1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN ĐỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI NHÌN TỪ NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN0

27 1,5K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề Tăng trưởng Kinh tế và Công bằng Xã hội Nhìn Từ Nguyên Lý Về Mối Liên Hệ Phổ Biến
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài tiểu luận triết học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 198 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mùa thu 2-9-1945 đã đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử :sự ra đời của chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kể từ đó với ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ, để rồi đến 30-4-1975 nước ta đã giành được độp lập, hai miền Nam, Bắc thống nhất.Ta vẫn kiên định trên con đường xã hội chủ nghĩa, bắt tay vào công cuộc kiến thiết đất nước, chúng ta quyết tâm làm cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mục tiêu và ước vọng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đây là vấn đề có tính vĩ mô mà không thực hiện tốt nó thì sẽ không thể đưa đất nước thực sự đi lên. Quan điểm của Đảng ta là tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay từng bước và trong suốt quá trình phát triển Từ sau công cuộc đổi mới, nước ta chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá và gần đây là kinh tế thị trường chúng ta đã thực sự đạt được những thành tựu to lớn: nền kinh tế tăng trưởng vào loại khá trong khu vực, lạm phát thấp, giáo dục và y tế có nhiều tiến bộ…nhưng bên cạnh đó vẫn còn không ít những hạn chế như: sự thoái hoá biến chất của một số cán bộ nhà nước, vấn đề an ninh,an toàn xã hội chưa được đảm bảo…

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Mùa thu 2-9-1945 đã đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử :sự ra đờicủa chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kể từ đó với ngọn cờchủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân ta đã vượt qua mọi khókhăn gian khổ, để rồi đến 30-4-1975 nước ta đã giành được độp lập, hai miềnNam, Bắc thống nhất.Ta vẫn kiên định trên con đường xã hội chủ nghĩa, bắt tayvào công cuộc kiến thiết đất nước, chúng ta quyết tâm làm cho “dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là mục tiêu và ước vọng của tất cảcác dân tộc trên thế giới, đây là vấn đề có tính vĩ mô mà không thực hiện tốt nóthì sẽ không thể đưa đất nước thực sự đi lên Quan điểm của Đảng ta là tăngtrưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay từng bước vàtrong suốt quá trình phát triển Từ sau công cuộc đổi mới, nước ta chuyển từ nềnkinh tế bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá và gần đây là kinh tế thị trường chúng

ta đã thực sự đạt được những thành tựu to lớn: nền kinh tế tăng trưởng vào loạikhá trong khu vực, lạm phát thấp, giáo dục và y tế có nhiều tiến bộ…nhưng bêncạnh đó vẫn còn không ít những hạn chế như: sự thoái hoá biến chất của một sốcán bộ nhà nước, vấn đề an ninh,an toàn xã hội chưa được đảm bảo… Đó chính

là những biểu hiện của việc không giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởngkinh tế và công bằng xã hội Việc thực hiện cả hai mục tiêu trên quả là khôngđơn giản chút nào, chúng ta không thể ngồi chờ kinh tế phát triển cao, dân giàulên, mới thực hiện sự công bằng và tiến bộ xã hội Chúng ta cũng không thể hisinh sự tiến bộ, công bằng xã hội để phát triển kinh tế một cách thuần túy Bàitoán giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công băng xã hội quả

là một bài toán khó nhưng không phải là không có lời giải

Với cái nhìn từ góc độ triết học, bài tiểu luận triết học này hi vọng sẽ làmsáng rõ phần nào vấn đề vô cùng cấp thiết trên

Trang 2

CHƯƠNG 1 MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN- MỘT TRONG HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP

BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới cómối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, táchrời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ thì cái gì quy định mối liên hệ đó?

