Phát triển kinh tế bền vững là đích hướng tới của mọi quốc gia trên thế giới hiện nay, dù các quốc gia đó theo những thể chế xã hội khác nhau. Nhưng để phát triển bền vững được, các quốc gia cần phải xây dựng cho mình một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, một nền tảng kinh tế vững chắc. Điều này chỉ có thể thực hiện thông qua đầu tư phát triển vì đầu tư phát triển là phương thức trực tiếp làm gia tăng tài sản của nền kinh tế, tăng tiềm lực cho mỗi quốc gia. Việt Nam từ khi giành độc lập đến nay, luôn kiên định mục tiêu phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phấn đấu từ nay đến năm 2020, Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp, nhanh chóng giảm bớt khoảng cách so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO sẽ có nhiều cơ hội mà nếu nắm bắt được sẽ đưa đất nước “cất cánh” rất nhanh. Muốn vậy cần phải có một tiềm lực kinh tế vững mạnh. Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư đến phát triển kinh tế, Chính phủ luôn ưu tiên cho các hoạt động đầu tư phát triển. Nhưng để thực hiện được một dự án đầu tư thì không thể không kể đến yếu tố nguồn vốn và các yếu tố khác trực tiếp tác động tới quy mô vốn bởi vốn là yếu tố cần thiết đầu tiên khi thực thi dự án. Nếu kiểm soát vốn tốt thì những trở ngại khác sẽ dần được khắc phục. Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm kinh tế đầu tư chúng tôi đã quyết định chọn và nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư với quy mô vốn đầu tư. Vận dụng để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam”.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế bền vững là đích hướng tới của mọi quốc gia trên thếgiới hiện nay, dù các quốc gia đó theo những thể chế xã hội khác nhau.Nhưng để phát triển bền vững được, các quốc gia cần phải xây dựng chomình một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, một nền tảng kinh tế vững chắc.Điều này chỉ có thể thực hiện thông qua đầu tư phát triển vì đầu tư phát triển
là phương thức trực tiếp làm gia tăng tài sản của nền kinh tế, tăng tiềm lựccho mỗi quốc gia
Việt Nam từ khi giành độc lập đến nay, luôn kiên định mục tiêu pháttriển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phấn đấu từ nayđến năm 2020, Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp, nhanhchóng giảm bớt khoảng cách so với các nước trong khu vực và trên thế giới.Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO sẽ có nhiều cơ hội mànếu nắm bắt được sẽ đưa đất nước “cất cánh” rất nhanh Muốn vậy cần phải
có một tiềm lực kinh tế vững mạnh Nhận thức được tầm quan trọng của đầu
tư đến phát triển kinh tế, Chính phủ luôn ưu tiên cho các hoạt động đầu tưphát triển Nhưng để thực hiện được một dự án đầu tư thì không thể không
kể đến yếu tố nguồn vốn và các yếu tố khác trực tiếp tác động tới quy môvốn bởi vốn là yếu tố cần thiết đầu tiên khi thực thi dự án Nếu kiểm soátvốn tốt thì những trở ngại khác sẽ dần được khắc phục
Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm kinh tế đầu tư chúng tôi đã quyết
định chọn và nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư với quy mô vốn đầu tư Vận dụng để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam” Do thời gian nghiên cứu và kiến thức của các
thành viên trong nhóm là có hạn nên bài nghiên cứu của chúng tôi còn có
Trang 2những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đọc vàcác thầy cô giáo hướng dẫn để bài viết được hoàn thiện hơn.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT,
TSLN VÀ QUY MÔ VỐN ĐẦU TƯ
A LÃI SUẤT
1 Khái nệm chung về lãi suất
Có nhiều quan điểm khác nhau về lãi suất vốn vay, dưới đây là một số quanđiểm hay sử dụng:
Theo K.Marx: Lãi suất là một phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản sảnxuất phải trả cho nhà tư bản tiền tệ vì đã sử dụng vốn trong một thời giannhất định
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học lượng cầu về tài sản: Các nhàkinh tế học về lượng cầu về tài sản chia thế giới tài sản thành hai phần.Phầnthứ nhất là tiền mặt, phần thứ hai là những tài sản không phải tiền măt nhưtrái phiếu, cổ phiếu và các hình thức đầu tư tài sản khác…Theo quan điểmnày lãi suất là chi phí cơ hội cho việc nắm giữ tài sản tài chính tiền mặt,phiếu, hệ vay mượn hoặc cho thuê các dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ
cổ phiếu hay các hình thức tài sản khác
Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB): lãi suất là tỷ lệ phầntrăm của tỷ lệ tiền lãi so với tiền vốn
Vậy theo nghĩa chung nhất lãi suất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan
hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệhoặc các dạng thức tài sản khác nhau Khi đến hạn, người ta sẽ phải trả cho
Trang 4người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi Tỷ lệphần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất
2 Vai trò của lãi suất
Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, lãi suất lại là một công cụ điều tiết chovay kinh tế rất nhạy bén và hiệu quả Thông qua việc thay đổi mức và cơ cấulãi suất trong từng thời kỳ nhất định, chính phủ có thể tác động đến quy mô
và tỷ trọng các loại vốn đầu tư, do vậy mà có thể tác động đến quá trình điềuchỉnh cơ cấu; đến tốc độ tăng trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và tìnhtrạng lạm phát trong nước Hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất định củanền kinh tế mở, chính sách lãi suất còn được sử dụng như là một công cụgóp phần điều tiết đối với các luồng vốn đi vào hay đi ra đối với một nước,tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn định tỷ giá Điều này không những tácđộng đến đầu tư phát triển kinh tế mà còn tác động trực tiếp đến cán cânthanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế của nước đó đối với nướcngoài
Dưới góc độ kinh tế vi mô: lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũngnhư các doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế của mình như: chi tiêuhay để dành gửi tiết kiệm; đầu tư số vốn tích luỹ được vào danh mục đầu tưnày hay danh mục đầu tư khác…
Vậy với mức lãi suất cho vay hợp lý, sẽ kích thích các nhà đầu tư vayvốn mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh cho xã hội, tăng thu nhậpquốc dân, hạn chế thất nghiệp tăng mức sống của người đó tạo điều kiện chonền kinh tế phát triển.Và khi nền kinh tế phát triển, thu nhập quốc dân tăng,
sẽ tác động trở lại kích thích đầu tư phát triển
Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trương pháttriển và theo đuổi chính sách tự do hóa tài chính (financial liberalization), lãi
Trang 5suất được hình thành trên cơ sở thị trường, tức là giữa cung và cầu về vốntrên thị trương quyết định
3 Các lãi suất cơ bản
Mặc dù lãi suất là giá cả của tín dụng nói chung, song chúng ta lại biết rằng tín dụng có thể được thực hiện bằng các hình thức và phương pháp khácnhau, vì vậy mà lãi suất cũng được phân biệt thành các loại khác nhau Dướiđây là một số loại lãi suất cơ bản
3.1 Lãi suất đơn
Lãi suất đơn là lãi suất được tính đối với những khoản tín dụng thựchiện dưới hình thức vay đơn Loại tín dụng kiểu này người vay tiền sẽ trảmột lần cho người cho vay vào ngày đến hạn trả nợ cả vốn và một khoảntiền phụ thêm chính là tiền lãi
Việc tính lãi suất loại này chỉ đơn giản là lấy số tiền lãi chia cho tổng
số vốn vay theo thời gian của khoản tín dụng đó
3.2 Lãi suất tích họp
Lãi suất tích họp là lãi suất có tính đến yếu tố “ lãi mẹ đẻ lãi con” Lãisuất tích họp được coi là công bằng và chính xác hơn trong việc đo lường lãisuất đối với các món vay dài hạn
Trên thực tế lãi suất tích họp vẫn được tính toán dựa trên cơ sở lãi suấtđơn, nhưng do từ năm thứ 2 của thời hạn tín dụng do vốn tín dụng thực tế đãđược tích luỹ thêm và lãi suất đơn tính cho các năm sau sẽ lớn hơn năm đầu
và “tích họp” lại chúng ta sẽ có một mức lãi suất cho suốt thời kỳ khác vớimức lãi suất đơn ban đầu
3.3 Lãi suất hoàn vốn
Đối với các khoản tín dụng mà việc trả vốn và lãi theo định kỳ hoặctrả một khoản cố định theo định kỳ, chẳng hạn trả cố định hoặc trái phiếu
Trang 6coupon thì người ta áp dụng một loại lãi suất gọi là lãi suất hoàn vốn Đây làlãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền thanh toán nhận được từ mộtkhoản tín dụng với giá trị hôm nay của tín dụng đó Một trái phiếu cũng làmột khoản tín dụng, vì vậy lãi suất hoàn vốn của nó là một tỷ lệ nào đó làmcho giá trị hiện tại của trái phiếu trên thị trường.
