Luận văn Phân tích tình hình vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Nam (19972006) và dự báo đến 2010 gồm các nội dung chính là: Những vấn đề lí luận cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài và đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam, phân tích tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Nam (19972006),...
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Công cuộc đổi mới của nước ta đã trãi qua chặng đường hơn 20 năm Dưới sự lãnhđạo của Đảng và Nhà Nước, với chủ trương thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá,chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên mọi phương diện: kinh tế, văn hoá, chínhtrị, góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt của xã hội
Trong bối cảnh toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, Việt Nam không nằmngoài sự ảnh hưởng đó Công nghiệp hoá là con đường tất yếu để đưa đất nước ta pháttriển Công nghiệp hoá có vai trò hết sức quan trọng được Đảng ta xác định là nhiệm vụtrọng tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thực chất của công nghiệp hoá làđưa nước ta trở thành nước công nghiệp có kỷ thuật công nghệ hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý Vì vậy để Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 thì nhu cầu về vốn chođầu tư phát triển là rất quan trọng và cần thiết Một trong những nguồn để hình thànhnguồn vốn đầu tư đó là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Nghị quyết Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã khẳng định: " kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta , được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ trương quan trọng, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đất nước"
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta nói chung và tỉnh Quảng Nam nóiriêng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng góp phần tích cực vào việc thực hiện nhữngmục tiêu kinh tế - xã hội Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một trong những nguồnvốn quan trọng cho đầu tư phát triển; có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá; mở ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới; nâng caonăng lực quản lý và trình độ công nghệ; mở rộng thị trường xuất khẩu; tạo thêm nhiều việclàm mới; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế thế giới
Với ý nghĩa, tác dụng của đầu tư nước ngoài đến sự phát triển kinh tế - xã hội cả
nước nói chung và Quảng Nam nói riêng; Từ đó chúng tôi chọn đề tài "PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH QUẢNG NAM (1997-2006) VÀ DỰ BÁO ĐẾN 2010".
Trang 2CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH
QUẢNG NAM 1.1 Những vấn đề lí luận cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI):
1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là những khoản đầu tư do các tổ chức kinh doanh
và cá nhân nước ngoài đưa vốn vào một nước để sản xuất kinh doanh hoặc góp vốn liêndoanh với các tổ chức và cá nhân trong nước theo các quy định của luật đầu tư nước ngoàicủa nước sở tại
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đối với mỗi dự án đầu tư, bên nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu Mứcđóng góp tối thiểu là bao nhiêu tuỳ theo qui định của luật đầu tư từng nước Chẳng hạn,luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qui định chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp tốithiểu 30% vốn pháp định của dự án, tỷ lệ này ở Mỹ là 10%
Các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lí và điều hành dự án mà họ bở vốn ra đầu
tư Quyền quản lí doanh nghiệp tuỳ thuộc vào tỉ lệ góp vốn của chủ đầu tư trong vốn phápđịnh của dự án Nếu chủ đầu tư góp 100% vốn trong vốn pháp định thì doanh nghiệp hoàntoàn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và cũng do họ quản lí toàn bộ
Kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh của dự án được phân chia cho các bêntheo tỉ lệ góp vốn vào vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại
1.1.3 Nguyên nhân hình thành vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Có 5 nguyên nhân chủ yếu sau:
Một là, do lợi thế so sánh và trình độ phát triển kinh tế của các nước không giốngnhau dẫn tới chi phí sản xuất ra các sản phẩm khác nhau Cho nên đầu tư nước ngoài nhằmkhai thác lợi thế so sánh của các quốc gia khác, nhằm giảm thiểu chi phí, tăng lợi nhuận.Hai là, do xu hướng giảm dần tỷ suất lợi nhuận của các nước công nghiệp phát triểncùng với lượng dư thừa “tương đối” tư bản của các nước này, cho nên đầu tư ra nước ngoàinhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Ba là, do toàn cầu hoá gia tăng tạo điều kiện thuận lợi về môi trường để các công tyxuyên quốc gia bành trướng mạnh mẽ chiếm lĩnh và chi phối thị trường thế giới
Bốn là, đầu tư ra nước ngoài nhằm nắm được lâu dài và ổn định thị trường, nguồncung cấp, nguyên liệu vật liệu chiến lược với giá rẻ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tếtrong nước
Năm là, do tình hình bất ổn định về chính trị an ninh quốc gia, cũng như nạn thamnhũng hoành hành nhiều khu vực trên thế giới, nạn rửa tiền…cũng là nguyên nhân khiếncho những người có tiền, những nhà đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài nhằm bảo toàn vốn,phòng chống các rủi ro khi có sự cố về kinh tế chính trị xảy ra trong nước
1.1.4 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại ViệtNam
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời tháng 12/1987, kể từ đó đến nay luật dãtrải qua năm lần sửa đổi và luật hiện hành thừa nhận có 4 hình thức đầu tư trực tiếp nướcngoài cơ bản và các hình thức đặc thù khác:
1.1.4.1 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài lập tại Việt Nam, tự
tổ chức quản lí và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình
Đặc điểm:
Trang 3Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, mang tưcách pháp nhân tại Việt Nam.
Vốn pháp định của công ty ít nhất bằng 30% vốn đầu tư, trừ trường hợp đầu tư vàonhững vùng kinh tế khó khăn tỷ lệ này thấp đến 20% vốn pháp định
Trong quá trình hoạt động kinh doanh không được giảm số vốn pháp định, muốntăng vốn pháp định thì phải xin phép
1.1.4.2 Doanh nghiệp liên doanh
Là một doanh nghiệp mới, được thành lập với sự tham gia của một bên là một haynhiều pháp nhân Việt Nam với bên kia là một hay nhiều thành viên nước ngoài
Đặc điểm:
Doanh nghiệp được thành lập theo hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn mang tưcách pháp nhân Việt Nam
Vốn pháp định của liên doanh ít nhất bằng 30% vốn đầu tư, đối với những dự án đầu
tư vốn hạ tầng cơ sở, trồng rừng, đầu tư các vùng kinh tế khó khăn có thể chấp nhận vốnpháp định thấp đến 20% nhưng phải được cơ quan cấp giấy phép chấp nhận
Phần lớn vốn đóng góp của bên nước ngoài không thấp hơn 40% vốn pháp định trừtrường hợp đặc biệt có thể cho phép đến 20%
Tuỳ vào qui mô của vốn đầu tư và lĩnh vực đầu tư mà nhà nước qui định thời hạn đầu
tư khác nhau Thời hạn đầu tư cho phép không quá 50 năm, trong trường hợp đặc biệt cóthể kéo dài đến 70 năm
Tổng giám đốc điều hành liên doanh có thể là người nước ngoài, trong trường hợp đóphó tổng giám đốc thứ nhất là người Việt Nam, thường trú tại Việt Nam
Hội đồng quản trị là cơ quan lãnh đạo của liên doanh, số thành viên của hội đồngquản trị do các bên quyết định, mỗi bên cử một người của mình tham gia Hội đồng quảntrị ứng với phần vốn đóng góp trong vốn pháp định
Lời và lỗ được chia cho mỗi bên căn cứ vào tỉ lệ vốn góp trong vốn pháp định
1.1.4.3 Hình thức doanh nghiệp cổ phần
Nghị định 38/2003 của thủ tướng chính phủ ban hành ngày 15/4/2003 về việc chuyểnđổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động dưới hình thức công ty
cổ phần, trong nghị định này nêu rõ: “ Doanh nghiệp cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều
lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, trong đó các cổ đông sáng lập nắmgiữ ít nhất 30% vốn điều lệ, được tổ chức hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, đượchưởng các bảo đảm của nhà nước Việt Nam và ưu đãi theo luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam”
1.1.4.4 Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Là văn bản được ký kết giữa hai bên hay nhiều bên để cùng nhau tiến hành một hoặcnhiều hoạt động tại nước nhận đầu tư trên cư sử qui định trách nhiệm và phân chia kết quảkinh doanh cho mỗi bên, mà không thành lập một xí nghiệp mới hoặc bất cứ pháp nhânmới nào
Ngoài 4 hình thức cơ bản trên luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam còn qui định thêmcác hình thức đặc thù khác:
- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao(BOT
- Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh(BTO
- Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT):
1.1.5 Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 4Đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quátrình phát triển kinh tế và thương mại ở các nước đi đầu tư lẫn các nước tiếp nhận vốn đầutư.
