1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT SỐ YẾU TỐ CHỦ YẾU VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

62 512 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Yếu Tố Chủ Yếu Về Tổ Chức Và Quản Lý Ảnh Hưởng Tới Hiệu Quả Hoạt Động Sản Xuất Kinh Doanh Của Xí Nghiệp Trong Những Năm Gần Đây
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Chuyên đề thực tập
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 479,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ YẾU TỐ CHỦ YẾU VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Trang 1

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH

DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

I KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh.

1.1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiệncác mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả

đó trong điều kiện nhất định

Ta có công thức hiệu quả chung là:

E = K – C (1) Hiệu quả tuyệt đối

E = C K (2) Hiệu quả tương đối

Kết quả (K) mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu trong hoạtđộng của mình càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấynhiêu

Vì vậy, hiệu quả là chỉ tiêu dùng để phân tích, đánh giá và lựa chọn cácphương án hành động

Hiệu quả tài chính còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệuquả doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi

một doanh nghiệp Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh

tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để cóđược lợi ích kinh tế Hiệu quả tài chính là mối quan tâm hàng đầu của cácdoanh nghiệp, các nhà đầu tư

Trang 2

1.2 Các nguyên tắc xác định hiệu quả:

Nguyên tắc 1: Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả:

Theo nguyên tắc này, tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sở mụctiêu Mục tiêu khác nhau thì tiêu chuẩn hiệu quả khác nhau, mục tiêu thay đổithì tiêu chuẩn hiệu quả thay đổi, tiêu chuẩn hiệu quả được xem là thước đo đểthực hiện các mục tiêu

Nguyên tắc 2: Nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích:

Một phương án được xem là có hiệu quả khi nó kết hợp trong đó cácloại lợi ích Bao gồm lợi ích của chủ doanh nghiệp, lợi ích của xã hội, lợi íchtrước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế

và lợi ích xã hội

Nguyên tắc 3: Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học.

Để đánh giá hiệu quả các phương án cần phải dựa trên một hệ thốngcác chỉ tiêu có thể lượng hoá được và không lượng hoá được, tức là phải kếthợp phân tích định lượng hiệu quả với phân tích định tính Không thể thay thếphân tích định lượng bằng phân tích định tính khi phân tích định lượng chưa

đủ bảo đảm tính chính xác, chưa cho phép phản ánh được mọi lợi ích cũngnhư mọi chi phí mà chủ thể quan tâm

Nguyên tắc 4: Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế:

Theo nguyên tắc này, phương pháp tính toán hiệu quả và hiệu quảkinh tế phải được dựa trên cơ sở các số liệu thông tin thực tế, đơn giản và dễhiểu Không nên sử dụng những phương pháp quá phức tạp khi chưa có đầy

đủ các thông tin cần thiết hoặc những thông tin không đảm bảo độ chính xác

2 Các loại hiệu quả

2.1 Hiệu quả tổng hợp:

Là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọi mục tiêu mà chủthể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí để có đượcnhững kết quả đó

Trang 3

Hiệu quả tổng hợp bao gồm:

+ Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế mô tả mối quan hệ giữa lợi ích

kinh tế mà chủ thể nhận được và chi phí bỏ ra để nhận được lợi ích kinh tế đó.Biểu hiện của lợi ích và chi phí kinh tế phụ thuộc vào chủ thể và mục tiêu màchủ thể đặt ra Đối với chủ thể doanh nghiệp, đó có thể là doanh thu bán hàng

và những chi phí gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để có được doanhthu bán hàng đó Đối với Nhà nước, lợi ích kinh tế không chỉ bó hẹp trongmột doanh nghiệp mà được xem xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế

+ Hiệp quả chính trị xã hội: Là hiệu quả mà chủ thể nhận được trong

việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội Chẳng hạn, giải quyết công ăn việclàm, công bằng xã hội, môi trường…

+ Hiệu quả trực tiếp: Là hiệu quả được xem xét trong phạm vi chỉ

một dự án, một doanh nghiệp hay một đối tượng

+ Hiệu quả gián tiếp: Là hiệu quả mà một đối tượng nào đó tạo ra cho

một đối tượng khác Việc xây dựng dự án này có thể kéo theo việc xây dựnghàng loạt những dự án khác Hiệu quả của dự án đang xem xét là hiệu quảtrực tiếp còn hiệu quả của các dự án khác là hiệu quả gián tiếp

+ Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: Là hai hình thức biều

hiện mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Trong đó, hiệu quả tuyệt đối được

đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí, còn hiệu quả tương đối được đo bằng

tỉ số giữa kết quả và chi phí Lợi nhuận ròng hàng năm được xem như là hìnhthức của hiệu quả tuyệt đối, tỉ suất lợi nhuận là hình thức của hiệu quả tươngđối

2.2 Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân:

Xét theo góc độ chủ thể nhận được kết quả (lợi ích) và bỏ chi phí để cóđược kết quả đó, có khái niệm hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốcdân

+ Hiệu quả tài chính: Là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một

doanh nghiệp Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế

Trang 4

mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để cóđược lợi ích kinh tế.

+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: Còn đựoc gọi là hiệu quả kinh tế xã hội

là hiệu quả tổng hợp được xem xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Chủ thểđược hưởng hiệu quả kinh tế quốc dân là toàn bộ xã hội mà người đại diệncho nó là Nhà nước, vì vậy những lợi ích và chi phí được xem xét trong hiệuquả kinh tế xã hội xuất phát từ những quan điểm toàn bộ nền kinh tế quốcdân

2.3: Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài:

Hiệu quả trước mắt: Là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời

gian ngắn Lợi ích được xem xét trong loại hiệu quả này là lợi ích trước mắt,mang tính tạm thời Việc nhập những thiết bị cũ, công nghệ kém tiên tiến, rẻtiền có thể mang lại hiệu quả trước mắt nhưng về lâu dài không hẳn là nhưvậy

Hiệu quả lâu dài: Là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian

dài Việc bỏ tiền mua bao hiểm có thể lợi ích trước mắt bị vi phạm nhưng nótạo ra một thế ổn định lâu dài, nó cho phép san bớt rủi ro cho các nhà bảohiểm

3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:

Mỗi một doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh đều mong muốn thuđược lợi nhuận cao nhất Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ tính toánphân bổ các nguồn lực một cách hợp lý mà còn phải tìm mọi cách để nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình

Có làm được như vậy mới có thể giúp doanh nghiệp tồn tại và thu được lợinhuận cao

Lợi nhuận cao là điều mà các doanh nghiệp luôn muốn vươn tới trongquá trình kinh doanh và đó cũng chính là mục tiêu cho mọi sự cố gắng củachủ doanh nghiệp Xét về mặt xã hội, sự cố gắng của mỗi một doanh nghiệp

sẽ đem lại lợi ích cho xã hội như cung cấp thêm nhiều sản phẩm có giá trị, tạo

Trang 5

nhiều việc làm mới chẳng hạn Xét về mặt kinh tế thì nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh sẽ làm cho chủ doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn.