Như vậy, đo lường lãi suất hoàn vốn là một phép tính ngược từ việcchúng ta cân bằng giá trị hiện tại của số vốn đã đầu tư (cho vay) với giá trịhôm nay của số vốn đó
4 Phân biệt lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
Trên thực tế, những khoản thu nhập bằng tiền hay thu nhập danhnghĩa thường không phản ánh đúng giá trị thực của chính khoản thu nhập
đó Tỷ lệ lạm phát hay tỷ lệ trượt giá của đồng tiền trong một thời gian nhấtđịnh luôn làm cho giá trị thực trở nên nhỏ hơn giá trị danh nghĩa.Vì vậy lãisuất thực luôn nhỏ hơn lãi suất danh nghĩa bởi tỷ lệ lạm phát nói trên
Thông thường trong những điều kiện tỷ lệ lạm phát (ii) không lớn hơn10% thì lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có liên hệ với nhau qua côngthức đơn giản
In – ii
Ir= hay ir = (132-27)/(27+100)
Ii + 1
Trang 7Trong ví dụ này lãi suất thực xấp xỉ bằng 82,7 % và điều này cũngphản ánh đúng một xu hướng thực tế: tỷ lệ lạm phát càng cao lãi suất thựccàng thấp.
Nhân tố ảnh hưởng tới chi tiêu của cá nhân và quyết định đầu tư củacác nhà đầu tư là lãi suất thực tế
5 Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất.
Trong các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước đóng vai tròtrung tâm trong hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội Trong các nước nàythường không có thị trường tài chính và tài chính kiềm chế là mô hình tàichính phổ biến Vì lẽ đó lãi suất trong các nước đó đều đo nhà nứơc quy tiềngửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng Sự biến động của lãi suất trongcác điều kiện như vậy chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của chính phủ mà khôngthể dự đoán hay xác lập bất cứ quy luật vận động nào
Trái lại trong nền kinh tế thị trường, nhà nước chỉ đóng vai trò là ngườiđiều tiết vĩ mô, thị trường tài chính, các ngân hàng cũng như các tổ chứctrung gian rất phát triển Hơn nữa đa số các nước này lại theo đuổi chính sách
tư do hóa và cơ chế hình thành lãi suất là cơ chế thị trường Lãi suất vì vậy luônbiến động phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như nhiềunhân tố khác Sau đây là một số nhân tố cơ bản và quan trọng nhất
5.1 Thay đổi về cung cầu.
Lãi suất là giá cả của cho vay vì vậy bất kỳ sự thay đổi nào của cunghoặc cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổimức lãi suất trên thị trường Mọi sự thay đổi của yếu tố cung cầu về vốn đầu
tư đều tác động tới sự thay đổi của lãi suất Khi cầu về vốn đầu tư tăng, khicung chưa kịp tăng hoặc tăng không đủ khi đó lãi suất sẽ tăng Ngược lại khicung vốn đầu tư tăng mà cầu không tăng hoặc tăng chưa đủ khi đó lãi suất sẽgiảm Tuy mức độ biến động của lãi suất cũng ít nhiều phụ thuộc vào các
Trang 8quy định của chính phủ và ngân hàng trung ương song đa số các nước cónền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất Chúng ta
có thể tác động vào cung cầu trên thị trường vốn để thay đổi lãi suất trong nềnkinh tế cho phù hợp với mục tiêu chiến lược trong từng thời kỳ: chẳng hạn nhưthay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn đầu tư cho các dự án trọng điểm
Mặt khác muốn duy trì sự ổn định lãi suất thì sự ổn định của thịtrường vốn phải được đảm bảo vững chắc
5.2 Bội chi ngân sách nhà nước
Bội chi ngân sách trung ương và địa phương trực tiếp làm cho cầu củaquỹ cho vay tăng làm tăng lãi suất Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác độngđến tâm lý công chúng về gia tăng mức lạm phát và do vậy sẽ gây áp lựctăng lãi suất
Ở một góc độ khác, thông thường gia tăng việc phát hành trái phiếu.Lượng cung trái phiếu trên thị trường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xuhướng giảm, lãi suất trên thị trường vì vậy mà tăng lên Hơn nữa tài sản củacác ngân hàng thương mại cũng gia tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ,lãi suất ngân hàng cũng sẽ tăng
5.3 Mức độ rủi ro của dự án.
Với những dự án có mức độ rủi ro cao,khả năng thu hồi vốn thấp khiđómức lãi suất cho vay của ngân hàng đối với các dự án này sẽ ở mức caohơn mức lãi suất cho vay thông thường của các ngân hàng.Ngược lại vớinhững dự án đầu tư có mức độ rủi ro thấp, khả năng thành công của dự ánlớn, khả tnăng thu hồi vốn của các ngân hàng lớn khi đó lãi suất cho vay củangân hàng với các dự án này sẽ thấp
5.4 Thời hạn sử dụng vốn
Trang 9Với các dự án sử dụng vốn vay càng dài khi đó mức độ rủi ro của các
dự án này càng cao.Do vậy các ngân hàng coi thời hạn sử dụng vốn đầu tư làmột yếu tố cơ bản để xác định mức lãi suất cho các dự án đầu tư
Ta có biểu đồ:
i i
0 I 0 t Trong đó:
i: lãi suất vốn vay
I: đầu tư
t: thời gian sử dụng vốn vay
5.5 Sự ảnh hưởng của thị trường tài chính quốc tế.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nền kinh tế các nước mở cửa với kinh tếthế giới, nền kinh tế mỗi nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thị trường thếgiới Do vậy những yếu tố nước ngoài ảnh hưởng tới thị trường trong nước
là một yếu tố tất yếu Thị trường tài chính mỗi nước chịu ảnh hưởng lớn bởithị trường tài chính quốc tế, lãi suất trong nước cung sẽ chịu ảnh hưởng bởinhững biến động của thị trường tài chính cũng như nền kinh tế thế giới
5.6 Sự thay đổi trong chính sách của chính phủ
Chính phủ các nước có thể thông qua mức lãi suất để điều chỉnh cơ cấukinh tế của một vùng, miền, hay địa phương nào đó Để phát triển một
Trang 10ngành kinh tế của một vùng miền nào đó chính phủ có thể dùng chính sáchlãi suất ưu đãi, để hộ trợ địa phương hay vùng miền đó phát triển ngànhnghề kinh tế mà chính phủ mong muốn Chính phủ có thể áp dụng mức lãisuất thấp hơn mức lãi suất trên thị trường rất nhiều đối với những ngànhnghề, những vùng miền mà chính phủ mong muốn phát triển.