1.1.5.1 Đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư:
- Giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc sử dụng những lợi thếsản xuất của nơi tiếp nhận đầu tư như giá lao động rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu tạichỗ thấp…, từ đó có thể hạ thấp giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả đầu tư
- Tạo dựng thị trường cung cấp nguyên vật liệu ổn định với giá phải chăng, bởi vì cácnước tiếp nhận đầu tư là các nước đang phát triển thị trường
có nguồn tài nguyên phong phú nhưng do hạn chế về vốn và công nghệ nên chưa đượckhai thác
- Cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trịtrên thị trường quốc tế nhờ mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, lại tránh được hàngrào bảo hộ mậu dịch của các nước nhận đầu tư
- Giúp các chủ đầu tư phân tán rủi ro do tình hình kinh tế chính trị trong nước bất ổnđịnh
- Đầu tư ra nước ngoài giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong nước theo định hướnghiệu quả hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động
- Cơ chế quản lí hoạt động đầu tư mỗi nước khác nhau, sự đầu tư vốn ở nhiều nướcgiúp cho các công ty đa quốc gia có thể thực hiện “chuyển giá” để tránh mức thuế caonhằm tối đa hoá lợi nhuận đầu tư
1.1.5.2 Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư:
a Đối với các nước tư bản phát triển:
- Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội trong nước như thấtnghiệp, lạm phát…
- Việc mua lại những công ty, xí nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện đượctình hình thanh toán, tạo công ăn việc làm mới cho người lao động
- Tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình thanh toán,tạo công ăn việc làm mới cho người lao động
- Tạo ra môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại
- Giúp các nhà doanh nghiệp học hởi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các doanhnghiệp nước khác
b Đối với các nước chậm và đang phát triển
- FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những xí nghiệpmới hoặc tăng qui mô của các đơn vị kinh tế
Thu hút thêm lao động giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở các nước này
- Góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh là động lực kích thích nền kinh tế tăngtrưởng về lượng cũng như về chất
Giúp các nước đang phát triển có điều kiện tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ và kinhnghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài
Tuy nhiên, thực tế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước trên thế giới đãcho thấy những hạn chế sau:
- Việc quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của nước chủ nhà có nhiều khó khăn
do các chủ đầu tư có nhiều kinh nghiệm né tránh sự quản lý của nước chủ nhà Còn nướcchủ nhà thì chưa có nhiều kinh nghiệm, còn nhiên sơ hở trong quản lý hoạt động của các
cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 5- Lợi dụng sự yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong quản lý và trong luật pháp của nướcchủ nhà, tình trạng trốn thuế, gian lận, vi phạm những qui định về bảo vệ môi trường sinhthái và những lợi ích khác của nước chủ nhà thường xảy ra.
- Việc chuyển giao công nghệ còn nhiều hạn chế và tiêu cực, không thực hiện đúngqui định như chuyển giao công nghệ lạc hậu, định giá công nghệ cao hơn mặt bằng giá trênthị trường quốc tế
- Trong số các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có trường hợp vào để hoạt độngtình báo gây rối loạn trật tự an ninh chính trị xã hội
1.1.6 Một số các phương pháp thống kê sử dụng để phân tích
Chuyên đề này sử dụng phương pháp phân tổ để phân tích biến động kết cấu củacác chỉ tiêu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Phân tổ thống kê có thể giải quyết được những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Phân chia loại hình kinh tế xã hội của hiện tượng nghiên cứu
- Biểu hiện kết cấu của hiện tượng
- Biểu hiện mối liên hệ giữa các hiện tượng
1.1.6.2 Phương pháp dãy số thời gian
Phương pháp dãy số thời gian trong phân tích thống kê được vận dụng để:
- Nêu lên mức độ bình quân theo thời gian, biến động tương đối, tuyệt đối
- Biểu hiện xu hướng cơ bản của hiện tượng kinh tế
- Chỉ rở đặc điểm biến động thời vụ
- Dự báo thống kê ngắn hạn
Một số chỉ tiêu của dãy số thời gian:
+ Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối Liên hoàn: i = yi - yi-1 ( i= 2,3, n)
Trong đó: yi là mức độ kỳ nghiên
yi-1 là mức độ kỳ đứng liền trước nó Định gốc: i = yi - y1 ( i= 2,3, n)
Trong đó: yi là mức độ kỳ nghiên cứu
y1 là mức độ đầu tiên trong dãy số (mức độ gốc)+ Tốc độ phát triển:
yi-1 là mức độ của hiện tượng ở thời gian i-1
yi là mức độ của hiện tượng ở thời gian i
Trang 6yi là mức độ của hiện tượng ở thời gian i
y1 là mức độ đầu tiên của dãy số
+ Tốc độ tăng (hoặc giảm) Liên hoàn: ai=
y
1.1.6.3 Phương pháp hệ thống chỉ số
Hệ thống chỉ số là tập hợp các chỉ số liên hệ với nhau theo một phương trình kinh tếnào đó
Để vận dụng phương pháp này cần tuân thủ 2 điều kiện mang tính giả định:
- Phải xác định được phương trình kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa chỉ tiêu phântích và các nhân tố ảnh hưởng Trong đó sắp xếp các nhân tố theo trình tự từ nhân tố chấtlượng đến nhân tố số lượng
- Khi xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố nào đó đến sự biến động của chỉtiêu phân tích thì ta cho nhân tố nghiên cứu biến động và cố định nhân tố còn lại
1.1.6.4 Phương pháp bảng thống kê
Bảng thống kê là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách có hệ thống,hợp lý, rõ ràng Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và các sốliệu Về nội dung, bảng thống kê gồm hai phần: phần chủ đề và phần giải thích Có các loạibảng thống kê sau:
- Bảng giản đơn: là loại bảng mà phần chủ đề không phân tổ, chỉ sắp xếp các đơn vịtổng thể theo tên gọi, theo địa phương hoặc theo thời gian nghiên cứu
- Bảng phân tổ: là loại bảng trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ đềđược phân chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó Nó được dùng để biểu diễn kết quảcủa việc phân tổ theo một tiêu thức
- Bảng kết hợp: là loại bảng thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu ghi ở phần chủ
đề được phân tổ theo hai, ba tiêu thức kết hợp với nhau Nó được dùng để biểu diễn kếtquả của việc phân tổ theo nhiều tiêu thức
1.1.6.5 Phương pháp đồ thị
Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc các đường nét hình học dùng để mô tả tính chấtquy ước các tài liệu thống kê khác Khác với các bảng thống kê chỉ dùng con số, đồ thịthống kê sử dụng con số kết hợp với hình vẽ, đường nét và màu sắc để trình bày các đặcđiểm số lượng của hiện tượng Chính vì vậy, đồ thị thường được thu hút sự chú ý củangười đọc, nó giúp chúng ta nhận thức được những đặc điểm cơ bản của hiện tượng mộtcách dễ dàng nhanh chóng Đồ thị còn giúp chúng ta kiểm tra bằng hình ảnh độ chính xáccủa những thông tin Đồ thị thống kê có thể biểu thị:
- Kết cấu của hiện tượng theo tiêu thức nào đó và sự biến động của cơ cấu
- Sự phát triển của hiện tượng theo thời gian
- Tình hình thực hiện kế hoạch
Trang 7- Mối liên hệ giữa các hiện tượng.
