bản tư nhân đã tăng lênđáng kể trong những năm qua từ 51 tỷ đồng năm 1991 lên 1475 tỷ đồng năm
1996 Nếu năm 1990 khu vực kinh tế ngoài quốc doanh( không kể kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài) nộp ngân sách (qua thu thuế) là 969 tỷ đồng chiếm2,3%GDP, thì đến năm 1998 đã tăng lên 11086 tỷ đồng chiếm 3,5%GDP,tính ra bình quân hàng năm khu vực ngoài quốc doanh đóng góp vào nguồnthu ngân sách trên dưới 3%GDP của cả nước, cao gấp trên 3 lần đóng gópcủa khu vực liên doanh với nước ngoài( 0,9%GDP/năm) và gần bằng mộtnửa đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước vào nguồn thu ngân sách nhà
Trang 11nước hàng năm( khoảng 7%GDP/năm) Tính riêng các doanh nghiệp tư bản
tư nhân: năm 1991 đóng góp cho ngân sách nhà nước được 51 tỷ đồng, năm
1996 tăng lên 1457 tỷ đồng(tăng gần 300 lần) Tại thành phố Hồ Chí Minh,trong những năm 1995-1996 khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đóng gópkhoảng 50% ngân sách địa phương Thực tế cho thấy địa phương nào chú ýkhuyến khích phát triển khu vực kinh tế này đều tự cân đối được ngân sách.Tuy so với khu vực kinh tế nhà nước, tỷ trọng của kinh tế tư bản tư nhântrong tổng thu ngân sách nhà nước còn thấp xong khu vực kinh tế tư nhân đã
và đang có những đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách và tăng tiềm lựccho nền kinh tế
Thực hiện mục tiêu lớn nhất của Đảng và nhà nước ta là: “lấy việc giảiphóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoàicho công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, năng cao hiệu quả kinh tế và xãhội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việckhuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức kinhdoanh”, huy động sức mạnh tổng lực của nền kinh tế cho phát triển đất nước,xây dựng nước Việt Nam “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủvăn minh”, thì chính sách phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản
tư nhân những năm qua đã góp phần thực hiện có kết quả mục tiêu đó Nhìnmột cách tổng thể, sự hồi sinh và phát triển của khu vực kinh tế tư nhântrong những năm đổi mới vừa qua đã mang lại nhiều kết quả kinh tế xã hội
to lớn, mà nổi bật là:
1.1.Khơi dậy và phát huy tiềm năng của một bộ phận lớn dân cư tham gia vào công cuộc phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm.
Kinh tế tư nhân đã huy động mọi nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế cáthể, tiểu chủ tuy qui mô nhỏ nhưng với số lụơng cơ sở sản xuất kinh doanhlớn nên đã động viên được nhiều nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh: từ14000tỷ đồng năm 1992 đã tăng lên 26500 tỷ đồng vào năm 1996, chiếm tới8,5% tổng vốn đầu tư sản xuất của toàn xã hội Ta thấy được sự tăng lên củavốn đầu tư và qui mô của nó Các doanh nghiệp tư bản tư nhân đã huy độngđược lượng vốn vào kinh doanh là 20.665 tỷ đồng(tình đến hết năm 1996),bình quân mỗi năm trong giai đoạn 1991- 1996 tăng thêm 3940 tỷ đồng,chiếm khoảng 5% tổng số vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội và 6,9% vốnkinh doanh của các ngành Tính đến thời điểm năm 1996, khu vực kinh tế tưnhân đã huy động được tổng lượng vốn lên đến 47155 tỷ đồng, chiếm tới15% tổng số vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội Mặc dù trong nhữn nămđổi mới vừa qua với chính sách mở cửa, kêu gọi đầu tư nước ngoài của nhànước đã thu hút thêm nguồn vốn FDI ngày một tăng( từ 13,7% tổng số vốn
Trang 12đầu tư phát triển của nhà nước năm 1990 lên đến trên 35% năm 1998) nhưngkhu vực kinh tế tư nhân trong nước vẫn đóng góp lượng vốn đầu tư pháttriển rất đáng kể cho nền kinh tế: 49% tổng lượng vốn đầu tư toàn xã hộinăm 1990 và trên 21% năm 1998, tức là chiếm trên 1/5 tổng lượng vốn đầu
tư toàn xã hội-là một tỷ trọng không nhỏ
1.2.Kinh tế tư nhân đã thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường, tạo sự cạnh tranh trong nền kinh tế, tăng qui mô của kim ngạch xuất khẩu.