Từ đó thấy rằng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh không những

có lợi cho chính chủ doanh nghiệp mà còn có lợi cho xã hội

Vì vậy, để có được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất cần phải tínhtoán một cách chi tiết cách phân bổ nguồn lực một cách hợp lý, cần đề ra cácchỉ tiêu về kinh tế - kỹ thuật – tài chính của doanh nghiệp Trên cơ sở đó tìm

ra các biện pháp sát thực để tăng cường hoạt động kinh tế, và quản lý doanhnghiệp, nhằm huy động mọi khả năng tiềm tàng về vốn, lao động, đất đai vàoquá trình sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp

II NHỮNG YẾU TỐ VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QỦA SẢN XUẤT KINH DOANH:

1 Môi trường bên ngoài doanh nghiệp:

1.1.Môi trường vĩ mô

Môi trường vĩ mô là tổng thể các nhân tố như chính trị - pháp luật, kinh

tế, văn hoá – xã hội, công nghệ, quốc tế….Các nhân tố này có thể ảnh hưởngtrực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanhnghiệp Các doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển được cần phải quan tâm,xem xét các yếu tố này như một phần tất yếu để có thể nắm bắt những cơ hội

và tránh những rủi ro không đáng có Môi trường vĩ mô gồm một số yếu tốchủ yếu sau:

a Các nhân tố chính trị - pháp luật

Các nhân tố này có ảnh hưởng một cách trực tiếp tới nền sản xuất trongnước nói chung và hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp nóiriêng Nếu như một nền chính trị ổn định, các hệ thống luật pháp - quy phạm

rõ ràng, có sự thống nhất từ trung ương tới địa phương, có một sự công bằnggiữa các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp nhà nước sẽ tạo điều kiệncho các doanh nghiệp an tâm sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh Trái lại nếu như nền chính trị mất ổn định, các hệ thống luật

Trang 6

pháp không rõ ràng, thường xuyên thay đổi, không có hệ thống thì sẽ làm chocác doanh nghiệp không thể an tâm để sản xuất kinh doanh và điều đó sẽ dẫntới việc suy giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh

Thêm vào đó môi trường chính trị không ổn định dễ làm cho các nhà đầu

tư nước ngoài e ngại, không muốn đầu tư vào sản xuất trong nước, như vậy sẽ

là một tổn thất rất lớn đối với nền kinh tế trong nước Mặt khác, sự không ổnđịnh về chính trị dễ gây mất lòng tin với các nhà đầu tư trong nước dẫn đếntình trạng không muốn đầu tư hoặc có đầu tư chỉ là kiểu đầu tư “chụp giật”không thể đem lại sự lớn mạnh cho nền kinh tế và như vậy hiệu quả sản xuấtkinh doanh không cao

Ngoài ra sự thay đổi thường xuyên của hệ thống pháp luật sẽ làm chomột số doanh nghiệp được lợi còn một số khác thì lâm vào tình cảnh bất lợi,chính vì thế mà các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ các quy phạm phápluật cũng như các chính sách mới của Nhà nước để từ đó nắm lấy cơ hội chomình

b Các nhân tố kinh tế

Các nhân tố kinh tế như lạm phát, tỷ giá hối đoái, tốc độ tăng trưởngkinh tế, các chính thương mại…đều có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả sảnxuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp nhà nước lẫndoanh nghiệp tư nhân Mỗi một nhân tố tác động tới doanh nghiệp theo cáchướng khác nhau Thí dụ, khi xem xét chính sách khuyến khích xuất khẩuhàng dệt may chẳng hạn, có ý kiến cho rằng nên bán hạn ngạch một cáchcông khai như vậy sẽ tránh được tình trạng phân bổ hạn ngạch không hợp lý.Tuy nhiên nếu làm như vậy thì chỉ một số ít doanh nghiệp có nền tài chínhmạnh sẽ mua được hầu hết hạn ngạch và từ đó các doanh nghiệp nhỏ sẽkhông có được hạn ngạch Chính vì vậy có thể làm nảy sinh vấn đề, cácdoanh nghiệp lớn có thể ép giá bắt các doanh nghiệp nhỏ bán sản phẩm chomình và lấy phần chênh lệch giữa giá mua của doanh nghiệp nhỏ trong nước

và giá xuất khẩu ra nước ngoài

Trang 7

Chính vì vậy mà đối với mỗi một nhân tố kinh tế đều có thể gây ảnhhưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, có thể theochiều hướng tốt hoặc chiều hướng xấu Điều đó là hoàn toàn phụ thuộc vàoviệc nghiên cứu và đưa ra các chính sách của Nhà nước trong mỗi thời kỳ củanền kinh tế.

c Các nhân tố khoa học – công nghệ

Khoa học công nghệ là yếu tố then chốt quyết định tới chất lượng sảnphẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong thời đại ngàynay khoa học công nghệ thay đổi liên tục khiến cho các nước đi sau có điềukiện tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại để cải tiến kỹ thuật,nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh mà không mất nhiều thời giannhư các nước tư bản trước đây

Tuy nhiên việc tiếp thu và vận dụng được hay không đó còn là vấn đềcần xem xét Lý do chủ yếu là do điều kiện năng lực của mỗi doanh nghiệp,nếu doanh nghiệp chỉ biết tận dụng những thành tựu mới nhất nhưng điềukiện sản xuất không cho phép thì những công nghệ đó cũng chẳng có ích lợi

gì Hơn thế nữa việc đổi mới công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải có nền tàichính đủ mạnh, nếu không thì sẽ không thể theo kịp tốc độ phát triển như hiệnnay

Ngoài ra, để có thể sử dụng được những công nghệ hiện đại này đòi hỏicác doanh nghiệp cần phải có một chương trình đào tạo con người phù hợp,điều đó sẽ góp phần xây dựng tác phong công nghiệp cho nhân viên, đồngthời sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng lên đáng kể

d Các nhân tố quốc tế

Việt Nam đang cố gắng ra nhập tổ chức WTO một cách sớm nhất, hơnthế nữa môi trường quốc tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đối với nền sản xuấttrong nước nói chung và các doanh nghiệp nói riêng Trong quá trình hội nhậpcác doanh nghiệp có thể có những cơ hội như: thị trường được mở rộng hơn,tiếp thu được các phong cách quản lý hiện đại, chuyển giao và ứng dụng đượcnhiều khoa học công nghệ, kỹ thuật hiện đại hơn….Bên cạnh đó các doanh

Trang 8

nghiệp cũng gặp phải những khó khăn như: khách hàng khó tính hơn, môitrường cạnh tranh gay gắt hơn…