- Sự so sánh giữa các mức độ hiện tượng
Tuỳ theo vấn đề nghiên cứu mà ta sử dụng các dạng đồ thị trên cho phù hợp như đồthị hình cột, hình tròn, hình dây,
1.2 Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam
Với vị trí địa lý như vậy, hàng hoá từ Quảng Nam có thể chuyển ra Hà Nội, chuyểnvào thành phố Hồ Chí Minh, chuyển sang Lào, Đông Bắc Thái Lan một cách thuận lợi tạocho Quảng Nam có nhiều lợi thế trong giao lưu kinh tế và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
1.2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Diện tích rừng chiếm hơn 80% tổng diện tích tự nhiên, phân bổ rộng khắp trên 6huyện miền núi của tỉnh với địa hình phức tạp Bờ biển Quảng Nam dài hơn 125ha với ngưtrường rộng, nguồn lợi thuỷ sản phong phú, đa dạng ngư dân có nhiều kinh nghiệm trongnuôi trồng đánh bắt, khai thác, chế biến Nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, đặc biệt làkhoáng sản quí hiếm như vàng, đồng, chì, graphit, than đá… và nhóm khoáng sản nguyênliệu dùng cho sản sản xuất vật liệu xây dựng như sành sứ, thuỷ tinh, cát trắng côngnghiệp
Với diện tích rừng và nguồn tài nguyên khoáng sản hiện có như vậy, tỉnh QuảngNam đã thu hút được các dự án đầu tư nước ngoài như công ty Liên doanh khai thác vàngBồng Miêu, công ty khai thác nước khoáng thiên nhiên Việt - Pháp, công ty liên doanhvàng Phước Sơn, công ty trách nhiệm hữu hạn Yeou Lih Silica Sand Việt Nam (khai thác
và chế biến cát trắng, sản phẩm từ cát)
1.2.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội
Trong sản xuất nông nghiệp hệ thống thuỷ lợi đã từng bước hoàn thiện đảm bảo tướichủ động trên 2/3 diện tích canh tác, các loại giống cây trồng, con vật nuôi phong phúđược áp dụng phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương; công tác cải tạođồng ruộng, khai hoang phục hoá, công tác giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân
cơ bản đã hoàn thành là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng năng suất cây trồng,hình thành các vùng chuyên canh
Trong sản xuất công nghiệp, với quá trình hình thành các khu công nghiệp, cụm côngnghiệp tập trung cùng với sự phát triển của Thành Phố Đà Nẵng và khu công nghiệp lọcdầu Dung Quất (Quãng Ngãi) là những tiền đề tạo thế đinh lên của ngành công nghiệp nontrẻ Quảng Nam Bên cạnh đó các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống đã hình thànhlâu đời ở các làng quê cũng là tiềm năng cho sự phát triển công nghiệp ở nông thôn, miềnnúi, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Hệ thống giao thông thuỷ, bộ tuy còn lạc hậu nhưng cũng đã hình thành và đangtrong quá trình cải tạo, xây dựng; các dự án xây dựng lớn đã được hình thành như đường
Trang 8lên biên giới Việt- Lào, nâng cấp quốc lộ 1A, tuyến thanh niên ven biển,…khôi phụ vàphát triển cảng biển Kỳ Hà, sân bay Chu Lai là những điền kiện để củng cố và phát triểnkết cấu hạ tầng, thúc đẩy sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế – xã hội
Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong những năm qua được ổnđịnh và giữ vững Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc được duy trì thườngxuyên Công tác điều tra, truy tố, xét xử nhìn chung là
kịp thời và nghiêm túc Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật được quan tâm Triểnkhai tốt công tác thanh tra Nhà Nước và giải quyết kịp thời đơn thư kiếu nại, tố cáo củacông dân
Nhìn chung thì tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam có nhiều thuận lợi để thuhút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.3 Sự cần thiết phải phân tích thống kê tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Nam
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Nam là thực sự cần thiết bởi:Như chúng ta biết, thị trường vốn là yếu tố điều kiện, yếu tố động lực góp phần tíchcực vào việc thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới,
…Trong khi đó Quảng Nam là 1 tỉnh có điểm xuất phát cực thấp, kết cấu hạ tầng còn lạchậu, đời sống đại bộ phận nhân dân còn khó khăn, nguồn thu ngân sách hạn hẹp và việchuy động nội lực cho đầu tư phát triển còn nhiều hạn chế, đầu tư nước ngoài là cần thiết đểQuảng Nam xây dựng những công trình hạ tầng huyết mạch Ngoài ra việc giải phóng mộtdiện tích lớn cho các công trình và các dự án kinh doanh, hạ tầng, sản xuất công nghiệp,dịch vụ – du lịch đòi hởi phải có một lượng vốn lớn đến hàng tỷ USD
Với những nhu cầu vốn trên đây, nếu chỉ dựa theo ngân sách kế hoạch hàng năm từngân sách Trung Ương, từ nguồn khai thác quỹ đất, các chương trình mục tiêu quốc gia,hoặc từ những nguồn vốn đầu tư khiêm tốn trong nước thì không thể nào cân đối tài chínhcho quá trình phát triển lâu dài ở Quảng Nam
Mặt khác, Quảng Nam là 1 tỉnh có nhiều nguồn tài nguyên và khoáng sản quí hiếmcho phép phát triển các ngành công nghiệp tại miền đất đầy hứa hẹn này
Không chỉ có vậy, Quảng Nam là một tỉnh có 2 di sản văn hoá thế giới là Mỹ Sơn vàHội An rất thuận lợi cho việc phát triển ngành du lịch, dịch vụ
Ngoài những thuận lợi trên thì ta thấy vốn FDI thường đi kèm với việc chuyển giaocông nghệ, kỷ thuật sản xuất trong quá trình làm việc với các nhà đầu tư và chuyên gianước ngoài chúng ta có thể học hởi được những kinh nghiệm tổ chức quản lí của các công
ty tư bản nước ngoài Đó là yếu tố vô cùng cần thiết đối với Quảng Nam để tạo ra đượcnhững sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và nội địa; bên cạnh đó còn nângcao năng lực quản lí, tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại và chủ động hơn trong việc hội nhập kinh tế thế giới, nhất là trong bối cảnh ViệtNam mới gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
