Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập (hay sản lượng) của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng này được thể hiện ở: • Quy mô tăng trưởng: phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít. • Tốc độ tăng trưởng: nhằm so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Có nhiều lý thuyết về ĐT, mỗi lý thuyết ncứu một khía cạnh khác nhau của ĐT đối với TT&PT kinh tế. Dưới đây là một số lý thuyết tiêu biểu
Trang 3TỔNG HỢP CHỦ ĐỀ Chủ đề 1 : Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư, giải thích vai trò của đầu tư đối với TT&PT kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập (hay sản lượng) của nền kinh
tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăngnày được thể hiện ở:
Quy mô tăng trưởng: phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít
Tốc độ tăng trưởng: nhằm so sánh tương đối và phản ánh sự giatăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ
Có nhiều lý thuyết về ĐT, mỗi lý thuyết ncứu một khía cạnh khác nhaucủa ĐT đối với TT&PT kinh tế Dưới đây là một số lý thuyết tiêu biểu:
∆I : Mức gia tăng đầu tư
k : Số nhân đầu tư
Từ công thức (1) ta được
∆Y = k * ∆I (2)
Như vậy, việc gia tăng ĐT có tác dụng khuyếch đại sản lượng tăng lên sốnhân lần Trong công thức trên, k là số dương lớn hơn 1
Trang 4Thực tế, gia tăng ĐT, dẫn đến cầu về các tư liệu SX (máy móc, tbị,nguyên nhiên vật liệu…) và quy mô LĐ Sự kết hợp hai ytố này làm cho SXphát triển, kquả là gia tăng sản lượng nền KT lên k lần=> nền KT có tăng trg
Ưu điểm:
- giải thích mqh giữa gia tăng ĐT với gia tăng sản lượng, khuynh hướng
TD chung trong xã hội ít thay đổi thì ta có thể sử dụng để tính toán cần ĐTthêm bnhiêu để gia tăng Slượng của nền KT theo kế hoạch
- Mô hình chỉ ra được tác động của ĐT như một ntố của tổng cầu đếnSlượng của nền KT Tăng ĐT làm tăng thu nhập, tăng TN làm tăng ĐT mới
… quá trình này lặp đi lặp lại làm sản lượng của nền KT tăng lên số nhânlần ( tác động lan tỏa của đầu tư)
Để xây dựng mô hình, các tác giả đưa ra 2 giả định:
- Lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế với cung lao động
- Sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc
d Nếu gọi: Y: Là sản lượng năm t
g =Yt Y : Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Y : Sản lượng gia tăng trong kì
Trang 5Từ đây suy ra: Y ICO s*YR
Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Y ICO
Y s Y
- Trong những trường hợp nhất định, hệ số ICOR được xem là một trongnhững chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư
- ICOR không tính đến yếu tố độ trễ thời gian của kết quả và chi phí (tử số
và mẫu số của công thức), vấn đề tái đầu tư
3 Lý thuyết tân cổ điển
Trang 6Đầu tư phụ thuộc vào lãi suất và mức gia tăng quy mô sản lượng : I=f(r, Y)
Trong đó chí phí sử dụng vốn có mối quan hệ chặt chẽ với năng suất cận biên của vốn lý thuyết tân cổ diển về đầu tư coi vốn đầu tư là một loại hàng hóa và đầu tư tỷ lệ nghich với lãi suất
4 Lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư
Theo lí thuyết này,ĐT có quan hệ tỷ lệ thuận với LN thực tế:
I = f (lợi nhuận thực tế) Do đó, DA ĐT nào đem lại LN cao sẽ được lựachọn Vì LN cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức ĐT sẽ cao hơn.Nguồn VĐT có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấuhao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu và bán cổphiếu LN giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn vốn nội bộ của DN,còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từbên ngoài Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tìnhtrạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào tình trạngphá sản Do đó việc đi vay không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay ưuđãi Cũng tương tự, việc tăng VĐT bằng phát hành trái phiếu cũng khôngphải là biện pháp hấp dẫn Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ đượccác doanh nghiệp thực hiện khi hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thunhập do dự án đem lại trong tương lai lớn hơn các chi phí đã bỏ ra
Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ nôi bộ của ĐT, các DN thường chọn biệnpháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự gia tăng của lợinhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn
5 Lý thuyết q về đầu tư
Theo lý thuyết này, VĐT có mqh tỷ lệ thuận với hệ số q, trong đó hệ số q
là tỷ số giữa tổng giá trị của chứng khoán thường và CK ưu đãi theo giá TTcộng với nợ ròng và khấu hao tài sản của DN
Nói cách khác:
Trang 7q = MP/ RC
Trong đó : MP : giá trị TT của tư bản lắp đặt
RC : chi phí thay thế tư bản lắp đặt
Với lý thuyết này, c/s Tchính tiền tệ sẽ có ả/ hg lớn ĐT Chẳng hạn, nếulãi suất giảm, giá trị của CK sẽ tăng ( vì giá của trái phiếu và lãi suất có mốiquan hệ tỷ lệ nghịch) Giá trị TT của các CK của DN tăng sẽ làm cho q tăng,
từ đó làm tăng VĐT
Sự thay đổi về thuế thu nhập của DN cũng làm cho q thay đổi Nếu thuếthu nhập giảm, q sẽ tăng, và từ đó làm tăng vốn đầu tư
Quy tắc đánh giá : q>1 : nên đầu tư
q <= 1 : không nên đầu tư
Tóm lại: Từ việc xem xét bản chất của các lý thuyết đầu tư trên đây, ta
thấy các lý thuyết đầu tư đều phản ánh chưa đầy đủ các yếu tố ảnh hưởngđến quy mô đầu tư, lại cũng chưa làm rõ các yếu tố vừa là động cơ, vừa làđiều kiện để tăng đầu tư, chẳng hạn như lợi nhuận, sản lượng, công nghệ, cóyếu tố chủ yếu là điều kiện để tăng đầu tư như giảm lãi suất, tăng cung lựclượng lao động, tăng tỷ lệ giữa tài sản có bằng tiền và chi phí tài sản củadoanh nghiệp (hệ số q)
6 Lý thuyết gia tốc đầu tư (Xem xét tác động ngược lại của sản lượng nền kt đến đt )
Theo lí thuyết này, để SX ra 1 đvị đầu ra cho trước cần phải có một lượngVĐT nhất định Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có thể được biểudiễn như sau:
x = Y K (4)Trong đó:
Kt: Tổng quy mô vốn đầu tư tại thời kì nghiên cứu
Trang 8Yt: Sản lượng tại thời kì nghiên cứu
- Người ta sẽ ĐT nhiều hơn khi muốn SX nhiều hơn Nhà ĐT sẽ tiến hành
hđ ĐT của mình khi dự đoán nhu cầu ĐT tăng
Khi quy mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến nhu cầu vốn đầu tư tăng theo
và ngược lại Nói cách khác, chi tiêu đầu tư tăng hay giảm phụ thuộc nhu cầu
về tư liệu sản xuất và nhân công Nhu cầu các yếu tố sản xuất lại phụ thuộcvào quy mô sản phẩm cần sản xuất
Trang 9- Lí thuyết giả định qhệ tỷ lệ giữa sản lượng và ĐT là cố định.thực tế đạilượng này (x) luôn2 biến động do sự tác động của nhiều ntố khác nhau.
- Thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứkhông phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sảnlượng: I x* Y
Như vậy, theo lí thuyết này, ĐT ròng là hàm của sự gia tăng sản lượngđầu ra Nếu sản lượng tăng, ĐT ròng tăng (lớn hơn x lần) Nếu sản lượnggiảm, đầu tư thuần sẽ âm Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dàikhông đổi, ĐT ròng sẽ bằng 0 (Khi y 0 thì I =0)
- Theo lí thuyết này toàn bộ VĐT mong muốn đều được thực hiện ngaytrong cùng một thời kì Điều này không đúng bởi nhiều lí do : việc cung cấpcác ytố liên quan đến thực hiện ĐT k đáp ứng, do cầu vượt quá cung…
Lí thuyết gia tốc đầu tư và số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ qua lạigiữa đầu tư và sản lượng Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo việc giatăng bổ sung lao động,nguyên vật liệu sản xuất… dẫn đến gia tăng sản phẩm(giải thích qua số nhân đầu tư) Sản lượng gia tăng,dẫn đến gia tăng TD (do
TN người TD tăng), tăng cầu H và dịch vụ nên lại đòi hỏi gia tăng ĐT mới(giải thích qua mô hình gia tốc đầu tư) Gia tăng ĐT mới dẫn đến gia tăngSlượng, gia tăng Slượng lại là nhân tố thúc đẩy gia tăng ĐT Quá trình nàydiễn ra liên tuc, dây chuyền
Xem xét tốc độ tăng GDP và sự biến động của đầu tư trong GDP cho thấytốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam gắn liền với sự gia tăng mạnh
Trang 10mẽ của đầu tư trong GDP Trong giai đoạn 2001 - 2007, tỷ lệ đầu tư tăngmạnh lên 38,8% thì tốc độ tăng GDP là 7,62% Năm 2008 – 2009, với mụctiêu ưu tiên là ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, Chínhphủ đã tập trung thực hiện các gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng; đồng thờichỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình trọng điểm nhằmthúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vì vậy tỷ lệ vốn đầu tư đã lên tới trên 40%(41,3% năm 2008 và 42,8% năm 2009).
ICOR của Việt Nam qua các giai đoạn:
+ 2004-2006 :5,04
+2007-2008 : 6,15
+2009: 8
+ năm 2010, hệ số này giảm xuống còn 6,2;
ta thấy chỉ số ICOR của VN tăng dần qua các giai đoạn VN là nước cóxuất phát điểm thấp, trong quá trình CNH-HĐH cần ĐT rất nhiều để XD cơ
sở hạ tầng phục vụ cho các mục đích dài hạn Việc ĐT này không thể thấyđược kết quả ngay, mà phải sau một khoảng thời gian khá dài mới có thểnhận thấy Chính vì vậy, chỉ số ICOR của VN tăng dần lên thể hiện quá trình
XD và PT của nền KT đang trên đà CNH-HĐH Tuy nhiên việc ICOR tăngliên tục, nhất là mấy năm gần đây tăng lên một cách nhanh chóng như 2007– 2008 là 6,15; 2009 là 8,0 đang là dấu hiệu k thật sự khả quan Điều nàychứng tỏ knăng sử dụng VĐT chưa thật sự hquả khi mà để tăng 1 đồng sảnlượng phải bỏ ra càng nhiều VĐT hơn
ICOR càng cao đồng nghĩa với hquả ĐT trong nền KT càng thấp Clượngtăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây nên lạm phát, khủng hoảng và suythoái KT Hệ số ICOR cao là do hđ ĐT của nc ta vẫn còn những tồn tại:
- Tỷ lệ giải ngân thấp
- ĐT phân tán, dàn trải, chậm tiến độ
Trang 11- Phân bổ vốn chưa hợp lý giữa các ngành và các khu vực được ĐT
- Những bất cập trong cơ chế ĐT
- Chất lượng nguồn nhân lực
Hạn chế trong tăng trưởng kinh tế
- Quy mô nền kinh tế nhỏ, tăng trưởng khá cao nhưng chưa bền vững
- Chưa có sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu KT
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM.
- Điều chỉnh hợp lý cơ cấu đầu tư và phân cấp đầu tư
Hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật tạo hành lang pháp lí cho cácnhà đầu tư
- Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và phân bổ đầu tư phát triển
KT-XH
- Đào tạo nguồn nhân lực
-Triển khai việc nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Chủ đề 2 : Tác động của đầu tư đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt
Nam
I Lý thuyết.
Cơ cấu kinh tế là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể nền kinh tế,
thể hiện mqh hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các
bộ phận với nhau ( Mặt số lượng thể hiện ở tỷ trọng (tính theơ GDP, laođộng , vốn ) của mỗi bộ phận trong nền kinh tế quốc dân, còn khía cạnhchất lương phản ánh vị trí tầm quan trọng của từng bộ phận và sự tác độngqua lại giữa chúng.), các mqh này đc hình thành trong những điều kiện vềkhông gian, thời gian và KTXH nhất định
Trang 12Đặc trưng của cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do sự phát triểncủa lực lượng sản xuất và phân công lao động
Cơ cấu kinh tế có mối quan hệ cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận trongtổng thể Sở dĩ như vậy là vì các bộ phận kinh thể trong một hệ thống có mốiquan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau theo quy định đặc thù
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình mang tính kế thừa và pháttriển lịch sử
- Cơ cấu ngành: xuất phát từ phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá
sản xuất theo ngành
- Cơ cấu vùng lãnh thổ: bố trí sản xuất theo không gian địa lý
- Cơ cấu thành phần kinh tế: theo chế độ sở hữu
Cơ cấu kinh tế hợp lý.
Là cơ cấu có khả năng tạo ra sản xuất ở rộng đáp ứng các yêu cầu sau :
- Phù hợp với các quy luật khách quan
- Phản ánh khả năng khai thác và sử dụng nguồn lực trong nước hợp lý
và đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, nhằm tạo ra sự cân đối,phát triển bền vững
-Phù hợp với xu thế kinh tế chính trị của khu vực và thế giới
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ
phận cấu thành nền kinh tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sựphát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, vùng Xuhướng chuyển dịch cơ cấu kt thể hiện mặt chất kinh tế trong quá trình PT
Phân loại :
Trang 13Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành : là quá trình phát triển của các
ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành kinh tế vàlàm thay đổi mqh tương quan giữa chúng so với 1 thời điểm trước đó.( quátrình biến đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác hoàn thiệnhơn và phù hợp hơn với mt và đk phát triển)
Chuyển dịch cơ cấu ngành không chỉ là sự thay đổi về số lượng cácngành
Chuyển dịch cơ cấu vùng : là quá trình phát triển của các khu vực vùng
lãnh thổ dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổimqh tương quan giữa chúng và với tổng thể nền kinh tế sơ với một thời điểmtrước đó
Cơ cấu lãnh thổ kinh tế đang chuyển dịch tương ứng với chuyển dịch
cơ cấu ngành
Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế : kinh tế là quá trình phát triển
của các thành phần kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng kinh khác nhau giữa cácthành phần và làm thay đổi mối quan hệ tương quan giữa chúng và với tổng
thể nền kinh tế so với thời điểm trước đó.
* Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Mô hình của Rostow: phương thúc chuyển dịch cơ cấu ngành, khẳng định
vai trò của đầu tư trong sự chuyển dịch từ giai đoạn pt này sang gđ pt khác
- Mô hình 2 khu vực của Lewis: mô hình này chỉ ra rằng khi khu vực nông
nghiệp có dư thừa lao động, tăng trưởng kinh tế được quy định bởi khảnawmh tích lũy và đt cuả khu vực công nghiệp
- Mô hình 2 khu vực của trường phái tân cổ điển với quan điểm cần phải
đầu tư cho nông nghiệp ngay từ đầu, tỷ trọng đt cho NN có xu hướng giảm
đi và ưu tiên tăng dần tỷ trọng đt cho kv CN
=> Kết luận chung được rút ra sau khi xem xét tất cả các lý thuyết trên là:
Trang 14+ Thứ nhất, để phát triển kinh tế cần xác định một cơ cấu kinh tế phù hợpcho từng giai đoạn (đây là nhiệm vụ của công tác định hướng, lập kế hoạch)+ Thứ hai, muốn nền kinh tế chuyển dịch theo cơ cấu đã định ra, phảihướng đầu tư vào những lĩnh vực ưu tiên đã được xác định
Vậy,các lý thuyết trên đều chứng minh rằng đầu tư có vai trò là nhân tố
thực hiện trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
* Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư
góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với quy luật và chiến lượcphát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đốitrên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lựccủa nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực
-Đối với cơ cấu ngành.
Đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư vào từng ngành nhiều hay ít,việc sử dụng vốn có hiệu quả cao hay thấp… đều ảnh hướng đến tốc độ pháttriển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo điều kiệntiền đề vật chất cho sự phát triển các ngành mới…do đó làm dịch chuyển cơcấu kinh tế ngành
Đầu tư gây nên sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ nhất là trong ngành côngnghiệp và dịch vụ Chuyển dịch cơ cấu của khu vực công nghiệp được thựchiện gắn liền với sự phát triển các ngành theo hướng da dạng hóa, từng bướchình thành một số ngành trọng điểm và mũi nhọn, có tốc độ phát triển cao,thuận lợi về thị trường, có khả năng xuất khẩu Tỷ trọng của khu vực côngnghiệp trong GDP tăng dần thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tếquốc dân Chuyển dịch của khu vực công nghiệp theo hướng hình thành,phát triển một số ngành và sản phẩm mới thay thế nhập khẩu cung cấp chothị trường nội địa, nhiều mặt hàng có chất lượng cao đã chiếm lĩnh thị trườngtrong nước
Đối với ngành dịch vụ, đầu tư giúp phát triển các ngành thương mại, dịch
Trang 15tư còn tạo nhiều thuận lợi trong việc phát triển nhanh các ngành dịch vụ bưuchính viễn thông, phát triển du lịch, mở rộng các dịch vụ tài chính tiền tệ.Đối với các ngành nông lâm nghiệp, đầu tư tác động nhằm đẩy nhanh côngnghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn bằng cách xây dựng kếtcấu kinh tế xã hội nông nghiệp nông thôn, tăng cường khoa học công nghệ…
-Đối với cơ cấu vùng lãnh thổ.
Đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa cácvùng lãnh thổ, đưa vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, pháthuy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị…củanhững vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy nhữngvùng khác cùng phát triển Đầu tư vào những vùng kinh tế trọng điểm nhằmphát huy đươc thế mạnh và tiềm năng của vùng, bên cạnh đó chính phủ còn
có những hoạt động hỗ trợ đầu tư cho những vùng kém phát triển nhằm cảithiện đời sống nhân dân và giảm chênh lệch kinh tế giữa các vùng Thốngnhất quy hoạch phát triển trong cả nước, giữa các vùng, tỉnh, thành phố, tạo
sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, giúp đỡ kỹ thuật vànguồn nhân lực Nâng cao trình độ dân trí và đào tạo nguồn nhân lực đápứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng và khu vực
-Đối với cơ cấu thành phần kinh tế.
Đầu tư tác động nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong cơ cấu thànhphần kinh tế Trong những năm qua, cơ cấu thành phần kinh tế của nước ta
đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, đa dạng về hình thức sở hữu Đặc biệt là sựđổi mới thành phần kinh tế nhà nước, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.Bên cạnh đó còn có sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, sự liêndoanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài ngày càng được chú trọng
Phát triển kinh tế nhiều thành phần có tác động về nhiều mặt: giải phóngsức sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; tạo ra cạnhtranh - động lực của tăng trưởng; thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế,
Trang 16thực hiện đại đoàn kết dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp để phát triểnkinh tế - xã hội; là con đường xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phùhợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
II Thực trạg tác động ĐT đến CDCCKT VN
1 Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành kt
-Đầu tư cho công nghiệp tỷ trọng căn bản và có xu hướng tăng
-Đầu tư cho nông nghiệp có gia tăng về lượng nhưng tỷ trọng có phần giảm xuống.-Đầu tư cho dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn dần trong cơ cấu đt theo ngành
Các dịch vụ đang được đánh giá cao như tài chính, tín dụng đang được chútrọng đầu tư
-Chuyển dịch cơ cấu đầu tư đã góp phần tác động tích cực đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tương ứng theo hướng CNH- HĐH nhưng chưa có sự chuyểndịch mạnh mẽ: sự thay đổi của cơ cấu ĐT dẫn tới sự thay đổi tỷ trọng đónggóp của các ngành vào GDP theo đúng xu hướng: tỷ trọng đóng góp của NNvào GDP tuy còn ở mức cao so sánh với các nước CN phát triển nhưng tỷtrọng đã giảm theo hướng tích cực từ 24,53 năm 2000 giảm xuống còn 20,25
% năm 2007, tỷ trọng công nghiệp tăng dần năm 2000 la 36,73 % tăng lênđến 41,61 % năm 2007, tỷ trọng ngành dịch vụ thay đổi chậm Trong bảnthân nhóm ngành cũng có sự chuyển dịch: nhóm ngành nông nghiệp
Tỷ trọng của ngành NN giảm từ 19,82% năm 2000 xuống còn 15,18% năm
2007, thủy sản tăng tương ứng 3,37% lên 4,03%, trong cn công nghiệp chếbiến và sx hàng hóa có hàm lượng kỹ thuật cao ngày càng tăng
Sử dụng số liệu kinh tế Việt Nam và Hàn Quốc có thể tính được hệ số cosφtương ứng của nền kinh tế Việt Nam và Hàn Quốc trong giai đoạn 1985-
2003 và 1970-1988 Hệ số cosφ nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1985-2003
là 0,924 và góc φ là 22o29’ Tương tự, hệ số cos của Hàn Quốc trong giaiđoạn 1970-1988 là 0,9397403 và góc φ là 20o Với kết quả này có thể thấymức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1985-2003 cao hơnHàn Quốc giai đoạn 1970-1988 Điều đó có thể do chính sách Việt Nam giai
Trang 17Hàn Quốc giai đoạn 1970-1988
Tuy nhiên cơ cấu ngành kt VN chuyển dịch còn chậm, cơ cấu kt VN hiệnnay còn lạc hậu hơn nhiều so cới cckt năm 2005 1 số nước trong KV ĐNA
2 Đt tđ đến cdcckt vùng
Chuyển dịch cơ cấu GDP tính theo vùng
Hình thành các khu công nghiệp tập trung, các vùng kinh tế trọngđiểm:Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc,Vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung, Vùng kinh tế trọng điểm miền Nam Giai đoạn 2003- 2006 Tỷ trọngđóng góp vào GDP tương ứng là 21, 5, 36%
Hạn chế: Sự phát triển chênh lệch không cân bằng và làm tăng khoảng cách
giữa các vùng
Mối liên hệ giữa các địa phương,vùng còn chưa cao,mỗi địa phương đều cóchính sách riêng nhưng nhìn tổng thể mâu thuẫn,cạnh tranh nhau
3 ĐT tác đọng dến CCTPKT
Giai đoạn 2001- 2005 cơ cấu đầu tư bắt đầu có những chuyển biến tích cực
Tỷ trọng của đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước bắt đầu giảm, từ 59.14%(1995) xuống 47.11% (2005) Tỷ trọng của khu vực ngoài nhà nước tăng15.41% trong 5 năm
Giai đoạn 2006-2007: trong 2 năm nền kinh tế đã có những chuyển biến lớn