Nếu các doanh nghiệp tận dụng được những điểm mạnh và hạn chế đượcnhững điểm yếu thì đó sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sảnxuất và nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh Còn nếu không tận dụngđược những cơ hội và hạn chế được những thách thức thì doanh nghiệp sẽkhông thể tồn tại được trong nền kinh tế thị trường như ngày nay

e Các nhân tố thuộc cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là yếu tố tác động một cách gián tiếp tới hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Các nhân tố thuộc về cơ sở hạ tầng như: hệthống đường giao thông, hệ thống điện nước, hệ thống thông tin liên lạc…Cácnhân tố này có thể gây ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗidoanh nghiệp theo nhiều hướng khác nhau Cụ thể: nếu doanh nghiệp nào cóđiều kiện gần đường giao thông chính nơi tập trung của nhiều dân cư, gần khucung ứng và tiêu thụ… sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp tăng lên Tuy nhiên nếu là nơi đông người thì doanh nghiệp cần phải

có những biện pháp khắc phục ô nhiễm, tiếng ồn…để bảo đảm cuộc sống chongười dân

f Các nhân tố văn hoá – xã hội

Các nhân tố thuộc về văn hoá – xã hội có ảnh hưởng gián tiếp tới hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các nhân tố này thường bao gồm:

độ tuổi, giới tính, thói quen, mức thu nhập của dân cư, niềm tin…Những yếu

tố này có thể làm cho một số doanh nghiệp gặp khó khăn, còn một số khác thì

có nhiều cơ hội hơn trong kinh doanh Điều căn bản là các doanh nghiệp phảinắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng và tìm cách thoả mãn nó thì đó sẽ

là cơ hội để doanh nghiệp có thể nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh.Thí dụ như sản phẩm bánh kẹo của công ty bánh kẹo Hải Hà Công ty này đã

có những sản phẩm bánh kẹo từ thường dân đến những sản phẩm bánh kẹocao cấp, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày cho đến nhu cầu trong các buổitrọng đại Về thực chất bánh kẹo của công ty này đã đáp ứng được nhu cầu

Trang 9

của đại đa số người dân, vì thế mà sản phẩm của công ty đã có mặt ở khắp nơitrên mọi miền đất nước.

Từ đó có thể thấy rằng, để có thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhkhông chỉ đòi hỏi các doanh nghiệp phải biết nắm bắt cơ hội mà phải tìm cáchbiến những cơ hội đó thành điểm mạnh của chính mình, từ đó có những chiếnlược thích hợp để phát triển sản xuất, mở rộng thị trường kinh doanh

1.2.Môi trường vi mô

Môi trường vi mô có phạm vi nhỏ hơn môi trường vĩ mô nhưng nó lại cóảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.M.Porter đã đưa ra mô hình gồm 5 lực lượng cạnh tranh có ảnh hưởng trựctiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sản xuất kinhdoanh của mỗi doanh nghiệp

Trong mô hình đó có những nhân tố khác nhau và mỗi một nhân tố cóchiều hướng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanhnghiệp một hướng khác nhau

Dưới đây là mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter:

Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của M.Porter

Mối đe doạ từ những sản phẩm và dịch vụ thay thế

Tính khốc liệt cạnh tranh của các đối thủ

Trang 10

- Mối đe doạ từ các đối thủ (tiềm năng)

Đây là những doanh nghiệp sắp xâm nhập vào thị trường Đối với cácdoanh nghiệp này thì lúc đầu có thể sản phẩm của họ chưa được khách hàngchấp nhận nhưng về lâu về dài thì sự có mặt của họ sẽ lôi kéo được một bộphận khách hàng nhất định và từ đó làm cho lượng khách hàng của doanhnghiệp giảm sút, điều đó sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp không cao

Do đó, các doanh nghiệp cần phải luôn luôn phải đổi mới sản phẩm củamình, làm cho sản phẩm của mình chiếm được lòng tin của khách hàng Bêncạnh đó doanh nghiệp cần phải chủ động tìm các biện pháp đối phó với nhữngdoanh nghiệp mới này khi mà họ mới xâm nhập thị trường để tránh cho doanhnghiệp mình khỏi tổn thất và giảm lợi nhuận

- Khả năng thương lượng của khách hàng

Khách hàng chính là người quyết định sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Nếu không có khách hàng thì doanh nghiệp không thể bán sản phẩmcủa mình cho ai, điều đó làm cho doanh nghiệp bị thua lỗ lớn Nếu kháchhàng ở thế mạnh hơn doanh nghiệp tức là khi sản phẩm của doanh nghiệp cóthể thay thế bằng sản phẩm khác, khách hàng dễ dàng mua được sản phẩm đó

ở bất kỳ đâu, khối lượng khách hàng là khá lớn và khách hàng có người cungứng dễ dàng khi đó khách hàng có thể ép giá doanh nghiệp và điều đó sẽ làmgiảm lợi nhuận của doanh nghiệp Còn nếu doanh nghiệp ở thế mạnh hơnkhách hàng thì doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá sản phẩm của mình từ đódoanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sảnxuất và có được nhiều lợi nhuận hơn

Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay khi mà nền kinh tế thị trường đangngày càng được mở rộng ra toàn cầu thì khả năng thương lượng của kháchhàng ngày càng lớn Chính vì vậy mà để có được lợi nhuận cao và ổn địnhdoanh nghiệp phải luôn luôn cải thiện mẫu mã phù hợp với thị hiếu của ngườitiêu dùng đồng thời phải tạo được niềm tin nơi khách hàng để sản phẩm củadoanh nghiệp có chỗ đứng vững chắc trong lòng khách hàng Làm được điều

Trang 11

đó doanh nghiệp sẽ vượt xa đối thủ cạnh tranh và sẽ luôn được khách hàng tínnhiệm.

- Mối đe doạ từ những sản phẩm, dịch vụ thay thế

Mối đe doạ từ những sản phẩm, dịch vụ thay thế có thể là một áp lựcđáng kể trong cạnh tranh hiện nay Sự phát triển của công nghệ thông tin đãtiếp sức cho loại hình dịch vụ này Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gaygắt như hiện nay, nếu sản phẩm của doanh nghiệp dễ dàng bị thay thế bằngsản phẩm khác mà giá lại có phần ít hơn thì người tiêu dùng sẵn sàng chuyểnsang sản phẩm khác Hơn thế nữa, khách hàng hiện nay có thể mua sắm ngaytại nhà thông qua mạng internet, điện thoại… nên việc thay thế sản phẩm nàybằng sản phẩm khác có cùng công dụng là rất dễ dàng

Vì vậy doanh nghiệp cần phải có những biện pháp thích hợp để đối phóvới những mặt hàng thay thế loại này để không bị làm giảm lợi nhuận và hiệuquả sản xuất kinh doanh của mình

- Khả năng thương lượng của nhà cung cấp

Nhà cung cấp là những người cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp Điều