Với những điều kiện thuận lợi và yêu cầu khách quan trên thì việc thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài là điều thực sự cần thiết để đưa Quảng Nam đứng vào hàng tốp cáctỉnh, thành phố có nhiều cơ hội phát triển mạnh trên dải duyên hải miền trung này
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI VÀO TỈNH QUẢNG NAM (1997-2006) 2.1 Phân tích tình hình biến động FDI tỉnh Quảng Nam trong 10 năm qua
2.1.1 Phân tích biến động chung FDI tỉnh Quảng Nam trong 10 năm qua
Năm tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (1997), tỉnh Quảng Nam thu hút được 2 dự ánđầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng kí là 17,983 triệu USD Đến năm 1998, 1999
Trang 9do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997, không chỉ riêngQuảng Nam mà cả nước đều giảm sút trong giai đoạn này Cụ thể, năm 1996 cả nước thuhút được 8.497,3 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng trong năm 1999 chỉcó1.568 triệu USD, giảm 81,55% so với năm 1996 Riêng tỉnh Quảng Nam từ con số17,983 triệu USD năm 1997 đến năm 1998, 1999 cả tỉnh lại không thu hút được bất kì một
dư án đầu tư trực tiếp nước ngoài nào
Tuy vậy nhiều nhà đầu tư quay lại sau khi cuộc khủng hoảng được hồi phục, nhiều
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài không ngừng đổ vào Quảng Nam Năm 2000 toàn tỉnhthu hút được 4 dự án với tổng vốn đăng kí là 13,116 triệu USD, tuy có giảm 27,06% so vớinăm 1997 nhưng đây cũng là một dấu hiệu đáng mừng sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ khu vực năm 1997
Chỉ mới đón nhận được dấu hiệu đáng mừng năm 2000 thì bước sang năm 2001, số
dự án cũng như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào tỉnh Quảng Nam lại giảm sútnghiêm trọng Toàn tỉnh chỉ thu hút được 2 dự án với tổng vốn đăng kí 4,000 triệu USD,giảm 70% so với năm 2000 tương ứng giảm 9,116 triệu USD Có thể nói đây là mức thấpnhất trong suốt giai đoạn 1997-2006 Nguyên nhân dẫn tới sự giảm sút này là do có những
dự án vì lý do nào đó, sau khi các nhà đầu tư khảo sát hiện trường tại Việt nam đã thôikhông đầu tư nữa hoặc chuyển sang đầu tư nước khác mặc dù môi trường đầu tư của chúng
ta đã được cải thiện
Bước sang năm 2002 quy mô đầu tư của các dự án tăng và tăng đột biến Cụ thể đãthu hút được 9 dự án với tổng vốn đăng kí lên tới 65,975 triệu USD tăng 1.549% so vớinăm 2001 tương ứng tăng 61,975 triệu USD; so với năm 1997 tăng 267% tương ứng vớilượng vốn 47,992 triệu USD Đến năm 2003 dòng chảy của vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài vào tỉnh Quảng Nam tuy có giảm xuống 56% so với năm 2002 tương ứng giảm36,780 triệu USD nhưng so với năm 1997 thì nó vẫn tăng 62% tương ứng tăng 11,212triệu USD Liên tiếp liền 2 năm 2004, 2005 lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khôngngừng tăng lên Năm 2004 thu hút được 6 dự án với tổng vốn đăng kí là 64,432 triệu USDtăng 121% so với năm 2003 tương ứng tăng 35,237 triệu USD và tăng 258% so với năm
1997 tương ứng tăng 46,449 triệu USD Năm
2005 toàn tỉnh đã thu hút được 25 dự án với tổng vốn đăng kí lên tới 171,955 triệu USD;một con số cao nhất trong suốt giai đoạn 1997-2006 đã làm cho lượng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài thu được năm này tăng 167% so với năm 2004 tương ứng tăng 107,523 triệuUSD và so với năm 1997 tăng 856% tương ứng tăng 153,972 triệu USD Có được kết quảđáng khích lệ như vậy là do trong những năm qua tỉnh Quảng Nam đã có những cơ chếchính sách hợp lý, môi trường đầu tư được cải thiện, thủ tục hành chính được cải cách Gần đây nhất, năm 2006 thu hút được 18 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổngvốn đăng kí 75,700 triệu USD, tuy giảm 56% so với năm 2005 tương ứng giảm 96,255triệu USD nhưng lại tăng tới 321% so với năm 1997 tương ứng tăng 57,717 triệu USD.Nhìn lại chặng đường trong 10 năm qua (1997-2006), bức tranh FDI ảm đạm ngày táilập tỉnh đã nhanh chóng thay bằng không khí hừng hực của sự phát triển sau 10 năm Theothống kê đến ngày 9/11/2006 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có 74 dự án với tổng vốn đăng
kí 428,721 triệu USD Trong đó, ngành công nghiệp có 42 dự án chiếm 56,76% tổng số dự
án FDI, tổng vốn đăng kí 307,551 triệu USD chiếm tỷ trọng 71,74% tổng vốn đăng kí;ngành du lịch khách sạn chiếm 22,97% tổng số dự án, 7,73% tổng vốn đăng ký
Sở dĩ đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Quảng Nam có được những thành tích nhưvậy là do tỉnh Quảng Nam có đội ngũ lao động trẻ, dồi dào, nhanh chóng tiếp thu và chịukhó học hỏi ; chi phí lao động lại rẻ, tình hình chính trị lại ổn định; cơ sở hạ tầng ngàycàng được hoàn thiện Mặt khác, Đảng và Nhà Nước ta luôn luôn quan tâm cải cách chínhsách, ban hành các quyết định nhằm gia tăng thu hút FDI vào trong nước như quyết định số53/1999/QĐ-TTG ngày 26/3/1999 của Thủ tướng chính phủ về việc tiếp tục lộ trình giảmchi phí đầu tư; Nghị Quyết số 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 về tăng cường thu hút và
Trang 10nâng cao hiệu quả đầu tư FDI thời kỳ 2001-2010 và nhiều quyết định, nghị quyết khác.Dựavào bảng 2.1 ta có biểu đồ thu hút vốn I tỉnh Quảng Nam thời kỳ (1997-2006) như sau:
050000100000150000200000
Đồ thị 2.1 Tình hình thu hút FDI vào Quảng Nam giai đoan (1997-2006)
2.1.2 Phân tích biến động cơ cấu FDI
2.1.2.1 Cơ cấu theo hình thức đầu tư
Như đã nói ở chương 1, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được chia làm nhiều hìnhthức khác nhau nhưng ở tỉnh Quảng Nam chỉ có 2 hình thức đầu tư là liên doanh và 100%vốn nước ngoài Để biết rỏ hơn tỷ trọng của 2 bộ phận này, ta tiến hành phân tích kết cấuvốn FDI theo hình thức đầu tư
Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Sửa đổi bổ sung năm 2000) đang diễn rahai hình thức chuyển đổi sở hữu: doanh nghiệp liên doanh có thể chuyển đổi thành doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc 100% vốn nước ngoài có thể chuyển đổi thành doanhnghiệp liên doanh Tới nay tỉnh Quảng Nam chỉ mới xuất hiện hai hình thức đầu tư nướcngoài gồm: liên doanh và 100% vốn nước ngoài nhưng phổ biến nhất là 100% vốn nướcngoài Nếu năm 1997 chỉ đầu tư tập trung thành lập doanh nghiệp liên doanh chiếm 100%tổng vốn đăng kí và 100% tổng số dự án thì năm 2000, 2001 đầu tư FDI lại chỉ tập trungthành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 100% tổng vốn đăng kí cũng như số
dự án Và từ năm 2002 trở đi số lượng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài luôn chiếm ưuthế hơn so với số lượng doanh nghiệp liên doanh, hầu như năm nào nó cũng chiếm tỷ trọnglớn từ 75% trở lên; và trong 5 năm cuối của giai đoạn 1997-2006 thì có đến 3 năm doanhnghiệp 100% nước ngoài chiếm đến hơn 90% tổng vốn đăng ký Đó là năm 2002 chiếm93,94% tổng vốn đăng kí và 77,8% tổng số dự án; năm 2005 chiếm 91,72% tổng vốn đăng
kí và 50% tổng số dự án; năm 2006 chiếm 91,72% tổng vốn đăng kí và 83,33% tổng só dự
án
Nhìn chung trong suốt giai đoạn 1997 - 2006 các đối tác nước ngoài đầu tư vào tỉnhQuảng Nam chủ yếu dưới dạng 100% vốn nước ngoài Đây cũng là điều dễ hiểu bởi cácnhà đầu tư không muốn lộ bí quyết công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, không muốnchia sẻ hoa lợi từ đầu tư với bất kỳ đối tác nào, hơn nữa do khả năng tài chính của tỉnhQuảng Nam không có, lại thêm trình độ chuyên môn tay nghề, khả năng quản lý nắm bắtthông tin, nhất là trình độ ngoại ngữ của các nhà đầu tư trong nước còn nhiều hạn chế,chưa đáp ứng được yêu cầu hợp tác kinh doanh của chủ đầu tư nước ngoài Nếu là công tyliên doanh thì bên Việt Nam cũng chỉ thường góp vốn bằng quyền sử dụng đất, còn tiềnmặt thì rất ít nếu không muốn nói là không có Đây cũng là một thiệt thòi rất lớn bởi chúng
ta không học hỏi được kinh nghiệm quản lý, công nghệ nhưng đôi khi lại thiệt hại về môi
Trang 11trường Tuy nhiên nó góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động đóng gópkhông nhỏ vào GDP của tỉnh, nộp ngân sách Nhà nước Vì vậy trong thời gian tới chúng tacần đa dạng hoá các hình thức đầu tư từ FDI để đẩy nhanh sự phát triển của tỉnh QuảngNam.
Nhìn chung đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Nam còn rất nhiều hạn chế
về mặt hình thức Trong những năm tới tỉnh cần mở rộng thu hút thêm các hình thức đầu tưkhác như hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp
đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao nhất là hình thức B.O.T phục vụ cho việc xâydựng cơ sở hạ tầng ở vùng trọng điểm cũng như miền núi
Sau đây là biểu đồ về sự thay đổi tỷ lệ % vốn ĐK theo hình thức đầu tư:
0 20 40 60 80 100 120
1 9
2 0
2 0
2 0
2 0
2 0
2 0
2 0
Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng FDI theo hình thức đầu tư (1997-2006)
2.1.2.2 Cơ cấu theo đối tác đầu tư
Phân tích kết cấu FDI theo đối tác đầu tư giúp ta thấy rỏ vai trò của từng đối tác đầu
tư đối với lượng FDI tỉnh Quảng Nam thu hút được trong thời gian qua Từ đó có những
ưu đãi khuyến khích thu hút đối với những đối tác có tỷ trọng đóng góp lớn, đồng thời cónhững cơ chế chính sách nhằm giữ chân, tăng cường nguồn FDI từ các đối tác có tỷ trọngđóng góp lớn
“Thương hiệu” của Quảng Nam (chi phí lao động, đầu tư, sản xuất, giá thành sản
phẩm thấp, đảm bảo khả năng sinh lợi, môi trường đầu tư liên tục được cải thiện và lấy chữtín làm đầu ) đã lôi kéo các nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới đến Quảng Nam Theo sốliệu thống kê, đến nay tỉnh Quảng Nam có 17 đối tác nước ngoài đầu tư vào Quảng Nam.Trong đó các nước có vốn đầu tư lớn đều nằm ở khu vực Đông và Đông Nam Á, nổi bậtnhất là các nước ASEAN.Thật vậy, năm 1997, tỉnh Quảng Nam thu hút được 2 dự án vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài từ Châu Âu với tổng vốn đầu tư đăng kí là 17,983 tỷ đồngchiếm 100% tỷ trọng vốn đầu tư cũng như 100% tỷ trọng số dự án đăng kí Và nếu nhưnăm 1997 chiếm tuyệt đối tổng vốn đầu tư thì đến giai đoạn 2000-2006, đầu tư của Châu
Âu không còn độc quyền nữa mà ngày càng có nhiều đối tác đầu tư khác tham gia nhưChâu á, Châu Mỹ và nhiều quốc gia khác Tuy nhiên đối tác Châu Á luôn luôn chiếm tỷtrọng lớn trong tổng vốn đầu tư vào tỉnh Quảng Nam cũng như số dự án Để làm rỏ vấn đềnày ta sẽ đi xem xét từng đối tác đầu tư vào tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua
Đối tác đầu tiên mà chúng ta đi xem xét sẽ là Châu á Năm 2000 Châu á đầu tư vàotỉnh Quảng Nam 1 dự án với tổng vốn đăng kí là 6,45 tỷ USD chiếm 49,18% tổng vốn FDIđăng kí và 25% tổng số dự án Năm 2001 vốn đầu tư từ đối tác Châu á là 4 tỷ USD với 2
dự án chiếm 100% tổng vốn đăng kí cũng như 100% tổng số dự án Năm 2002 Châu áchiếm 23,76% tổng vốn đăng kí và 44,44% tổng số dự án Năm 2003 châu á chiếm58,21%tổng vốn đăng kí và 50% tổng số dự án Năm 2004 Châu á chiếm 61,98% tổng vốn đăng kí và 75% tổng số dự án Nổi bật nhất là năm 2005, Châu á chiếm tới 82,79% tổngvốn đăng kí và 72% tổng số dự án Đến năm 2006 tuy có giảm hơn so với năm 2005 nhưngvẫn chiếm tỷ trọng ưu thế là 59,97% tổng vốn đăng kí và 61% tổng số dự án
Trang 12Nhìn chung thì giai đoạn 1997-2006, Châu á luôn là đối tác chính và chủ yếu của tỉnhQuảng Nam Tuy nhiên chỉ tập tung và nổi trội lên một số đối tác chính như Đài Loan,Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Philipin, Hồng Kông, Phần lớn còn lại không thấy đầu
tư vào tỉnh Quảng Nam Nổi bật hơn cả là Đài Loan, nước có số dự án đầu tư lớn nhấtchiếm tới 32,86% tổng số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài của toàn tỉnh, nhưng vốn đầu
