Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Làm rõ thực trạng đào tạo nghề trên các mặt: quy mô đào tạo, cơ cấu đào tạo, chất lượng đào tạo, tìm ra những bất cập hiện nay về đào tạo nghề ở thành phố Đà Nẵng, đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm phát triển công tác đào tạo nghề cho người lao động ở thành phố Đà Nẵng.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nguồn lực con người là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của mỗiquốc gia Điều đó bắt nguồn từ vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển.Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu mà nếu thiếu một trong hai điều kiện đó
sẽ không có sự phát triển Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi lợi thế sự phát triểnđang chuyển dần từ yếu tố tài nguyên thiên nhiên dồi dào, giá nhân công rẻ sangnguồn nhân lực ổn định và có chất lượng
Nước ta là nước kinh tế đang phát triển, các nguồn tài nguyên thiên nhiên
không nhiều vì vậy Đảng ta xác định phải "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững" với mục tiêu "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" (Văn kiện đại hội VIII, Nxb chính
trị Quốc gia) Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với đào tạo nghề là phải tạo ra được độingũ lao động kỹ thuật đủ về số lượng, mạnh về chất lượng
Thành phố Đà Nẵng được xác định là một trong những trung tâm kinh tế, vănhóa, khoa học và công nghệ của miền Trung và cả nước với mức tăng trưởng kinh
tế liên tục và khá ổn định gắn liền với các mặt tiến bộ trong đời sống xã hội, cơ sở
hạ tầng phát triển, đô thị được chỉnh trang… Thành phố Đà Nẵng đã và đang quantâm phát triển đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của thành phố.Trong quá trình học tập, nghiên cứu ở trường cùng với thời gian thực tập ở Sở
Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Nẵng em đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề của các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng” nhằm vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn phát triển công tác
đào tạo nguồn nhân lực nói chung và đào tạo nghề cho người lao động thành phố ĐàNẵng nói riêng
* Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ thực trạng đào tạo nghề trên các mặt: quy mô đào tạo, cơ cấu đào tạo,chất lượng đào tạo, tìm ra những bất cập hiện nay về đào tạo nghề ở thành phố ĐàNẵng
- Đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm phát triển công tác đào tạo nghềcho người lao động ở thành phố Đà Nẵng
* Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Trên cơ sở đánh giá chung về tình hình kinh tế - xã hội, lao động thành phố
Đà Nẵng đề tài đi sâu nghiên cứu đào tạo nghề cho người lao động
Trang 2- Phạm vi nghiên cứu tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận và sự cần thiếtđào tạo nghề; phân tích đánh giá thực trạng đào tạo nghề trong những năm qua từ
đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát triển công tác đào tạo nghề cho ngườilao động ở thành phố Đà Nẵng
* Phương pháp nghiên cứu: Thông qua các phương pháp thống kê, khảo sát,
phân tích tổng hợp… để nghiên cứu đề tài
* Kết cấu chuyên đề gồm 3 phần:
Phần I: Khái quát chung về hoạt động đào tạo nghề
Phần II: Thực trạng hệ thống đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Phần III: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề tại thành
phố Đà Nẵng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
PHẦN 1 9
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ 9
I KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ 9
1 Khái niệm đào tạo nghề 9
1.1 Khái niệm đào tạo 9
1.2 Khái niệm nghề 9
1.3 Khái niệm đào tạo nghề 9
2 Phân loại đào tạo nghề 10
3 Tầm quan trọng của hoạt động đào tạo nghề 10
4 Các hình thức đào tạo nghề 11
4.1 Các trường chính quy 11
4.2 Các trung tâm dạy nghề 11
4.3 Các lớp cạnh doanh nghiệp 12
4.4 Kèm cặp trong sản xuất 12
II CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ 12 1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở đào tạo nghề 12
2 Giáo viên đào tạo nghề 13
3 Nhận thức của xã hội về đào tạo nghề 13
4 Các chính sách của Nhà nước liên quan đến đào tạo nghề 14
III CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGHỀ 14
IV KINH NGHIỆM ĐÀO TẠO NGHỀ Ở MỘT SỐ NƯỚC 15
1 Kinh nghiệm của Nhật Bản 15
Trang 42 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 16
3 Kinh nghiệm của Singapore 17
4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 17
4.1 Những điểm tương đồng 17
4.2 Những điều khác biệt 18
PHẦN 2 19
THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 19
I MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 19
1 Đặc điểm tự nhiên 19
1.1 Vị trí địa lý 19
1.2 Địa hình 19
1.3 Khí hậu 19
1.4 Tài nguyên 19
2 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng 21
3 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 21
4 Đặc điểm về lao động 23
II THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 24
1 Tình hình tuyển sinh đào tạo nghề 24
2 Việc làm của người lao động sau đào tạo nghề 24
3 Thực trạng phát triển cơ sở đào tạo nghề 25
4 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho đào tạo nghề.26 5 Thực trạng cơ cấu ngành nghề được đào tạo 27
6 Thực trạng về xây dựng chương trình, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo nghề 28
6.1 Thực trạng xây dựng chương trình đào tạo nghề 28
6.2 Thực trạng xây dựng giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo nghề 28
7 Thực trạng đội ngũ giáo viên đào tạo nghề 29
Trang 58 Thực trạng về chất lượng đào tạo nghề 31
9 Công tác tổ chức, quản lý 32
III ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO NGHỀ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG NHỮNG NĂM QUA 32
IV NHẬN XÉT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 33
1 Thành công 33
2 Hạn chế 34
V DỰ BÁO NHU CẦU NGÀNH NGHỀ VÀ LAO ĐỘNG QUA ĐÀO TẠO NGHỀ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG 5 NĂM TỚI 35
1 Dự báo nhu cầu ngành nghề 35
2 Dự báo lao động qua đào tạo nghề 37
PHẦN 3 39
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 39
I QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG, MỤC TIÊU CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ 39
1 Một số quan điểm chủ đạo 39
1.1 Nâng cao vai trò đào tạo nghề 39
1.2 Xã hội hoá đào tạo nghề 39
1.3 Đào tạo gắn với sử dụng 40