về tỉ trọng giữa các thành phần kinh tế Với tốc độ gia tăng 22% (2006), 93%(2007) tỷ trọng của khu vực đt nước ngoài đã tăng lên một cách nhanh chóngđạt 24.78% (2007) Khu vực tư nhân duy trì tốc độ tăng trưởng cao của giaiđoạn trước 16% (2006), 17.4% (2007) trong khi ở khu vực kinh tế nhà nướctốc độ tăng trưởng chỉ ở mức một con số Do đó 2 thành phần còn lại đãnhanh chóng rút ngắn khoảng cách với khu vực nhà nước về tỷ trọng vốnđầu tư
Tác động của thay đổi cơ cấu ĐT tới chuyển dịch cơ cấu KT theo thành phầnKT
Trang 18Giai đoạn 2000-2005: Chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế
diễn ra chậm Sự chuyển đổi chủ yếu diễn ra giữa khu vực ngoài nhà nước
và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Khu vực nhà nước vẫn chiếm tỷtrọng cao và tương đối ổn định trong GDP Năm 2005 tỉ trọng GDP củakhu vực nhà nước rất ít thay đổi, chỉ giảm 0.1% so với năm 2000 Trongkhi đó khu vực ngoài nhà nước giảm từ 49.03% năm 2000 xuống còn45.61% năm 2005(giảm 3.42%) Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếptục vị thế,vai trò trong nền kinh tế khi tỉ trọng liên tục tăng qua từng năm.Kết quả là sau 5 năm tỉ trọng của khu vực này đã tăng 2.71% Một nét tíchcực nữa là trong bản thân khu vực kinh tế ngoài nhà nước cũng có sự thayđổi Kinh tế tư nhân bắt đầu có xu hướng tăng dần tỉ trọng trong khi 2thành phần còn lại tiếp tục giảm mạnh Kinh tế cá thể vẫn là khu vực cómức giảm mạnh nhất(2.4%)
Giai đoạn 2006-2007: Đây là 2 năm đầu tiên thực hiện kế hoạch 5
(2006-2010) Nhìn chung có thể thấy những dấu hiệu tích cực hơn của việc chuyểndịch cơ cấu thành phần kinh tế Tỉ trọng của khu vực kinh tế nhà nước năm
2007 (theo ước tính)giảm 1.97% so với năm 2005(nhiều hơn mức giảm của
cả giai đoạn trước ) Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đà pháttriển của giai đoạn trước, tỉ trọng vẫn liên tục gia tăng qua 2 năm Tỉ trọngcủa khu vực tư nhân lần đầu tiên đạt mức 2 con số Về tốc độ tăng trưởng,chỉ có khu vực ngoài nhà nước giữ được nhịp độ tăng qua 2 năm Khu vựcnhà nước, tốc độ tăng GDP 2 năm đều giảm Còn khu vực có vốn đầu tưnước ngoài năm 2007, tốc độ tăng cũng chậm lại
ĐT đã có tđ rất lớn trong việc chuyển dịch cc tpkt uy nhiên kt nhà nước vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, mặc dù đt cho khu vực này lớn nhưng đóng góp vào GDP vẫn chưa tương xứng
Chủ đề 3 : dựa vào lí thuyết đtư phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến
hđ đtư ? liên hệ thực tiễn vs VN
Lý thuyết :
Trang 191.Lý thuyết gia tốc đầu tư (Xem xét tác động ngược lại của sản lượng nền
kt đến đt )
Theo lí thuyết này, để SX ra 1 đvị đầu ra cho trước cần phải có một lượngVĐT nhất định Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có thể được biểudiễn như sau:
x = Y K (4)Trong đó:
Kt: Tổng quy mô vốn đầu tư tại thời kì nghiên cứu
Yt: Sản lượng tại thời kì nghiên cứu
- Người ta sẽ ĐT nhiều hơn khi muốn SX nhiều hơn Nhà ĐT sẽ tiến hành
hđ ĐT của mình khi dự đoán nhu cầu ĐT tăng
Khi quy mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến nhu cầu vốn đầu tư tăng theo
và ngược lại Nói cách khác, chi tiêu đầu tư tăng hay giảm phụ thuộc nhu cầu
Trang 20về tư liệu sản xuất và nhân công Nhu cầu các yếu tố sản xuất lại phụ thuộcvào quy mô sản phẩm cần sản xuất.
2.Lý thuyết gia tốc đầu tư thả nổi
Theo lý thuyết này đầu tư vẫn phụ thuộc vào sản lượng đầu ra xong mức
độ đáp ứng yêu cầu còn phụ thuộc vào chênh lệch giữa nhu cầu vốn đầu tư
và quy mô vốn đầu tư thực tế mức chênh lệch càng lớn thì tốc độ đầu tư càng nhanh
I=( - )
Trong đó : là tổng mức vốn đầu tư thực hiện kì trước
là tổng mức vốn đầu tư thời kì t
là nhu cầu đầu tư thời kì t, 0<<1
3 Lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư
Theo lí thuyết này,ĐT có quan hệ tỷ lệ thuận với LN thực tế:
I = f (lợi nhuận thực tế) Do đó, DA ĐT nào đem lại LN cao sẽ được lựachọn Vì LN cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức ĐT sẽ cao hơn.Nguồn VĐT có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiền trích khấuhao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu và bán cổphiếu LN giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn vốn nội bộ của DN,còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là nguồn vốn huy động từbên ngoài Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh tế lâm vào tìnhtrạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào tình trạngphá sản Do đó việc đi vay không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay ưuđãi Cũng tương tự, việc tăng VĐT bằng phát hành trái phiếu cũng khôngphải là biện pháp hấp dẫn Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ đượccác doanh nghiệp thực hiện khi hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thunhập do dự án đem lại trong tương lai lớn hơn các chi phí đã bỏ ra
Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ nôi bộ của ĐT, các DN thường chọn biệnpháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự gia tăng của lợinhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn
Trang 214 Lý thuyết tân cổ điển
Đầu tư phụ thuộc vào lãi suất và mức gia tăng quy mô sản lượng : I=f(r, Y)
Trong đó chí phí sử dụng vốn có mối quan hệ chặt chẽ với năng suất cậnbiên của vốn lý thuyết tân cổ diển về đầu tư coi vốn đầu tư là một loại hànghóa và đầu tư tỷ lệ nghich với lãi suất
5 Lý thuyết q về đầu tư
Theo lý thuyết này, VĐT có mqh tỷ lệ thuận với hệ số q, trong đó hệ số q
là tỷ số giữa tổng giá trị của chứng khoán thường và CK ưu đãi theo giá TTcộng với nợ ròng và khấu hao tài sản của DN
Nói cách khác:
q = MP/ RC
Trong đó : MP : giá trị TT của tư bản lắp đặt
RC : chi phí thay thế tư bản lắp đặt
Với lý thuyết này, c/s Tchính tiền tệ sẽ có ả/ hg lớn ĐT Chẳng hạn, nếulãi suất giảm, giá trị của CK sẽ tăng ( vì giá của trái phiếu và lãi suất có mốiquan hệ tỷ lệ nghịch) Giá trị TT của các CK của DN tăng sẽ làm cho q tăng,
từ đó làm tăng VĐT
Sự thay đổi về thuế thu nhập của DN cũng làm cho q thay đổi Nếu thuếthu nhập giảm, q sẽ tăng, và từ đó làm tăng vốn đầu tư
Quy tắc đánh giá : q>1 : nên đầu tư
q <= 1 : không nên đầu tư
Tóm lại: Từ việc xem xét bản chất của các lý thuyết đầu tư trên đây, ta
thấy các lý thuyết đầu tư đều phản ánh chưa đầy đủ các yếu tố ảnh hưởngđến quy mô đầu tư, lại cũng chưa làm rõ các yếu tố vừa là động cơ, vừa làđiều kiện để tăng đầu tư, chẳng hạn như lợi nhuận, sản lượng, công nghệ, có
Trang 22yếu tố chủ yếu là điều kiện để tăng đầu tư như giảm lãi suất, tăng cung lựclượng lao động, tăng tỷ lệ giữa tài sản có bằng tiền và chi phí tài sản củadoanh nghiệp (hệ số q).
