Một quốc gia muốn phát triển kinh tế nếu chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào thôi thì chưa đủ mà còn cần phải đề ra được chiến lược kinh tế hợp lý, phát huy được tối đa nội lực và tận dụng triệt để những thuận lợi do ngoại lực mang lại. Hiểu được điều này nên khi thoát khỏi chiến tranh bước vào thời kỳ quá độ Đảng ta đã đề ra chính sách kinh tế bao gồm những nhiệm vụ kinh tế cơ bản và thực hiện nó. Trải qua 20 năm thực hiện những nhiệm vụ kinh tế này Đất Nước đã gặt hái được những thành tựu to lớn. Từ một nước nghèo Việt Nam đã vươn lên thành một nước đang phát triển, tốc độ phát triển kinh tế luôn ở mức cao và ổn định...nhưng để có thể nhanh chóng hoàn thành thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội chúng ta không được bằng lòng với hiện tại mà phải luôn nỗ lực, cố gắng thực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế trên ngày một tốt hơn . Để làm tốt điều này mỗi chúng ta phải luôn nắm vững thực trạng kinh tế của đất nước từ đó đưa ra các giải pháp khác phục và đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế. Là một sinh viên được đào tạo trong một trường kinh tế cùng với ước muốn mai nay ra trường có thể đem những kiến thức mình học hỏi được để làm giàu cho bản thân, làm giàu cho xã hội nên khi được giao đề án:"Những nhiêm vụ kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp" em đã rất hào hứng và say mê thực hiện. Để hoàn thành đề án này em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy TRẦN VIỆT TIẾN - giảng viên giúp đỡ em thực hiện đề án, thư viện trường đai học kinh tế quốc dân- nơi cung cấp những tài liệu cần thiết cho đề án của em.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Một quốc gia muốn phát triển kinh tế nếu chỉ dựa vào nguồn tài nguyênthiên nhiên dồi dào thôi thì chưa đủ mà còn cần phải đề ra được chiến lược kinh
tế hợp lý, phát huy được tối đa nội lực và tận dụng triệt để những thuận lợi dongoại lực mang lại Hiểu được điều này nên khi thoát khỏi chiến tranh bước vàothời kỳ quá độ Đảng ta đã đề ra chính sách kinh tế bao gồm những nhiệm vụkinh tế cơ bản và thực hiện nó Trải qua 20 năm thực hiện những nhiệm vụ kinh
tế này Đất Nước đã gặt hái được những thành tựu to lớn Từ một nước nghèoViệt Nam đã vươn lên thành một nước đang phát triển, tốc độ phát triển kinh tếluôn ở mức cao và ổn định nhưng để có thể nhanh chóng hoàn thành thời kỳquá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội chúng ta không được bằng lòng với hiện tại màphải luôn nỗ lực, cố gắng thực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế trên ngày một tốthơn Để làm tốt điều này mỗi chúng ta phải luôn nắm vững thực trạng kinh tếcủa đất nước từ đó đưa ra các giải pháp khác phục và đẩy nhanh tốc độ pháttriển của nền kinh tế
Là một sinh viên được đào tạo trong một trường kinh tế cùng với ướcmuốn mai nay ra trường có thể đem những kiến thức mình học hỏi được để làm
giàu cho bản thân, làm giàu cho xã hội nên khi được giao đề án:"Những nhiêm
vụ kinh tế cơ bản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thực trạng và giải pháp" em đã rất hào hứng và say mê thực hiện Để hoàn
-thành đề án này em xin được gửi lời cảm ơn chân -thành tới thầy TRẦN VIỆTTIẾN - giảng viên giúp đỡ em thực hiện đề án, thư viện trường đai học kinh tếquốc dân- nơi cung cấp những tài liệu cần thiết cho đề án của em
Trang 2CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐỀ RA CÁC NHIỆM VỤ KINH TẾ CƠ BẢN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM
1 Tính tất yếu của việc phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Trong tác phẩm:"chủ nghĩa duy vật lịch sử" của mình Các Mác đã chỉ rarằng: không thể có một có một quốc gia nào, với một chế độ chính trị ưu việtnào có thể tồn tại và phát triển được mà thiếu đi một nền tảng kinh tế vững chắc.Bởi vậy, Trong thời đại ngày nay, vấn đề phải phát triển kinh tế đang được đặt
ra ở mức cấp thiết hàng đầu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Chủ nghĩa
tư bản đang trên đà thắng thế, thủ đoạn bóc lột ngày càng tinh vi hơn, và bảnchất thì vẫn không hề thay đổi Chúng ta đang bị cuốn vào dòng xoáy mãnh liệtcủa một nền kinh tế thế giới mang tính toàn cầu hoá cao và đang phát triểnkhông ngừng nghỉ Thời đại ngày nay đưa đến những cơ hội và thách thức tolớn, phát triển kinh tế có thể nói, đã trở thành một xu hướng tất yếu Mỗi quốcgia phải cố gắng phát triển để theo kịp với trình độ của thế giới, nếu khôngmuốn mình bị cô lập, lạc hậu và bị biến thành miếng mồi xâu xé của các cườngquốc lớn
Thật vậy, muốn đứng vững về chính trị thì phải có vị thế về kinh tế Vị thế
về kinh tế càng cao thì ảnh hưởng càng lớn, tiếng nói càng có trọng lượng trongcác tổ chức quốc tế Cho nên tất cả đều phải cố gắng tự chủ về kinh tế, nâng caovai trò của mình hơn nữa
Phát triển kinh tế là điều kiện cần để ổn định về chính trị, và ổn định vềchính trị giúp nâng cao đời sống nhân dân, tạo niềm tin vững chắc trong dân vềchính đảng của mình Nước ta tiến lên XHCN từ một nước nông nghiệp nghèonàn lạc hậu, cuộc sống người dân vô cùng khốn khó Nay phát triển kinh tế đượcđặt ra hàng đầu để cải thiện đời sống nhân dân là một nhiệm vụ mang tính kháchquan, cần thiết
Bên cạnh đó, chúng ta kiên định đi theo con đường XHCN, trong vòngvây và sự chèn ép của tư bản, chúng ta phải phát triển kinh tế để có đủ tiềm lực
về quốc phòng, an ninh để chống lại mọi thế lực thù địch nước ngoài Đồng thời,
để chứng minh cho thế giới thấy sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội
2 Nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của việc đề ra các nhiệm vụ kinh tế trong thời kỳ quá độ
Trang 3Tuy nhiên, để có thể đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế thì trướchết chúng ta phải đề ra đựơc các nhiệm vụ kinh tế cơ bản và thực hiện nó cóhiệu quả Hiểu sâu sắc điều này cùng với quyết tâm đưa nền kinh tế Việt Namthoát khỏi thời kỳ khủng hoảng, mau chóng đuổi kịp các nước phát triển trongkhu vực và trên thế giới, tại Đại hội lần VI Đảng ta đã đưa ra chiến lược pháttriển kinh tế gồm 3 nhiệm vụ chính, đó là:
- Phát triển Lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Xây dựng Quan hệ sản xuất mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Phát triển Lực lượng sản xuất là gi? Đó là xây dựng được Lực lượng sảnxuất tiên tiến có khả năng sử dụng và quản lý nền sản xuất xã hội hoá cao với kỹthuật và công nghệ tiên tiến nhất Để có thể phát triển Lực lượng sản xuất ta phảigắn nó trong mối quan hệ biện chứng với Quan hệ sản xuất Xây dựng Quan hệsản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất Tránh
tư tưởng dùng Quan hệ sản xuất tiên tiến để ép Lực lượng sản xuất phát triểntheo Luôn coi Lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định trực tiếp đến nền kinh tếcủa một quốc gia, còn thể chế chính trị (đóng vai trò Quan hệ sản xuất ) chỉ có tácdụng thúc đẩy hoặc kìm hãm Nếu chế độ chính trị ưu việt, phù hợp sẽ thúc đẩyphát triển các thành phần kinh tế, ngược lại nó kìm hãm, tạo ra mâu thuẫn tronglòng xã hội gây ra mâu thuẫn buộc xã hội chuyển lên giai đoạn mới cao hơn
