1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SAY MÊ SÁNG TẠO Ở NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI

22 455 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Và Đề Xuất Một Số Giải Pháp Tăng Cường Say Mê Sáng Tạo Ở Người Lao Động Của Công Ty Xây Dựng Số 1 Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Xây Dựng Hà Nội
Chuyên ngành Quản trị nhân lực
Thể loại Nghiên cứu sinh viên
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 140 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt của nền kinh tế thị trường và xu thế quốc tế hoá các nền kinh tế, việc hoàn thiện, từng bước nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh nói chung và quản lý nhân lực nói riêng đang là vấn đề cấp thiết quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Quản lý nhân sự trong doanh nghiệp thực chất là quản lý con người, quản lý và sử dụng lao động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đây là một nội dung, một yếu tố cơ bản để thực hiện quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển tạo ra những bước tiến nhẩy vọt về công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý làm cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng dần tiếp cận với một nền kinh tế chi thức, đòi hỏi không chỉ các nhà quản lý mà từng người lao động phải không ngừng trau dồi kiến thức, phát huy tối đa khả năng sáng tạo để thích nghi với môi trường lao động. Đứng trước yêu cầu đó, một vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý nhân sự trong doanh nghiệp là phải làm gì, làm như thế nào để phát huy, khai thác sự say mê sáng tạo của người lao động nhằm đạt được hiệu quả mong muốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Trang 1

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SAY MÊ SÁNG TẠO Ở NGƯỜI LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI

Trong môi trường cạnh tranh quyết liệt của nền kinh tế thị trường và xuthế quốc tế hoá các nền kinh tế, việc hoàn thiện, từng bước nâng cao hiệu quảquản lý kinh doanh nói chung và quản lý nhân lực nói riêng đang là vấn đềcấp thiết quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Việt Namhiện nay Quản lý nhân sự trong doanh nghiệp thực chất là quản lý con người,quản lý và sử dụng lao động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, đây là một nội dung, một yếu tố cơ bản để thực hiện quátrình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong điều kiện khoa học kỹthuật không ngừng phát triển tạo ra những bước tiến nhẩy vọt về công nghệsản xuất, công nghệ quản lý làm cho nền kinh tế nói chung và các doanhnghiệp nói riêng dần tiếp cận với một nền kinh tế chi thức, đòi hỏi không chỉcác nhà quản lý mà từng người lao động phải không ngừng trau dồi kiến thức,phát huy tối đa khả năng sáng tạo để thích nghi với môi trường lao động.Đứng trước yêu cầu đó, một vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý nhân sự trongdoanh nghiệp là phải làm gì, làm như thế nào để phát huy, khai thác sự say

mê sáng tạo của người lao động nhằm đạt được hiệu quả mong muốn tronghoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ SAY MÊ SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.1 Say mê sáng tạo của người lao động, nhân tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường

Thực chất sự say mê sáng tạo của người lao động là người lao động làmviệc trong trạng thái thoải mái và hưng phấn với sự nhiệt tình tìm tòi sáng tạo

để cải tiến quy trình thao tác đảm bảo hiệu quả làm việc cao nhằm mang lạilợi chung cho tổ chức và cho cá nhân mình để thảo mãn các nhu cầu của cuộcsống cả về vật chất và tinh thần

Sự say mê sáng tạo của người lao động được hình thành trên cơ sở: Mức

độ hấp dẫn của nội dung công việc mà họ thực hiện và mức độ hưởng thụ khi

họ thực hiện công việc đó; điều kiện làm việc và môi trường người lao động

Trang 2

thực hiện công việc; triển vọng phát triển của doanh nghiệp Đây là nhữngnhân tố cơ bản quyết định sự say mê sáng tạo của người lao động, khi mộttrong những nhân tố này không được đảm bảo thì sẽ triệt tiêu sự say mê sángtạo Mối quan hệ giữa các nhân tố này được thể hiện trong công thức pháttriển của công thức Vroom như sau:

SMST = HD x ĐK x TV

Trong đó:

SMST: Sự say mê sáng tạo của con người trong hoạt động;

HD: Độ hấp dẫn của nội dung công việc và sự hưởng thụ;

ĐK: Điều kiện làm việc và môi trường lao động;

TV: Triển vọng phát triển của doanh nghiệp.