Liên hệ thực tiễn vs VN
Ảnh hưởng một số nhân tố cơ bản tới đầu tư giai đoạn 2008-2011 a) Lãi suất
●Năm 2008:
- 8 lần thay đổi lãi suất cơ bản: 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất cơ bản
và các lãi suất tương ứng (lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu),
- 5 lần thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, và 5 lần điều chỉnh lãi suất tiềngửi bắt buộc ( 3 lần tăng, 2 lần giảm)
- Đầu năm 2008 các ngân hàng đua tăng lãi suất và giảm vào cuối năm
2008 trong những tháng đầu năm (tháng 2 - tháng 4 với lãi suất cơ bản ~8,75%/năm; tháng 6-9 với lãi suất cơ bản ~ 14%/năm
ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp khiến lãi suất đã giảm mạnhnhưng suy thoái kinh tế đã khiến cho các công ty vẫn không dám đầu tư
● Năm 2010
Vào năm 2010, lãi suất tăng mạnh, đặc biệt trong những tháng cuốinăm với mức lãi suất huy động phổ biến 14-16%, lãi suất cho vay chạm 19-20
Năm 2010, ít lĩnh vực kinh doanh nào cho lợi nhuận được đến 20%nên các nhà đtư hạn chế vay tiền để đầu tư
● Năm 2011
- Lãi suất thường xuyên ở mức cao làm cho đầu tư phát triển giảm đi
rõ rệt Khó khăn cho các doanh nghiệp là thiếu hụt vốn đầu tư, với lãi suấtngân hàng cao làm cho các doanh nghiệp rất khó tiếp cận nguồn vốn vay này
Trang 23b) Nhu cầu đầu tư
● Giai đoạn từ 2008 đến 2009, trước tình hình nền kinh tế khó khăn,Chính phủ đã tung ra gói kích cầu Cụ thể là Việt Nam đã chi 1tỷ USD nhằmkích cầu đầu tư và tiêu dung trong đó kích cầu đầu tư là chủ yếu
● Giai đoạn năm 2010-2011 đứng trước tình hình nợ công và lạm phátcao của chúng ta thì cần thiết phải điều chỉnh giảm tỷ lệ chi tiêu công, cắtgiảm đầu tư công năm 2011 là một liệu pháp tất yếu trong lộ trình dài hạn vàtổng thể cùng với thắt chặt và điều chỉnh cơ cấu hoạt động tín dụng và tiền tệnhằm thu hẹp tổng cầu nhanh chóng nhất, giảm sức ép lạm phát tiền tệ và làđiều kiện để dồn vốn đầu tư xã hội theo những kênh đầu tư và dự án đầu tư
có hiệu quả hơn… Tính đến ngày 26.8.2011, cả nước đã thực hiện ngừngkhởi công mới, cắt giảm, điều chuyển vốn của 2.103 dự án với tổng số vốn là6.532,7 tỷ đồng
c) Lợi nhuận Giai đoạn 2008-2011 đánh dấu nhiều sự biến chuyển về
lợi nhuân của các doanh nghiệp, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến đầu
tư phát triển của các doanh nghiệp này.Chỉ số ROA( Tỷ suất lợi nhuận ròngtrên tài sản), ROE(Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu) biến độngkhông nhiều trong các doanh nghiệp lớn của toàn nền kinh tế, ngoại trừtrường hợp các doanh nghiệp FDI
ROA của doanh nghiệp tư nhân giảm từ 3,1% năm 2007 xuống còn2,4% năm 2011, ROE(Tỷ suất thu nhập trên vốn chủ sở hữu) giảm từ 34,9%năm 2007 xuống 16% năm 2011 Đây là mức giảm liên tục trong 5 năm củakhối doanh nghiệp tư nhân Nguyên nhân do giá đất, giá yếu tố các yếu tốđầu vào, trả lương CNV… tăng
Qua đó ta có thể thấy được sự sụt giảm lợi nhuận của khối DN tư nhâncũng như từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng đầu tư của họ Các DN tư nhân
sẽ đầu tư có chọn lọc hơn, họ sẽ ưu tiên nhiều hơn với các phương án đầu tưđem lại hiệu quả tức thì, cũng như hạn chế đầu tư mở rộng sản xuất, các dự
án mang tính dài hạn
Trang 24d) Chính sách thuế
Sức ép do lạm phát vừa tạm lắng thì cuối năm 2008, các doanh nghiệp (DN) Việt Nam lại phải đối phó với những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Nhiều DN mất đơn hàng, sản xuất đình trệ, thậm chí bên bờ vực phá sản.Trước tình hình này, Chính phủ miễn, giãn, giảm thuế cho DN nhỏ và vừa (NVV) là một trong những giải pháp đã được triển khai
● Kịp thời trợ giúp doanh nghiệp : Theo Thông tư số
03/2009/TT-BTC, các DNNVV có vốn điều lệ không quá 10 tỷ đồng; có số lao động sửdụng bình quân trong quý IV-2008 không quá 300 người, sẽ được giảm 30%
số thuế TNDN phải nộp của quý IV-2008 và số thuế TNDN phải nộp năm
2009, đồng thời được giãn nộp thuế 9 tháng Cùng ngày, Bộ Tài chính cũngban hành Thông tư số 04/2009 hướng dẫn thực hiện hoàn 90% số thuế đầuvào cho DN xuất khẩu trong vòng 7 ngày Tại Thông tư 05/2009, Bộ Tàichính đã hướng dẫn giãn thời gian ân hạn nộp thuế nhập khẩu, cải cách thủtục thông quan hàng hóa xuất, nhập khẩu Đây là những sự trợ giúp quantrọng đối với DN, nhất là các DNNVV
● Hơn 100.000 DN được ưu đãi thuế: số tiền hỗ trợ DN thông qua
việc giảm 30% thuế TNDN (trong quý IV-2008 và cả năm 2009) sẽ lên tớihơn 10.000 tỷ đồng
● Bước qua năm 2011 cũng như nhiều quốc gia khác,Việt Nam chịuảnh hưởng của vòng xoáy khủng hoảng kinh tế thế giới mới, nền kinh tế lâmvào tình trạng cực kì khó khăn, lạm phát tăng cao thị trường bất động sảnđóng băng và chứng khoán gần như tê liệt không đóng góp được vào bàitoán giải quyết vốn cho doanh nghiệp, lãi suất tăng cao, sản xuất bị đình trệ,
tỉ lệ thất nghiệp gia tăng,…=> giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phảinộp năm 2011 của doanh nghiệp nhỏ và vừa, trừ số thuế tính trên thu nhập từkinh doanh xổ số, bất động sản, tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm
và các doanh nghiệp có thu nhập từ sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diệnchịu thuế tiêu thụ đặc biệt, tập đoàn, tổng công ty nhà nước
Trang 25Việc Chính phủ thực hiện giãn, và đề xuất giảm thuế cho DN sẽ khiếnnguồn thu ngân sách bị ảnh hưởng Nhưng về lâu dài, chính sách giảm thuế
sẽ kích thích sản xuất và phát triển, tăng cường nguồn vốn cho DN tái đầu tưvào sản xuất kinh doanh và giúp bồi dưỡng nguồn thu
Chủ đề 4: Cơ sở lí luận và cs thực tiễn của việc sd chính sách kích cầu đtư Liên hệ thực tế vs VN
b) Lý thuyết quỹ đầu tư nội bộ
c) Lý thuyết q về đầu tư
d)Lý thuyết tân cổ điển về đầu tư
1.2.Vai trò của chính sách kích cầu đầu tư :
- kích thích tăng trưởng kinh tế, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu đờisống xã hội Cũng vì vai trò này mà các chính sách kích cầu đầu tư thườngđược chú trọng trong nền kinh tế rơi vào suy thoái
- phân bổ có hiệu quả nguồn lực của nền kinh tế, góp phần thực hiệnchuyển dịch cơ cấu kinh tế và công bằng xã hội Thông qua nguồn vốn kíchcầu (gói kích cầu), chính phủ sẽ phân bổ cho các ngành, lĩnh vực trọng yếucủa nền kinh tế, các ngành,lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao,các thế mạnhcủa đất nước Bên cạnh đó, chính sách kích cầu cũng có thể ảnh hưởng tớinhững khâu còn kém, những vùng sâu vùng xa kém phát triển, giúp cáckhâu,các vùng này vươn lên tương xứng với các khâu, các vùng trong cảnước
1.3 Các giải pháp thực hiện kích cầu đầu tư
Trang 26Để thực hiện kích cầu đầu tư có hiệu quả, chính phủ thường sử dụnghai công cụ quan trọng là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Mỗichính sách có ưu và nhược điểm khác nhau nên tùy từng điều kiện cụ thể màchính phủ sử dụng một hoặc kết hợp cả hai công cụ với nhau sao cho hiệuquả đạt được là tốt nhất.