Trong lịch sử triết học, đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau để trả lờicho câu hỏi trên Những người theo quan điểm biện chứng cho rằng, các sự vật,hiện tượng các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định tác độngqua lại, chuyển hoá lẫn nhau Chẳng hạn, bão từ diễn ra trên mặt trời sẽ tác độngđến từ trường của trái đất và do đó, tác động đến mọi sự vật, trong đó có cả conngười; hiện nay trong xu thế toàn cầu hoá sự khủng hoảng kinh tế của một nướckhông chỉ làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước ấy mà còn làm ảnh hưởngđến nền kinh tế của các nước xung quanh, thậm chí là nền kinh tế của toàn thếgiới…

Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhấtvật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Các sựvật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau baonhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất,thống nhất- thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tạibiệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhautheo những quan hệ xác định Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứngkhẳng định rằng, mối liên hệ phổ biến là một phạm trù triết học dùng để chỉ sựquy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiệntượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới

Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thôngqua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau Bản chất, tính quy luật của sự

Trang 3

vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại giữa các mặt củabản thân chúng hay sự tác động của chúng với các sự vật hiện tượng khác.Chúng ta cũng chỉ có thể đánh giá sự tồn tại cũng như bản chất của một conngười cụ thể thông qua mối liên hệ sự tác động qua lại của con người đó vớingười khác, đối với xã hội, tự nhiên, thông qua những hoạt động của người đó.Ngay tri thức của con người cũng chỉ có giá trị khi chúng được con người vậndụng vào hoạt động cải biển tự nhiên, cải biển xã hội và chính con người

1.2 Các tính chất của mối liên hệ

1.2.1 Tính khách quan

Mọi mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là vốn có của mọi

sự vật hiện tượng Thật vậy, hãy chú ý quan sát những gì đang diễn ra xungquanh mình bạn sẽ thấy điều đó, từ những vật vô tri vô giác cũng đang hằngngày phải chịu sự tác động của các yếu tố khác( tự nhiên: nước, không khí, ánhsáng…đôi khi cũng chịu sự tác động của con người ) cho đến con người- mộtsinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên, dù muốn hay không cũng phải chịu

sự tác động của các sự vật hiện tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bảnthân

rẽ, cụ thể được các nhà khoa học cụ thể nghiên cứu Phép biện chứng chỉ nghiêncứu những mối liên hệ chung nhất của thế giới, vì thế Ăngghen đã viết: “ phépbiện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến” Dựa vào tính đa dạng, nhiều

vẻ của thế giới có thể phân chia ra các cặp mối liên hệ bên trong và mối liên hệbên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và

Trang 4

không bản chất, mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên, mối liên hệchung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ riêng bao quát một lĩnh vực hoặcmột số lĩnh vực của thế giới, mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp….Trong một sự vật thường có nhiều rất nhiều loại mối liên hệ chứ không chỉ mộtloại, mỗi loại lại có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển cúa sựvật Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định sự chuyển hoá lẫnnhau giữa các thuộc tính, các mặt của sự vật Mối liên hệ này giữ vai trò quyếtđịnh đênsự tồn tại vầ phát triển của sự vật, có thể lấy một ví dụ đơn giản như là:

sự lĩnh hội tri thức của một người trước hết bị quyết định bởi chính người đó, sựtác động bên ngoài( điều kiện học tập ) dù có đầy đủ bao nhiêu đi chăng nữa màngười học bản thân họ lại không tự cố gắng thì cũng không bao giờ lĩnh hộiđược tri thức Đất nước ta có tranh thủ được thời cơ, vượt qua được thử thách donền kinh tế đem lại hay không, trước hết và chủ yếu phụ thuộc vào Đảng, củaNhà nước và của nhân dân Nhưng khó có thể làm cho “ dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, nếu không tận dụng được những thời cơ,khắc phục những hạn chế do nền kinh tế đem lại Mối liên hệ bên ngoài là mốiliên hệ giữa các sự vật hiện tượng, nói chung không giữ vai trò quyết định đên

sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, thường phải thông qua mối liên hệbên trong mới có thể tác động đến sự vật Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng

có một vai trò nhất định đến sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, trongmột số trường hợp nó có thể giữ vai trò quyết định