HD, ĐK và TV được đánh giá theo mức độ tối thiểu là 0 đến mức độ tối

đa là 1 Điều này cho thấy để tạo ra sự say mê sáng tạo của người lao động thìngoài việc tạo cho các tham số một giá trị tối đa cho phép còn cần thiết phảiđảm bảo tính cân đối hợp lý giữa các tham số, vì nếu một trong những tham

số đó có giá trị tiến tới 0 thì kết quả là sự say mê sáng tạo sẽ bằng không

Để đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm tăng cường sự say mê sáng tạocủa người lao động trong công việc, người quản lý nhân lực cần nhận biết vàđánh giá được mức độ say mê sáng tạo của từng người lao động hoặc từngnhóm người lao động của doanh nghiệp Việc nhận biết và đánh giá mức độsay mê sáng tạo của người lao động có thể căn cứ vào các tiêu thức cơ bản sau:

- Mức độ chủ động, năng động trong công việc họ thực hiện;

- Sự phối kết hợp giữa những người, những bộ phận có liên quan đểhoàn thành tốt công việc được phân công;

- Luôn hướng tới cái mới, cái hiện đại và chủ động tìm tòi, nghiên cứucái mới để áp dụng vào công việc nhằm nâng cao hiệu quả làm việc;

- Đề xuất những giải pháp cải tiến công việc, cải tiến công nghệ, cải tiếnnâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đơn giản hoá công việc, tạo ra những sảnphẩm, hàng hoá tốt, phong phú đa dạng hơn;

Trang 3

- Khả năng tạo ra những bước đột phá trong công việc.

Sự say mê sáng tạo của người lao động có ý nghĩa sống còn đối vớidoanh nghiệp kinh doanh trong cơ chế thị trường Trong nền kinh tế thịtrường hiện đại sự cạnh tranh mang tính tất yếu, nó không chỉ bó hẹp trongmột ngành sản xuất, một quốc gia mà đã và đang phát triển trên bình diệncạnh tranh mang tính quốc tế với các tập đoàn kinh tế hoạt động đa ngànhnghề Tính chất cạnh tranh khốc liệt diễn ra trong tất cả các khâu của quátrình tổ chức sản xuất Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi doanhnghiệp phải có chiến lược kinh doanh đúng đắn trên cơ sở lựa chọn sản phẩmkinh doanh, lĩnh vực kinh doanh có triển vọng sinh lời cao nhất, đồng thờiphải nghiên cứu đánh giá đúng đắn thế mạnh và điểm yếu của các đối thủcạnh tranh và các nguồn cung cấp khác, từ đó lựa chọn công nghệ sản xuấtphù hợp, tổ chức sản xuất hợp lý để có thể tạo ra những hàng hoá, sản phẩm

đa dạng, phong phú có những tính năng vượt trội và giá cả hợp lý so với cácđối thủ cạnh tranh Điều này chỉ có thể thực hiện được khi doanh nghiệp pháthuy được tính chủ động sáng tạo, lòng say mê nghiên cứu, khám phá tìm tòi

và tiếp cận những thành tựu của khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp không có sự say mê sáng tạo củangười lao động trong công việc thì không thể có được một chiến lược kinhdoanh đúng đắn, không thể tổ chức sản xuất hợp lý và cũng không thể cónhững bước đột phá trong cải tiến công nghệ, hợp lý hoá sản xuất để nâng caochất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh của sảnphẩm trên thị trường và tất yếu doanh nghiệp sẽ không giữ được thị phần, sẽdẫn tới tiêu vong Như vậy, có thể nói rằng sự say mê sáng tạo quyết định sựtồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Ý nghĩa của hoạt động sáng tạo trong công việc có thể xem xét từ 3 gócđộ: Mang lại lợi ích trực tiếp cho người lao động, mang lại lợi ích cho doanhnghiệp và mang lại lợi ích cho xã hội