Trứơc đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành sản xuất kinh doanh…đều do kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đảm nhận Hiện nay, trừ một sốlĩnh vực, ngành nghề mà nhà nước độc quyền, kinh tế tư nhân không đượckinh doanh, còn lại hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanhkhác thì khu vực kinh tế tư nhân đều tham gia Trong đó nhiều lĩnh vực,ngành nghề khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuấtlương thực, thực phẩm;nuôi trồng hải sản, đánh cá; lâm nghiệp, hàng hoábán lẻ; chế biến; sành sứ; giầy dép….Lĩnh vực sản xuất lương thực đặc biệt
là xuất khẩu gạo và các sản phẩm nông nghiệp, thuỷ hải sản, lĩnh vực dệtmay, thủ công mỹ nghệ xuất khẩu…đã mang về hàng tỷ đô la ngoại tệ chonền kinh tế,trong đó có đóng góp to lớn của kinh tế tư nhân Chính sự pháttriển phonh phú, đa dạng các cơ sở sản xuất, các ngành nghề, các loại sảnphẩm dịch vụ, các hình thức kinh doanh…của khu vực kinh tế tư nhân đã tácđộng mạnh mẽ đến các doanh nghiệp nhà nước buộc các doanh nghiệp nàhnước phải cải tổ, sắp xếp lại để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường.Qua đó, khu vực kinh tế tư nhân đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các khu vựckinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động; đồng thời cũng tạo nên sức
ép lớn buộc cơ chế quản lý hành chính của nhà nước phải đổi mới đáp ứngyêu cầu đòi hỏi của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế thị trường nóichung Như vậy, phát triển kinh tế tư bản tư nhân sẽ tăng cường lực lượngkinh tế dân tộc và cùng với các thành phần kinh tế khác, đặc biệt với kinh tếnhà nước tạo thế và lực làm đói trọng với tư bản nước ngoài trong việc bảođảm sự phát triển dộc lập của nền kinh tế Đến nay đã có 59 doanh nghiệp tưnhân và công ty trách nhiệm hữư hạn, công ty cổ phần là đối tác trong liêndoanh với nước ngoài có số vốn đầu tư theo giấy phép gần 146 triệu USD.Một số doanh nghiệp đã và đang chuẩn bị phương án liên doanh với nhànước Sự phát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng trong việchình thành và xác lập vai trò, vị trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theoyêu cầu của cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thúcđẩy cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách cơ chế quản lý theo hướng thịtrường, mở cửa hợp tác với bên ngoài
Trang 13Không những thế, kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng thúc đẩy sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng qui mô của kim ngạch xuất khẩu Sự pháttriển của kinh tế tư nhân đã khơi dậy nhiều ngành nghề truyền thống trongcác ngành, vùng địa phương, đã tạo ra nhiều chủng loại đa dạng, phong phú
và cung cấp nhiều hơn hàng hoá phục vụ xuất khẩu Chỉ tính riêng năm
2000, con số thống kê của tổng cục hải quan, kinh ngạch xuất nhập khẩu đãtăng khá: xuất khẩu đạt 2,851 tỷ USD, nhập khẩu đạt 3,336 tỷ USD Thôngqua việc mở rộng sản xuất, năng cao sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp
ở khu vực kinh tế tư nhân trong điều kiện kinh tế đất nước ngày càng thamgia đầy đủ hơn vào quá trình hội nhập với khu vực và thế giới, giúp cho việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra mạnh mẽ hơn Những ngành sản phẩm cókhả năng cạnh tranh, khai thác được lợi thế so sánh ở các vùng, miền đựơcchú trọng phát triển Nhờ đó khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nói chungcũng được tăng lên, các nguồn lực đầu tư cho phát triển được khai thác cóhiệu quả hơn Từ đó xuất hiện các cơ sở kinh doanh điển hình làm ăn giỏi,đời sống người lao động ngày càng được nâng lên, giải quyết nhiều chỗ việclàm cho xã hội
1.3.Bên cạnh đó, qua thực tiễn ta thấy kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dịch vụ, trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng, trong các ngành nghề và các vùng kinh
tế đất nước.