Nhưng thay đổi trong chính sách thuế của chính phủ cũng ảnh hưởngtới mức lãi suất Thuế thu nhập cá nhân và thuế lợi tức công ty luôn tác độngđến lãi suất giống như khi thuế tác động đến giá cả hàng hóa Nếu các hìnhthức thuế này tăng lên cũng có nghĩa là điều tiết đi một phần thu nhập củanhững cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người thamgia kinh doanh chứng khoán Thông thường ai cũng sẽ quan tâm đến thunhập thực tế, lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa Do đó, để duytrì một mức lãi suất thực tế nhất định họ phải cộng thêm vào lãi suất cho vaynhững thay đổi về thuế
5.7 Lạm phát kỳ vọng.
Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó,lãi suất sẽ có xu hướng tăng Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa lãisuất thực tế và lãi suất danh nghĩa cho thấy, để duy trì lãi suất thực khôngđổi, tỷ lệ lạm phát đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng lên tương ứng Thứhai, công chúng dự đoán lạm phát tăng sẽ dành phần tiết kiệm của mình choviệc dự trữ hang hoá hoặc những dạng thức tài sản phi tài chính khác nhưvàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài Tất cả các điều này làmgiảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất của các nhà băng cũngnhư trên thị trường
58 Những thay đổi trong đời sống kinh tế xã hội.
Trang 11Ngoài những yếu tố được trình bày ở trên, sự thay đổi của lãi suất cònphụ thuộc vào các yếu tố thuộc đời sống kinh tế xã hội khác Đó có thể là sựphát triển của thị trường tài chính với các công cụ tài chính đa dạng phongphú, hay mức độ phát triển của các thể chế tài chính trung gian và gắn liềntheo đó là sự cạnh tranh trong hoạt động cung cấp dịch vụ của các tổ chứctín dụng này Hiệu suất sử dụng vốn hay tỉ suất đầu tư cận biên trong nềnkinh tế trong các thời kỳ khác nhau do những thay đổi trong công nghệ hay
sự phát triển mang tính chu kỳ của nền kinh tế cũng tác động đến sự thay đổilãi suất Hơn nữa tình hình kinh tế chính trị cũng như nhưng biến động tàichính quốc tế như những cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế, các luồng vốnđầu tư ra vào đối với các nước ….đều ít nhiều tác động tới sự thay đổi củalãi suất các nước khác
Tất cả những vấn đề này gợi ý cho các nha nghiên cứu, soạn thảo vàđiều hành chính sách lãi suất phải có sự nhìn nhận và đánh giá một cáchtổng thể trước khi đưa ra bất kỳ một kết luận hoặc quyết định nào liên quanđến lãi suất
B TỶ SUẤT LỢI NHUẬN
Trang 12-> RRi : là tỷ suất lợi nhuận vốn đầu t của năm i
Nếu tính bình quân năm của đời dự án, thì:
RR =
vo
pv I W
Trong đó : + W pv là lợi nhuận thuần bình quân năm của đời dự án theomặt bằng hiện tại
+ RR là tỷ suất lợi nhuận bình quân năm và nó có tác dụng để
so sánh giữa các dự án
+ RR phải cao hơn lãi suất cho vay của các ngân hàng thì mớikhuyến khích đợc các nhà đầu t thực hiện đầu t
2 Vai trò của tỷ suất lợi nhuận đối với hoạt động đầu t
Xét trên góc độ vi mô: Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các chủ doanh nghiệp Do vậy, ở đâu có tiềm năng mang lại nhiều lợi nhuận thì họ sẽdốc vốn của mình để đầu t vào đó Lúc này, tỷ suất lợi nhuận vốn đầu t chính
là nhân tố quyết định tới việc có nên đầu t hay không Mặt khác, tỷ suất lợinhuận vốn đầu t phản ánh khả năng hoàn vốn của một dự án, qua đó đánh giáhiệu quả của dự án đầu t
Xét trên góc độ vĩ mô: Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu t càng tăng, càng cónhiều cơ hội đầu t, các doanh nghiệp càng có nhiều ý định vay vốn để tăng
đầu t
Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu t trong một ngành, một lĩnh vực, một địa phơnggia tăng sẽ kéo theo hoạt động đầu t ở các nơi đó gia tăng dẫn đến tổng sốhàng hoá dịch vụ đợc sản xuất ra trong nền kinh tế đó tăng lên, làm cho thunhập quốc dân cũng tăng lên
C QUY Mễ VỐN ĐẦU TƯ
1 Khỏi niệm vốn đầu tư và quy mụ vốn đầu tư.
Vốn là một yếu tố khụng thể thiếu trong hoạt động đầu tư, hay núi cỏchkhỏc, vốn là yếu tố quyết định một dự ỏn cú được thực thi hay khụng Vềbản chất, vốn đầu tư là phần tớch lũy được thể hiện dưới dạng giỏ trị đượcchuyển húa thành vốn đầu tư đỏp ứng yờu cầu phỏt triển của xó hội Đõy là
Trang 13thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư pháttriển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của Nhà nước và của xã hội Vốn đầu tưbao gồm:
+ Các dạng tài sản đặc biệt: vàng, bạc, đá quý…
Để đo lường lượng vốn đầu tư vào một dự án nào đó, người ta dùngthuật ngữ quy mô vốn Quy mô vốn là lượng vốn được phân bổ cho một dự
án đầu tư được quy đổi giá trị bằng tiền Quy mô vốn có thể cho ta thấyđược dự án đầu tư đó là lớn hay nhỏ, có ảnh hưởng rộng hay hẹp… đến nềnkinh tế Quy mô vốn cũng thể hiện phần nào tầm quan trọng của một dự ánđầu tư
2 Phân loại vốn đầu tư.
Căn cứ vào các nguồn huy động vốn đầu tư, người ta chia vốn đầu tưthành vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài
2.1 Vốn đầu tư trong nước.
Vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế, bao gồmtiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiếtkiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội.Vốn đầu tư trong nước được chia thành:
Trang 14+ Nguồn vốn ngân sách nhà nước: là nguồn chi của ngân sách nhà nướccho đầu tư Đây là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng chocác dự án đầu tư công như xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng an ninh, các
dự án trọng điểm quốc gia…
+ Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: nguồn vốn nàyhiện nay đang ngày càng khẳng định vai trò của nó đối với nền kinh tế, đượcxem như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế Thông qua vốn tíndụng, nhà nước thực hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế xã hội theongành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình Vốn tín dụngnhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm bao cấp vốn của nhà nước.+ Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: Nguồn vốn này chủ yếu
từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước.Nguồn vốn này chiếm khoảng 14 – 15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủyếu là đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ
2.1.2.Nguồn vốn của dân cư và tư nhân.
Vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tíchlũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Phần tiết kiệm nàychiếm khoảng 15% GDP và có xu hướng gia tăng cả về quy mô và tỷ trọng.Nguồn vốn từ khu vực này có vai trò quan trọng đặc biệt trong việcphát triển nông nghiệp, nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển côngnghiệp, thương mại, dịch vụ… Phần tích lũy này có đóng góp đáng kể vàotổng quy mô vốn toàn xã hội
Nguồn vốn trong dân cư phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộgia đình, vào trình độ phát triển của đất nước, tập quán tiêu dùng của dân cư,chính sách của nhà nước…
2.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Trang 15Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của các cá nhân,doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy độngvào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại Đầu tư nước ngoài có vai tròrất quan trọng, cả với nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư nhằm thỏa mãnmục đích của chính mình.Việt Nam, với vị thế là nước đi vay luôn xác địnhmục tiêu là thu hút được càng nhiều càng tốt và càng nhanh càng tốt nhữngnguồn lực mà nền kinh tế đang cần để phát triển, kết hợp với các nguồn lựcbên ngoài nhằm khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước, tăng tíchlũy tạo tiền đề cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa Ta có thể chia nguồnvốn đầu tư nước ngoài theo sơ đồ sau:
Trong các nguồn vốn trên thì vốn ODA và FDI là hai nguồn vốn phổbiến và có vai trò rất quan trọng với các nước nhận đầu tư
+ ODA: là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủnước ngoài cung cấp nhằm trợ giúp cho các nước đang phát triển Đây làhình thức mang tính ưu đãi cao( về lãi suất, thời hạn cho vay dài, lượng vốnlớn), ngoài ra còn yếu tố không hoàn lại, thường đạt ít nhất 25% tổng nguồnvốn Tuy vậy, để đạt được những lợi ích đó, các quốc gia nhận viện trợ phải
Trang 16đáp ứng những yêu cầu của các tổ chức tài trợ vốn, mà thường những yêucầu này mang sức ép chính trị rất lớn.
+ FDI: đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, có tác dụngthúc đẩy phát triển ngành nghề, đổi mới công nghệ trong nước Nguồn vốnnày không làm phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn Thay vì nhận lãi suấttrên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự
án đầu tư có hiệu quả Chủ đầu tư chủ yếu vào hình thức này là các doanhnghiệp, công ty nước ngoài và thường đầu tư vào các nước đang phát triển
để tận dụng những lợi thế của nước đó như lao động giá rẻ, tài nguyên dồidào,thị trường tiêu thụ sản phẩm…
3 Vai trò của quy mô vốn đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Quy mô vốn đầu tư phù hợp có vai trò quan trọng đến việc quyết định
hoạt động và hiệu quả của các hoạt động đầu tư phát triển
3.1 Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
Tác động đến tổng cầu
Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của nền kinh tế.Theo số liệu ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24 - 28% trong cơcấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Xét trong ngắn hạn, khi tổngcầu chưa kịp thay đổi, việc tăng quy mô vốn đầu tư - tăng cầu đầu tư sẽ làmcho tổng cầu AD tăng (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi)
Công thức xác định tổng cầu AD:
Trang 17NX: Xuất khẩu ròng.
Xét theo hình 1: đường cầu AD dịch phải (AD→AD’), kéo theo sản lượngcân bằng tăng theo (Q0→Q1), giá cả các yếu tố đầu vào của đầu tư tăng lên(P0→P1) Điểm cân bằng dịch chuyển từ E0 đến E1
Tác động đến tổng cung:
Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước vàcung nước ngoài Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu tốsản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ….,thể hiện qua phương trình:
Q = F (K, L, T, R….)
Trong đó K: Vốn đầu tư
L: Lao động
T: Công nghệ
R: Nguồn tài nguyên
Như vậy, tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổngcung của nền kinh tế (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi)
Khi thành quả đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt độnglàm cho tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng Theo đồ thị ,tổngcung AS dịch chuyển sang phải ( AS→AS’), sản lượng tiềm năng tăng từQ1→Q2, do đó giá cả sản lượng giảm xuống từ P1→P2 Sản lượng tăng, giá
cả giảm cho phép tăng tiêu dùng Tăng tiêu dùng lại là nhân tố kéo, tiếp tụckích thích sản xuất phát triển, tăng quy mô đầu tư Sản xuất phát triển lànguồn gốc tăng tích lũy, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho ngườilao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
Hình 1:
Trang 18Q
E E
D
D'
S
S' 0
3.2 Tác động đến tăng trưởng kinh tế:
Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố rấtquan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổnghợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH,nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế….do đó nâng cao chất lượng tăngtrưởng kinh tế
Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa quy mô vốn đầu tư tăng thêm vớimức gia tăng sản lượng thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR
ICOR = Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP/tốc độ tăng trưởng kinh tế
Theo công thức trên, nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụthuộc vào mức tăng quy mô vốn đầu tư
3.3 Tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộphận cấu thành nền kinh tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sựphát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, các vùng
Trang 19Quy mô vốn có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Ví dụ, đối với cơ cấu ngành, quy mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ítđều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chấtcủa từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển những ngành mới….do đó,làm dịch chuyển cư cấu ngành kinh tế
4 Những yếu tố tác đông đến quy mô vốn đầu tư.
4.1 Lãi suất (lãi suất thực tế).
Lãi suất không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động thu hút vốn đầu tư - quyết
định quy mô vốn đầu tư thông qua việc ổn định kinh tế vĩ mô - mà còn tácđộng đến dòng chảy các nguồn vốn đầu tư và mức lợi nhuận thu được tạimột thị trường xác định
Đối với lãi suất, về mặt lý thuyết lãi suất càng cao thì xu hướng tiết kiệmcàng lớn và từ đó tiềm năng quy mô, số lượng các nguồn vốn càng cao Bêncạnh đó, nếu mức lãi suất thị trường nội địa mà cao hơn tương đối so vớimức lãi suất quốc tế thì còn đồng nghĩa với tiềm năng quy mô vốn nướcngoài tăng và là công cụ hữu hình để chính phủ bảo vệ được nguồn vốnnước mình, ngăn chặn được nạn đào thoát vốn ra nước ngoài
Tuy nhiên, bản thân yếu tố lãi suất cũng có hai mặt, đó là khi tăng lãi suấtcũng có nghĩa là chi phí sử dụng vốn trong đầu tư sẽ cao hơn Điều này sẽlàm giảm phần lợi nhuận thực của nhà đầu tư Dẫn đến quy mô vốn có xuhướng giảm xuống
Vì vậy, khi sử dụng công cụ lãi suất phải hết sức cẩn trọng để xác định mứclãi suất phù hợp, góp phần quan trọng trong việc tạo quy mô vốn phù hợp,quyết định hiệu quả huy động vốn
4.2.Tỷ suất lợi nhuận.
Trang 20Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận thuầnthu được từ một đơn vị vốn đầu tư được thực hiện.