3 Chính sách kích cầu đầu tư của Việt Nam 2008-2011
3.1.Tình hình chính sách kích cầu đầu tư của Việt Nam:
a) Nhóm chính sách tiền tệ
● Ngay từ cuối năm 2008,NHNN đã thực hiện một loạt quyết định lêntục cắt giảm lãi suất chủ đạo, tỷ lệ dự trữ bắt buộc… trong đó lãi suất cơbản giảm từ 14% xuống 7% ( từ tháng 10/2008 đến tháng 1/2009), tỷ lệ dựtrữ bắt buộc giảm 1% đối với đồng Việt Nam và 2% đối với đồng ngoại tệ
● Năm 2009: với gói kích cầu 17.000 tỷ đồng hỗ trợ lãi suất của Chínhphủ, các doanh nghiệp thuộc đối tượng hỗ trợ lãi suất sẽ được vay tới420.000 tỷ đồng đưa vào sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất lớn đối vớinền kinh tế về mặt duy trì tăng trưởng cũng như ý nghĩa về mặt tạo công ănviệc làm, ngăn chặn nguy cơ thất nghiệp, thiếu việc làm, trong cả nước
về cơ bản CSTT đã đạt được mục tiêu của năm 2009 là kiềm chế lạmphát từ mức 19,98% năm 2008 xuống còn 6,52%, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
ở mức 5,2% và CSTT đã góp phần quan trọng nhằm kích cầu đầu tư, ổn địnhnền kinh tế
b) Nhóm chính sách tài khóa.
● Chính sách thuế.
Từ cuối năm 2008, nhiều chính sách thuế mới nhằm thực hiện chủtrương kích cầu đầu tư giảm khó khăn cho doanh nghiệp (DN đã được triểnkhai thực hiện:
Trang 27- Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Giảm thu NSNN do thực hiệnchính sách giảm thuế TNDN khoảng 13.000 tỷ đồng
- Thuế giá trị gia tăng: Giảm thu NSNN do thực hiện chính sách giảmthuế giá trị gia tăng khoảng 8.600 tỷ đồng
- Thuế thu nhập cá nhân: Giảm thu NSNN do thực hiện chính sáchgiảm thuế thu nhập cá nhân khoảng 6.500 tỷ đồng
● Tăng chi tiêu chính phủ.
Năm 2009 là không thực hiện cắt giảm tổng mức chi NSNN, nhưng có yêu cầu sắp xếp điều chỉnh các nhiệm vụ chi, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, giảm những khoản chi chưa thực sự cấp thiết Với kết quả chi NSNN năm
2009 ước thực hiện 584.695 tỷ đồng, tăng 19,0% so với dự toán đầu năm
c) Kích cầu đầu tư nước ngoài
Tỷ trọng của khu vực kinh tế ĐTNN trong GDP vẫn tiếp tục tăng lên,
từ 17,02% năm 2006 lên 17,66% năm 2007, đồng thời góp phần đưa tỷ lệđầu tư toàn xã hội bình quân lên mức trên 45% GDP trong 3 năm đầu kếhoạch 2006 -2010
3.2.Đánh giá tác động của chính sách kích cầu đầu tư ở Việt nam 3.2.1 Tác động tích cực
● Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi
● Giảm thất nghiệp
● Kích thích tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng
3.2.2 Những tác động tiêu cực của chính sách kích cầu đầu tư.
Thứ nhất, Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn chưa cao ( đặc biệt là
nguồn vốn NSNN )
Thứ hai, Sử dụng không hiệu quả các gói kích cầu sẽ làm tổn hại đến
sức cạnh tranh của nền kinh tế
Trang 28Thứ ba, Nền kinh tế Việt Nam có đặc thù là phải dựa vào máy móc
thiết bị và nguyên vật liệu từ bên ngoài Do vậy sẽ không chịu nổi sức ép từviệc gia tăng đầu tư Môt khi cầu đầu tư tăng lên sẽ khiến cho nhu cầu nhậpkhẩu tăng nhanh, điều này sẽ làm thâm hụt thương mại thêm trầm trọng
Thứ tư, Dòng vốn huy động để kích cầu đầu tư có thể bị lái vào đầu cơ
bong bong chứng khoán hay bất động sản
Thứ năm, chính sách kích cầu đầu tư không hoàn toàn đáp ứng 3 yêu
cầu: kịp thời, đúng đối tượng và vừa đủ ( ngắn hạn )
Thứ sáu, công tác quản lý đầu tư còn bộc lộ nhiều yếu kém, chưa đáp
ứng được yêu cầu phát triển chất lượng quy hoạch chưa cao, chưa thực sự là
cơ sở vững chắc cho hoạch định các kế hoạch phát triển
Chủ đề 5: MQH Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Liên hệ
Giữa nguồn vốn trong nước và nước ngoài tồn tại một mối quan hệ hữu
cơ chặt chẽ Chúng tác động qua lại lẫn nhau, kích thích lẫn nhau tạo ra sứcmạnh to lớn cho sự phát triển của mỗi quốc gia
Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài có tác động qua lại với nhau
1 Nguồn vốn trong nước:
Nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định
Trước tiên, cần phải khẳng định mọi nền kinh tế muốn phát triển bềnvững và lâu dài thì phải dựa vào nội lực khả năng sẵn có của nền kinh tế bởicác nguồn vốn từ bên ngoài không phải là nhân tố quyết định nếu nền kinhtếđó không có nội lực sẵn có của mình thì mọi sự tác động sẽ trở thành vônghĩa
Vốn trong nước giữ vai trò quyết định phát triển kinh tế, và trong cơ cấu nguồn vốn luôn chiếm tỷ lệ lớn
Trang 29Vốn trong nước được coi là nhân tố nội lực của mỗi quốc gia vì nómang tính ổn định và bền vững.Như vậy, đầu tư trong nước là nguồn cơ bảnđảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất nước đi đến sựphồn vinh một cách chắc chắn, lâu bền, là nguồn vốn cơ bản có vai trò quyếtđịnh, chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước
Nhiều nước đã chọn con đường đi vay và xin viện trợ nước ngoài nhằmphát triển kinh tếđất nước Thực tếđã cho thấy các nước này có thểđạt đượcmức tăng trưởng cao nhưng là tăng trưởng nóng, không bền vững và có sự lệthuộc vào nước cho vay Nguồn vốn trong nước chiếm một tỉ trọng ưu thế( > 50%) trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Sự lớn mạnh về quy mô vàổn định nguồn lực vốn trong nước có thể giúp nền kinh tế chống đỡ lại những cú sốc từ bên ngoài
Nếu tỉ trọng vốn đầu tư trong nước quá thấp so với vốn nước ngoài thì
sẽ dẫn đến giảm khả năng thanh toán và có thể không kiểm soát được sựthâm nhập của các tập đoàn xuyên quốc gia gây lũng đoạn thị trường, thuhẹp thị trường của các doanh nghiệp trong nước và sản xuất trong nướckhông phát triển
Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn đối ứng nhằm tạo cơ sở cho nguồn vốn nước ngoài vào hoạt động có hiệu quả
Thông thường để vốn đầu tư nước ngoài phát huy được tác dụng thìcần phải có một tỷ lệ vốn đối ứng trong nước thích hợp (Trong dựán sửdụng vốn ODA những tổ chức cho vay yêu cầu nước đi vay phải có vốn đốiứng để chủđộng cho việc lập dựán
Đóng vai trò định hướng cho dòng đầu tư nước ngoài chảy vào các ngành, các lĩnh vực cần thiết.