Các cặp mối liên hệ khác cũng có các quan hệ biện chứng giống như mốiquan hệ biện chứng của cặp mối liên hệ đã nêu trên Sự phân chia từng cặp mốiliên hệ chỉ mang tình tương đối, vì mỗi mối liên hệ chỉ là một hình thức, một

bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến, chúng có thể chuyển hoá lẫnnhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động củachính sự vật đó

Tuy sự phân chia thành các mối hệ chỉ mang tính tương đối, nhưng sự phânchia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí vai trò xác định

Trang 5

trong sự vận động phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mốiliên hệ đó để có cách tác động phù hợp nhăm đưa lại hiệu quả cao nhất tronghoạt động của mình.

CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI NHÌN

TỪ NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN 2.1 Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

a) Khái niệm: Tăng trưởng kinh tế thường được hiểu là sự tăng lên về qui môsản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được sosánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng Đó là sự gia tăngqui mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Qui mô và tốc

độ tăng trưởng luôn là cặp đôi trong nội dung của khái niệm tăng trưởng kinh tế.Hiện nay trên thế giới, người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải

xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩmquốc nội (GDP)

b) Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế

Theo quan điểm hiện đại, muốn có tăng trưởng kinh tế cao cần phải sử dụng

hiệu quả các yếu tố cơ bản sau đây:

- Vốn: vốn hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo

ra, tích luỹ lại và những yếu tố tự nhiên….được sử dụng vào trong quá trình sảnxuất Một nền kinh tế tăng trưởng cao không chỉ dừng lại ở việc tăng khối lượngvốn đầu tư, mà còn phải đặc biệt chú ý đến hiệu quả sử dụng vốn, quản lý chặtchẽ, đầu tư vốn hợp lý vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế

- Con người: trong các yếu tố hợp thành quá trình lao động sản xuất, sức laođộng là yếu tố quyết định, mang tính sáng tao và là nguồn lực không cạn kiệt

Có thể nói: “ nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, là “ tàinguyên của mọi tài nguyên” Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, có tay nghề

Trang 6

cao, có động lực và nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản củatăng trưởng kinh tế bền vững.

- Khoa học và công nghệ: khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng đểtăng trưởng và phát triển kinh tế Khoa học và công nghệ được con là “ chiếcđũa thần màu nhiệm” để tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất.Nhờ ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ đã làm cho hiệu quả sửdụng của các yếu tố đầu vào tăng lên, cho phép sản xuất theo chiều sâu, làmxuất hiện những ngành kinh tế có hàm lượng khoa học cao như: công nghệ điện

tử, công nghệ thông tin…Như vậy khoa học và công nghệ cũng là một yếu tố cóvai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng nhanh và bền vững

- Cơ cấu kinh tế: là mối quan hệ hữu cơ, phụ thuộc và quy định lẫn nhau cả vềquy mô và trình độ giữa các ngành, các thành phần, các vùng, lĩnh vực của nềnkinh tế Nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng và phát triển khi giữa các mặt, các bộphận, các yếu tố cấu thành nó có sự phù hợp với nhau cả về số lượng và chấtlượng, cũng có nghĩa là phải xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý

- Thể chế chính trị và vai trò của nhà nước: ổn định về mặt chính trị- xã hội làđiều kiện cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế nhanh và bền vững Thể chếchính trị tiến bộ có khả năng định hướng sự tăng trưởng kinh tế vào những mụctiêu mong muốn, khắc phục được những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môitrường, phân hoá giàu nghèo sâu sắc…Bởi vì trên thực tế đã từng có sự pháttriển kinh tế không cùng chiều với tiến bộ xã hội Hệ thông chính trị mà đại diên

là nhà nước có vai trò hoạch định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế- xãhội, cùng hệ thống chính sách đúng đăn hạn chế những tác động tiêu cực củanền kinh tế thị trường, làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh đúng hướng