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng giúp nhà đầu tư quyết địnhquy mô vốn đầu tư phù hợp với từng dự án đầu tư Nhưng khi vốn đầu tưtăng dần, tỷ suất lợi nhuận biên sẽ giảm dần Nhà đầu tư chỉ quyết định tiếptục đầu tư (tăng quy mô vốn) khi tỷ suất lợi nhuận > lãi suất tiền vay
4.3.Sản lượng nền kinh tế.
Khi sản lượng nền kinh tế gia tăng sẽ là một nhân tố rất quan trọng ảnhhưởng đến quy mô vốn đầu tư Tuy nhiên tốc độ tăng của sản lượng và tốc
độ tăng của vốn đầu tư không giống nhau
Thật vậy, qua thuyết số nhân đầu tư của keynes thế hiện rõ mối quan hệ
Trong đó: Y: mức gia tăng sản lượng
I: mức gia tăng đầu tư
k: số nhân đầu tư
Khi sản lượng ở mức thấp (thu nhập ở mức thấp), MPC lớn nên k lớn Đểsản lượng tăng lên ở một mức độ thấp thì quy mô vốn đầu tư phải tăng lên ởmột mức độ lớn hơn nhiều lần
Khi sản lượng đã ở mức cao, MPC giảm làm k nhỏ Để sản lượng khôngtăng hoặc giảm thì quy mô vốn cũng phải giảm nhưng tốc độ lớn hơn nhiều Vậy mỗi sự thay đổi sản lượng nền kinh tế đều dẫn tới sự thay đổi củaquy mô vốn đầu tư cùng chiều Nhưng sự biến động của vốn lớn hơn nhiềulần sự biến động của sản lượng
4.4 Chu kỳ kinh doanh
Trang 21Như đã phân tích ở trên, ta thấy quy mô vốn đầu tư phụ thuộc vào sản
phẩm đầu ra.Nhiều nhà kinh tế cho rằng mức sản lượng này phụ thuộc vàochu kỳ kinh doanh
Khi chu kỳ kinh doanh vào thời kỳ đi lên, quy mô của nền kinh tế mởrộng, nhu cầu đầu tư gia tăng, nhu cầu về quy mô vốn tăng và ngược lại
4.5 Các yếu tố khác.
Cùng với lãi suất, các quy định về thuế của chính phủ (đặc biệt là thuếthu nhập doanh nghiệp) cũng ảnh hưởng lớn đến nhu cầu đầu tư, quyết địnhquy mô vốn đầu tư Nếu chính phủ đánh thuế cao sẽ làm tăng chi phí đầu tư,làm cho thu nhập của các nhà đầu tư giảm, làm nản lòng các nhà đầu tư, quy
mô vốn bị thu hẹp Mặt khác chính phủ cũng có thể khuyến khích đầu tưbằng hình thức miễm giảm thuế với những khoản lợi nhuận dùng để tái đầu
tư, do đó quy mô vốn đầu tư sẽ tăng
Môi trường đầu tư cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quy
mô vốn đầu tư Đầu tư luôn đòi hỏi một môi trường thích hợp, nhất là trongđiều kiện kinh tế thị trường, với xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt Môitrường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố, như thực trạng cơ sở hạ tầng, nhữngquy định của pháp luật đầu tư, nhất là những quy định có liên quan đến lợiích tài chính (chế độ thuế, giá nhân công….); chế độ dất đai (quy chế thuêmướn chuyển nhượng, thế chấp, giá cả…), các loại thủ tục hành chính, tìnhhình chính trị - xã hội… Nếu những yếu tố trên thuận lợi sẽ khuyến khíchđược các nhà đầu tư và thu hút được nhiều vốn đầu tư - quy mô vốn tăng.Trong việc tạo lập môi trường đầu tư chính phủ giữ một vai trò quan trọng,chính phủ thường quan tâm đến những chính sách nhằm tăng được lòng tintrong đầu tư và kinh doanh
Trang 22II MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT, TSLN VỐN ĐẦU TƯ
VÀ QUY MÔ VỐN ĐẦU TƯ
1.Mối quan hệ giữ lãi suất vốn vay và quy mô vốn đầu tư.
Lãi suất là một công cụ tài chính quan trọng của mỗi quốc gia trongviệc điều hành chính sách tiền tệ, để thực hiện mục tiêu kinh tế của mỗinước trong mỗi giai đoạn
Quy mô vốn đầu tư phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố trong đó lãi suất làmột trong những nhân tố quan trọng quyết định quy mô đầu tư Các nhà đầu
tư thường đi vay vốn để đầu tư, khi đó họ phải trả lãi suất cho các khoản vay
đó, đó là giá cả của khoản tiền vay Khi lãi suất cao hơn tỷ suất lợi nhuậnbình quân, nhà đầu tư không thu được lợi nhuận từ các dự án đầu tư Khi đó
sẽ có ít các nhà đầu tư vay vốn và quy mô vốn đầu tư theo đó cũng thu hẹp Ngược lại khi lãi suất thấp khi đó sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn, khi
đó quy mô vốn đầu tư sẽ tăng Vì vậy có thể thấy giữa lãi suất vốn vay vàquy mô vốn đầu tư có quan hệ tỷ lệ nghịch
Ta có thể thấy rõ mối quan hệ đó qua phương trình sau:
I = I0 – bi
Trong đó :
I : đầu tư dự kiến
i : lãi suất trung bình/ năm
Io : đầu tư tư đinh (đầu tư không phụ thuộc vào lãi suất )
b : độ nhạy cảm của đầu tư đối với lãi suất
Ta có biểu đồ thể hiện mối quan hệ như sau:
(Thư vẽ cái biêu đồ vào đây cho Q cái)
Ta thấy lãi suất và đầu tư có quan hệ tỷ lệ nghịch, khi lãi suất tăng thi đầu
tư giảm va ngược lại
Trang 232 Quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận vốn đầu t và quy mô vốn đầu t.