Qua quá trình lãnh đạo Đất Nước đi lên CNXH, Đảng ta đã rút ra nhữngkinh nghiệm bổ ích và xác định rằng: một trong những nguyên nhân làm cho sảnxuất chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là:" Không nắmvững Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lựclượng sản xuất".Từ đó Đảng rút ra cốt lõi để đẩy mạnh việc vân dụng quy luậtbằng cách nêu vấn đề:gắn liền cách mạng Quan hệ sản xuất với cách mạng khoahọc- kỹ thuật, chú trọng lại việc tổ chức nền sản xuất xã hội để xác định nhữnghình thức và bước đi thích hợp
Đảng nhận thức rằng: sự phù hợp giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sảnxuất không bao giờ tuyệt đối, không có mâu thuẫn, không thay đổi, sự phù hợpcủa Quan hệ sản xuất với Lực lượng sản xuất không bao giờ là sự phù hợpchung mà bao giờ cũng tồn tại dưới những hình thức cụ thể, thích ứng với nhữngđặc điểm nhất định với trình độ nào đó của Lực lượng sản xuất.Trong thời kỳ đi
Trang 4lên của XHCN, nền kinh tế không còn là nền kinh tế tư bản, nhưng chưa hoàntoàn là nền kinh tế XHCN Bởi vậy, công cuộc cải tạo XHCN phải chú ý đếnđặc điểm của sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần Trong cảitạo của nền Quan hệ sản xuất cũ và xây dựng Quan hệ sản xuất mới, Đai hội VI
đã nhấn mạnh là phải giải quyết đồng bộ ba mặt, xây dựng chế độ sở hữu, chế
độ quản lý và chế độ phân phối, không chỉ nhấn mạnh viêc xây dựng chế độ sởhữu mà bỏ qua viêc xây dựng hai chế độ kia Không nên quá đề cao chế độ cônghữu, coi đó là cái duy nhất để xây dựng Quan hệ sản xuất mới Thực tế chỉ rõ,nếu chế độ quản lý và phân phối không được xác lập theo nhưng nguyên tắc củaCNXH và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất nhằm củng cố chế độ cônghữu về tư liệu sản xuất mà còn cản trở Lực lượng sản xuất phát triển
Trong công cuộc đổi mới Đất Nước phải tuân thủ quy luật về sự phù hợpgiữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sảnxuất hiện có, để xác định bước đi và những hình thức thích hợp Quy luật đóluôn được coi là tư tưởng chỉ đạo công cuộc cải tạo Quan hệ sản xuất cũ xâydựng Quan hệ sản xuất mới trên những điều kiện phát triển của Lực lượng sảnxuất Đai hội VI chỉ rõ:" Đảm bảo sự phù hợp giữa Lực lượng sản xuất và Quan
hệ sản xuất, luôn luôn kết hợp chặt chẽ tạo Quan hệ sản xuất với tổ chức vàphát triển sản xuất", không nên nóng vội duy ý chí trong việc xác định trật tựbước đi, cũng như việc lựa chọn các hình thức kinh tế, cần phải tạo nền sản xuấtnhỏ, cá thể để đưa nền sản xuất từng bước tiến lên sản xuất lớn Trên cơ sở sảnxuất nhỏ xây dựng những hình thức của Quan hệ sản xuất phù hợp, từng bước
và đồng bộ Rà soát lại quá trình cải tạo XHCN trong thời gian qua, Đảng ta đãđưa ra nhận định:"Theo quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tínhchất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất , quá trình cải tạo XHCN phải
có bước đi và hình thức thích hợp", "phải coi trọng những hình thức kinh tếtrung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, trong mỗibước đi của quá trình cải tạo XHCN phải đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vậtchất- kỹ thuật tạo ra Lực lượng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đưa Quan hệsản xuất lên hình thức và quy mô thích hợp để thúc đẩy Lực lượng sản xuất pháttriển"
Song song với qúa trình phát triển Lực lượng sản xuất chúng ta phải tiếnhành công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bởi vì, công nghiệp hoá, hiện đại hoá có
Trang 5tính tất yếu khách quan và tác dụng to lớn đối với sự phát triển kinh tế của mỗiquốc gia.