Nguồn vốn trong nước đóng vai trò then chốt trong việc định hướngcác hoạt động đầu tư Với mỗi giai đoạn phát triển sẽđặt ra những mục tiêutrọng tâm, ưu tiên cho việc phát triển những ngành kinh tế phù hợp.Muốnxây dựng một đất nước phát triển về mọi mặt thì các ngành, các vùng củachúng ta đều phải có một sự phát triển nhất định với một cơ cấu hợp lí Việcđầu tư vốn trong nước để xây dựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới thông tin liên
Trang 30lạc, giao thông vào ngành, địa phương nào sẽ tạo môi trường đầu tư thuậnlợi, từđó có thể thu hút các nhàđầu tư nước ngoài
Vốn Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường đầu
tư thuận lợi, nhằm đẩy mạnh đầu tư của mọi thành phần kinh tế theo địnhhướng chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ranăng lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tếđảmbảo theo đúng định hướng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
Trên cơ sởđầu tư ban đầu tạo cơ sở hạ tầng căn bản chủđộng cho việc tiếp nhận nguồn vốn nước ngoài
Môi trường đầu tư bao gồm cả hệ thống cơ sở hạ tầng và hệ thống luậtpháp Nhàđầu tư sẽ thường lựa chọn nơi có môi trường kinh doanh tốt hơn vìnhờđó họ có thể giảm bớt tổn thất cho kinh doanh
Khi vốn nước ngoài còn đang e ngại vào thị trường trong nước thì vốntrong nước (hầu hết là vốn từ ngân sách Nhà nước) phải đứng ra đầu tư vàolĩnh vực này, để tạo cơ hội trước nhất là cho sự phát triển kinh tếđịa phương,tạo môi trường đầu tư kinh doanh tốt cho nhàđầu tư trong nước, sau làđể tạođiều kiện thu hút vốn đầu tư của nước ngoài Mặt khác nguồn vốn trongnước chính là cơ sởđể thu hút vốn đầu tư nước ngoài
2 Nguồn vốn nước ngoài
Nguồn vốn nước ngoài có tác động tích cực tới nguồn vốn trong nước
a Nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ cho những thiếu hụt về vốn trong nước
b Là nguồn cung ứng ngoại tệ cho hoạt động mua sắm máy móc thiết bị,chuyển giao công nghệ, phân công lao động xã hội, tạo điều kiện chotăng năng suất lao động, gia tăng sản lượng của nền kinh tế
c Làm gia tăng nguồn vốn trong nước thông qua
d Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
e Vốn nước ngoài thúc đây quá trình sử dụng vốn ở nội địa linh hoạt vàhiệu quả hơn
f Vốn nước ngoài cũng làm hoàn thiện thị trường tài chính trong nư ớc
và tăng khả năng cạnh tranh, hiệu quả của thị trường tài chính
Trang 31 Những tác động tiêu cực nếu như việc sử dụng và quản lý nguồn vốn nước ngoài không tốt
a Luôn tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng nợ nước ngoài và gia tăng sự phụthuộc vào nền kinh tế nước ngoài nhất làđối với nguồn ODA
b Nguồn vốn nước ngoài di chuyển vào trong nước làm tăng thu nhậpcủa vốn nước ngoài trên thị trường trong nước và làm giảm thu nhập củanguồn vốn trong nước
c Nguồn vốn nước ngoài được đầu tư khá nhiều vào khai thác tài nguyên,dẫn đến làm giảm khả năng phát triển lâu dài của nguồn vốn trong nước
d Tình trạng lũng đoạn thị trường của nhàđầu tư nước ngoài và cạnhtranh không cân sức giữa doanh nghiệp trong nước với và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài có thể làm phá sản doanh nghiệp trong nước
và gây thất nghiệp
e Làm chảy máu chất xám sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Liên hệ thực tế Việt Nam
Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là một trong những xu hướng vậnđộng chủ yếu của đòi sống quốc tế hiện nay Với xu hướng này, mở cửa vàhội nhập các nền kinh tế quốc gia và khu vực trở thành điều kiện bắt buộccủa sự phát triển Bên cạnh đó với sự tiến bộ mạnh mẽ của khoa học kĩ thuậtcông nghệ khi tiềm lực kinh tế nói cung của thế giới đã trở nên hùng hậu,vấn đề tăng trưởng lâu bền, tốc độ cao và dịch chuyển cơ cấu trở thành quản
lý phát triển cho mọi nền kinh tế hiện đại Việt Nam cũng không nằm ngoài
xu hướng ấy, bên cạnh yếu tố quyết định của nội lực thì đầu tư trực tiếp nướcngoài đóng vai trò hết sức quan trọng tạo nên đà tăng trưởng
Đầu tư nước ngoài góp phần tạo ra một số năng lực sản xuất, ngành sảnxuất, phương thức quản lý và kinh doanh mới thúc đẩy doanh nghiệp trongnước nâng cao khả năng cạnh tranh Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài đã tạo ra cho nền kinh tế nước ta nhiều công nghệ mới hiện đại màbiểu hiện cụ thể nhất làở các lĩnh vực viễn thông dầu khí, hoá chất, điện tửtin học, ô tô xe máy… làm tiền đề cho sự phát triển của một số ngành kinh tếmũi nhọn của đất nước Ta cũng học tập được nhiều mô hình quản lý tiêntiến và các phương thức kinh doanh hiện đại trên thương trường quốc tếđã
Trang 32được áp dụng trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Với tỷ trọng bằng35% giá trị sản lượng cả nước khu vực kinh tế này góp phần quạn trọngtrong việc nang cao giá trị sản xuất trong cả nước từ 11%/ năm lên 13%/năm
Bên cạnh đó các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài còn tạo ra nhiều hànghoá trong thị trường trong nước góp phần thay thế hàng nhập khẩu, và khuvực này cũng có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao nhất làm cảithiện cán cân thanh toán quốc tế cho nước ta với kim ngạch xuất khẩu bằng23% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Đầu tư nước ngoài cũng làmtăng lượng việc làm cho lao động, tính đến nay là khoảng 44 vạn lao độngtrực tiếp cùng chục vạn lao động gián tiếp, với thu nhập của người lao độngcao hơn 30% các khu vực khác Hàng năm thu nhập của người lao động ởkhu vực này lên đến 600-850 triệu US Ngoài ra khu vực này còn thúc đẩyquá trình phát triển đổi mới và hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới.Nhờ cóđầu tư nước ngoài mà các quan hệ song phương và đa phương được
mở rộng, phát triển, Việt Nam từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực vàthế giới, tham gia vào phân công lao động quốc tế, mở rộng bạn hàng và thịphần ở nước ngoài
Ngược lại đầu tư trong nước cũng tác động rất lớn đến đầu tư nướcngoài làđịnh hướng cho dòng chảy đầu tư đầu tư nước ngoài vào các ngành
và lĩnh vực cần thiết Khi đầu tư trong nước được tập trung tạo ra cơ sở hạtầng, nguồn năng lực cho một ngành nhất định thì làm cho chi phí trung giansản xuất trong ngành đó giảm đi, tỷ suất lợi nhuận trong ngành tăng lên làmcác nhà đầu tư nước ngoài mong muốn được đầu tư vào ngành đó hơn Ví dụtrong các năm qua khi đầu tư trong nước tập trung vào ngành thuỷ sản tăngdiện tích nuôi trồng, tăng sản lượng làm cho ngành công nghiệp chế biếnthuỷ sản phát triển, ngay lập tức có công ty nướcc ngoài muốn đầu tư vàolĩnh vực chế biến thuỷ sản hoặc trong ngành công nghiệp may mặc là nơi thuhút vốn đầu tư khá do tận dụng được nguồn lao động rẻ Ở Việt Nam, lĩnhvực du lịch khách sạn cũng là nơi thu hút vốn đầu tư khá, vốn đầu tư trongnước luôn chiếm một tỷ lệưu thế hơn so với vốn đầu tư nước ngoài, các nămqua tỷ trọng vốn đầu tư trong nước tăng dần qua các năm: Năm 2003 tỷ lệ
Trang 33vốn đầu tư trong nước so với vốn đầu tư nước ngoài là 2.29 lần, năm 2007 là4.78 lần và năm 2010 là 5.06
Điều đó khẳng định nguồn chủ yếu, quyết định là vốn đầu tư trongnước Mặc dù ta có thể thấy vốn đầu tư trong nước và nước ngoái có mốiquan hệ mật thiết song hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập Các năm qua vốnđầu tư trong nước tăng thêm song lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có
xu hướng ngày càng giảm- không chỉở FDI mà ngay cả ODA nếu không cóbiện pháp điều chỉnh để tăng trở lại nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì cácnăm tới trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá sẽ gặp nhiềukhó khăn Điều đóđòi hỏi nhà nước ta phải có biện pháp điều chỉnh kịp thờigia tăng nguồn vốn trong nước, tích cực thu hút vốn đầu tư nước ngoài thúcđẩy tăng trưởng
Chủ đề 6: Cơ cấu vốn đầu tư hợp lí
1 Khái niệm:
Cơ cấu đầu tư hợp lý là cơ cấu đầu tư phù hợp với các quy luật kháchquan, các điều kiện kinh tế - xã hội của từng cơ sở, ngành, vùng và toàn nềnkinh tế, có tác động tích cực đến việc đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướngngày càng hợp lý hơn, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực trongnước, đáp ứng nhu cầu hội nhập, phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị của thếgiới và khu vực
2 Vai trò của cơ cấu đầu tư hợp lý với nền kinh tế:
Cơ cấu đầu tư hợp lý là nhằm hướng tới một cơ cấu kinh tế hợp lý
Sự thay đổi cuả cơ cấu đầu tư và sự tác động của nóđến cơ cấu kinh tếdiễn ra một cách thường xuyên, lặp đi lặp lại theo hướng tiệm cận đếnnhững cơ cấu kinh tế tối ưu Quá trình thay đổi đó mang tính chất kháiquát dưới tác động của các quy luật kinh tế
Cơ cấu đầu tư hợp lý thể hiện được sự phát triển bền vững, nó khôngnhững tạo ra sự tăng trưởng nhanh mà còn phải phát triển “cân bằngcộng đồng”, xã hội có sự biến đổi về chất vì vậy xây dựng một cơ cấu
Trang 34đầu tư hợp lý đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện đầu tư đểthúc đẩy kinh tế phát triển.