2.1.2 Công bằng xã hội

a) Khái niệm

Ph.Ănggen viết: “ Công lý của người Hy Lạp và người La Mã cho rằng chế

độ nô lệ là công bằng; công lý của những nhà tư sản năm1789 đòi hỏi thủ tiêuchế độ phong kiến, vì chế độ ấy không công bằng” Trong các thời đại khác

Trang 7

nhau của lịch sử xã hội loài người, dù ở phương Đông hay phương Tây, conngười đều quan tâm đến công bằng xã hội và đã có biết bao cách hiểu và giảiquyết khác nhau vấn đề công bằng xã hội Có lẽ, người ta chỉ thống nhất vớinhau ở một điểm: đó là tầm quan trọng của nó, nhất là trong xã hội hiện đại Có

thể khái quát: Công bằng xã hội là một giá trị định hướng để con người thoả mãn nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần trong mối quan hệ phân phối sản phẩm xã hội tương đối hợp lý giữa các cá nhân và với khả năng hiện thực của những điện kinh tế- xã hội nhất định

Chúng ta nghiên cứu công bằng xã hội trong những điều kiện lịch sử hiện naycủa đất nước Đăc điểm của tình hình đó là trong khi những biểu hiện của chủnghĩa bình quân phổ biến, kèm theo đặc quyền, đặc lợi của một số ít người trong

cơ chế quan liêu, bao cấp trước đây chưa hoàn toàn mất đi thì lại xuất hiệnnhững bất công mới của kinh tế thị trường

b) Những tiêu chí để đánh giá công bằng xã hội

Trong những năm đổi mới ở nước ta, vấn đề công bằng xã hội trở thành mộttrong những mục tiêu cơ bản phát triển đất nước Các tiêu chí về công bằng xãhội được cụ thể hoá trong các văn kiện lớn của Đảng và Nhà nước Đại hội Đảng

8 chỉ rõ: “Công bằng xã hội không chỉ được được thực hiện trong khâu phânphối kết quả sản xuất, mà còn thực hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất, ởviệc tạo ra những điều kiệncho mọi người phát huy tốt năng lực của mình” Nhưvậy, công bằng xã hội được nhìn nhận ở các khía cạnh cụ thể sau:

Thứ nhất, từ góc độ phân phối kết quả sản xuất; đó là sự tương xứng giữa laođộng và thu nhập, giữa cống hiến và hưởng thụ

Thứ hai, từ viêc có cơ hội ngang nhau trong việc tiếp nhận các nguồn tư liệusản xuất xã hội như các nguồn vốn, tài nguyên, thông tin, khoa học kỹ thuật vàcác dịch vụ xã hội khác

Thứ ba, từ góc độ cơ hội và điều kiện để các cá nhân, các nhóm xã hội thểhiện, phát huy năng lực của chính mình

Trang 8

Việc phân biệt các góc độ nhìn nhận công bằng xã hội như trên cũng chỉmang tính tương đối nhằm cụ thể hoá những tiêu chí đánh giá sự công bằng.Trên thực tế, giữa chúng có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhau, dù sự công bằng

về mặt kinh tế có vị trí quan trọng nhất, nó có khả năng chi phối các mối quan

hệ khác Trên thực tế của của nền kinh tế thị trường, chính các điều kiện xã hộikhác nhau lại là cơ hội để người ta phát triển kinh tế và khi có kinh tế, người ta

có điều kiện để bước vào các cơ hội khác Như vậy trong mối quan hệ giữangười với người, không có công bằng về cơ hội thì khó có có thể có công bằng

về kinh tế, thu nhập; và khi điều kiện kinh tế chênh lệch quá xa thì khó có đượcđiều kiện hưởng thụ giá trị văn hoá tinh thần như nhau