1.4 Tăng cường ngân sách cho đào tạo nghề 40
2 Phương hướng 40
3 Mục tiêu đào tạo nghề 40
3.1 Mục tiêu chung 41
3.2 Mục tiêu cụ thể từng giai đoạn 41
II MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 42
1 Cần nhanh chóng sắp xếp, bố trí các cơ sở đào tạo nghề 42
2 Xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên đào tạo nghề 42
3 Phát triển, đổi mới nội dung và hình thức đào tạo 43
Trang 64 Tăng cường nguồn lực về tài chính 43
5 Giải pháp về chính sách quản lý Nhà nước 44
6 Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo nghề 45
7 Đẩy mạnh hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp 46
III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 46
KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- UBND : Ủy ban nhân dân
- HĐND : Hội đồng nhân dân
- LĐ - TB&XH : Lao động - Thương binh và Xã hội
- KT - XH : Kinh tế - xã hội
- THCS : Trung học cơ sở
- PTCS : Phổ thông cơ sở
- THPT : Trung học phổ thông
- CNKT : Công nhân kỹ thuật
- CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
- GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
- KHKT : Khoa học kỹ thuật
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng1: Lực lượng lao động thành phố Đà Nẵng từ năm 2001 - 2009
Bảng 2: Quy mô tuyển sinh đào tạo nghề tại Đà Nẵng từ năm 2005 - 2010Bảng 3: Số lượng cơ sở đào tạo nghề thành phố Đà Nẵng (31/12/2010)
Bảng 4: Cơ sở vật chất, giá trị đầu tư trang thiết bị của cơ sở đào tạo nghề năm2010
Bảng 5: Cán bộ công nhân viên chức đào tạo nghề thành phố Đà Nẵng năm2010
Trang 9PHẦN 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ
I KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ.
1 Khái niệm đào tạo nghề.
1.1 Khái niệm đào tạo.
Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt cáckiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thựchiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết
Như vậy đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chomỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất.Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành
vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ có khả năng đáp ứng được tiêuchuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn
1.2 Khái niệm nghề.
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, conngười có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chấthay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sảnxuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ranhững giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinhthần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiệnsinh tồn và phát triển của xã hội
Trình độ lành nghề: Trình độ lành nghề của người lao động thể hiện ở chấtlượng lao động Nó thể hiện ở sự hiểu biết lý thuyết, kỹ thuật sản xuất và kỹ thuậtlao động để hoàn thành công việc có trình độ phức tạp nhất định thuộc một nghềnghiệp, một chuyên môn nào đó Trình độ lành nghề biểu hiện ở tiêu chuẩn cấp bậc
kỹ thuật (với công nhân) và ở tiêu chuẩn nghiệp vụ đảm nhận công việc được giao(với cán bộ chuyên môn) Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật và tiêu chuẩn nghiệp vụ doNhà nước qui định
1.3 Khái niệm đào tạo nghề.
Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹnăng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai Đào tạonghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau Đó là:
Trang 10- Dạy nghề: là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết vàthực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thànhthục nhất định về nghề nghiệp.
- Học nghề: là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành củangười lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định
2 Phân loại đào tạo nghề.
Đào tạo nghề cho người lao động bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo lại nghề,đào tạo nghề bổ sung
- Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những ngườiđến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi lao độngtrước đó chưa được học nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm lao động quađào tạo nghề cho xã hội
- Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên mônnhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấungành nghề, trình độ chuyên môn Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợpvới cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới
- Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóakiến thức còn thiếu, hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹnăng nghề nghiệp theo từng chuyên đề và thường được xác định bằng một chứngchỉ hay nâng lên bậc cao hơn
3 Tầm quan trọng của hoạt động đào tạo nghề.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với con đường phát triển côngnghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước, để phát triển kinh tế thì chúng tacần phát huy và tận dụng rất nhiều nguồn lực như: nguồn lực tự nhiên, nguồn nhânlực, vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật - công nghệ tiên tiến hiện đại… Cùng với khoahọc kĩ thuật - công nghệ và nguồn vốn thì nguồn nhân lực đóng vai trò quyết địnhđến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội (KT - XH) ởnước ta Phát triển nhân lực đảm bảo cả về số lượng và chất lượng là động lực quantrọng để phát triển KT - XH, nâng cao năng lực cạnh tranh của nước ta trong tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế
Đào tạo nguồn nhân lực đòi hỏi phải có chuyên môn, trình độ mới đáp ứngđược nhu cầu của doanh nghiệp, đáp ứng được đòi hỏi mà những biến đổi đếnchóng mặt của nền kinh tế và quá trình phát triển công nghệ đặt ra Việc phát triểnnguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng sự nghiệp CNH - HĐH đất nước là mộtchiến lược quốc gia trong toàn bộ chiến lược phát triển GD&ĐT
Trang 11Trong công tác GD&ĐT, hoạt động đào tạo nghề được xem như là một trongnhững quốc sách hàng đầu để đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, đủ sứctiếp thu và làm chủ khoa học công nghệ, đi tắt đón đầu, tạo tiền đề để bứt phá rútngắn quá trình CNH - HĐH đất nước Hệ thống đào tạo nghề cung cấp một lượnglớn lao động có tay nghề, có trình độ, kỹ năng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.Như vậy, đào tạo nghề cho lao động để có được nguồn nhân lực chất lượng cao làlợi thế trong thu hút đầu tư và phát triển KT - XH của địa phương.