Mỗi phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập vững chắc trên
cơ sở vật chất- kỹ thuật tương ứng Cơ sở vật chất- kỹ thuật của một xã hội làtoàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của Lực lượng sản xuất xã hội phù hợp vớitrình độ kỹ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất racủa cải vật chất thoả mãn nhu cầu của xã hội Nhiệm vụ quan trọng nhất củanước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa, là phải xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó
có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến Muốnthực hiện thành công nhiệm vụ nói trên, nhất thiết phải tiến hành công nghiệphoá, hiện đại hoá, tức là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh
Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đườnglối công nghiệp hoá, hiện đại hoá và coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm
vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.phân tích những tácđộng cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với nền kinh tế đất nước hiệnnay càng làm rõ ý nghĩa vai trò trung tâm của công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Công nghiệp hoá ở nước ta trước hết là quá trình thực hiện mục tiêu xâydựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Đó là quá trình thực hiện chiến lược pháttriển kinh tế- xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp thành một xã hộicông nghiệp, gắn với việc hình thành từng bước Quan hệ sản xuất tiến bộ, ngàycàng thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhờ thành tựu công nghiệp hoá, hiệnđại hoá mang lại là cơ sở kinh tế để củng cố và phát triển khối liên minh vữngchắc giữa giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức trong sự nghiệp cách mạng xã
Trang 6hội chủ nghĩa Đặc biệt là góp phần tăng cường quyền lực, sức mạnh và hiệu quảcủa bộ máy quản lý kinh tế của nhà nước.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo điều kiện vật chất để xâydựng nền kinhtế độc lập, tự chủ vững mạnh trên cơ sở đó mà thực hiệ tốt sựphân công và hợp tác quốc tế
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thúc đẩy sự phân công lao động
xã hội phát triển, thúc đẩy qúa trình quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướngchuyên canh tập trung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nênthống nhất cao hơn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không những có tác dụng thúc đẩy nềnkinh tế tăng trưởng phát triển cao mà còn tạo tiền đề vật chất để xây dựng pháttriển và hiện đại hoá nền quốc phòng, an ninh gắn liền với sự nghiệp phát triểnvăn hoá, kinh tế, xã hội
Thành tựu công nghiệp hoá tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển đồng bộ
về kinh tế- chính trị, văn hoá- xã hội, quốc phòng an ninh Thành công của sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết địnhthắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.Chính vì vậy mà công nghiệp hoá nền kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng tâmtrong suồt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đứng trước xu thế toàn cầu hoá kinh tế và sự tác động của khoa học vàcông nghệ, nền kinh tế nước ta không thể là một nền kinh tế khép kín, mà phảitích cực mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Đó là xu thế tất yếu của thời đại, làvấn đề có tính quy luật trong thời đại ngày nay " Mở cửa" nền kinh tế sẽ đem đếncho chúng ta rất nhiều cơ hội mặc dù vẫn có những thách thức, những cơ hội đó
cụ thể như sau:
- Tăng đầu tư nước ngoài, trong quá trình này, nó yêu cầu hàng rào thuếquan thấp, những phương thức thương mại đơn giản, dưới sự quản lý hànhchính, dẫn đến giảm chi phí sản xuất và đầu tư
- Hội nhập kinh tế và tự do hoá thương mại tạo nhiều cơ hội tiếp cận côngnghệ cao Các nước đang phát triển tiếp nhận công nghệ tiên tiến, công nghệ nàykhông phải nước nào cũng có, nó giúp các nước đang phát triển nhảy vọt, đuổikịp các nước khác trong khu vục và trên thế giới
Trang 7- Hội nhập kinh tế mở rộng quyền xuất, nhập đến mọi lĩnh vực của nềnkinh tế Vì vậy hàng hoá trên thị trường rất đa dạng, khách hàng là người có lợinhất, họ có nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm chất lượng cao, giá cả phảichăng.
Tóm lại, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là yêu cầu khách quan trongthời kỳ quá độ cả Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA NHỮNG NHIỆM VỤ KINH TẾ CƠ BẢN TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI Ở VIỆT NAM
A PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, CÔNG NGHIỆP HOÁ,HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC
1.Phát triển Lưc lượng sản xuất