Trang 4

+ Xét về người lao động: Sự say mê sáng tạo làm cho người lao độngphát huy tốt nhất khả năng của mình cống hiến cho doanh nghiệp và cho xãhội Bù lại, họ sẽ được doanh nghiệp trả thu nhập cao một cách chính đáng,làm tăng thêm thu nhập, có điều kiện vật chất để cải thiện điều kiện sống, bùđắp các hao phí lao động mà ngời lao động đã bỏ ra; đồng thời quá trình laođộng sáng tạo giúp họ phát triển, tự hoàn thiện mình, tạo cơ hội thuận lợi cho

cá nhân tham gia các hoạt động xã hội, trau dồi để nâng cao hiểu biết, pháthuy năng lực sẵn có của mình cho công việc, cho doanh nghiệp và cho xã hội.+ Xét về doanh nghiệp: Sự say mê sáng tạo của người lao động tạo điềukiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc khai thác, sử dụng hiệu quả cácnguồn lực sẵn có để không ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng cường

cơ sở vật chất kỹ thuật, giảm chi phí lao động sống trong sản phẩm, qua đógiảm giá thành, giá bán sản phẩm, thúc đẩy cạnh tranh với các sản phẩm cùngloại trên thị trường

+ Xét về xã hội: Khi người lao động ứay mê sáng tạo, làm cho năng xuấtlao động xã hội tăng lên, làm động lực thúc đẩy nền kinh tế xã hội tăngtrưởng Đồng thời với sự say mê sáng tạo trong công việc, người lao động sẽcảm thấy yêu thích lao động, cảm thấy vui khi được lao động, tạn tâm, tận ývới công việc sẽ góp phần làm giảm các hiện tượng tiêu cực, làm cho xã hộiphát triển và văn minh hơn

1.2 Các yếu tố tác động làm cho người lao động ở doanh nghiệp say

mê sáng tạo thực hiện công việc, nhiệm vụ được giao

Mục đích làm việc của người lao động là nhằm thoả mãn các nhu cầutrong cuộc sống của họ, những nhu cầu của con người có thể tựu trung lạithành hai nhóm nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần

Để thoả mãn các nhu cầu đó người lao động có thể ở hai trạng thái làm việclà: Lao động một cách bình thường, thuần tuý theo những gì người chủ yêucầu và làm việc trong trạng thái say mê, sáng tạo để đạt được hiệu quả làmviệc cao nhất Xuất phát từ điều đó, khi xem xét sự say mê sáng tạo của người

Trang 5

lao động các nhà quản lý nhân sự cần có một nhận thức đúng đắn và đầy đủ

về động cơ làm việc của người lao động, về những động lực thúc đẩy ngườilao động say mê sáng tạo trong lao động và về các giải pháp tạo động lực đểngười lao động say mê sáng tạo trong công việc

Vai trò của người quản lý, lãnh đạo là phải nắm được tâm lý, các nhucầu và những yêu cầu câp thiết của người lao động, hay nói cách khác là phảinắm được động cơ, động lực thúc đẩy người lao động làm việc, từ đó có chínhsách quản lý phù hợp để vừa thoả mãn các mục tiêu, cũng như yêu cầu cấpthiết của người lao động và thực hiện các mục tiêu chung của đơn vị mình.Việc xác định được một cách chính xác những động cơ, động lực chính củangười lao động không phải là chuyện đơn giản Để tìm hiểu rõ vấn đề này tatạp trung nghiên cứu những khái niệm cơ bản sau:

- Động cơ làm việc và sáng tạo của người lao động

Động cơ hoạt động của con người là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhấtcủa của sự tham gia hoạt động và của sự tích cực sáng tạo Động cơ hoạt độngcủa con người được hình thành từ quá trình tương tác giữa nhu cầu của conngười với khả năng, triển vọng thoả mãn nhu cầu của họ; nó là sự phản ánhthế giới khách quan vào con người, nó thúc đầy con người hoạt động theo mộttiêu chuẩn nhất định nhằm thoả mãn các nhu cầu, tình cảm của con người.Động cơ của người lao động thường được che dấu (vì nhiều các yếu tốtâm lý, quan điểm xã hội, vv ) và nó luôn biến đổi theo môi trường sống,theo thời gian; mặt khác động cơ của người lao động rất phong phú và phứctạp Với những đặc điểm đó, việc nắm bắt động cơ của người lao động là khókhăn và phức tạp, đòi hỏi người quản lý không những phải nắm bắt động cơcủa người lao động một cách chính xác, mà còn định hướng những động cơkhông lành mạnh, không có thực của người lao động phù hợp với tiêu chuẩn,khả năng đáp ứng của doanh nghiệp Các động cơ của người lao động baogồm:

+ Có thu nhập cao từ công việc của mình;

Trang 6

+ Được làm việc với những công việc gây cho họ sự hứng thú trong mộtmôi trường làm việc phù hợp và một công việc phù hợp;

+ Được thừa nhận và tôn vinh nhiều hơn do họ đã hoàn thành công việc;+ Có nhiều cơ hội được phát triển các kỹ năng làm việc và khả năngsáng tạo của mình;

+ Được thông tin đầy đủ về những gì doanh nghiệp đang xúc tiến triểnkhai

- Động lực thúc đẩy người lao động say mê sáng tạo

Động lực thúc đẩy sự say mê sáng tạo của người lao động chính là sựthoả mãn, là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường mọi

nỗ lực để đạt mục đích hay kết quả cụ thể (nói cách khác động lực bao gồmtất cả các loại lý do làm cho con người hoạt động) Động lực cũng chịu ảnhhưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này thường xuyên thay đổi và khó nắmbắt Có hai nhóm nhân tố cơ bản:

Thứ nhất Nhóm nhân tố thuộc về con người là những nhân tố xuất hiệntrong chính bản thân từng con người, nó thúc đẩy người lao động làm việc vàsáng tạo trong công việc Những nhân tố này bao gồm:

+ Lợi ích của con người: Là mức độ thoả mãn nhu cầu của con người(nhu cầu vật chất và tinh thần), đây là nhân tố quan trọng nhất của việc tạođộng lực sáng tạo của người lao động;

+ Những mục tiêu cá nhân: Là trạng thái mong đợi cần có và có thể cócủa cá nhân, là cái đích mà cá nhân muốn vươn tới và qua đó sẽ thực hiện cácbiện pháp để đạt được cái đích đề ra trạng thái mong đợi;

+ Thái độ của cá nhân: là cách nhìn của cá nhân người lao động đối vớicông việc mà họ thực hiện Nếu cá nhân có thái độ tích cực với công việc họ

sẽ say mê sáng tạo trong công việc, ngược lại nếu thái độ đó là tiêu cực thìngười lao động sẽ làm việc một cách thụ động

+ Khả năng hay năng lực của cá nhân người lao động: Đây là yếu tốthuộc về kiến thức chuyên môn liên quan đến công việc của người lao động

Trang 7

và khả năng giải quyết các công việc đó của họ Nhân tố này ảnh hưởng tớiviệc tạo ra động lực cho người lao động theo hai chiều hướng: Tạo ra độnglực thúc đẩy sự say mê sáng tạo trong công việc nếu người lao động có khănăng và kiến thức tốt để giải quyết công việc một cách hiệu quả; ngược lại sẽlàm cho người lao động nản chí, không muốn thực hiện công việc hoặc thựchiện một cách thụ động, mang tính đối phó và kém hiệu quả.