đó phụ thuộc vào các nhân tố như vai trò của ngành đó trong xã hội, việc ápdụng chiến lược nào, sự khác biệt của sản phẩm… Nhà cung ứng có thể épgiá doanh nghiệp khi nhà cung ứng độc quyền, sản phẩm của nhà cung ứng có

sự khác biệt đối với các nhà cung ứng khác Lúc đó nhà cung ứng có thểnâng giá, giảm chất lượng sản phẩm cung cấp…và sẽ gây ảnh hưởng xấu tớichất lượng sản phẩm cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp

Vì vậy để giảm thiểu những rủi ro trên doanh nghiệp cần phải tìm kiếmthị trường, tìm kiếm những nhà cung ứng mới, thường xuyên tạo quan hệ làm

ăn lâu dài với nhiều nhà cung ứng có uy tín, nguồn hàng ổn định và chấtlượng đảm bảo Có như vậy doanh nghiệp mới tự chủ được trong sản xuấtcũng như trong các quan hệ làm ăn

Trang 12

- Tính khốc liệt cạnh tranh giữa các đối thủ

Các đối thủ ở đây là những doanh nghiệp sản xuất cùng một mặt hàng,những doanh nghiệp này cùng kinh doanh trên cùng một địa bàn với doanhnghiệp Những đối thủ cạnh tranh này luôn tìm mọi cách để bán được càngnhiều sản phẩm của họ càng tốt và giành giật thị trường của doanh nghiệpkhác, điều đó sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm sút nhanhchóng

Trong bối cảnh hiện nay, việc nhiều doanh nghiệp cùng bán một sảnphẩm trên cùng một địa bàn là điều vô cùng dễ gặp Trước những nguy cơ bịdoanh nghiệp khác chiếm mất thị phần các doanh nghiệp phải có những biệnpháp đối phó lại sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác, có như vậy doanhnghiệp mới không bị lâm vào tình trạng mất khách hàng, thị trường và từ đólàm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh bị giảm sút

Tóm lại với 5 lực lượng cạnh tranh này doanh nghiệp phải có những kếsách lâu dài để có được lợi thế hơn các doanh nghiệp khác, có như vậy doanhnghiệp mới có được lợi nhuận cao và nâng cao được hiệu quả sản xuất kinhdoanh

2.Môi trường bên trong doanh nghiệp

Môi trường bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu muốn nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh không thể không đánh giá môi trường bên trong của doanhnghiệp, điều đó sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được điểm mạnh cũng nhưđiểm yếu của mình để từ đó có những giải pháp thích hợp để nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh

2.1.Quản lý chiến lược và công tác lập kế hoạch

- Quản lý chiến lược là quá trình quản lý bao gồm việc lập kế hoạchchiến lược và thực thi các kế hoạch đó Như vậy quản lý chiến lược là mộtquá trình liên tục, sự thay đổi của những yếu tố bên trong và bên ngoài tổchức là động lực cho những điều chỉnh chiến lược

Trang 13

Như vậy một doanh nghiệp nếu không có chiến lược thì doanh nghiệp

đó sẽ không thể tồn tại được và vì thế mà sẽ không có được hiệu quả sản xuấtkinh doanh Do vậy để có thể tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải xâydựng cho mình một chiến lược hợp lý, phù hợp với từng thời kỳ phát triển củadoanh nghiệp, sau đó sẽ biến các đường lối chiến lược đó thành nhữngchương trình và kế hoạch cụ thể để từ đó có được sự phối hợp trong toàn thểcán bộ công nhân viên, từ đó sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp

- Công tác lập kế hoạch: lập kế hoạch là quá trình xác định các mục tiêu

và lựa chọn các phương thức để đạt được các mục tiêu đó Nếu không có các

kế hoạch, nhà quản lý có thể không biết tổ chức và khai thác con người và cácnguồn lực khác của tổ chức một cách có hiệu quả, thậm chí không có đượcmột ý tưởng rõ ràng về cái họ cần khai thác và tổ chức Điều đó sẽ làm chodoanh nghiệp không thể sản xuất được và nếu có thể sản xuất thì sẽ lâm vàotình trạng không hiệu quả từ đó làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Vì vậy để có được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao doanhnghiệp cần phải có được các phương thức, mục tiêu phù hợp và cụ thể hoá nóthành các biện pháp cụ thể để đạt được mục tiêu đó

Trang 14

mình, điều đó sẽ làm cho hiệu quả công việc tăng lên và hiệu quả sản xuấtkinh doanh được nâng lên Để có đựơc một cơ cấu tổ chức đáp ứng đượcnhững yêu cầu trên là điều khó có thể thực hiện Vì thế mà các doanh nghiệpcần phải lựa chọn các loại hình cơ cấu khác nhau để có thể tận dụng đượcnhững ưu điểm của mỗi loại hình cơ cấu và phải tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổchức theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

2.3.Văn hoá doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp tạo nên nền tảng vững chắc cho mỗi doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp có nền văn hoá mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ cóđược sự nhất trí đồng lòng của toàn thể cán bộ công nhân viên của doanhnghiệp Lúc đó các công nhân viên trong doanh nghiệp sẽ làm việc theo tinhthần tự giác cao, họ làm việc hết mình vì tổ chức và vì chính họ, chính vì vậy

mà họ có động lực, niềm tin vào chính sự lớn mạnh của tổ chức mình Điều

đó sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được nângcao lên Ngược lại nếu công nhân viên mất lòng tin ở những người lãnh đạodoanh nghiệp thì họ chỉ làm vì họ được thuê điều đó sẽ không khơi dậy được

ở họ lòng nhiệt huyết với công việc, ở đó chỉ có quan hệ làm thuê, điều đó sẽlàm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh không được cao Thí dụ, trước đây ởcông ty Daewoo, thay vì đại từ “tôi” đã được thay bằng đại từ “chúng tôi”,điều đó làm cho công nhân viên ở công ty này thêm gắn kết với nhau hơn và

họ đã trung thành với công ty coi công ty như là mái ấm thứ hai của mình vàđương nhiên hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty trong giai đoạn này rấtcao

2.4.Công tác quản lý các nguồn lực

2.4.1.Nguồn nhân lực và công tác quản lý nguồn nhân lực

- Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt quyết định tới hiệu quả sản xuấtkinh doanh của mỗi doanh nghiệp Thông qua con người mà các nguồn lựckhác như thiết bị, máy móc, công nghệ…được khai thác và sử dụng một cách

có hiệu quả Do đó con người là yếu tố trung tâm quyết định mọi sự thànhcông hay thất bại của doanh nghiệp Chính vì thế mà doanh nghiệp cần phải

Trang 15

có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên giàu kinh nghiệm, nhiệttình với công việc, sáng tạo trong sản xuất, độc lập làm việc…Có như vậy thìhiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được tăng lên khôngngừng.