Trên thực tế có rất nhiều tiêu chí cụ thể để đánh giá công bằng xã hội như: thunhập bình quân đầu người; các chỉ số về giáo dục như tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệngười đi học trong độ tuổi, tỷ lệ phổ cập giáo dục các cấp…; các chỉ số về y tế;

tỷ lệ đói nghèo và khoảng cách đói nghèo; bình đẳng giới…

2.2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Khi xem xét tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội như là những vấn đềriêng rẽ thì mối liên hệ qua lại giữa chúng là mối liên hệ bên ngoài Nhưng nếucoi tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là hai mặt cơ bản của sự phát triểnkinh tế, tiến bộ xã hội thì mối liên hệ qua lại giữa chúng với nhau là mối liên hệbên trong Như vậy mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hộivừa là mối liên hệ bên trong, vừa là mối liên hệ bên ngoài

2.2.1 Sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến công bằng xã hội

Có thể nói tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt các vấn đề kinh

tế, chính trị, xã hội

Trước hết, tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chấtlượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế

là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo Tăng trưởng kinh tế nhanh

là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lênkhắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng

Trang 9

Tăng trưởng kinh tế làm mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội vàchất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm

tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hóa…pháttriển và từ đó cũng có tác động tích cực đến công bằng xã hội

Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thấtnghiệp Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong nhưngnguyên nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động Vì vậy tăngtrưởng kinh tế nhanh thì tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm

Tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu của mọi quốc gia, trong đó có ViệtNam, nhưng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá.Thực tế cho thấy, không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinhtế- xã hội như mong muốn, đôi khi tăng trưởng kinh tế cũng có tính hai mặt của

nó Chẳng hạn tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tếquá nóng, gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên,nhưng đồng thời cũng làm cho sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội tăng lên và

do đó công bằng xã hội sẽ không được bảo đảm

2.2.2 Sự tác động của công bằng xã hội đến tăng trưởng kinh tế

Công bằng xã hội là một nguyên tắc phân phối lợi ích Khác với các nguyêntắc phân phối lợi ích nói chung, thước đo của nguyên tắc phân phối lợi ích côngbằng chính là sự bình đẳng giữa người với người trong mối quan hệ tương ứnggiữa cống hiến và hưởng thụ với tiêu chí ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau.Hơn nữa nếu nguyên tắc phân phối nói chung được thực hiện bằng cách khôngdựa trên sự thoả thuận tự nguyện chung thì ngược lại, nguyên tác phân phối lợiích công bằng lại được thực hiện dựa trên sự thoả thuận tự nguyện của mọi cánhân cùng tham gia vào một quan hệ lợi ích Vì thế tác động của nguyên tắcphân phối công bằng tới hoạt động của con người không mang tính cưỡng bức,

mà có tính tích cực Điều đó càng kích thích sự cống hiến tự nguyện của mỗi cánhân vào hoạt động chung của xã hội vì lợi ích của mình và của cả cộng đồng.Nói cách khác nguyên tắc phân phối công bằng mà nội dung của nó là sự bình

Trang 10

đẳng giữa người với người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ đãkhiến cho không một cá nhân nào cảm thấy thiệt thòi , tạo ra một xã hội ổn định;hơn thế, còn thúc đẩy mỗi người “ hoạt động hơn nữa” Chính sự tự nguyện “hoạt động hơn nữa” ấy của mọi thành viên đã thúcđẩy xã hội tiếp tục vận động

và phát triển Theo nghĩa đó công bằng xã hội là một động lực tích cực tạo nên

sự vận động và phát triển mạnh mẽ của xã hội của xã hội nói chung, cũng cónghĩa công bằng xã hội chính là một động lực tích cực cho sự phát triển kinh tế Còn nếu như công bằng xã hội không được duy trì thì sao? Nếu như vậy thìrất khó có thể đạt được đến sự tăng trưởng cao của một đất nước, bởi vì một đấtnước không duy trì được công bằng xã hội thì tất yếu sẽ dẫn đến mất ổn định về

xã hội, chính trị, và điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng kinhtế