4 Các hình thức đào tạo nghề.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch đào tạo là xác định cáchình thức đào tạo thích hợp Hình thức đào tạo là cơ sở để xây dựng kế hoạch đàotạo, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả kinh tế của các hình thức đào tạo,
là so sánh giữa chi phí đào tạo với hiệu quả đem lại sau khi đào tạo Tùy theo yêucầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạokhác Những hình thức đào tạo nghề đang được áp dụng chủ yếu hiện nay là:
4.1 Các trường chính quy.
Đào tạo nghề ở các trường chính quy đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng pháttriển trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, các Bộ hoặc Ngành thường tổ chức các trường dạynghề tập trung với quy mô lớn, đào tạo công nhân có trình độ cao, chủ yếu là đàotạo đội ngũ CNKT, kỹ thuật viên có trình độ cao Thời gian đào tạo từ hai đến bốnnăm tùy theo nghề đào tạo Ra trường được cấp bằng nghề
Khi tổ chức các trường dạy nghề cần phải có bộ máy quản lý, đội ngũ giáoviên chuyên trách và cơ sở vật chất riêng cho đào tạo Để nâng cao chất lượng đàotạo các trường cần phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
+ Phải có đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảngdạy
+ Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập, cácphòng thí nghiệm, xưởng trường Nhà trường cần tổ chức các phân xưởng sản xuấtvừa phục vụ cho giảng dạy vừa sản xuất của cải vật chất thì nên để gần các doanhnghiệp lớn của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho dạy và học Các tài liệu và sáchgiáo khoa phải được biên soạn thống nhất cho các nghề, các trường
4.2 Các trung tâm dạy nghề.
Đây là loại hình đào tạo ngắn hạn, thường dưới 1 năm Chủ yếu là đào tạo phổcập nghề cho thanh niên và người lao động
Hình thức đào tạo này thu hút được nhiều người theo học vì thủ tục xin vàohọc dễ dàng, thời gian học vừa phải, kinh phí hợp lý Có thể mở các lớp ngắn hạn
Trang 12với thời gian, ngành nghề khác nhau một cách linh hoạt Các trung tâm đào tạo nghềthường gắn với giới thiệu việc làm nên cơ hội có việc làm của người học dễ dànghơn sau khi học xong, rất thích ứng với nhu cầu thị trường lao động, nhu cầu ngườihọc, chi phí đầu tư đào tạo không lớn.
4.3 Các lớp cạnh doanh nghiệp.
Các lớp cạnh doanh nghiệp là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm đào tạoriêng cho mình hoặc cho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực Chủ yếu đàotạo nghề cho công nhân mới được tuyển dụng, đào tạo lại nghề, nâng cao tay nghề,chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới
Hình thức đào tạo này không đòi hỏi có đầy đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật riêng,không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào các điều kiện sẵn có của doanh nghiệp.Chương trình đào tạo gồm hai phần: Lý thuyết và thực hành sản xuất Phần lýthuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách Phần thực hànhđược tiến hành ở các phân xưởng do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướngdẫn
4.4 Kèm cặp trong sản xuất.
Kèm cặp trong sản xuất là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, chủ yếu
là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức
Kèm cặp trong sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức: Kèm cặp theo cánhân hoặc kèm cặp theo tổ chức, đội sản xuất Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi thợhọc nghề được một công nhân có trình độ tay nghề cao hướng dẫn Người học nghềvừa sản xuất vừa tiến hành dạy nghề theo kế hoạch Với hình thức kèm cặp theo tổ,đội sản xuất, tổ học nghề được tổ chức thành từng tổ và phân công cho những côngnhân dạy nghề thoát ly sản xuất chuyên trách đảm nhận dạy nghề Những công nhândạy nghề phải có trình độ văn hóa, trình độ nghề nghiệp và phương pháp sư phạmnhất định
II CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ.
1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở đào tạo nghề.
Đây là yếu tố hết sức quan trọng nó tác động trực tiếp lên chất lượng đào tạonghề ứng với mỗi nghề dù đơn giản hay phức tạp cũng cần phải có các máy móc,trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho giảng dạy và học tập Trang thiết bị đào tạonghề giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thành kỹ năng sản xuất.Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo nghề càng tốt, càng hiện đại baonhiêu, theo sát với máy móc phục vụ cho sản xuất bao nhiêu thì người học viên cóthể thích ứng, vận dụng nhanh chóng với sản xuất trong doanh nghiệp bấy nhiêu
Trang 13Chất lượng của các trang thiết bị, cơ sở vật chất đòi hỏi phải theo kịp tốc độđổi mới hiện đại hóa của máy móc thiết bị sản xuất.
Thực chất ở các cơ sở đào tạo nghề ở nước ta hiện nay, cơ sở vật chất trangthiết bị dạy nghề còn rất hạn chế, lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu đào tạonghề Phòng học thiếu thốn nơi thực hành, chỗ nội trú cho học viên Một phần lớncác trang thiết bị trong các cơ sở đào tạo nghề không phải là trang thiết bị phục vụcho công tác đào tạo nghề một cách chính quy, nhiều máy móc được thu nhập lại từnhiều nguồn khác nhau (chủ yếu là thanh lý của các nhà máy, xí nghiệp), do đókhông có tính đồng bộ về hệ thống, tính sư phạm thấp ảnh hưởng đến chất lượngđào tạo nghề Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng tuy công nhân qua đào tạo đápứng được phần nào các công việc của các doanh nghiệp nhưng hầu hết vẫn phải đàotạo lại để nâng cao khả năng thực hành và tiếp cận công nghệ hiện đại của các cơ sởsản xuất