2.4.2.Tình hình tài chính và công tác quản lý tài chính

Vốn là nhân tố sống còn đối với doanh nghiệp Nếu không có vốn doanhnghiệp sẽ không thể tiến hành đầu tư vào sản xuất (mua sắm trang thiết bị, trảlương công nhân, sửa chữa nhà xưởng…) Nếu không có vốn mọi hoạt độngcủa doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng bế tắc, không thể hoạt động được.Trong thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay, các doanh nghiệp đều ýthức được rằng muốn tồn tại thì phải luôn luôn đi trước đối thủ Để có thể đitrước đối thủ thì không còn cách nào khác là phải nâng cao chất lượng sảnphẩm, mà muốn nâng cao chất lượng sản phẩm thì không còn cách nào khác

là phải đầu tư vào công nghệ sản xuất Điều đó sẽ làm năng suất lao động tănglên, chất lượng của sản phẩm được đánh giá cao hơn đối thủ và quan trọnghơn là hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng lên rõ rệt Để có được nhữngđiều đó thì phải có vốn

Khi doanh nghiệp có nền tài chính đủ mạnh thì doanh nghiệp có thể tựchủ về vốn, có thể đem vốn vào phát triển sản xuất mà không cần hỗ trợ từcác nguồn vốn khác Muốn có điều đó thì doanh nghiệp phải có một nền tàichính đủ mạnh và tất nhiên đi kèm với nó sẽ phải là một chính sách quản lý,huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả - tức là làm tốt công tácquản lý tài chính

2.4.3.Công nghệ và việc ứng dụng khoa học công nghệ

Trong thời kỳ hiện nay, công nghệ là yếu tố tác động trực tiếp đến chấtlượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Nếunhư không biết tận dụng những thành tựu khoa học công nghệ thì các doanhnghiệp sẽ mất đi nhiều cơ hội trên thương trường từ đó làm giảm lợi nhuậncủa doanh nghiệp và đương nhiên sẽ làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp

Trang 16

Nếu doanh nghiệp có khả năng cập nhật những công nghệ tiên tiến nhất,lúc đó không những doanh nghiệp sẽ có được nhiều cơ hội hơn mà năng suấtlao động của doanh nghiệp cũng tăng lên không ngừng, tạo điều kiện đểdoanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao được hiệu quảsản xuất kinh doanh.

Chính vì vậy đối với mỗi doanh nghiệp thì cần có một chính sách đầu tưthích hợp đối với khoa học và công nghệ Điều căn bản là phải làm sao vừanâng cao được chất lượng sản phẩm, năng suất lao động lại tiết kiệm được chiphí để phù hợp với từng điều kiện và khả năng của doanh nghiệp

2.4.4.Nguyên vật liệu và công tác quản lý nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong mỗi quá trìnhsản xuất Nguyên vật liệu có chất lượng tốt là điều kiện nâng cao chất lượngsản phẩm, góp phần sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng năng suất laođộng Khi cung ứng nguyên vật liệu một cách đảm bảo, sử dụng tiết kiệm, dựtrữ đầy đủ còn ảnh hưởng tích cực đến tình hình tài chính của doanh nghiệp,ảnh hưởng đến việc giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, tăng tích luỹcho doanh nghiệp và đương nhiên sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp tăng lên

Chính vì vậy mà mỗi doanh nghiệp cần có kế hoạch quản lý việc sử dụng

và dự trữ nguyên vật liệu một cách thích hợp, đó chính là nguyên nhân cơ bảngiúp cho doanh nghiệp có thể giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,tăng mức lợi nhuận cho doanh nghiệp và sẽ nâng cao được hiệu quả sản xuấtkinh doanh

2.4.5.Thông tin và công tác quản lý thông tin

Thông tin là yếu tố cần thiết để cho hoạt động của doanh nghiệp đượcthông suốt Hơn nữa nhờ hệ thống thông tin nhanh chóng mà nhà quản lý cóthể đưa ra các quyết định kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh và đó là

cơ sở cho công tác lập kế hoạch Bên cạnh đó việc nắm bắt thông tin một cáchnhanh chóng sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn trênthương trường và từ đó có điều kiện hơn nữa để nâng cao thị phần, mở rộng

Trang 17

sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp.

Chính vì vậy mà việc quản lý hệ thống thông tin ngày càng trở thành nhucầu bức thiết của các doanh nghiệp nói chung và của các tổ chức kinh tế nóiriêng Việc quản lý thông tin không những đem lại cơ hội cho các doanhnghiệp có được sự thành công trên thị trường để từ đó nâng cao được năngsuất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh; mặt khác nó còn hạn chế được

sự “rò rỉ” thông tin nội bộ của mỗi doanh nghiệp Đó là những lý do chínhkhiến cho việc quản lý thông tin ngày càng được chú trọng hơn

2.5.Công tác lãnh đạo

Công tác lãnh đạo là việc mà người lãnh đạo giữ vị trí vạch ra đường lối,mục đích của hệ thống, họ khống chế và chi phối hệ thống Công việc củangười lãnh đạo có thể đem lại sự thành công hay thất bại của cả một hệ thốngbởi vì nếu họ không vạch ra được một đường lối đúng đắn thì cả hệ thống sẽrơi vào tình trạng khủng hoảng, vì thế sẽ làm cho nội bộ hoang mang thiếulòng tin ở lãnh đạo và tất yếu dẫn tới việc giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh

Và ngược lại nếu người lãnh đạo có được một đường lối lãnh đạo sáng suốtthì sẽ có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp trong thương trường, giúp doanhnghiệp có hướng đi đúng đắn và đem lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp.Như vậy, khi thực hiện công tác lãnh đạo đòi hỏi phải có các cách thứctác động phù hợp và có chủ đích của người lãnh đạo lên con người với cácbiện pháp và nguồn lực thích hơp để đạt được mục tiêu cuối cùng đề ra, cónhư vậy mới có thể nâng cao được năng suất lao động và hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp

2.6.Công tác kiểm tra

Kiểm tra là qúa trình xem xét các hoạt động nhằm mục đích làm cho cáchoạt động đạt kết quả tốt hơn, đồng thời, kiểm tra giúp phát hiện ra những saisót, lệch lạc để có biện pháp khắc phục, bảo đảm cho hoạt động thực hiệnđúng hướng

Trang 18

Công tác kiểm tra là việc mà các nhà quản lý khi thiết lập hệ thống kiểmtra phải xác định sự cân đối tốt nhất giữa kiểm tra và quyền tự do của các cánhân; giữa chi phí cho kiểm tra và lợi ích do hệ thống này đem lại cho tổchức.