Từ những luận điểm trên ta có thể khẳng định rắng: tăng trưởng kinh tế vàcông bằng xã hội có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau, tăng trưởng kinh tế là tiền

đề vật chất để bảo đảm công bằng xã hội, công bằng xã hội lại tạo ra một xã hội

ổn định là yếu tố quan trọng bảo đảm cho sự tăng trưởng bền vững; và không cótăng trưởng kinh tế thì cũng không thể có công bằng xã hội, ngược lại không cócông bằng xã hội thì cũng không thể có tăng trưởng bền vững Một quốc giamuốn đạt đến sự tiến bộ xã hội thì không thể thiếu hai yếu tố này

2.3 Thực trạng của mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội ở Việt Nam

2.3.1 Thời kỳ 1976-1985

Thời kỳ 1976-1985, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm ở nước tachỉ đạt 2% trong khi tốc độ tăng dân số binh quân hàng năm là 2,4%; nền kinh tếtăng trưởng thấp, làm không đủ ăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn

Các ch tiêu t ng trỉ tiêu tăng trưởng kinh tế(1976-1996) ăng trưởng kinh tế(1976-1996) ưởng kinh tế(1976-1996)ng kinh t (1976-1996)ế(1976-1996)Năm

Dân số(1000người)

Tốc độ tăng trưởng(%)Toàn bộ

nềnkinh tế

Nôngnghiệp

Côngnghiệp

Xuấtkhẩu

Nhậpkhẩu

Trang 11

2.3.2 Thời kỳ đổi mới( Từ 1986 đến nay)

Tại đai hội 6 (năm 1986) Đảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới Nhữngnội dung quan trọng của đổi mới kinh tế là thực hành dân chủ hoá đời sống kinh

tế, chuyển cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung cao độ sang cơ chế thị trường

có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển việc pháttriển kinh tế quốc doanh và tập thể ồ ạt sang phát triển kinh tế nhiều thành phần,chuyển việc cấp phát hiện vật và bao cấp sang sử dụng quy luật giá trị của sảnxuất hàng hoá, mở của nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển kinh tếđối ngoại từ đơn phương sang đa phương theo hướng nền kinh tế mở, đa dạnghoá hình thức và đa phương hoá quan hệ

Trang 12

Thời kỳ1986-1996, tốc độ tăng trưởng của đất nước đã được nâng lên đáng

kể Từ năm 1992-1996, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế hàng năm đều vượt trên8% Nền kinh tế nước ta đang trên đà cất cánh

a)Những thành tựu đã đạt được từ việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công băng xã hội

Từ éại hội VI (12-1986) đến nay, quá trỡnh đổi mới tư duy lý luận của éảng

về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ

và công bằng xó hội đó đạt được những thành tựu quan trọng, thể hiện thôngqua hệ thống các chủ trương và quan điểm cơ bản Theo đó, đó hỡnh thành nềnkinh tế hàng húa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng xó hội chủ nghĩa (éại hội IX khỏi quỏt là nềnkinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa), có tác động khơi dậy và nhânlên tính năng động, chủ động và tính tích cực xó hội của tất cả cỏc tầng lớp dõn

cư, tạo nên luồng sinh khí mới làm xoay chuyển tỡnh hỡnh mọi mặt đất nước.éồng thời, từng bước khẳng định ngày càng rừ hơn việc thực hiện phân phối chủyếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, phân phối theo mức đóng góp vốn

và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xó hội.Mặt khỏc, đó thiết lập cơ chế, chính sách để người lao động tự tạo ra việc làmcho mỡnh và cho người khác, xem mọi hoạt động tạo ra thu nhập mà không bịpháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm; khẳng định chủ trương khuyếnkhích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo, coiviệc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển Chúng ta

khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách

hàng đầu nhằm phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xóhội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Xem phát triển giáo dục, khoa học,

y tế là sự nghiệp của toàn éảng, của Nhà nước và của toàn dân Thực hiện côngbằng xó hội trong giỏo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành Thực hiệncông bằng xó hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, có chính sách trợ cấp và