a.Thực trạng nguồn lực của Lực lượng sản xuất ở nước ta
Chúng ta tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá trong điều kiện đất nướccòn mang nặng tính nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp còn chiếm tỉ trọng nhỏ, tổngsản phẩm quốc dân tính theo đầu người thua xa so với các nước trong khu vực
Theo số liệu thống kê của Việt Nam lao động hoạt động chiếm gần 45%dân số, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 75%, công nghiệp chiếm 11%, cònlại là trong các hoạt động dịch vụ khác
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2010 đã đưa racác thông tin dự báo về nguồn lực lao động:" Bước vào thế kỷ 21 nước ta có 80triệu dân, với 45,4 triệu người trong độ tuổi lao động Đến năm 2010 sẽ cókhoảng 87 triệu dân với khoảng 50 triệu lao động Tình hình giáo dục cũng cónhững biểu hiện đáng ngại, học sinh bỏ học hàng năm có xu hướng tăng lên,chất lượng giáo dục không đảm bảo Nếu giáo dục đại học ở một số nước ĐôngNam Á đạt tỷ lệ 80- 100 sinh viên /10000 dân thì ở nước ta tỷ lệ đó chỉ có 30sinh viên/10000 dân
b Một số giải pháp phát triển Lực lượng sản xuất
Nước ta một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH trong điều kiện tiềnvốn ít, khả năng khoa học còn hạn chế và còn nhiều yếu tố khác quy định thìchưa thể đổi mới ngay Lực lượng sản xuất cũ bằng một Lực lượng sản xuất tiêntiến Do đó những yếu tố của Lực lượng sản xuất cũ vẫn phải được duy trì vàkhai thác Trong hoàn cảnh hiện nay Lực lượng sản xuất bổ sung quan trọng làLực lượng sản xuất chuyển tiếp, cần phải sàng lọc trong Lực lượng sản xuấttruyền thống những yếu tố nào có giá trị để bổ xung cho việc xây dựng Lựclượng sản xuất hiện đại cần phải kết hợp các yếu tố truyền thống với yếu tố hiệnđại, đảm bảo tính phủ định có kế thừa, tiếp thu có chọn lọc cho phép tạo nên sựphát triển ổn định, bình thường của Lực lượng sản xuất, tránh được sự "gãy gục"trong tiến trình phát triển đó
Trang 9Những tiến bộ to lớn cả cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật ngày nay chophép nước ta có thể tranh thủ vận dụng trực tiếp những thành tựu khoa học- kỹthuật, nhập khẩu tư liệu sản xuất hiện đại, chuyển giao công nghệ qua liên kết kinh
tế với nước ngoài Từ đó chúng ta có thể tạo nên sự kết hợp những tiến bộ về Lựclượng sản xuất do đó tiếp thu có chọn lọc từ bên ngoài với những cơ sở vật chất vàLực lượng sản xuất vốn có trong nước, để đẩy nhanh và rút ngắn thời hạn phát triểnlịch sử tự nhiên của Lực lượng sản xuất, vươn lên kịp trình độ của thế giới
Con người tham gia vào quá trình sản xuất vừa với tư cách là sức laođộng, vừa với tư cách là con người có ý thức chủ thể của nhưng quan hệ kinh tế.Trình độ văn hoá, trình độ kỹ thuật chuyên môn, ý thức và thái độ của người laođộng đối với sản xuất và sản phẩm là những yếu tố quan trọng để sử dụng vàkhai thác kỹ thuật và tư liệu sản xuất vốn có, để sáng tạo trong quá trình sảnxuất Angghen đã nhấn mạnh" Muốn nâng cao sản xuất nông nghiệp và côngnghiệp đến mức độ cao, mà chỉ có phương tiện cơ giới và hoá học thì chưa đủ.Còn cần phải phát triển một cách tương xứng năng lực của con người, sử dụngnhững phương tiện đó nữa" nghĩa là phải có sự phối hợp phát triển hài hoà cácnhân tố khách quan của Lực lượng sản xuất hiện đại
Để tạo điều kiện cho con người chủ động, nhận thức và giải quyết nhữngmâu thuẫn giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất, điều chỉnh và hoànthiện Quan hệ sản xuất để thông qua đó phát triển Lực lượng sản xuất, đồng thờimuốn tạo ra những động lực tích cực kích thích năng lực sángtạo của người laođộng thì đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý phù hợp- cơ chế quản lý theo nguyêntắc hạch toán kinh tế Muốn giải phóng và phát huy triệt để nhân tố con ngườitrong sản xuất, trước hết phải có chiến lược về con người nhằm tạo ra những biếnđổi tích cực về cơ cấu và chất lượng công nhân Việc cải cách giáo dục,bồi dưỡngchuyên môn, kỹ thuật và năng lực quản lý, việc ban hành và thực hiên các chínhsách xã hội, xây dựng môi trường xã hội có bầu không khí dân chủ phù hợp vớiyêu cầu của cuộc sống hiện đại và hướng tiến lên của xã hội, là những phươngtiện đa dạng trong thống nhất để đi đến chỗ phát triển Lực lượng sản xuất
2.Công nghiệp hoá, hiện đai hoá ở Việt Nam
a Thực trạng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
*Vấn đề vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Trang 10- Tính từ năm 1996- 2000 tổng vốn đầu tư xã hội thực hiện là 400 nghìn tỉđồng, tương đương 30 tỷ USD, trong đó vốn trong nước là 60% Điều nàychứng tỏ kinh tế Việt Nam bắt đầu có tích luỹ sản xuất trong nước Từ năm 1986đến nay, vốn trong nước liên tục tăng.