Thứ hai: Các nhân tố môi trường: Là những nhân tố bên ngoài có ảnhhưởng tới người lao động, các nhân tố này bao gồm:

+ Môi trường văn hoá của doanh nghiệp: Là một hệ thống các giá trị,niềm tin, sự chia sẻ trong phạm vi doanh nghiệp và tạo ra các chuẩn mực vềhành vi trong doanh nghiệp Môi trường văn hoá được hình thành từ sự kếthợp giữa quan điểm, phong cách quản lý của người quản lý và các thành viêntrong doanh nghiệp, nó bộc lộ trong suốt thời gian, quá trình lao động màngười lao động đã đóng góp cho doanh nghiệp Môi trường văn hoá hoàthuận, đầm ấm, vui vẻ tạo ra một trạng thái tinh thần thoải mái, không bị ứcchế sẽ có tác dụng cuốn hút người lao động tích cực và hăng say trong côngviệc, còn ngược lại nó sẽ tạo ra cảm giác chán nản, không hứng thú với côngviệc được giao

+ Các chính sách về nhân sự: Là vấn đề bao hàm nhiều yếu tố như: Việcthuyên chuyển, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ và nhân viên trong doanhnghiệp Chính sách nhân sự thể hiện việc doanh nghiệp đáp ứng lại các nhucầu, mục điêu cá nhân của mỗi người lao động, bởi vậy việc thực thi cácchính sách này sẽ tạo ra một động lực quan trọng thúc đẩy người lao độnghăng say làm việc Do nhu cầu vật chất và tình thần có quan hệ chặt chẽ vớinhau, để đạt được hiệu quả mong muốn, khi thi hành chính sách nhân sự.doanh nghiệp phải đảm bảo thoả mãn hài hoà cả hai loại nhu cầu này trongphạm vi nguồn lực cho phép

Trang 8

Ngoài hai nhóm nhân tố cơ bản trên đây, còn nhiều nhân tố khác có ảnhhưởng đến động lực say mê sáng tạo của người lao động như: phong cáchlãnh đạo, cấu trúc tổ chức doanh nghiệp và các yếu tố về xã hội, v.v

- Tạo động lực say mê sáng tạo cho người lao động

Tạo động lực say mê sáng tạo là tổng hợp các hoạt động mà doanhnghiệp đến tinh thần, thái độ và trạng thái tâm lý của người lao động, kíchthích họ quan tâm đến công việc, say sưa tìm tòi cải tiến hợp lý hoá công việcnhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động

Để tạo ra sự say mê sáng tạo cho người lao động, doanh nghiệp phải đươ

ra được những giải pháp cụ thể trên nguyên tắc gắn liền lợi ích của người laođộng với lợi ích của doanh nghiệp do sự say mê sáng tạo trong lao động củangười lao động đem lại Trên thực tế, động lực được tạo ra ở mức độ nào,bằng cách nào và trong điều kiện nào phụ thuộc vào cơ chế cụ thể của doanhnghiệp cũng như những quy định của Nhà nước, bởi vì các giải pháp tạo rađộng lực say mê sáng tạo không chỉ liên quan đến doanh nghiệp mà nó còn cónhững tác động nhất định đến sự phát triển của cộng đồng và xã hội Việc tạo

ra động lực say mê sáng tạo trong công việc được thực hiện thông qua cácgiải pháp kích thích, thúc đẩy người lao động làm gia tăng hoạt động có hiệuquả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chứcnăng cụ thể Các đòn bẩy tạo ra động lực sáng tạo cho người lao động baogồm việc thoả mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của người lao độngphù h[pj với những gì họ đã cống hiến cho doanh nghiệp

Các nhu cầu cơ bản của con người mà doanh nghiệp cần thoả mãn để tạođộng lực say mê sáng tạantrong công việc bao gồm:

- Nhu cầu tự thể hiện bản thân;

- Nhu cầu được tôn trọng;

- Nhu cầu xã hội;

- Nhu cầu an toàn;