tư chỉ chiếm 23,09% tổng lượng vốn đầu tư Bênh cạnh đó là Hồng Kông, nước có lượngvốn đầu tư bình quân cho một dự án cao nhất, chỉ với 1 dự án nhưng vốn đầu tư đạt 18,2triệu USD
Đối tác thứ 2 của tỉnh Quảng Nam là Châu Âu Trong những năm qua, đầu tư củakhu vực này chiếm tỷ trọng không cao lắm, không tính năm 1997 (chiếm tỷ trọng 100%)thì không có năm nào Châu Âu chiếm được tỷ trọng vốn đầu tư cũng như số dự án tới 50%
cả Cụ thể là năm 2000 Châu Âu chiếm 38,08% tổng vốn đăng kí và 25% tổng số dự án.Năm 2001 thì lại không có dự án nào Năm 2001 khu vực này chiếm tỷ trọng 5,76% tổngvốn đăng kí và 22,22% tổng số dự án Năm 2003 thì lại sa sút hơn, khu vực chỉ chiếm tỷtrọng trong tổng vốn đăng kí một con số hết sức khiêm tốn là 0,69% và 16,76% tổng số dự
án Năm 2004 đối tác Châu âu chiếm tỷ trọng tới 31,04% tổng vốn FDI thu hút được và12,5% tổng số dự án Nhưng đến năm 2005,2006 thì lại giảm xuống; năm 2005 toàn tỉnhchỉ thu hút được 4 dự án từ phía đối tác Châu Âu nhưng đây là những dự án nhỏ nên chỉchiếm 9,36% tổng vốn đăng kí và 16,67% tổng số dự án
Đối tác thứ 3 là Châu Mỹ mà chủ yếu là Mỹ bởi lượng vốn mà Mỹ đóng góp vào tỉnhQuảng Nam trong suốt giai đoạn được xếp vị trí hàng đầu trong số các nước tham gia đầu
tư vào tỉnh Quảng Nam Năm 2001, cũng giống như Châu Âu, khu vực này không đónggóp vào tổng lượng vốn FDI của tỉnh Năm 2002 được coi là năm đánh dấu bước ngoặcđầu tư của Châu Mỹ vào tỉnh Quảng Nam, đây là năm duy nhất trong suốt giai đoạn 1997-
2006 Châu Mỹ đóng góp tới 76,48% tổng vốn đầu tư và 33,33% tổng số dự án-1 sự khởisắc đáng mừng Những năm tiếp của giai đoạn đầu tư của Châu Mỹ tuy giảm nhưng cũng
có sự đóng góp đáng kể Năm 2003 Châu Mỹ đầu tư 10 triệu USD với 1 dự án, góp34,25% vào tổng lượng FDI và 16,67% tổng số dự án Năm 2004, đầu tư 4,5 triệu USDchiếm 6,98% tổng lượng FDI và 12,5 % tổng số dự án Năm 2005 đầu tư12,98% triệu USDchiếm 7,5% tổng lượng FDI thu hút được và 8% tổng số dự án Đến năm 2006 đầu tư 21,8triệu USD chiếm 28,79% tổng lượng FDI thu hút được và 16,67% tổng số dự án
Nhìn chung thì tình hình thu hút FDI vào tỉnh Quảng Nam có sự chênh lệch rất lớngiữa các khu vực Trong số cac quốc gia có dự án đầu tư tại Quảng Nam thì châu Á chiếm60%, châu Âu chiếm 19%, châu Mỹ chiếm 14,8% Tuy có sự đa dạng về đối tác nướcngoài nhưng các dự án đầu tư vào
Quảng Nam có vốn đầu tư thấp hơn mức trung bình của cả nước Ví dụ như Đài Loan đầu
tư vào Việt Nam khoảng hơn 7.932 triệu USD bình quân mỗi tỉnh khoảng hơn 123,9 triệuUSD nhưng con số này ở Quảng Nam chỉ có hơn 79,7 triệu USD thấp hơn mức trung bình
cả nước 1,55 lần
Sở dĩ có sự chênh lệch như vậy là vì Việt Nam là nước thuộc khu vực Châu á nêngần về vị trí địa lý với các nước Châu á Mặt khác Châu á có nhiều điều kiện giống ViệtNam như về truyền thống, phong tục, tập quán,
Đài Loan là nước có tổng số dự án đăng kí lớn nhất (17 dự án), Mỹ là nước có vốn đầu tưcao nhất (106.773.000 USD) cũng như vốn đầu tư bình quân cho 1 dự án (13.345.250 USD) cònPháp lại là nước có vốn bình quân cho 1 dự án thấp nhất
Cũng qua trên ta thấy trong số 7 đối tác lớn ỏ tỉnh Quảng Nam thì đã có tới 4 đối tácđến từ Châu á Điều này đã giải thích tại sao khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ diễn ra(1997) thì năm 1998,199 toàn tỉnh đã không thu hút được một dự án đầu tư nào Cácluồng FDI khác xuất phát từ Hoa Kỳ, Hà Lan, Pháp Trong giai đoạn 1997 - 2000 Mỹkhông có dự án nào vào tỉnh Quảng Nam xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như: Lệnhcấm vận song phương Việt - Mỹ cho đến ngày 13/7/2001 được chính phủ hai bên ViệtNam và Mỹ kí kết nhưng đến 6/9/2001 mới được Hạ Viện Mỹ thông qua, và 3/10/2001
Trang 13mới được Thượng viện Mỹ thông qua Đến năm 2002 Mỹ mới bất đầu đầu tư vào tỉnhQuảng Nam Mặc dù vậy, chỉ trong vòng 5 năm mà tổng vốn đầu tư của Mỹ lên đến106.773.000 USD vượt qua các đối tác khác lên đứng vị trí hàng đầu về đầu tư ở tỉnhQuảng Nam.
Sau đây là biểu đồ sự thay đổi tỷ lệ % vốn đăng kí theo đối tác đầu tư
Biểu đồ 2.3
Tỷ trọng FDI tỉnh
Quảng Nam theo
đối tác đầu tư
được vốn FDI đầu
tư vào lĩnh vực nào chiếm tỷ trọng lớn nhất, lĩnh vực nào chiếm tỷ trọng bé nhất ta đi vàophân tích biến động cơ cấu FDI theo lĩnh vực kinh doanh Số liệu cụ thể được cho trongbiểu số liệu dưới đây:
Thực tế cho ta thấy, cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành ở tỉnh Quảng Namdiễn ra theo dúng xu hướng của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá Tức là vốn đầu tư vào ngành công nghiệp à dịch vụ lớn hơn so với những ngànhkhác như nông nghiệp, lâm nghiệp,tài chính,
Năm 1997, toàn tỉnh thu hút được 2 dự án với tổng vốn đầu tư 17,983 triệu USD thìđầu tư vào công nghiệp đã chiếm 11,283 triệu USD, tức chiếm 62,75% tổng vốn FDI vàchiếm 50% tổng số dự án Số còn lại đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ Trong năm này thìkhông có dự án nào đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp
Qua phần phân tích ở mục 2.1.1 ta cũng đã thấy FDI chỉ thực sự khơi dòng ở giaiđoạn 2001-2006 Bấy giờ cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á chấm dứt, khu côngnghiệp Dung Quất thành lập và manh nha sự ra đời của khu kinh tế mở Chu Lai, đặc biệt
Mỹ Sơn và Hội An trở thành di sản văn hoá thế giới Tuy vậy, cơ cấu FDI giữa các lĩnhvực kinh doanh vẫn không có sự thay đổi, nghĩa là vốn FDI thu hút được giữa các lĩnh vựcchênh lệch rất lớn Ngành công nghiệp luôn luôn chiếm tỷ trọng cao về lượng vốn đầu tưcũng như số dự án, thậm chí có năm như năm 2001 lĩnh vực này chiếm đến 100% tổng số