2 Giáo viên đào tạo nghề.
Giáo viên đào tạo nghề là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức kỹ năng,
kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên trên cơ sở thiết bị dạy học Vì vậy,năng lực giáo viên đào tạo nghề tác động trực tiếp lên chất lượng giảng dạy, đào tạonghề
Dạy nghề có những nét khác biệt so với các cấp học khác trong nền giáo dụcquốc dân, đó là ngành nghề đào tạo rất đa dạng, học viên vào học nghề có rất nhiềucấp trình độ văn hóa khác nhau Cấp trình độ đào tạo nghề ở các cơ sở đào tạo nghềcũng rất khác nhau (bán lành nghề, lành nghề, bồi dưỡng nâng bậc thợ) Sự khácbiệt đó làm cho đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng rất đa dạng với nhiều cấp trình độkhác nhau
Năng lực của giáo viên dạy nghề tốt thì mới có thể dạy các học viên được tốtbởi vì các học viên nắm được lý thuyết, bài giảng được học viên tiếp thu nhanh haychậm phụ thuộc rất lớn vào năng lực giáo viên dạy nghề
3 Nhận thức của xã hội về đào tạo nghề.
Nhận thức của xã hội về đào tạo nghề tác động mạnh đến công tác đào tạonghề, ảnh hưởng rõ rệt nhất của nó là tới lượng học viên đầu vào cho các cơ sở đàotạo nghề Nếu mọi người trong xã hội đánh giá được đúng đắn hơn tầm quan trọngcủa việc học nghề thì trước hết lượng lao động tham gia đào tạo nghề sẽ chiếm một
tỷ lệ lớn hơn so với toàn bộ số lao động trên thị trường và sẽ có cơ cấu trẻ hơn, đadạng hơn Hơn nữa, nếu xã hội nhận thức được rằng giỏi nghề là một phẩm chất quýgiá của người lao động, là cơ sở vững chắc để có việc làm và thu nhập ổn định thì
Trang 14công tác đào tạo nghề sẽ nhận thêm nhiều nguồn lực hỗ trợ cần thiết của xã hội đểphát triển mạnh hơn.
Thực tế công tác đào tạo nghề hiện nay vẫn chưa được xã hội nhận thức đầy đủ
và đúng đắn Việc làm chuyển biến nhận thức của từng gia đình và toàn bộ xã hội sẽ
có ý nghĩa quan trọng trong dạy nghề và học nghề Không ít gia đình học sinh coiviệc vào đại học như là con đường duy nhất để tiến thân, kiếm được việc làm nhàn
hạ Nhiều thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn đã cố công đèn sách để thi vàođại học, thậm chí thi lại nhiều lần nhằm thoát ly quê hương nghèo khổ Một ngườithợ bậc cao về làng không một ai biết tới nhưng một “cậu cử” mới ra trường vẫnđược coi là danh giá, nên người Trong con mắt của nhiều người, một người thợ bậccao ở xí nghiệp vẫn không “oai” bằng người lao động ở cơ quan Nhà nước Hơnnữa, một cán bộ Nhà nước tốt nghiệp đại học rất có thể được học lên đến Thạc sỹhoặc Tiến sỹ nhưng người thợ bậc ba, bậc bốn vẫn khó tìm cơ hội để học lên hoặcnâng cao tay nghề Điều này khiến nhiều thanh niên bằng mọi cách để thi vào đạihọc, né tránh đi học nghề, coi việc vào trường nghề là vạn bất đắc dĩ, “chuột chạycùng sào”
4 Các chính sách của Nhà nước liên quan đến đào tạo nghề.
Hệ thống văn bản, pháp luật, chính sách của Nhà nước tạo hành lang pháp lý,môi trường thuận lợi, khuyến khích đào tạo, phát triển nghề Cụ thể ở đây là cácchính sách đối với học viên học nghề, các chế độ chính sách ưu đãi các cơ sở đàotạo nghề, các chính sách về sử dụng học viên sau đào tạo
Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy nhưng các chính sách đào tạo nghề cònrất nhiều hạn chế như:
- Phần lớn các chính sách, chế độ mang tính giải pháp, tình huống
- Một số chính sách đã ban hành đến nay có những điểm không còn phù hợphoặc thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể
III CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGHỀ.
Trong lĩnh vực đào tạo nghề, với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động”
có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở cácphẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề củangười tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệthống đào tạo Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quanniệm về chất lượng đào tạo nghề không chỉ dừng lại ở kết quả của quá trình đào tạotrong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũgiáo viên… mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt
Trang 15nghiệp với thị trường lao động như tỉ lệ có việc làm sau khi tốt nghiệp, năng lựchành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức sảnxuất - dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp… Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằngchất lượng đào tạo nghề trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thểhiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp Quá trình thích ứng với thịtrường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vàocác yếu tố khác của thị trường như quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chínhsách sử dụng bố trí công việc của Nhà nước và người sử dụng lao động… Do đókhả năng thích ứng còn phản ánh cả về hiệu quả đào tạo nghề ngoài xã hội và thịtrường lao động
Chất lượng đào tạo nghề có thể đánh giá trực tiếp qua sản phẩm đào tạo, quachất lượng học sinh tốt nghiệp, tuy nhiên cũng có thể đánh giá gián tiếp thông quacác điều kiện để đảm bảo chất lượng
Đánh giá chất lượng đào tạo qua chất lượng học sinh tốt nghiệp nhiều khimang tính chủ quan của người dạy Mặt khác không thể nói một nhà trường đào tạo
có chất lượng trong khi nhà trường không có những điều kiện tối thiểu để đảm bảochất lượng đào tạo và chương trình đào tạo của nhà trường không phù hợp với yêucầu của sản xuất và của người học Do đó khi đánh giá chất lượng đào tạo cần phảikết hợp cả hai cách đánh giá
Hiện nay để đánh giá chất lượng đào tạo nghề người ta thường căn cứ chủ yếuvào các chỉ tiêu sau:
- Tỉ lệ học sinh khá giỏi so với tổng số
- Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp so với tổng số
- Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp ra trường có việc làm so với tổng số học sinh tốtnghiệp