- Nhu cầu sinh lý

Trang 9

Nhu cầu con người xuất hiện theo thứ tự từ thấp đến cao Một khi nhucầu thấp được thoả mãn thì nhu cầu cao sẽ xuất hiện, ban đầu là các nhu cầu

về sinh lý, tiếp theo là an toàn xã hội, tôn trọng và tự hoàn thiện mình Nhucầu ở bên dưới có phạm vi rộng lớn và nó thu hẹp dần đối với các nhu cầu ởbậc tiếp theo

Tạo động lực say mê sáng tạo là chức năng của quản lý con người, mặtkhác quản lý con người lại là một nội dung của quản trị doanh nghiệp Do vậymục đích tạo động lực sáng tạo của người lao động cũng chính là mục đíchchung của doanh nghiệp kinh doanh nói chung

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của tạo động lực là sử dụngmột cách hợp lý nguồn lao động, kích thích sự say mê sáng tạo của người laođộng, khai thác một cách hiệu quả nguồn lực con người nhằm nâng cao năngsuất lao động của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp nguồn nhân lực là một

bộ phận quan trọng của các yếu tố sản xuất, nó vừa đóng vai trò là chủ thể củasản xuất nhưng đồng thời lại là khách thể chịu tác động của người quản lý.Nguồn nhân lực vừa là tài nguyên của doanh nghiệp đồng thời chi phí về laođộng cũng là một khoản chi phí lớn của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào cóbiện pháp sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động thì sẽ kéo theo được hiệu quảtrong sử dụng máy móc thiết bị, tiết kiệm vật chất, giảm chi phí, từ đó hiệuquả kinh doanh sẽ cao hơn Mặt khác tạo động lực cho người lao động say mêsáng tạo sẽ có cơ hội thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng cao và làmcho người lao động gắn bó với doanh nghiệp Bởi khi ngời lao động có độnglực làm việc thì họ sẽ say mê với công việc, nghề nghiệp làm tăng thêm lợithế cho doanh nghiệp Nhờ vậy người lao động không chỉ gắn bó với doanhnghiệp mà nhiều đối tượng khác cũng muốn làm việc cho doanh nghiệp

2 THỰC TRẠNG SAY MÊ SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG ỞCÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 1 HÀ NỘI

2.1 Đặc điểm kinh doanh và tình hình hiệu quả hoạt động của Công

ty xây dựng số 1 Hà nội

Trang 10

Công ty xây dựng số 1 Hà Nội là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc SởXây dựng Hà Nội được thành lập theo quyết định số 129/QĐ-UB ngày25/1/1972 của Uỷ ban Hành chính Thành phố Hà Nội Thực hiện Nghị định338/HĐBT của Chính phủ, Công ty được thành lập lại theo Quyết định số626/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội ngày 10/2/1993

Với bề dầy kinh nghiệm trên 30 năm trong lĩnh vực xây dựng cơ bản,Công ty có một đội ngũ cán bộ công nhân viên có khả năng tham gia và thựcthiện các công trình, hạng mục công trình xây dựng lớn thuộc các lĩnh vựcxây dựng dân dụng, xây dựng các công trình công nghiệp, xây dựng côngtrình hạ tầng cơ sở và trong những năm gần đây, Công ty mở rộng ngành nghếkinh doanh sang các lĩnh vực xuất khẩu lao động, kinh doanh xuất nhập khẩumáy móc thiết bị xây dựng

- Giai đoạn từ năm 1972 - 1976, Công ty chủ yếu xây dựng các côngtrình dân dụng nhằm đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho cán bộ công nhân viên vànhân dân lao động thủ đô Sản phẩm của Công ty trong giai đoạn này là cáckhu nhà chung cư lắp ghép 2 tầng (khu Yên Lãng, Trương Định, ) đây làgiai đoạn Công ty mới được hình thành và đang đi vào ổn định sản xuất kinhdoanh nên sản lượng bình quân hàng năm đạt từ 10.000 đến 13.000 m2 nhà ở