Như vậy, nếu nhà quản lý quá coi trọng kiểm tra mà không coi trọngquyền tự do cá nhân thì sẽ làm cho việc kiểm tra trở thành áp lực đối với cánhân Khi đó các cá nhân trong doanh nghiệp sẽ làm việc một cách đối phó vàkhông có tinh thần sáng tạo, hăng say trong công việc Mặt khác nếu ngườiquản lý coi trọng quyền cá nhân mà không chú ý tới việc kiểm tra dễ làm chocông nhân viên trong doanh nghiệp làm việc không có trách nhiệm, ỷ lại,thiếu tinh thần làm việc tập thể…Cả hai cách làm trên đều làm cho năng suấtlao động giảm và hiệu quả sản xuất kinh doanh không cao

Bên cạnh đó nhà quản lý cũng cần phải tính toán sao cho hợp lý giữa chiphí bỏ ra cho quá trình kiểm tra và lợi ích do việc này đem lại Nếu khôngtính toán hợp lý sẽ dẫn đến việc làm suy giảm quỹ tài chính của tổ chức; mặtkhác làm cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp bị áp lực, luôn lo sợ

sẽ bị kiểm tra đột suất Như vậy sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanhkhông được cao

Chính vì vậy mà đối với công tác kiểm tra người quản lý phải có những

kế hoạch cụ thể để biến công tác kiểm tra thành cơ sở cho việc phát hiệnnhững hạn chế, những tồn tại để kịp thời tháo gỡ và sửa chữa Có như vậymới làm cho công tác kiểm tra thật sự có ích và điều đó sẽ góp phần nâng caoniềm tin nơi cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp cũng như góp phầnnâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

III HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH.

1.Mục đích và quan điểm đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Trong cơ chế thị trường như hiện nay để có thể tồn tại và phát triểnđược thì các doanh nghiệp không thể không đặt ra cho mình các mục tiêu,các chiến lược kinh doanh cụ thể

Trang 19

Mục tiêu của doanh nghiệp rất đa dạng như: tối đa hoá sản xuất, tăngdoanh thu, tăng lợi nhuận thị phần trên thị trường, chiếm được sự tín nhiệmcủa khách hàng…Mặc dù mỗi doanh nghiệp đều có những mục tiêu riêngkhác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và đặc thù riêng của từng ngành nhưngcác doanh nghiệp giống nhau ở một điểm là đều đặt cho mình mục tiêu ưutiên hàng đầu và bao trùm toàn bộ quá trình kinh doanh sản xuất của minh đó

là” Tối đa hoá lợi nhuận”.

Có thể nói rằng để có thể đạt được một mức lợi nhuận cao doanhnghiệp cần phải tiến hành hoạt động phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồnlực, phải luôn kiểm tra tiến hành và điều chỉnh kịp thời các phương án sảnxuất kinh doanh cho phù hợp với những biến đổi của môi trường Muốn vậydoanh nghiệp không thể không tính toán, đánh giá hiệu quả sản xuất kinhdoanh ở phạm vi doanh nghiệp nói chung cũng như từng bộ phận, từng lĩnhvực công việc nói riêng

Vì vậy mục đích của đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp là xác định xem doanh nghiệp đạt được bao nhiêu lợi nhuận tức làphản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó đánh giáhiệu quả sản xuất kinh doanh chia thành:

- Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh qua chỉ tiêu hiệu quả kinh tếchung

- Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh qua chỉ tiêu hiệu quả cácnguồn lực

2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.

2.1 Hiệu quả kinh tế chung:

* Chỉ tiêu này chi biết quy mô lãi với tổng chi phí đã bỏ ra

+ Công thức tính toán như sau:

Trang 20

2.2 Hiệu quả kinh tế chung tương đối: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng chi phí

bỏ ra thì thu được bao nhiêu doanh thu

2.3 Hiệu quả sử dụng vốn được tính toán chủ yếu qua:

- Hệ số doanh lợi của vốn kinh doanh:

Trang 21

- Hệ số doanh lợi của doanh thu thuần:

DTT : Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu thuần mang lại mấy đồng lợinhận Trị số chỉ tiêu này tính càng lớn thì chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốncàng cao, hiệu quả kinh doanh càng lớn và ngược lại

2.4 Hiệu quả sử dụng vốn cố đinh hay tài sản cố định:

Giá trị bình quân của TSCĐ trong kỳ là tổng giá trị còn lại của TSCĐ,được tính theo nguyên giá của TSCĐ sau khi trừ đi phần hao mòn luỹ tiến đến

kỳ tính toán Để phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ có hai công thưc tính toán:

- Sức sinh lợi của TSCĐ:

+ Công thức tính toán:

Trang 22

SSLTSCĐ = LNST/ Nguyên giá bq TSCĐ

Trong đó:

SSLTSCĐ : Sức sinh lợi TSCĐLNST: Lợi nhuận sau thuế

Chỉ tiêu này cho biết đơn vị nguyên giá bình quân của TSCĐ đem lạibao nhiêu đồng lợi nhận sau thuế Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sửdụng TSCĐ càng cao và ngược lại

Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn cố đinh có thể thấy các nguyên nhâncủa việc sử dụng vốn cố định không có hiệu quả thường là đầu tư TSCĐ quámức cần thiết, TSCĐ không sử dụng chiếm tỷ trọng lớn, sử dụng TSCĐ vớicông suất thấp hơn mức cho phép

2.5 Hiệu quả sử dụng TSCĐ: Được phản ánh qua hai chỉ tiêu:

Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị TSLĐ bình quân đem lại mấy đơn vịtổng giá trị sản xuất Sức sản xuất của tài sản lưu động càng lớn hiệu quả sửdụng tài sản lưu động càng cao và ngược lại

- Sức sinh lợi của TSLĐ (SSLTSLĐ)

Trang 23

SSLTSLĐ = LNST/ Tài sản lưu động bình quân

Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản lưu động bình quân đem lạibao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng

sử dụng tài sản lưu động càng cao và ngược lại

2.6 Hiệu quả sử dụng tổng tài sản:

Chỉ tiêu này bao gồm hai chỉ tiêu sau:

Trong đó:

Trang 24

SSLTS : Sức sinh lợi sau thuếLNST : Lợi nhuận sau thuếTổng TSBQ : Tổng TS bình quân.

Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị tài sản đem lại bao nhiêu đồng lợinhuận Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng lớn vàngược lại

2.7 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn lưu động bỏ ra sẽ đem lại baonhiêu đồng lợi nhuận, thể hiện trình độ sử dụng vốn lưu động trong sản xuấtkinh doanh và khả năng sinh lời của vốn lưu động

2.8 Hiệu quả sử dụng lao động: Năng suất lao động bình quân.

Chỉ tiêu này cho biết một lao động tạo ra được bao nhiêu đồng doanhthu trong kỳ

Trang 25

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN SUẤT KINH DOANH

CŨNG NHƯ MỘT SỐ KHÍA CẠNH CHỦ YẾU VẾ MẶT

TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CỦA XÍ NGHIỆP I.Giới thiệu về Xí nghiệp.