Trang 13

bảo hiểm y tế cho người nghèo éề xuất quan điểm tổng quát văn hóa là nền tảngtinh thần của xó hội, vừa là mục tiờu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xó hội; Cú quan niệm mới về cỏc tầng lớp xó hội, mà Cương lĩnh 1991 đó

nờu lờn quan niệm về việc hỡnh thành một cộng đồng xó hội văn minh, trong đócác giai cấp, các tầng lớp dân cư đều có nghĩa vụ, quyền lợi chính đáng, đoànkết chặt chẽ góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh éặc biệt coitrọng xõy dựng đội ngũ công nhân lành nghề, những nhà kinh doanh cú tài,những nhà quản lý giỏi và cỏc nhà khoa học, kỹ thuật cú trỡnh độ cao; khẳngđịnh mạnh mẽ chiến lược kinh tế - xó hội, đặt con người vào vị trí trung tâm, tạođiều kiện cho mọi người với tư cách từng cá nhân và cả cộng đồng đều có cơ hộiphát triển và sử dụng tốt năng lực của mỡnh

Từ hệ thống những chủ trương, quan điểm trên và từ thực tiễn của quá trỡnhthực hiện tăng trưởng kinh tế phải đi đôi và gắn liền với tiến bộ và công bằng xóhội trong 20 năm qua đó cho chỳng ta bài học tổng quan trong vấn đề này là:Phải có sự thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xó hội, xem trỡnh độphát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xó hội, thực hiệntốt chớnh sỏch xó hội là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế; tăngtrưởng kinh tế phải gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xó hội ngay trongtừng bước và từng chính sách phát triển

Về kết quả thực tế, phát triển kinh tế trong những năm qua là cơ sở thuận lợi

để Nhà nước ta có thể huy động các nguồn lực tăng cường đầu tư cho phát triển

xó hội trờn nguyờn tắc tiến bộ và cụng bằng xã hội Với những nền tảng đó, hệthống chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa đó cú nhiều điềukiện thuận lợi để triển khai, củng cố và hoàn thiện trong thực tế

Theo tinh thần các chủ trương và quan điểm trên của éảng, Chớnh phủ đó lầnlượt thể chế hóa thành hệ thống pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trỡnh,

dự ỏn cụ thể để đưa vào cuộc sống Nhờ vậy, thực tiễn đổi mới ở nước ta thời

gian qua đó đạt được những thành tựu đáng khích lệ về phát triển văn hóa, xóhội trong sự gắn bú với phỏt triển kinh tế

Ngày đăng: 25/07/2013, 14:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng chỉ số chất lượng nguồn nhân lực của một số nước châu A và Việt Nam     Tăng trưởng kinh tế đã góp phần phát triển xã hội, song vẫn còn rât nhiều hạn chế như: khoảng cách giàu nghèo tăng, tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm - VẤN ĐỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI NHÌN TỪ NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN0
Bảng ch ỉ số chất lượng nguồn nhân lực của một số nước châu A và Việt Nam Tăng trưởng kinh tế đã góp phần phát triển xã hội, song vẫn còn rât nhiều hạn chế như: khoảng cách giàu nghèo tăng, tình trạng thất nghiệp thiếu việc làm (Trang 16)
Bảng trên cho thấy: xu hướng giảm nghèo đói đã diễn ra ở tất cả các vùng và đối với các dân tộc trong cả nước - VẤN ĐỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI NHÌN TỪ NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN0
Bảng tr ên cho thấy: xu hướng giảm nghèo đói đã diễn ra ở tất cả các vùng và đối với các dân tộc trong cả nước (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w