dự án cũng như tổng vốn đăng kí Còn lại những năm khác như năm 1997, 2003,2004,2005,2006 lĩnh vực này có tỷ trọng vẫn rất lớn, hầu hết đều chiếm trên 50% tổng vốnđầu tư cũng như tổng số dự án Đứng sau công nghiệp là dịch vụ, FDI đầu tư vào lĩnh vựcdịch vụ dù được coi là không cao lắm nhưng so với các lĩnh vực khác nó vẫn có ưu thếhơn; có năm tỷ trọng của nó chiếm đến hơn 50% tổng vốn đăng kí như năm 2002, còn lạinhững năm khác thì nó luôn chiếm một tỷ trọng ở một mức tương đối chứ không cao nhưlĩnh vực công ngiệp Sở dĩ phần lớn các dự án tập trung đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp làchủ yếu rồi sau đó là dịch vụ là vì ngành công nghiệp ở tỉnh Quảng Nam có nhiều diềukiện thuận lợi để phát triển như có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, có nguồn laođộng dồi dào , còn các dự án đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ lại dễ triển khai Mặt khác, theochủ trương của tỉnh Quảng Nam thì không khuyến khích phát triển nông nghiệp mà chỉkhuyến khích phát triển công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, hiện tại thì các nhà đầu tưnước ngoài ít được tham gia vào lĩnh vực dịch vụ nhưng hy vọng rằng trong xu hướng mởcửa như hiện nay thì trong tương lai đầu tư nước ngoài vào dịch vụ ở tỉnh Quảng Nam sẽtăng lên
0 20 40 60 80 100 120
Trang 14Sau đây là biểu đồ sự thay đổi tỷ lệ phần trăm vốn đăng ký theo lĩnh vực kinh doanh
0 20 40 60 80 100 120
Biểu đồ 2.4 Tỷ trọng FDI theo lĩnh vực kinh doanh (1997-1006)
tóm lại FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Do đó ta sẽ tiếnhành phân tích để thấy rỏ tình hình biến động của FDI ở 2 lĩnh vực này
2.1.3 Phân tích tình hình biến động từng ngành về thu hút FDI
Công nghiệp và dịch vụ là thế mạnh trên tiến trình phát triển của tỉnh Do đó ta sẽphân tích 2 ngành này để có những biện pháp, chính sách và đường lối đúng đắn nhằmtăng cường thu hút FDI vào lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ
a Ngành công nghiệp
Như đã phân tích ở trên công nghiệp là ngành luôn vượt trội và đi đầu so với cácngành khác trong việc thu hút FDI, và vốn FDI thu hút được vào lĩnh vực này thường lớnhơn so với tổng FDI của các ngành khác cộng lại Vì vậy chúng ta cần phải phân tích tìnhhình biến động FDI mà lĩnh vực này thu hút được trong thời gian qua
Tình hình thu hút FDI vào lĩnh vực công nghiệp trong thời gian qua đạt được nhữngthành tựu đáng kể Năm 1997, tỉnh Quảng Nam chỉ thu hút được 1 dự án và đó chính là dự
án công nghiệp với tổng vốn đăng kí là 11,283 triệu USD Từ năm 2000 trở đi, tình hìnhđầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp có những tiến triển tốt đẹp bởi cuộckhủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997 đã hồi phục, tuy nhiên không ổn định quacác năm Nếu như năm 2000 thu hút được 6,45 triệu USD vốn FDI đầu tư vào lĩnh vựccông nghiệp thì đến năm 2001 con số này lại “chững” lại chỉ còn 4 triệu USD,giảm37,98% so với năm 2000 tương ứng giảm 2,45 triệu USD và so với năm 1997 giảm64,8% tương ứng giảm 7,283 triệu USD Theo đánh giá của các chuyên gia và các nhà đầu
tư, có 2 nguyên nhân chính làm cho tốc độ thu hút FDI giảm Đó là tỉnh Quảng Nam chậm
“mở” cơ chế và giải phóng mặt bằng Thứ nhất tuy cơ chế chính sách thu hút FDI đã thôngthoáng phần nào nhưng việc thực hiện cơ chế đó vẫn còn nhiều bất cập do chưa có khungpháp ly hoàn chỉnh Thứ 2, công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn do
người dân không chịu di dời hoặc chưa bố trí được nới tái định cư cho người dân Trongkhi đó đây lại là vấn đề quan tâm của tất cả các nhà đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp.Nhưng 1 năm sau đó cùng với những cơ chế chính sách ưu đãi thu hút đầu tư, môi trườngđầu tư căn bản đã được cải thiện đã làm cho các nhà đầu tư đánh giá cao môi trường đầu tưcủa tỉnh Quảng Nam Vì vậy mà năm 2002 lĩnh vực công nghiệp đã thu hút được 4 dự áncông nghiệp với tổng vốn đầu tư lên tới 25,175 triệu USD tăng 529,38% so với năm 2001hay về tuyệt đối tăng 21,175 triệu USD Tuy nhiên đến năm 2003 thì FDI đầu tư vào lĩnhvực công nghiệp giảm xuống so với năm 2002 nhưng không đáng kể, so ra thì vẫn cao hơn
so với năm 1997 Và một điều đáng quan tâm là trong năm 2003, khu kinh tế mở Chu Laihình thành với nhiều chính sách thu hút hết sức hấp dẫn mà các khu công nghiệp, khu chếxuất, khu kinh tế khác khác trong nước không có đã khiến cho các nhà đầu tư muốn thửsức Bênh cạnh đó, khu KTM Chu Lai là nơi có nuồn tài nguyên khoáng sản phong phú,lực lượng lao động tại chỗ đồi dào, từ thợ thủ công, công nhân cho đến kỹ sư Nắm bắtđược điều này cho nên các nhà đầu tư nước ngoài đã chủ động đầu tư vào ngành công
Trang 15nghiệp tai đây để tận dụng những lợi thế này Chính vì vậy mà FDI thu hút vào lĩnh vựccông nghiệp trong suốt 2 năm liền sau đó đã tăng lên rất cao Cụ thể là năm 2004 lĩnh vựccông nghiệp thu hút được55,132 triệu USD tăng 150,61% so với năm 2003 hay về tuyệtđối tăng 33,132 triệu USD và so với năm 1997 tăng 388,63% hay về tuyệt đối tăng 43,849triệu USD Đáng chú ý hơn cả là năm 2005 tăng 106,03% so với năm 2004 hay về tuyệtđối tăng 58,458 triệu USD và tăng 906,74% hay về tuyệt đối tăng 102,458 triệu USD sovới năm 1997 Tuy nhiên đến năm 2006 lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại giảmxuống nhiều so với năm 2005 nhưng vẫn ở mức cao ơn năm 1997; cụ thể là năm 2006 sovới năm 2005 giảm 47,88% hay về tuyệt đối giảm 54,390triệuUSD và so với năm 1997tăng 424,68% tương ứng tăng 49,917 triệuUSD Nguyên nhân của tình trạng này cũnggiống như nguyên nhân ta đã đề cập ở trên, tuy nhiên sở dĩ FDI thu hút vào lĩnh vực côngnghiệp năm 2006 giảm là do nó chịu tác động từ những dự án công nghiệp không thể triểnkhai hoạt động được vì không chọn được địa điểm từ năm 2005.