Đối với mỗi đơn vị t bản, doanh nghiệp thu đợc một doanh thu thực tế (R/p)
và phải chịu mức chi phí thực tế Pk/p(r + ) Lợi nhuận thực tế của mỗi đơn
vị t bản là:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Vì giá thuê thực tế trong trạng thái cân bằng bằng sản phẩm cận biêncủa t bản nên có thể biểu thị tỷ suất lợi nhuận nh sau:
Tỷ suất lợi nhuận = MPK - Chi phí
Doanh nghiệp cho thuê kiếm đợc lợi nhuận khi sản phẩm cận biên của t bản lớnchi phí t bản, nó phải chịu lỗ nếu sản phẩm nhờ hơn chi phí của t bản
Chúng ta xem xét động cơ kinh tế nằm sau quyết định đầu t của doanhnghiệp cho thuê Quyết định của doanh nghiệp về khối lợng t bản - nghĩa làquyết định bổ sung thêm hay để cho nó hao mòn đi phụ thuộc vào việc sởhữu hay cho thuê t bản có lãi hơn Sự thay đổi trong khối lợng t bản, gọi là
đầu t ròng phụ thuộc vào mức chênh lệch giữa sản phẩm cận biên của t bản
và chi phí của t bản Nếu sản phảm cận biên của t bản vợt quá chi phí của tbản, các doanh nghiệp sẽ cảm thấy có lãi khi bổ sung vào khối lợng t bản củamình Trong trờng hợp ngợc lại, họ sẽ giảm khối lợng t bản của mình
Nh vậy, tỷ suất là yếu tố quan trọng chỉ cho các nhà đầu t nên đầu tvào đâu, lĩnh vực đầu t là gì và có nên tăng quy mô đầu t hay không
Tăng đầu t làm hiệu quả của vốn giảm nên các nhà đầu t chỉ tiếp tục
đầu t tới khi nào hiệu quả biên của vốn đầu t còn lớn hơn lãi suất của vốn vay
để đầu t Mặt khác, nhà đầu t còn có thể căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận biên đểquyết định đầu t Tuy nhiên, theo Keynes, đây là đại lợng rất khó xác địnhnên nhà đầu t dựa trên cơ sở kỳ vọng vào hiệu quả đầu t
Để nghiên cứu mối quan hệ này ta xét lý thuyết quỹ nội bộ của đầu t
Theo lý thuyết này thì đầu t có mối quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuậnthực tế Vậy dự án nào có lợi nhuận cao thì các nhà đầu t sẽ chọn vì với mứclợi nhuận cao thì thu nhập giữ lại cho đầu t càng cao và sẽ có mức đầu t caohơn
Nguồn vốn đầu t trong doanh nghiệp bao gồm: vốn tự có, vốn vay,viện trợ và vốn từ việc thuê mua tài chính Vốn tự có bao gồm: lợi nhuận giữlại, vốn góp, từ cổ phiếu, vốn ngân sách cấp ban đầu (DNNN), vốn vay bao
Trang 24gồm, vay u đãi, vay thơng mại và vay từ ngời lao động Tuy nhiên trong cáckhoản trên thì chỉ có tăng lợi nhuận giữ lại hay tăng nhận viện trợ là các cáchtăng vốn đầu t an toàn nhất Vay mợn thì đều phải trả nợ, nhất là khi nềnkinh tế đi vào suy thoái thì khả năng trả nợ là khó khăn do sản xuất kinhdoanh gặp trở ngại.
Trong khi đó lợi nhuận lại tùy thuộc vào mức thuế thu nhập doanhnghiệp Việc giảm thuế sẽ làm tăng lợi nhuận giữ lại và qua đó làm tăng quymô đầu t và tăng sản lợng Do đó, quỹ nội bộ là một yếu tố quan trọng đểxác định lợng vốn đầu t
3 Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỷ suất lợi nhuận VĐT với quy mô VĐT
Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu t đợc đo bằng lợi nhuận ròng thu đợc chacho quy mô của VĐT
RR = I
- Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu t có quan hệ tỷ lệ thuận một chiều với đầu t 1ngành hoặc 1 lĩnh vực hoạt động kinh doanh nào đó mang lại tỷ suất lợinhuận cao thì ngời ta sẽ đầu t vào nhiều Nhng khi đầu t nhiều thì tỷ suất lợinhuận sẽ giảm xuống ở đây tác động mang tính chất trái chiều
- Theo lý thuyết của Mac thì tỷ suất lợi nhuận
Nh vậy là tỷ suất lợi nhuận VĐT sẽ chỉ cho ngời ta biết phải đầu t vào
đâu Còn đầu t bao nhiêu, lợng vốn nh thế nào thì phải căn cứ vào tỷ suất lợinhuận viên hay hiệu quả biên của vốn đầu t
Chỉ tiêu này đợc đo bằng số đơn vị lợi nhuận đợc tạo ra trên một đồng vốntăng thêm
Trang 25Hiệu quả biên của vốn cao hay thấp nó kéo theo nhu cầu đầu t tănghay giảm ứng với mỗi mức lãi suất.
Vậy hiệu quả biên của vốn cho phối các điều kiện về cầu đầu t Đờnghiệu quả biên của vốn chính là đờng cầu đầu t Còn lãi suất chi phối đến việccung ứng các khoản vốn đầu t này (đợc thể hiện bằng đờng Sv trên đồ thị)
Điểm E là điểm cân bằng tại đó với mức lãi suất cân bằng r0 lợng vốn đầu t
sẽ là I0 và hiệu quả biên của vốn là Ir0 Đầu t sẽ đợc tiến hành tới I0
- Phân tích sự ảnh hởng từ phía lãi suất
Nếu lãi suất tăng từ r0 r1làm hiệu quả biên của vốn sẽ là Irm Ir1.Vậy đầu từ sẽ đợc tiến hành tới Ir1 = r1vậy tơng ứng với lợng vốn là I1 Lợngvốn giảm làm tỷ suất lợi nhuận RR tăng Nếu lãi suất tiếp tục tăng vợt quá tỷsuất lợi nhuận biên thì hoạt động đầu t không diễn ra Ngợc lại lãi suất giảm
r0 r2 thì tơng ứng với đầu t sẽ đợc tiến hành tới I2
Vậy ta có mối quan hệ nếu r tăng I giảm RR tăng
I2
I0
I10
Trang 26Nếu tỷ suất lợi nhuận biến động thờng do các nguyên nhân khó dựtính đợc giả sử tỷ suất lợi nhuận của 1 ngành trong một năm hàng nào đótăng sẽ làm cho đờng cầu đầu t dịch chuyển sang phải điểm cân bằng mới làE’ Ngời ta sẽ đầu t nhiều hơn vào ngành đó lúc đó lợng vốn sẽ tăng I0I’0
hiệu quả biên của vốn tăng và lãi suất cũng tăng theo trờng hợp ngợc lại suyluận tơng tự
Ta có sơ đồ sau:
Khi RR tăng I tăng r tăng
RR giảm I giảm r giảm
Vậy khi lợi nhuận đợc tạo ra trên 1 đồng vốn tăng thêm mà tăng thì sẽkích thích tăng lợng cầu đầu t, cầu đầu t tăng lãi suất cũng tăng để cân bằngcung cầu trên thị trờng
Giữa lãi suất và tỷ suất lợi nhuận luôn có mối quan hệ mật thiết vớinhau, từ đó quyết định đến quy mô vốn đầu t Tỷ suất lợi nhuận chính làphần lợi nhuận mà nhà đầu t thu đợc trên một đơn vị vốn đầu t trong khi lãisuất lại là chi phí cho việc sử dụng một đồng vốn đầu t Rõ ràng là nếu lãisuất lớn hơn tỷ suất lợi nhuận tức là chi phí/VĐT lớn hơn lợi nhuận/VĐT vànhà đầu t sẽ cắt giảm quy mô đầu t và ngợc lại sẽ tăng quy mô đầu t
Ta có thể thấy rõ mối quan hệ này thông qua phân tích đồ thị sau:
IRRA
IRRB
i 4
Trang 27Giả sử lãi suất vốn vay trên thị trờng i.
Tỷ suất lợi nhuận IRR
A, B, C: quy mô đầu t của dự án A, B, C
Do vậy, việc điều chỉnh mức lãi phù hợp với tỷ suất lợi nhuận là rấtphức tạp đòi hỏi các nhà quản lý phải có cái nhìn bao quát cũng nh quyết
định nhạy bén với những thay đổi trên thị trờng
Chương II: MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT VỐN VAY, TSLN VỚI QUY Mễ VỐN ĐẦU TƯ
I THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
1 Tổng quan chung về tỡnh hỡnh đầu tư phỏt triển ở Việt Nam.
Đối với Việt Nam, một quốc gia đang trờn đà phỏt triển thỡ rất cần phải chỳtrọng đến hoạt động đầu tư và nguồn vốn phục vụ đầu tư Tuy vậy, một thực
tế ở Việt Nam cho thấy rằng, sự tăng trưởng nguồn vốn trong đầu tư phỏttriển lại gúp phần rất lớn vào tăng trưởng GDP hàng năm
Mối quan hệ giữa tốc độ tăng vốn đầu tư và tốc độ tăng GDP.