Hiện nay Xí nghiệp có tổng số cán bộ công nhân viên là 457 người,trong đó có 47 kỹ sư trình độ đại học và trên đại học, số còn lại là công nhân

kỹ thuật lành nghề từ bậc 3/7 trở lên

Đi cùng năm tháng gian khổ, bằng sự nỗ lực không ngừng để vương lênđến nay Xí nghiệp đã khẳng định được thương hiệu của mình qua hàng loạtcác sản phẩm Cẩu trục tung ra thị trường và được khách hàng chấp nhận Các

Trang 26

sản phẩm của Xí nghiệp làm ra đạt tỷ lệ nội địa hoá tới 90%, trong khi đó giáchỉ bằng 6070% so với hàng ngoại nhập, mà tiến độ giao hàng nhanh chóng,dịch vụ sau bán hàng tốt hơn, chế độ bảo dưỡng thay thế thuận tiện.

Sự thành công lớn nhất là Xí nghiệp là đã tạo được trong tiềm thức củamỗi người, đểu có chung một suy nghĩ, một phương châm làm việc lấy

“Khoa học kỹ thuật là then chốt, chất lượng sản phẩm là sự sống còn của

đơn vị” nên tập thể CBCNV Xí nghiệp đều hăng hái thi đua phát huy sáng

kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá trong sản xuất

Qua thực tế đã chứng minh bằng sự tín nhiệm của khách hàng đối với

Xí nghiệp, và nhiều hình thức khen thưởng của Đảng và Nhà nước, các Bộ

ngành từ địa phương đến Trung ương qua các danh hiệu cao quý như: Đơn vị

anh hùng trong thời kỳ đổi mới, Huận chương lao động hạng 2 và hạng 3, Danh hiệu Giải cầu vàng, Hàng Việt Nam chất lượng cao trong các kỳ hội

chợ, Giải thưởng Sao vàng đất Việt năm 2003, 2004, 2005 Năm 2004 đơn

vị đạt giải thưởng Chất lượng vàng Việt Nam, Bằng khen, Cờ thi đua của

Thủ tướng Chính Phủ cùng nhiều Bằng khen và Giấy khen trong lĩnh vựcphát triển khoa học kỹ thuật và sản xuất kinh doanh

2 Các hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp

2.1 Ngành nghề kinh doanh chính như sau:

- Chế tạo cơ khí Đúc và các thiết bị cơ khí phi tiêu chuẩn

- Xấy lắp các công trình công nghiệp vừa và nhỏ

- Chế tạo, lắp đặt, thiết bị áp lực và các loại cẩu từ 51000 tấn

* Sản phẩm chủ yếu hiện nay:

- Cầu trục chạy trong nhà xưởng từ 5300 tấn

- Cẩu chân đế cho các cảng biển và đóng tàu từ 20200 tấn

- Cổng trục dùng cho công nghiệp và đóng tàu từ 201000 tấn

- Cần cẩu tháp dùng cho xây dựng từ 525 tấn

- Cẩu Contenor dùng cho cảng biển từ 4050 tấn

2.2 Các bạn hàng truyền thống

Trang 27

Trong những năm đầu hình thành và phát triển Xí nghiệp đã cung cấpcho các nhà máy Xi măng Hoàng Thạch, Hoàng Mai, Bỉm Sơn, Chinpon -Hải Phòng, Bút Sơn, Hà Tiên và các nhà máy hoá chất thuộc Tổng công tyHoá chất Việt Nam như: Super Lâm Thao, Phân bón Miền Nam, Phân lânVăn Điển… với các sản phẩm Bi nghiền, tấm lót, thép chịu nhiệt, thép chịuaxít, thép chịu mài mòn Đặc biệt là chế tạo thành công hộp số hành tinh năm

1993 – 1994, đây là bước đột phá để bước vào chế tạo các loại cẩu sau này

Với sự quan tâm của Tổng công ty Tàu thuỷ Việt Nam, sự ủng hộ tinyêu của khách hàng, Xí nghiệp đã ký hợp đồng cung cấp các loại cẩu cho cácđơn vị thuộc Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam như: Công ty đóngtàu Nam Triệu, Bạch Đằng, Bến Kiền, Hạ Long, Nha Trang, Đà Nẵng, nhámáy đóng tàu Dung Quất Ngoài ra Xí nghiệp còn cung cấp cẩu cho nhiềucông trình thuỷ điện trong cả nước như: Sêsan 3, Hướng Điền…

3 Cơ cấu tổ chức của Xí nghiệp

3.1 Hệ thống tổ chức - quản lý

Hệ thống tổ chức - quản lý của Xí nghiệp là một khối thống nhất, cócùng mục đích thực hiện chủ trương phát triển sản xuất kinh doanh của Xínghiệp và có cơ cấu như sau:

* Ban giám đốc (bao gồm):

Trang 28

* Bộ Phận sản xuất

Trụ sở chính tại Ninh Bình:

- Phân xưởng I: (Bao gồm)

+ Bộ phận Đúc+ Bộ phận Gia công làm sạch

- Phân xưởng II (Bao gồm)

+ Bộ phận Gia công cơ khí+ Bộ phận Cầu trục

+ Bộ phận Kết cấu lắp ghép+ Bộ phận Cơ điện

Chi nhánh tại thị xã Uống Bí, tỉnh Quảng Ninh:

- Bộ phận gia công cơ khí

- Bộ phận kết cấu

- Bộ phận Cầu trục

II MỘT SỐ YẾU TỐ CHỦ YẾU VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

1.Môi trường bên ngoài Xí nghiệp

1.1.Môi trường vĩ mô

a Môi trường chính trị và pháp luật

Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ngành cơ khíluôn phải đi trước một bước Vốn đầu tư cho ngành này rất lớn, thời gianhoàn vốn chậm, hơn nữa lại gặp rất nhiều rủi ro Chính vì vậy mà nhiều doanhnghiệp Nhà nước cũng như doanh nghiệp tư nhân không dám đầu tư vàongành cơ khí

Trong hoàn cảnh đó, Xí nghiệp cơ khí Quang Trung đã dám đầu tưtrang thiết bị hiện đại, từng bước học hỏi và sáng tạo để tạo ra những sảnphẩm cẩu, đúc có chất lượng cao không thua kém hàng ngoại Có được những

Trang 29

thành công đó là sự cố gắng không mệt mỏi, tinh thần hăng say sáng tạo làmviệc của toàn thể cán bộ công nhân viên nhà máy và sự quan tâm đầu tư, cácchính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với ngành cơ khí nói chung và Xí nghiệpnói riêng đã tạo động lực mạnh mẽ khuyến khích cho Xí nghiệp phát triển.