- Vốn đầu tư nước ngoài: Trong 10 năm qua, chúng ta thu hút được gần
3000 dự án đầu tư nước ngoài, tổng giá trị là 37,6 tỷ USD Từ năm 1996 đếnnăm 2000 có 1500 dự án FDI được cấp phép, tổng vốn đăng ký là 20,7 tỷ USD
Vốn thực hiện trong 5 năm là 10 tỷ USD tương đương với 23% tổng vốnđầu tư toàn xã hội
Doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài tạo 34% giá trị xuất khẩu toànnghành công nghiệp, chiếm hơn 22% kim nghạch xuất khẩu, góp 10% GDP của
cả nước, thu hút 300 nghìn lao động
Riêng lĩnh vực công nghiệp chiếm 62,2% tổng vốn đầu tư Như vậy, vốnđầu tư nước ngoài trong công nghiệp chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực: côngnghiệp dầu khí, công nghiệp điện tử, công nghiệp ô tô và xe máy, công nghiệphoá dệt, giày dép, xi măng, công nghiệp chế biến Đây là những lĩnh vực màViệt Nam cần phát triển trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của mình
Kết luận:
-Tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn thấp, trước mắt cần phải tìm biện phápthu hút vốn nước ngoài
- Tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài ở nước ta hiện nay còn chưa đáng lo ngại
*Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Hiện nay, tuyệt đại đa số dân số, lao động tập trung ở nông thôn Sự chênhlệch mức sống, trình độ giữa thành thị và nông thôn đang có nguy cơ dãn rangày càng xa Vì vậy, công nghiệp hoá phải đi liền với phát triển nông nghiệpnông thôn Đây là một biện pháp thực hiện công bằng xã hội, cũng là một bước
đi cần thiết tạo điều kiện cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá được tiến hànhthuận lợi
* Thực trạng về khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay
Theo đánh giá của bộ khoa học công nghệ và môi trường, trong cácnghàng công nghiệp, hệ thống máy móc thiết bị lạc hậu tứ 2- 4 thế hệ so với thếgiới và được hình thành, chắp vá từ nhiều nguồn khác nhau, dẫn đến tình trạng
Trang 11tiêu hao năng lượng, nguyên liệu cao, gây ra ô nhiễm môi trường Trình độ côngnghệ thua xa các nước trong khu vực.
Trong lĩnh vực công nghiệp, hệ thống máy móc xây dựng ở trình độnhững năm 50 là 62%, trong khi đó, hệ số đổi mới công nghệ cua Việt Nam từ1960- 1990 chỉ đạt 3% trên năm và 8- 10% trên năm giai đoạn từ 19991 đếnnay
Hầu hết dừ án đầu tư nước ngoài ( trừ lĩnh vực dầu khí, viễn thông) đềucông nghệ cũ, thậm chí quá cũ Hàm lượng kỹ thuật công nghệ trong giá trị sảnphẩm thấp (20%) trong khi ở các nước phát triển là 70%
Công nghệ du nhập nhiều nguồn khác nhau, chắp vá, không đồng bộ: 8% công nghệ sử dụng do ta thiết kế, xây dựng
57% do các nước trong SEV trước đay cung cấp
34% từ các nước khác
Điều này dẫn đến khó khăn trong bảo dưỡng, bảo quản, sử dụng trang bị,trang bị lại
*Thực trạng về nguồn lực con người:
- Lao động trẻ dồi dào: Số người trong độ tuổi lao động tăng từ 30,3 triệunăm 1986 đến 40,2 triệu năm 1995, năm 2000 là 45,4 triệu Hàng năm có từ 1,4-1,5 triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động
- Giá lao động Việt Nam rất rẻ Đây là một lợi thế to lớn
b.Các giải pháp để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
*Huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả
Công nghiệp hoá,hiện đại hoá đòi hỏi nguồn vốn rất to lớn Do đó, mởrộng quy mô huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là một điều kiện,tiền đề quan trọng để công nghiệp hoá,hiện đại hoá thành công
Vốn để công nghiệp hoá,hiện đại hoá có hai nguồn: nguồn vốn trong nước
và nguồn vốn nước ngoài Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội bộ nềnkinh tế quốc dân dựa trên cơ sở hiệu quả sản xuất, là lao động thặng dư củangười lao động thuộc tất cả các thành phần kinh tế Con đường cơ bản để giảiquyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ
sở ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, hợp lý hoá sản xuất Ở nước ta hiênnay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ, trước hết
và chủ yếu là phải khai thác và sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung sức phát triển