- Mức độ hài lòng của cơ sở sử dụng đối với học sinh tốt nghiệp làm việc tại
1 Kinh nghiệm của Nhật Bản.
Nhật Bản coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất nước Từđầu thập niên 1980, Nhật Bản đã đề ra mục tiêu: đào tạo những thế hệ mới có tính
Trang 16năng động, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn sâu, có khả năng suy nghĩ và làmviệc độc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới, với
sự tiến bộ không ngừng của khoa học và xu thế cạnh tranh - hợp tác toàn cầu LuậtDạy nghề được ban hành năm 1958, được chỉnh sửa vào năm 1978, hướng vào thiếtlập và duy trì hệ thống huấn luyện nghề nghiệp, bao gồm hệ thống “dạy nghề công”mang tính hướng nghiệp và “dạy nghề được cấp phép” là giáo dục và huấn luyệnnghề cho từng nhóm công nhân trong hãng xưởng do các công ty đảm nhiệm vàđược chính quyền công nhận là dạy nghề Các hình thức huấn luyện nghề gồm:
“dạy nghề cơ bản” cho giới trẻ mới ra trường; “dạy tái phát triển khả năng nghềnghiệp” chủ yếu cho những công nhân không có việc làm; và “nâng cao tay nghề”cho công nhân đang làm việc trong các hãng xưởng Những thay đổi về cấu trúc KT
- XH, sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tác động đến nhiều lĩnhvực và nội dung huấn luyện làm mở rộng khung dạy nghề truyền thống Kết quả làđến năm 1985, Luật Dạy nghề được chỉnh sửa và đổi tên thành Luật Khuyến khíchPhát triển Nguồn nhân lực và cụm từ “phát triển nguồn nhân lực” được dùng để chỉquan niệm mới về dạy nghề Hiện nay, Nhật Bản thực hiện phát triển nguồn nhânlực theo một hệ thống huấn luyện suốt đời
2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc.
Hàn quốc là một nước có hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt nhưng đã biết vươnmình từ một nước rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, GDP/đầu người 90,9 đô-lanăm 1962 trở thành một quốc gia có nền kinh tế hùng hậu đứng thứ 11 trên thế giớivới GDP/đầu người đạt 22.029 đô-la năm 2005 Bí quyết của Hàn Quốc là dựa vàophát triển nguồn nhân lực trong một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên để phát triểnkinh tế Giáo dục là nhân tố chủ yếu để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cácchính sách về giáo dục luôn được xây dựng phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế.Chính phủ Hàn Quốc đưa ra một chiến lược tham gia toàn diện vào quá trình toàncầu hóa vào giữa thập kỷ 1990, mà quan trọng nhất là hệ thống giáo dục phải đượccải thiện triệt để, để đào tạo một số lượng đủ những công dân trẻ, sáng tạo và dámlàm, những nhà lãnh đạo tương lai của đất nước Trong bản báo cáo của Chính phủ
về giáo dục mang tên “Hình ảnh Hàn Quốc trong Thế kỷ 21” đã khẳng định:
“GD&ĐT phải hướng đến mục tiêu bồi dưỡng tính sáng tạo, tinh thần kỷ luật tựgiác, tính cạnh tranh, phát triển khả năng và nhân cách bảo vệ, phát huy sức mạnh, ýchí dân tộc, năng lực trí tuệ của người Hàn Quốc lên những trình độ cao nhất, đưaHàn Quốc trở thành một quốc gia có vai trò chủ chốt trong các vấn đề của thế giới”.Trong những năm gần đây, tỷ lệ ngân sách chi cho GD&ĐT ở Hàn Quốc luôn ởmức 18 - 20% Hướng tới tương lai đó là mục tiêu của nền giáo dục Hàn Quốc hiệnđại Cùng với sự phát triển kinh tế, người dân Hàn Quốc đang cố gắng tạo ra nhữngđiều kiện tốt nhất có thể cho việc đào tạo thế hệ trẻ
Trang 173 Kinh nghiệm của Singapore.
Ngay từ khi mới thành lập, Singapore đã đề ra chính sách phát triển giáo dục,đào tạo và chủ trương là xây dựng nền giáo dục mang nét đặc trưng của dân tộc.Chính phủ Singapore luôn coi việc khai thác và sử dụng nguồn lực là nội dung quantrọng của chiến lược phát triển kinh tế Nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu đã nói:
“Biến tài năng trời phú của một dân tộc thành kỹ năng chuyên môn là nhân tố trọngđại quyết định thành tựu phát triển đất nước” Vào thập kỷ 1980, ngân sách dànhcho giáo dục của Singapore mỗi năm tăng trung bình khoảng 30% Mức chi choGD&ĐT chỉ đứng thứ hai sau ngân sách quốc phòng, đã vượt qua các nước pháttriển như Mỹ, Nhật Bản… vào thập niên 1990 Việc không ngừng tăng cường đầu
tư cho con người, tích cực thúc đẩy cải cách và điều chỉnh giáo dục chính là nhân tốquan trọng thúc đẩy nền kinh tế Singapore phát triển nhanh chóng