Trong nông nghiệp, nếu như năm 1990 số lượng các hộ cá thể có khoảngtrên 9,4 triệu hộ thì đến năm 1995 đã lên tới 11.974.595 hộ hoạt động trêngần 9000 xã trong khắp 7 vùng simh thái Trong đó số hộ nông nghiệpchiếm 79,58%, hộ lâm nghiệp chiếm 0,15%, hộ thuỷ sản chiếm 1,92%, hộcông nghiệp chiếm 1,34%, hộ dịch vụ chiếm 1,18%, còn lại là các hộ khác.Trong số các hộ đó, nhóm hộ nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất(79,58%),nếu hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng thì con số này còn lớn hơn nữa Nhưvậy, trong lĩnh vực nông nghiệp số hộ tư nhân, cá thể chiếm tỷ trọng lớn81,65% Đay thực sự là một lực lượng kinh tế mạnh thể hiện: chỉ trong thờigian ngắn, các hộ nông dân đã mua sắm rất nhiều trang thiết bị hiện đại, tăngcường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp lên một bước Cũng chủtrong một thời gian không lâu, theo báo cáo của bộ nông nghiệp và pháttriển nông thôn thì nông dân nước ta đã bỏ vốn lập trên 110000 trang trại,trong đó riêng các tỉnh phía Bắc là 67000 trang trại Trang trại là các tổ chứckinh tế nằm trong khu vực kinh tế tư nhân nhằm đưa sản xuất nông nghiệplên sản xuất hàng hoá, chủ trang trại bỏ vốn ra kinh doanh Các trang trại đãtạo ra một lượng hàng hoá lớn, trung bình một trang trại cung cấp một lượnggiá trị hàng hoá 91,449 triệu đồng, trong đó tỷ trọng hàng hoá là 86,74%.Số
Trang 14hàng hoá này chủ yếu là nông sản, hải sản, một số nhỏ là sản phẩm chănnuôi Kinh tế trang traị đã thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam lênkinh tế hàng hoá, giải quyết nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập chongười lao động( kinh tế trang trại đã tạo ra việc cho 60 vạn lao động)…nhưng quan trọng hơn cả là kinh tế trang trại đã dưa vào lối làm ăn mớitrong nông nghiệp mà cơ chế của thời bao cấp đã dẹp bỏ Vởy có thể nóikinh tế tư nhân trong nông nghiệp thời gian qua đã góp phần xứng đáng vàothành tích của ngành nông nghiệp nói chung, tạo ra gần 1/4 tổng sản lượngcủa Việt Nam, và 30% kim ngạch hàng xuất khẩu Nếu như năm1990 nôngnghiệp chiếm 32% GDP thì năm 1999 nông nghiệp chiếm tỷ trọng là 24%GDP.
Trong lĩnh vực công nghiệp thì kinh tế tư nhân đã thâm nhập mạnh mẽvào lĩnh vực công nghiệp Toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân trong côngnghiệp đã đưa phần đóng góp vào sản lượng công nghiệp cả nước từ 37%năm 1990 lên 58% năm 2000, trong đó có đóng góp quan trọng nhất là cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí và côngnghiệp chế tạo Khu vực kinh tế tư nhân trong nước, mà đặc biệt là cácdoanh nghiệp hộ gia đình có vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực côngnghiệp chế tạo Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong công nghiệp sẽ còntăng hơn nữa vì những đổi mới trong thể chế rất mạnh với những bộ luật mới
ra đời từ 1998 dến nay, nhất là luật doanh nghiệp ra đời năm1999, luật đầu
tư nước ngoài được sửa đổi với những thuận lợi mới cho các nhà đầu tư.Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, sự phát triển của kinh tế
tư nhân trong hoạt động công nghiệp cũng phát triển rất mạnh và đóng góplớn vào kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng Trongnhững năm gần đây, trong nông thôn cả nước có khoảng 18% đến 20% số hộnông dân tham gia hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, trong đó một nửa làhoạt động trong lĩnh vực kinh tế tư nhân Theo các báo cáo thì khu vực tưnhân trong nông thôn cả nước hiện có 24000 doanh nghiệp và tổ hợp sảnxuất kinh doanh, trong đó có khoảng 33% là các doanh nghiệp tổ hợp tưnhân trong lĩnh vực công nghệp và tiểu thủ công nghiệp
Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ: Đây là lĩnh vực kinh tế tư nhânhoạt động sôi nổi, ngày càng lấn át khu vực quốc doanh Số lượng tăng lênnhanh chóng: năm1986 có 56,8 vạn hộ, năm 1987 đã là 64 vạn hộ, năm 1988
là 71,9 vạn hộ, năm 1989 là 81,1 vạn hộ và 16 vạn hộ kinh doanh khôngchuyên nghiệp, năm1995 là 94 vạn hộ Về mặt số lượng và cơ cấu: ngày1/1/1995 số hộ cá thể trong cả nước là 1882798 hộ Số lượng các hộ phân bốkhông đều, tập trung nhiều ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng,thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…Về lao động: lĩnh vực dịch vụ và