- Giai đoạn từ 1977 - 1990, bằng kinh nghiệm tích luỹ được và đứngtrước nhu cầu về nhà ở của nhân dân thủ đô ngày càng tăng, Công ty đãchuyển sang thi công các công trình nhà chung cư lắp ghép 4 - 5 tầng (khuKhương Thượng, Trung Tự, Đống Đa, Bách Khoa, v.v ) và các công trìnhxây dựng cao tầng khách sạn Hà Nội, Giảng Võ, ) Mức sản lượng bìnhquân năm của Công ty trong giai đoạn này đã đạt từ 25.000 m2 đến 28.000 m2nhà ở Sản phẩm xây dựng của Công trình đã đạt chất lượng cao, được xã hộithừa nhận và được đưa vào sử dụng có hiệu quả

- Giai đoạnh từ năm 1990 đến nay, Công đã mở rộng lĩnh vực và ngànhnghế kinh doanh như: Kinh doanh nhà; thực hiện các dự án đầu tư phát triểncác khu đô thị mới; xây dựng công trình giao thông đường bộ, công trình thuỷ

Trang 11

lợi; xây lắp điện (đường dây và trạm điện đến 35 KW); Sản xuất và kinhdoanh vật liệu xây dựng; kinh doanh dịch vụ khách sạn, du lịch lữ hành; xuấtnhập khẩu máy móc thiết bị dùng trong xây dựng và kinh doanh dịch vụ; tưvấn đầu tư; kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị, vật tư, máy móc chuyênngành xây dựng thể dục, thể thao, vui chơi giải trí; xuất khẩu lao động.

- Đặc điểm về lao động, Công ty hiện có 852 cán bộ công nhân viên(trong đó người lao động có trình độ đại học là 106 người) Cơ cấu lao độngcủa Công ty như sau: Lao động gián tiếp (cán bộ quản lý, phục vụ hoạt độngsản xuất kinh doanh 63 người; kinh doanh xây lắp 552 người; kinh doanh dịch

vụ du lịch, dịch vụ tư vấn, kinh doanh xuất nhập khẩu 197 người

Tỷ lệ người lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm phần lớntrong tổng số lao động gián tiếp, đây là điều thuận lợi lớn cho công ty do cóđội ngũ cán bộ kỹ thuật quản lý và điều hành có trình độ cao, bề dầy kinhnghiệm bởi nhiều năm thâm niên công tác Đội ngũ công nhân trực tiếp thựchiện các hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng về tay nghề và bậc thợ,nhưng trong đó thợ nề và thợ bê tông chiếm tỷ trọng lớn do đặc thù của côngviệc

2 2 Kết quả sáng tạo của người lao động tại công ty

K t qu lao ả lao động sáng tạo của Công ty có thể đánh giá qua các chỉ động sáng tạo của Công ty có thể đánh giá qua các chỉng sáng t o c a Công ty có th ánh giá qua các chạo của Công ty có thể đánh giá qua các chỉ ủa Công ty có thể đánh giá qua các chỉ ể đánh giá qua các chỉ đ ỉtiêu t ng h p k t qu s n xu t kinh doanh c a Công ty trong m t s n mợp kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong một số năm ả lao động sáng tạo của Công ty có thể đánh giá qua các chỉ ả lao động sáng tạo của Công ty có thể đánh giá qua các chỉ ất kinh doanh của Công ty trong một số năm ủa Công ty có thể đánh giá qua các chỉ ộng sáng tạo của Công ty có thể đánh giá qua các chỉ ố năm ăm

nh sau:ư sau:

Tổng doanh thu 27.158.000.000 27.294.000.000 35.263.000.000 Vốn SXKD 12.768.000.000 13.257.000.000 13.468.000.000 Lợi nhuận thực hiện 1.460.700.000 1.268.900.000 1.493.500.000 Nộp ngân sách nhà nước 2312.000.000 1.917.000.000 2.248.000.000 Tài sản 14.772.000.000 16.815.000.000 17.864.000.000

Lợi nhuận/GT tài sản bình quân 0,0886 0,0770 0,0906

Doanh thu/giá trị bình quân

Ngày đăng: 25/07/2013, 14:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w