Hỡnh 2: Quan hệ giữa tăng trưởng vốn và tăng GDP từ năm 1995 – 2007
Trang 28Nguồn: Tác giả tính từ nguồn tài liệu của TCTK.Xem xét tốc độ tăng GDP và sự biến động của tỷ lệ đầu tư trong GDP chothấy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam từ đầu thập niên 1990 gắnliền với việc gia tăng mạnh mẽ của tỷ lệ đầu tư trong GDP Nếu như trongthời kỳ 1986 –1990 tỷ lệ đầu tư thấp là 12,6%, thì tốc độ tăng trưởng cũngchỉ đạt 4,3 % Trong khi đó giai đoạn 1991 – 1995 khi tỷ lệ đầu tư lên tới22,3% thì tốc độ tăng GDP tăng mạnh lên tới 8,2% Trong giai đoạn 1996 –
2000 tỷ lệ tỷ lệ đầu tư trong GDP đã đạt 33,2 % tốc độ tăng GDP giảm nhẹxuống còn gần 7% Đặc biệt trong giai đoạn 2001 – 2007 tỷ lệ đầu tư trongGDP tăng mạnh lên đến 38,8 % thì tốc độ tăng GDP là 7,62% Sự sụt giảmcủa tốc độ tăng trưởng thời kỳ 1998 đến 2003 một phần là do cuộc khủnghoảng tài chính trong khu vực và do cơ chế chính sách ngày càng khôngtheo kịp với tình hình mới làm cho hiệu quả của vốn đầu tư giảm sút nhanh,dẫn đến tỷ lệ đầu tư trong GDP tăng nhanh trong khi tốc độ tăng GDP vẫnchưa được phục hồi so với thời kỳ trước khủng hoảng
Qua đó, ta thấy biến động của quy mô vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng GDP
là cùng chiều Nhưng tốc độ biến động của quy mô vốn nhanh hơn của GDP
do độ trễ trong đầu tư
Phân chia đầu tư theo theo các thành phần kinh tế.
Trang 29Hình 3: cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế.
kỳ 1998 – 2002 nên tỷ trọng khu vực này trong tổng vốn đầu tư chỉ cònchiếm 18,2% Nguồn FDI mới bắt đầu tăng trở lại từ năm 2005 Đầu tư củakhu vực ngoài quốc doanh cũng giảm trong giai đoạn 1997 –2002 do ảnhhưởng của khủng hoảng ở Đông Á Tuy nhiên tốc độ giảm của khu vực nàykhông nhiều do Luật Doanh nghiệp ra đời năm 2000 đã thúc đẩy đầu tư của
khu vực tư nhân Tỷ trọng đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh tăng mạnh
từ năm 2002 đã đã vượt mức 1/3 tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Đánh giá đầu tư phát triển theo hệ số ICOR.
Bảng 1: Đánh giá hiệu quả đầu tư thông qua chỉ số ICOR
Trang 30Nguồn:tổng cục thống kê
Nhìn vào bảng trên ta thấy, ICOR tăng nhanh đồng nghĩa với hiệu quả đầu
tư bị giảm sút này đang xảy ra với vốn đầu tư toàn xã hội ICOR tăng là một
xu hướng tất yếu do sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật Tuy nhiên ICOR tăngnhanh lại luôn là không bình thường và đáng lo ngại trong quá trình pháttriển của mọi nền kinh tế.ICOR ở Việt Nam thậm chí còn cao hơn cả một sốnước trong khu vực như Thái Lan,Mailaysia, Indonesia, Trung Quốc và Ấn
Độ Điều thú vị là Ấn Độ đã đạt được tốc độ tăngtrưởng gần bằng Việt Nam
từ năm 2000 cho đến nay, với tỷ suất đầu tư chỉ bằng 2/3 so vớiViệt Nam.Nghĩa là Ấn Độ chỉ cần 3,5 đơn vị đầu tư để tại ra 1 đơn vị tăng trưởng,trong khi Việt Nam cần đến gần 5 đơn vị đầu tư mới tạo ra được 1 đơn vịtăng trưởng Tại sao hiệu quả đầu tư lại khác nhau như vậy Thực trạng này
có thể giải thích do sự kết hợp của sức mạnh tài chính, hiệu quả chi tiêu củanhà nước và phạm vi cạnh tranh tín dụng sẽ tác động đến ICOR Theo khíacạnh này thì Việt Nam có thể tụt hậu so với các nước cạnh tranh Động tháităng ICOR của toàn bộ nền kinh tế gắn với tốc độ tăng nhanh của đầu tư nhànước và khu vực FDI Nhưng nếu ICOR cao của khu vực FDI có thể biệnminh được bằng suất đầu tư cao (vốn đắt, trình độ công nghệ - kỹ thuật cao)
và năng suất lao động cao thì đối với nhà nước, vấn đề lại liên quan đến chấtlượng đầu tư, năng lực quản lý ở cấp vĩ mô lẫn vi mô và năng suất lao độngthấp Hơn nữa trong thời gian qua đầu tư nhà nước lại tập trung nhiều vàomột loạt các siêu dự án kéo dài và gặp vô số vấn đề chỉ giúp tăng GDP trongnăm đầu tư, còn lại gây lãng phí và tổn thất cho xã hội
Như vậy, nhìn chung trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay, tình hình đầu tư
ở Việt Nam đã có nhiều khởi sắc song cũng còn tồn tại nhiều bất cập hạn
Trang 31chế cần được giải quyết, đặc biệt là trong khu vực đầu tư của Nhà nước.Song đứng trên quan điểm nhà đầu tư, việc phân chia vốn theo cơ cấu ngànhkinh tế vẫn chưa thể hiện hết được vai trò và tầm quan trọng của nguồn vốn,bởi vậy, trong bài phân tích này, nhóm chúng tôi quyết định phân tích đề tàicủa mình theo nguồn hình thành vốn đầu tư.
2 Đầu tư phát triển ở Việt Nam phân theo nguồn hình thành vốn.