4 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
4.1 Những điểm tương đồng.
Thứ nhất, Việt Nam và các nước trong khu vực đều có điểm xuất phát tươngđối thấp trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Về cơ cấukinh tế, cơ cấu dân số và lao động hiện nay của Việt Nam đang ở vào trình độ củaHàn Quốc và Nhật Bản vào đầu 1960 và của các nước ASEAN vào những năm
1970 - 1980, tức là về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân sốsống ở nông thôn và phần đông lao động vẫn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp;trình độ kỹ thuật - công nghệ của Việt Nam nhìn chung còn rất thấp, về cơ bản vẫnphải dựa chủ yếu vào các ngành sử dụng nhiều lao động có giá trị gia tăng thấpgiống như các nền kinh tế khu vực trong thời kỳ đầu phát triển
Thứ hai, Việt Nam và các nước trong khu vực đều chịu áp lực cao đối với việcphát triển nguồn nhân lực Đối với Việt Nam hiện nay, áp lực đối với việc phát triểnnguồn nhân lực, một mặt xuất phát từ vấn đề lao động - việc làm, mặt khác, từ yêucầu của quá trình CNH - HĐH và hội nhập với nền kinh tế thế giới
Thứ ba, Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Á đều có những thuận lợi
cơ bản để phát triển nguồn nhân lực thông qua GD&ĐT, đó là: đều chịu ảnh hưởngcủa nền văn hóa Nho giáo, với truyền thống coi trọng giáo dục, coi trọng nền tảnggia đình vững chắc, coi con người là vốn quý nhất; cần cù lao động, chịu khó; hamhọc hỏi; cầu tiến, có ý chí vươn lên để phát triển; và đặc biệt đều có cơ cấu dân sốtương đối trẻ Điều này tạo thuận lợi cho quá trình học tập và đào tạo, tiếp thu kiếnthức một cách năng động sáng tạo, sớm đưa đất nước hòa nhập vào quỹ đạo pháttriển của nền kinh tế hiện đại
Trang 184.2 Những điều khác biệt.
Những điều khác biệt trong bối cảnh phát triển nguồn nhân lực giữa Việt Namhiện nay với các nước Đông Nam Á trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, bao gồm:
- Áp lực và thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
là cao hơn do sự tụt hậu hơn so với một số nước trong khu vực; sự nhận thức củathế giới về phát triển nguồn nhân lực đã cao hơn trước; công nghệ và tri thức trênthế giới hiện nay đã cao hơn nhiều so với cách đây hơn ba thập kỷ
- Nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đang tập trung ưu tiên cho chiếnlược nguồn nhân lực nên đã gây ra những khó khăn rất lớn trong cạnh tranh để pháttriển và sử dụng nguồn nhân lực Như vậy, áp lực phát triển nguồn nhân lực ở ViệtNam hiện nay không chỉ do các yếu tố chủ quan bên trong như đói nghèo, kém pháttriển… mà còn do các yếu tố từ bên ngoài của trào lưu phát triển nguồn nhân lựcnói chung trên thế giới
Tuy nhiên, xét về toàn cục, sự thuận lợi trong việc phát triển nguồn nhân lực ởViệt Nam hiện nay so với các nước trong khu vực trước đây là lớn hơn Lý do là:thứ nhất, xu thế phát triển của toàn cầu và của nền kinh tế tri thức đã tạo cơ hội lớnhơn trong việc sử dụng tri thức vào mục đích phát triển của quốc gia; thứ hai, hiệuứng lan tỏa kiến thức hiện nay là rất lớn so với trước đây (do sự bùng nổ thông tin,tốc độ xử lý và truyền tải thông tin hiệu quả hơn, cũng như xu hướng mở cửa vàgiao lưu kiến thức giữa các nước ngày càng tăng) Điều này tạo thuận lợi cho ViệtNam trong việc tiếp thu các công nghệ và kinh nghiệm giáo dục từ các nước khác;thứ ba, mặt bằng công nghệ và trí thức cao hơn nên nó vừa là thách thức song cũng
là cơ hội đối với Việt Nam hiện nay
Trang 19PHẦN 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN
1.2 Địa hình.
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi.Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạydài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500 m, độ dốclớn (>400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trườngsinh thái của thành phố
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn,
là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở vàcác khu chức năng của thành phố
1.3 Khí hậu.
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và
ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc vàmiền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đếntháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéodài
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9°C; độ ẩm không khí trung bình là83,4%; lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57mm
1.4 Tài nguyên.
* Tài nguyên khoáng sản:
Đà Nẵng có nhiều tài nguyên khoáng sản như: cát trắng, đá hoa cương (ởNon Nước, nhưng để bảo vệ khu di tích nổi tiếng Ngũ Hành Sơn, loại đá này đã
Trang 20được cấm khai thác), Laterir, vật liệu san lấp, đất sét (trữ lượng khoảng 38 triệu
m3), nước khoáng Đặc biệt, vùng thềm lục địa có nhiều triển vọng về dầu khí
* Tài nguyên rừng:
Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố là 67.148 ha, tập trung chủyếu ở phía Tây và Tây Bắc thành phố, bao gồm 3 loại rừng: rừng đặc dụng(22.745 ha), rừng phòng hộ (20.895 ha), rừng sản xuất (23.508 ha)
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiêncứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch Thiên nhiên đã
ưu đãi ban cho thành phố các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồnthiên nhiên Bà Nà, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và Khu văn hóa lịch sử môitrường Nam Hải Vân
* Tài nguyên nước:
-Biển, bờ biển:
Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởisườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảnglớn và một số cảng chuyên dùng khác; và nằm trên các tuyến đường biển quốc tếnên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ Mặt khác Vịnh Đà Nẵng còn lànơi trú đậu tránh bão của các tàu có công suất lớn
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000km2, có các động vậtbiển phong phú trên 266 giống loài Đà Nẵng còn có một bờ biển dài với nhiềubãi tắm đẹp, với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú,có những bãi san hô lớn,thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển.Ngoài ra, vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt
- Sông ngòi, ao hồ:
Sông ngòi của thành phố Đà Nẵng đều bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắcthành phố và tỉnh Quảng Nam Hầu hết các sông ở Đà Nẵng đều ngắn và dốc Có
2 sông chính là Sông Hàn và sông Cu Đê Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn
có các sông: Sông Vĩnh Điện, sông Túy Loan, sông Phú Lộc Thành phố còn cóhơn 546 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản
* Tài nguyên đất:
Với diện tích 1.255,53km2, thành phố có các loại đất khác nhau: cồn cát vàđất cát ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất mùn đỏ vàng Trong1.255,53km2 diện tích, chia theo loại đất có: đất lâm nghiệp (514,21km2), đấtnông nghiệp (117,22km2), đất chuyên dùng (sử dụng cho mục đích công nghiệp,
Trang 21xây dựng, thủy lợi, kho bãi, quân sự :385,69km2), đất ở (30,79km2), đất chưa sửdụng, sông, núi (207,62km2).
Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy ngang qua thành phố Đà Nẵng có chiều dàikhoảng 30km, với các ga Đà Nẵng, Thanh Khê, Kim Liên, Hải Vân Nam Trong
đó, ga Đà Nẵng là một trong những ga lớn của Việt Nam
Nằm ở trung độ cả nước, vấn đề giao thông đường biển của thành phố kháthuận lợi Từ đây, có các tuyến đường biển đi đến hầu hết các cảng lớn của ViệtNam và trên thế giới Với 2 cảng hiện có là cảng Tiên Sa và cảng Sông Hàn nằm ở
vị trí khá thuận lợi, trang thiết bị hiện đại và một đội ngũ công nhân lành nghề,Cảng Đà Nẵng đảm bảo thực hiện tốt việc vận chuyển hàng hóa đến các nơi kháctrên thế giới
Sân bay hàng không quốc tế Đà Nẵng có diện tích là 150 ha (diện tích cả khuvực là 842 ha), với 2 đường băng, mỗi đường dài 3.048m, rộng 45m; có khả năngcho hạ cách các loại máy bay hiện đại như B747, B767, A320
Hệ thống cấp nước và cấp điện cho sinh hoạt cũng như sản xuất đang dầnđược nâng cấp, xây dựng mới để phục vụ ngày càng tốt hơn cho đời sống củangười dân cũng như cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Thông tin liên lạc phát triển mạnh, được hiện đại hóa và trở thành trung tâmlớn thứ ba trong cả nước
3 Đặc điểm về kinh tế - xã hội.
Năm 2010, KT - XH của thành phố Đà Nẵng đã dần ổn định và phát triển.Tổng sản phẩm trong nước - GDP của thành phố ước đạt 10.274 tỷ đồng, tăng11,54% so cùng kỳ năm 2009
Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2010 dự kiến là 10.317 tỷ đồng, đạt128,18% dự toán Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 11.839 tỷ đồng, đạt119,73% dự toán
Sản xuất công nghiệp thành phố năm 2010 có mức tăng trưởng khá, ước tínhgiá trị sản xuất công nghiệp đạt 12.431,33 tỷ đồng, tăng 14,35% so với năm 2009.Giá trị sản xuất công nghiệp Trung ương ước đạt 5093,21 tỷ đồng, tăng 2,78% so
Trang 22với cùng kỳ năm trước Công nghiệp Nhà nước địa phương ước đạt 120,54 tỷ đồng,tăng 8,62 Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt2.605,89 tỷ đồng, tăng 37,69%.
Toàn bộ diện tích gieo trồng cây hằng năm 2010 của thành phố đã thu hoạchxong, năng suất lúa bình quân 56,3 tạ ha/vụ, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,74%.Ước năm 2010, sản lượng khai thác thuỷ sản thực hiện được 35.940 tấn, tăng13,84% so với năm trước Riêng khai thác nước mặn đạt 35.849 tấn; so với kếhoạch đạt 97,05%; so với cùng kỳ năm trước đạt 114%
So với năm 2009, Tổng vốn đầu tư phát triển thực hiện trên địa bàn thành phốnăm 2010 tăng 12,33%, thực hiện 18.936 tỷ đồng, tăng 11,39% so kế hoạch Trongnăm có 19 dự án FDI mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư60,6 triệu USD và 7 dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng số vốn tăng thêm là 60,58triệu USD Nâng tổng số vốn đầu tư cấp mới và tăng vốn lên 121,18 triệu USD Lũy
kế đến nay, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có 180 dự án đầu tư trực tiếp nướcngoài với tổng vốn đăng ký là 2,79 tỷ USD Tổng vốn thực hiện là ước đạt 1,39 tỷUSD
Ước tính năm 2010, doanh thu vận tải, bốc xếp và các dịch vụ, đại lý vận tảiđạt 2.648 tỷ đồng, tăng 24,81% so với cùng kỳ năm trước Sản lượng vận tải hànghóa ước đạt 22.198 nghìn tấn tăng 4,56% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển1.932 triệu T.Km, tăng 2,51% Sản lượng vận tải hành khách ước đạt 25.554 nghìnlượt khách, tăng 20,45%, luân chuyển 870,83 triệu HK.Km, tăng 22,28% Hàng hóathông qua cảng 3.302 nghìn tấn, tăng 4,44% so với năm ngoái
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ ước năm 2010 đạt 30.787 tỷ đồng, tăng14,59% so cùng kỳ năm trước
Chỉ số giá chung tháng 12/2010 so với cùng kỳ năm 2009 tăng 11,63% Tăngcao nhất là giá nhóm giáo dục tăng 27,53%, tiếp đến là nhóm nhà ở, điện nước, chấtđốt và vật liệu xây dựng tăng 17,45%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng16,32%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 14,72% So với cùng kỳ năm trướcgiá hai loại hàng hoá đặc biệt là vàng và đô la Mỹ đều tăng giá khá cao, giá đô latăng 9,04%, giá vàng tăng 29,2% so với cùng kỳ năm 2009
Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 dự ước đạt 631,9 triệu USD, tăng 24,14%.Kim ngạch nhập khẩu 753,55 triệu USD, tăng 15,62% so cùng kỳ năm trước
Năm học 2010-2011, toàn ngành GD&ĐT có 126 trường mầm non, mẫu giáo,nhà trẻ; 99 trường tiểu học; 53 trường THCS và 2 trường PTCS; 19 trường THPT, 1trường PT cấp 1, 2, 3 dân lập
Trang 23Số lượt người khám bệnh năm 2010 ước giảm 27 nghìn lượt so với cùng kỳnăm ngoái, số bệnh nhân nằm điều trị nội trú dự kiến tăng 3 nghìn lượt so với cùng
kỳ Công suất sử dụng giường bệnh chung toàn thành phố là 122,5% cao hơn nămtrước 5,6%
Đầu năm 2010, toàn thành phố có 23.296 hộ nghèo theo tiêu chuẩn của thànhphố, trong năm phát sinh 214 hộ nghèo Tính đến nay đã có 7.610 hộ vươn lên thoátnghèo Số hộ nghèo còn lại đến cuối năm 2010 ước khoảng 15.900 hộ Thành phố
đã mua và cấp 113.803 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người mắc bệnh hiểmnghèo, đồng bào dân tộc thiểu số với tổng kinh phí 41 tỷ đồng; tổ chức dạy nghềmiễn phí cho 559 con em hộ nghèo với kinh phí 1,5 tỷ đồng;
Thành phố đã giải quyết việc làm cho 32.200 lao động trong năm 2010, tổchức 25 phiên chợ việc làm, thu hút được 1.194 lượt đơn vị và 15.600 lượt ngườitham gia phiên chợ Sở LĐ-TB&XH đã thẩm định và cho 1.117 dự án vay, với kinhphí 22,28 tỷ đồng góp phần giải quyết việc làm cho 1.232 lao động
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư thành phố Đà Nẵng.
Năm 2001, lực lượng lao động có 332.471 người, chiếm 45,25% dân số Đếnnăm 2009 có 442.818 người, chiếm 49,14% dân số Tốc độ tăng lực lượng lao độngbình quân giai đoạn 2001 - 2009 là 47,72%, cao hơn tốc độ tăng dân số Trong vòng 10năm qua, lực lượng lao động thành phố tăng thêm 110.347 người, tăng 1,3 lần
Ta có thể thấy được lực lượng lao động của thành phố Đà Nẵng chiếm một tỷ
lệ lớn, gần một nửa dân số Đà Nẵng Đây là nguồn cung lao động và đào tạo chophát triển thành phố
Trang 24II THỰC TRẠNG VỀ HỆ THỐNG ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG.
1 Tình hình tuyển sinh đào tạo nghề.
Đà Nẵng là thành phố có nguồn lao động dồi dào Trong thời gian qua, đặcbiệt là trong những năm gần đây Đà Nẵng đã có nhiều cố gắng trong việc đào tạo vàphát triển nguồn nhân lực
Bảng 2: Quy mô tuyển sinh đào tạo nghề tại Đà Nẵng từ năm 2005 - 2010
Nguồn: Điều tra cơ sở dạy nghề 2010, Sở LĐ - TB&XH Đà Nẵng
Từ năm 2005 đến nay, học sinh học nghề không những tăng về số lượng màchất lượng đầu vào cũng tăng Năm 2005 chỉ tiêu tuyển sinh chỉ là 17.500 ngườinhưng đến năm 2010 đã là 36.782 người Bên cạnh việc xét tuyển, gần đây nhiềutrường dạy nghề tổ chức thi tuyển đầu vào Chất lượng đầu vào của học sinh họcnghề được nâng lên do nhận thức xã hội chuyển biến, do số cơ sở đào tạo nghề, sốngành nghề không ngừng được đầu tư mở rộng, ngân sách Nhà nước hỗ trợ họcnghề cho các đối tượng chính sách xã hội tăng lên, tạo thuận lợi cho học sinh chọntrường, chọn nghề để học…
Như vậy, có thể thấy được quy mô tuyển sinh của các cơ sở đào tạo nghề tạithành phố Đà Nẵng không ngừng tăng lên Nền kinh tế phát triển đòi hỏi phải cómột lượng lớn lao động có tay nghề để phục vụ trong các ngành sản xuất, vì vậyquy mô tuyển sinh đào tạo nghề tăng lên cũng là một thực tế hiển nhiên
Quy mô tuyển sinh đào tạo nghề tăng lên đồng thời đặt ra yêu cầu về việc đầu
tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động đào tạonghề phải phù hợp với quy mô đào tạo để đảm bảo chất lượng đầu ra
2 Việc làm của người lao động sau đào tạo nghề.
Giải quyết việc làm sau đào tạo là một trong những vấn đề rất khó trong cơchế thị trường hiện nay Trong thời gian qua hầu hết các cơ sở đào tạo nghề có rất íthợp đồng đào tạo, bởi các doanh nghiệp muốn tuyển dụng lao động qua đào tạo cósẵn trên thị trường chứ không bỏ vốn đầu tư đào tạo lao động kỹ thuật theo đặthàng Tính đến năm 2010, tỷ lệ công người lao động đã qua đào tạo nghề trên địabàn thành phố Đà Nẵng so với lực lượng lao động thành phố là 30% Như vậy, số