Có thể nói rằng chính sự quan tâm, khuyến khích của Nhà nước đã,đang và sẽ tạo một động lực to lớn cho sự phát triển của Xí nghiệp và đó làmột thuận lợi để Xí nghiệp nâng cao đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh

b Môi trường kinh tế

Trong mấy năm trở lại đây sự lớn mạnh của công nghiệp đóng tàu ởnước ta phát triển, mở ra khả năng đủ sức thực hiện các hợp đồng trong nước

và quốc tế Hạ tầng kỹ thuật của ngành công nghiệp đóng tàu thuỷ đòi hỏiphải có nhiều thiết bị chuyên dụng, đặc biệt là các loại cẩu trục, cổng trục, cẩuchân đế có sức nâng lớn Bên cạnh đó là sự phát triển của các ngành côngnghiệp khác và điển hình là việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện mới rất cầnnhững thiết bị nâng hạ

Chính những điều kiện đó đã làm cho xí nghiệp có được một thị trườngrộng lớn để phát triển, nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh Các thiết

bị cẩu trục của xí nghiệp không những đáp ứng được nhu cầu sản xuất trongnước, chất lượng tương đương với hàng ngoại nhập mà giá thành chỉ bằng60÷ 70% so với hàng ngoại nhập Đây cũng chính là những nguyên nhân chủyếu giúp xí nghiệp đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của khách hàng và

từ đó chiếm được lòng tin của khách hàng trong nước, giúp cho xí nghiệpngày càng mở rộng được sản xuất và nâng cao đựơc hiệu quả sản xuất kinhdoanh

c Môi trường khoa học – công nghệ

Trong thời đại ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – côngnghệ là điều kiện để xí nghiệp tận dụng được những thành tựu mới nhất vàotrong sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm Xí nghiệp đã đầu tư 12 trungtâm gia công cơ khí 5 trục thế hệ mới nhất của hãng DMG (Đức) và MaZak

Trang 30

(Nhật), trung tâm tạo mẫu Scan 3D của Italia, các loại máy hàn tự động vàbán tự động cùng nhiều loại máy móc hiện đại khác

Chính vì những sự mạnh dạn đầu tư, dám nghĩ dám làm của giám đốc đãtạo điều kiện cho Xí nghiệp có được thành quả như hiện nay, đó cũng chính lànguyên nhân làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp nâng lênkhông ngừng

d Cơ sở hạ tầng

Mấy năm gần đây Nhà nước rất quan tâm đầu tư xây dựng các cơ sở hạtầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đổi mới của nền kinh tế Chính những điềukiện đó đã giúp Xí nghiệp có được nhiều cơ hội hơn trong việc vận chuyểncác sản phẩm cẩu trục tới tận chân công trình và đảm bảo tiến độ bảo hànhsản phẩm Đồng thời những điều kiện đó giúp cho Xí nghiệp có nhiều lựachọn hơn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của mình

1.2.Môi trường vi mô

a.Mối đe doạ từ các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:

Hiện nay đầu tư vào ngành Cơ khí là một chuyện không đơn giản vì như

đã nói đầu tư vào ngành cơ khí không chỉ đòi hỏi nguồn vốn phải lớn, khảnăng thu hồi vốn chậm mà còn phải có cái tâm với nghề Tuy nhiên do sựphát triển của các ngành cơ khí hiện nay là rất cao cho nên có thể trong tươnglai không xa Xí nghiệp sẽ có những đối thủ cạnh tranh mới Vì vậy Xí nghiệpcần tận dụng cơ hội hiện tại để mở rộng sản xuất kinh doanh, chuẩn bị cácphương pháp đồi phó với các doanh nghiệp tiềm ẩn này để làm cho lợi nhuậncủa Xí nghiệp không bị ảnh hưởng

b.Khả năng thương lượng của khách hàng:

Sản phẩm cẩu trục cỡ lớn là một sản phẩm đặc biệt, nói đặc biệt vì sảnphẩm này chỉ có một số ít đơn vị cần tới Các khách hàng của xí nghiệp baogồm các nhà máy, xí nghiệp lớn có nhu cầu về các loại sản phẩm cẩu trục, cẩuchân đế…trong khi đó trong nước chưa có đơn vị nào có thể chế tạo được.Chính vì vậy mà khách hàng không thể ép giá sản phẩm, trong khi đó số

Trang 31

lượng khách hàng không lớn nên không thể gây áp lực đối với Xí nghiệp, đây

là lợi thế của Xí nghiệp

c.Mối đe doạ từ những sản phẩm, dịch vụ thay thế:

Sản phẩm cẩu trục là sản phẩm chỉ dùng cho những công trình nênkhông phải là sản phẩm dễ dàng thay thế Hơn thế nữa những sản phẩm của xínghiệp được sản xuất trong nước, chất lượng tương đương với hàng ngoạinhập mà giá thành chỉ bằng 60÷ 70% so với giá ngoại nhập thì không có sảnphẩm nước ngoài nào có thể cạnh tranh được, bên cạnh đó các nhà máy cơ khíkhác thì chưa có khả năng sản xuất những sản phẩm cẩu trục loại này, nênmối đe doạ từ những sản phẩm thay thế đối với Xí nghiệp là điều khó có thểxảy ra Đây cũng chính là một trong những lợi thế của Xí nghiệp

d.Khả năng thương lượng của nhà cung ứng:

Trước đây khi nền cơ khí của ta còn chưa phát triển nhiều thiết bị của Xínghiệp phải nhập từ bên ngoài, tuy nhiên hiện nay xí nghiệp đã nâng tỷ lệ nộiđịa hoá trong các sản phẩm của mình lên tới 90% nên nguy cơ bị các nhàcung ứng ép giá là không có Bên cạnh đó nền cơ khí trong nước sản xuấtnhững sản phẩm sử dụng trong Xí nghiệp có quy mô rộng, nhiều mặt hàng,nhiều nhà cung ứng nên Xí nghiệp không sợ bị mất nguồn cung ứng Nóichung sức ép của nhà cung ứng đối với Xí nghiệp là không có Đây là một lợithế của Xí nghiệp

e.Tính khốc liệt cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành:

Hiện nay nước ta có rất nhiều doanh nghiệp cơ khí cho nên sự cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp này là vô cùng lớn Tuy nhiên do các doanh nghiệpnày chỉ sản xuất các mặt hàng cẩu trục nhỏ, các sản phẩm đúc…mà chưa sảnxuất được các sản phẩm cẩu trục cỡ lớn như ở xí nghiệp cơ khí Quang Trungnên hiện nay xí nghiệp chưa gặp phải sự cạnh tranh lớn nào Đây cũng có thểcoi như một thế mạnh của Xí nghiệp

Ngày đăng: 25/07/2013, 14:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5                                                                                                                                     Đơn vị: 1000 đồng - MỘT SỐ YẾU TỐ CHỦ YẾU VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA XÍ NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Bảng 5 Đơn vị: 1000 đồng (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w