Nhìn chung trong suốt giai đoạn 1997-2006 thì năm 2005 được coi là năm thànhcông nhất trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp củatỉnh Quảng Nam Có được thành tích như vậy là vì UBNN tỉnh, các sở ban ngành có liênquan luôn quan tâm , khuyến khích, thực hiện nhiều chương trình kêu gọi, thu hút FDI vàotỉnh Quảng Nam nói chung và khu vực công nghiệp nói riêng bởi công nghiệp đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong chặng đường phát triển của tỉnh Quảng Nam Bênh cạnh đó là sự
ra đời của khu KTM Chu Lai, Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc,
Trong thời gian qua đã có nhiều dự án lớn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp như dự áncủa công ty PepsiCo Việt Nam (Hà Lan) với tổng vốn đăng kí 20 triệu USD; vốn đầu tư củacông ty liên doanh hợp tác phát triển quốc tế Chu Lai (Mỹ) với tổng vốn đăng kí lên tới 38triệu USD; công ty sản xuất dầu sinh học J Bit (Nhật) với tổng vốn đăng kí 20 triệu USD,
để thấy được tình hình biến động FDI ngành dịch vụ ta xem xét bảng số liệu sau:
Cùng với công nghiệp, dịch vụ cũng được xem là ngành kinh tế mũi nhọn Nói đếndịch vụ chúng ta cần phải hiểu bộ phận cấu thành nên lĩnh vực dịch vụ bao gồm: du lịch vàthương mại dịch vụ; và trong lĩnh vực này thì hoạt động du lịch lại được coi là ngành côngnghiệp không khói của tỉnh Quảng Nam, cũng có nhiều lợi thế và tiềm năng để phát triển.Trong những năm qua ngành dịch vụ cũng có nhiều nổ lực trong việc thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, khác với công nghiệp trong những năm qua lượng vốnFDI thu hút được thấp hơn nhiều Trong cả giai đoạn 1997-2006 toàn tỉnh chỉ thu hút được
Trang 1617 dự án với tổng vốn đăng kí là 91,801 triệu USD; trong khi đó thì khu vực công nghiệpthu hút được 41 dự án với tổng vốn đăng kí là 296,830 triệu USD Như vậy, vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ trong những năm qua tương đối thấp chỉnổi trội lên 1 số năm có vốn đầu tư lớn như năm 2002, 2005, 2006 còn những năm kháccũng có 1 vài dự án nhưng qui mô nhỏ thậm chí có năm không có dự án đầu tư nào nhưnăm 2001.
Năm 1997 toàn tỉnh thu hút được 1 dự án thuộc lĩnh vực dịch vụ với tổng vốn đăng
kí 6,700 triệu USD Nhìn chung thì lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút được vàokhu vực dịch vụ không nằm ngoài sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu
á năm 1997; mà Châu á lại là đối tác chính của chúng ta Chính vì vậy mà trong nhữngnăm 1998,1999 không có nhà đầu tư nào vào tỉnh Quảng Nam
Năm 2000 các nhà đầu tư quay trở lại vào lĩnh vực dịch vụ dù vốn đầu tư không lớnnhưng đây cũng là dấu hiệu tốt về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu vựcdịch vụ từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 So với năm 1997, vốn FDIgiảm 77,62% tương ứng giảm 5,200 triệu
USD vốn đầu tư nhưng tăng 1,5 triệuUSD so với năm 1999 Năm 2001 lại không có dự ánvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này do trong năm này toàn tỉnh chỉ thu hútđược 2 dự án nhưng đã tập trung vào lĩnh vực công nghiệp Năm 2002 lượng vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ lại tăng đột biến, lên tới 33,801 triệu USD, đây làlượng vốn thu hút lớn nhất trong giai đoạn 1997-2006 So với năm 1997 thì lượng vốn nàytăng 504,49% tương ứng tăng 27,101 triệu USD và tăng 33,801 triệu USD so với năm
2001 Nếu như năm 2002 được xem là năm có lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài caonhất giai đoạn 1997-2006 thì năm kế tiếp nó lại được coi là năm có lượng vốn FDI thu hútđược thấp nhất giai đoạn này (không tính những năm không có dự án ĐTNN) Năm 2003khu vực dịch vụ chỉ thu hút được 1 dự án với số vốn khiêm tốn là 0,200 triệu USD, giảm97,28% so với năm 2002 tương ứng giảm 32,881 triệu USD và giảm 97,01% so với năm
1997 tương ứng giảm 6,500 triệu USD Năm 2004 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trongkhu vực dịch vụ thu hút được là 9,300 triệu USD tăng 4550 so với 2003 tương úng tăng9,100 triệu USD và so với năm 1997 tăng 38,81% tương ứng tăng 2,600 triệu USD Năm
2005 lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại tăng mạnh tuy không cao bằng năm 2002nhưng tăng 174,19% so với năm 2004 tương ứng tăng 16,200 triệu USD và tăng 280,5% sovới năm 1997 tương ứng tăng 18,800 triệu USD Gần đây nhất là năm 2006, lượng FDI thuhút được vào khu vực dịch vụ tuy có giảm 41,96% so với năm 2005 tương ứng giảm10,700 triệu USD nhưng so với năm 1997 lại tăng 120,89% tương ứng tăng 8,1 triệuUSD
Sở dĩ năm 2002, 2005, 2006 ngành dịch vụ tỉnh Quảng Nam thu hút được lượng vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài lớn là do tỉnh ta đã ban hành nhiều biện pháp hổ trợ các nhà đầu
tư, áp dụng những ưu đãi tài chính cao nhất trong khuôn khổ quy định của Nhà nước nhằmthu hút vốn FDI vào lĩnh vực dịch vụ Đặc biệt là tỉnh ta có khu Phố cổ Hội An và Quần thể
di tích Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là Di Sản Văn Hoá thế giới Các tuyến đườnggiao thông quan trọng phục vụ du lịch đã được nâng cấp và xây dựng như tuyến Nam Phước
- Mỹ Sơn (27 km), tuyến ven biển Cẩm An - Điện Dương - Điện Ngọc, 2 dự án đầu tư hạtầng là Phú Ninh và Bãi Chồng (Cù Lao Chàm) đã hoàn chỉnh Chính những điều này đã ảnhhưởng rất lớn đến lượng FDI mà ngành dịch vụ thu hút được trong những năm qua Đâycũng là bước chuyển biến tốt đẹp cho tỉnh Quảng Nam
Tình hình biến động ngành dịch vụ tỉnh Quảng Nam (1997-2006) được thể hiện rỏhơn ở đồ thị 2.6
Trang 170 0
1 0 1 0
1 01 1 01
1 1 0 0
1 1 0
1
S V
S V S V
S V S V
S V S V
S V F
Để thấy được sự ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ta tiến hành phân tích sự ảnh hưởng của từng nhân tố đến lượng vốn FDI đầu
tư vào tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 1997-2006; mà cụ thể là: Vốn đầu tư bình quân
cho một dự án, kết cấu dự án, và tổng số dự án Trên cơ sở đó lưa chọn đưa ra những
giải pháp thích hợp để phát huy và duy trì những nhân tố ảnh hưởng tích cực, khắc phục và
loại trừ những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực
Ta xây dựng hệ thống chỉ số phân tích biến động của tổng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài do ảnh hưởng của 3 nhân tố:
- Vốn đầu tư bình quân cho một dự án
Bảng 2.10 Vốn đầu tư FDI bình quân cho một dự án và số dự án của các ngành công
nghiệp, dịch vụ, và một số ngành khác giai đoạn 2000-2006
cho 1 dự án Số dự án
Vốn b.quâncho 1 dự án Số dự án
Vốn b.quâncho 1 dự án Số dự án