2.1 Nguồn vốn đầu tư xuất phát từ tiết kiệm trong nước
Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước:
Bảng 3: Cơ cấu chi ngân sách nhà nước (100%) chi cho đầu tư phát triển:
Qua bảng trên ta thấy, tỷ lệ chi đầu tư phát triển trong chi ngân sách đang có
xu hướng tăng, trong chi chi đầu tư phát triển chủ yếu là chi cho xây dựng
cơ bản
Nếu xét trong tổng vốn đầu tư xã hội: Xét chung cho giai đoạn 2001_2005vốn đầu tư từ ngân sách chiếm 24.5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Trongnhững năm tiếp theo, vốn đầu tư từ ngân sách tăng về giá trị tuyệt đối nhưnggiảm về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước:
Trang 32Cùng với quá trình đổi mới mở cửa, vốn tín dụng đầu tư phát triển củanhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội Trong giai đoạn 2001_2005 nguồn vốn này chiếm 14% tổng vốnđầu tư phát triển Trong những năm tiếp theo nguồn vốn này sẽ có xu hướngcải thiện về mặt chất lượng và phương thức tài trợ nhưng tỷ trọng sẽ không
có sự gia tăng đáng kể Ngày 19/9/2008, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn TấnDũng đã ký ban hành Nghị định số 106/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số Điều của Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày 20/12/2006 của Chính phủ
về tín dụng đầu tư ( miễm giảm chính sách ưu đãi tín dụng ) Tuy nhiên,cũng phải nói rõ thêm là việc điều chỉnh lãi suất tín dụng nhà nước khác vớiviệc điều chỉnh lãi suất của hệ thống ngân hàng thương mại Lãi suất của hệthống NHTM dựa vào cung - cầu vốn trên thị trường để đưa ra lãi suất chovay, còn việc điều chỉnh lãi suất tín dụng nhà nước phải căn cứ vào lãi suấthuy động thị phần cổ phiếu để xác định lãi suất cho vay phù hợp Mức lãisuất tín dụng nhà nước hiện tại là phù hợp với mục tiêu chung, một mặt tạođiều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, mặt khác giảm bớt cấp bùcủa ngân sách
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước:
Theo bộ kế hoạch và đầu tư, nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước tự đầu
tư thường chiếm 14_15% tổng vốn đầu tư xã hội, chủ yếu là đầu tư theochiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền côngnghệ của doanh nghiệp
Đây là nguồn vốn hiệu quả, linh hoạt, giải quyết công ăn việc làm đáng kể.Trong giai đoạn 2001 - 2005, nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chiếm26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.Trong giai đoạn tiếp theo, nguồn vốn này
Trang 33Việt Nam đã phát triển rầm rộ kể từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp vào
đầu năm 2000 Luật này đã góp phần tạo ra khoảng 62.300 doanh nghiệp với
tổng số vốn đầu tư khoảng 7,4 tỷ USD Năm 2001, khu vực này chiếm
khoảng 25% tổng số vốn đầu tư ở Việt Nam so với 20% của khu vực đầu tư
nước ngoài.Tính riêng năm 2007, vốn đầu tư trong nước của tư nhân và
doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng và mức tăng trưởng cao nhất,
đạt 106 ngàn tỷ đồng (tăng 19.5%) Theo kế hoạch 5 năm 2006 - 2010,
nguồn vốn này chiếm 28.6% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
2.2 Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam.
Đây là nguồn đóng góp vốn chính cho các hoạt động đầu tư của Việt
Nam hiện nay, trong đó chủ yếu là FDI và ODA
Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm gần đây có những biến
động Tỉ trọng vốn đầu tư nước ngoài trên tổng vốn đầu tư đã giảm từ
41.3% năm 1995 xuống 33.4% năm 2000 và còn 23.8% năm 2005 (biểu đồ
hình 1) Một số nguyên nhân của tình trạng này như ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính Đông Á, nền kinh tế thiểu phát giai đoạn 1998 –
2002, môi trường đầu tư của Việt Nam chậm thay đổi, việc Trung Quốc gia
nhập WTO đã thu hút một lượng lớn vốn FDI vào trong nước… Trong năm
2006 – 2007, đầu tư nước ngoài gia tăng mạnh mẽ vào Việt Nam, tuy vậy
vẫn chưa thể bằng giai đoạn trước năm 1997
Bảng 4: Vốn đầu tư nước ngoài (đơn vị: tỷ đồng).
Trang 34Hình 4: tỉ trọng vốn trong nước và nước ngoài trên tổng vốn.
Nguồn: Vụ tài khoản quốc gia, Tổng cục thống kê.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Bảng 5:Vốn FDI vào Việt Nam từ 2000 – 2007, số dự án, vốn đăng ký, vốn thực hiện.
Năm
Tổng
số dựán
Tổng vốnđăng ký (tỷđồng)
Tổng vốnthực hiện (tỷđồng)
Trang 35tỉ trọng vốn đầu tư vào Việt Nam tăng mạnh, nhưng đến giai đoạn 1997 –
2005 thì giảm nhanh và mới chỉ tăng trở lại từ năm 2005 Trong giai đoạn
2000 – 2005, tỉ trọng khu vực này trong tổng đầu tư chỉ còn chiếm 18.2%.Đầu tư FDI vào Việt Nam hiện nay đã thông thoáng hơn so với trước kia,khi luật Doanh nghiệp chưa ra đời Hình thức đầu tư ban đầu chủ yếu là liêndoanh với doanh nghiệp trong nước rồi phát triển lên thành các công ty100% vốn nước ngoài Luật doanh nghiệp sửa đổi bổ sung đã thể hiện rõmong muốn của chính phủ tới việc thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài.Trong năm 2008, khi lạm phát lên đến mức đỉnh điểm, lãi suất ngân hàng bịđẩy lên cao đã hút theo một lượng lớn vốn FDI vào trong nước Chỉ tínhriêng trong 9 tháng đầu năm, các doanh nghiệp nước ngoài đã góp vốn vàoViệt Nam khoảng 8 tỷ USD và đạt doanh thu 30.4 tỷ USD Hiện Việt Namvẫn là môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài
Các doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam đã đóng góp đáng kể vào tăngtrưởng kinh tế trong thời gian qua, mức tăng trưởng của khu vực này luôncao hơn mức tăng trưởng kinh tế và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu
tư của các doanh nghiệp
Hình 5: Tỉ trọng đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp FDI vàdoanh nghiệp tư nhân trong tổng đầu tư của khu vực doanh nghiệp
Trang 36Nguồn: Vụ tài sản quốc gia, Tổng cục thống kê.
Vốn viện trợ nước ngoài (ODA).
ODA là khoản tiền vay của chính phủ nước ngoài hay các tổ chức quốc tếnhằm mục tiêu phát triển kinh tế Chủ thể đi vay là chính phủ Khi đi vayvốn ODA, chính phủ Việt Nam phải thực hiện những cam kết (thường làcam kết chính trị) từ các chủ thể cho vay Do vốn chủ yếu được dùng chođầu tư công vào cơ sở hạ tầng nền kinh tế nên nguồn vốn này có khá nhiêu
ưu đãi Lãi suất cho vay thường là rất thấp và có những khoản không hoànlại Đây là nguồn vốn rất quan trọng vì nó được chính phủ dùng cho đầu tưvào cơ sở hạ tầng, các dự án phát triển nền kinh tế Tỉ suất lợi nhuận trongkhu vực này thường không cao, hiệu quả sử dụng vốn cũng thấp, gây lãngphí thất thoát tài sản Hàng năm, vốn ODA cam kết của các tổ chức nướcngoài ký với Việt Nam vẫn tăng, năm 2006 vốn cam kết đạt 3.75 tỷ USD,năm 2007 đạt 4.45 tỷ USD, đến năm 2008 đã tăng lên mức kỷ lục 5.426 tỷUSD Tuy vậy tốc độ giải ngân trong nước lại rất thấp, năm 2006 là 1.8 tỷ,năm 2007 là 2.0 tỷ, dự kiến năm 2008 là 2.2 tỷ USD, chưa kể việc quản lýnguồn vốn khá lỏng lẻo Mức giải ngân ODA hàng năm chỉ đạt khoảng 70 –80% kế hoạch đề ra cùng với việc phần lớn các dự án đầu tư đều kéo dài và