Xét về mặt hiệu quả thì cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tếđều hướng vàomục đích chung là nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội trên cơ sở phát huyhết các nguồn lực của nền kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu đầu tư, xây dựng cơ cấu đầu tư hợp lý là tất yếukhách quan và hết sức cần thiết, cấp bách và cần phải định hướng mộtcách khoa học
Xácđịnh được cơ cấu đầu tư hợp lí thì quốc gia đó sẽ cóđịnh hướngđúng đắn cho sự tăng trưởng kinh tếđảm bảo nhanh và bền vững, đồngthời có kế hoạch sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả và hợp lí,tạo ra lợi thế so sánh với các nước trong điều kiện hội nhập, cạnh tranhkhốc liệt như hiện nay Xét về lâu dài, nâng cao được sức cạnh tranh củacác doanh nghiệp trong nước do đó khócải thiện xuất khẩu, đáp ứngđược yêu cầu hội nhập quốc tế của nền kinh tế, cho nên nền kinh tếđãlạc hậu lại càng tụt hậu
3 Các tiêu chí đểđánh giá cơ cấu đầu tư hợp lý:
a Cơ cấu đầu tư hợp lý theo nguồn vốn:
Chuyển dịch theo hướng tỷ trọng nguồn vốn khu vực nhà nước giảm,
tỷ trọng nguồn vốn ngoài nhà nước vàđầu tư nước ngoài tăng
Việc sử dụng các nguồn vốn phải có hiệu quả, đặc biệt là vốn ngânsách nhà nước Nhà nước nên chỉ tập trung phân bổ vốn vào những khuvực mà thị trường không thể hoặc không muốn hoạt động, tránh đầu tưdàn trải, kém hiệu quả
Trên nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp và dựán: tỷ lệ giữa vốn chủ
sở hữu và vốn đi vay phải đảm bảo sao cho đạt hiệu quảđầu tư cao và tậndụng được tối đa các nguồn lực của doanh nghiệp
b Cơ cấu vốn đầu tư hợp lý:
Là cơ cấu mà vốn đầu tư được ưu tiên cho bộ phận quan trọng nhất,phù hợp với yêu cầu, mục tiêu đầu tư và nó thường chiếm một tỷ trọngkhá.Tùy vào từng giai đoạn cụ thể cũng như chiến lược phát triển ngắn hạn
và dài hạn của mỗi quốc gia, vốn đầu tư được ưu tiên cho nhưng bộ phận
Trang 35quan trọng khác nhau Đặc biệt làưu tiên các ngành có thế mạnh trong pháttriển dài hạn như phát triển con người, giáo dục đào tạo, khoa học – côngnghệ…
c Cơ cấu đầu tư phát triển theo ngành hợp lý:
Cơ cấu đầu tư theo ngành hợp lý được đánh giá: Cơ cấu ngành đượcchuyển biến như thếđã theo hướng tích cực chưa? Xem đã phù hợp vớitốc độ phát triển kinh tế chưa? Đặc biệt cơ cấu đầu tư theo ngành cầnphù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tếđể tránh làm méo mónền kinh tế
Ở VN, cơ cấu đầu tư ngành hợp lý là cơ cấu chuyển dịch theo hướngđẩy mạnh công nghiệp, phát triển các ngành dịch vụ vàưu tiên nôngnghiệp nông thôn, phát triển hạ tầng cơ sở cũng như các lĩnh vực xã hộinhằm hướng tới mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước
d Cơ cấu đầu tư phát triển theo địa phương, vùng lãnh thổ hợp lý:
hù hợp với yêu cầu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát huy lợithế sẵn có của vùng trong khi vẫn đảm bảo hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợicho sự phát triển chung của các vùng khác, đảm bảo sự phát triển thốngnhất và những cân đối trong phạm vi quốc gia và giữa các ngành
Dựa trên định hướng phát triển dài hạn của quốc gia, của từng vùng màphân bổ vốn sao cho có hiệu quả nhất.Tránh tình trạng đầu tư chồngchéo, đầu tư không phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi vùng, mỗi địaphương gây thất thoát lãng phí vốn
4 Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn 2001-2011
Thực tế nhìn vào sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
2001-2011 có thể thấy tổng mức đầu tư toàn xã hội liên tục tăng qua các năm vàduy trì ở mức khá cao (năm 2001 là 170,5 nghìn tỷđồng , năm 2010 là 830nghìn tỷđồng và năm 2011 là 878 nghìn tỷđồng- gấp hơn 5 lần so với năm
2001 ) Tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP tăng từ 35,4% năm 2001lên gần 42% năm 2010, đến năm 2011 giảm xuống còn 34,6%
Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn
Vốn từ khu vực Nhà nước :
Trang 36Trong cơ cấu đầu tư toàn xã hội, đầu tư của khu vực Nhà nước có một vị tríkhá quan trọng luôn chiếm tỉ trọng cao nhất Bình quân giai đoạn 2001-2011,chiếm khoảng 42% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.Tuy vẫn tiếp tụctăng lên về qui mô (năm 2001 là xấp xỉ 102 nghìn tỷđồng đến năm 2011 làtrên 340 nghìn tỷđồng) nhưng tỉ trọng giảm dần (từ 59,8% năm 2001 xuống38,8% năm 2011) chứng tỏ sự gia tăng tích cực về mặt tuyệt đối của 2 nhómnguồn vốn còn lại Đây là tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế thị trườngđang hình thành, phần nào phản ánh môi trường đầu tư đã và đang được cảithiện.
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân và dân cư :
Trong giai đoạn 2001-2011, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân chiếm khoảng35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Xu hướng tăng lên về qui mô và tỷ trọngtương đối ổn định trong những năm gần đây
Theo ước tính của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, tiết kiệm trong dân cư và cácdoanh nghiệp doanh dân chiếm bình quân khoảng 15% GDP, trong đó phầntiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư gián tiếp vào khoảng 3,7% GDP,chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệm của dân cư; phần tiết kiệm của dân cưtham gia đầu tư trực tiếp vào khoảng 5% GDP và bằng 33% số tiết kiệmđược
Nguồn vốn của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hộị giai đoạn 2001 - 2011 là23%.Bên cạnh đó, tổng lượng vốn không ngừng tăng trưởng Trong cả giaiđoạn 2001-2005 tổng lượng vốn đăng ký mới chỉ hơn 20,7 tỷ USD thì ở giaiđoạn 2006-2011 khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mai Thế giớiWTO, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng rất nhanh cả số lượngvốn đăng ký cũng như vốn thực hiện.Đến năm 2006, vốn đăng ký là 12 tỉUSD, thực hiện được một phần ba Đỉnh điểm là năm 2008, vốn đăng ký 64
tỉ USD, nhưng thực hiện chỉ 11 tỉ USD.Tuy nhiên, từ năm 2009 đến nay, sốvốn đăng ký ngày càng giảm đi thì xu hướng vốn thực hiện ngày càng caohơn Năm 2011, vốn đăng kýđạt 14,7 tỉ USD (mục tiêu 20 tỉ USD) song vốnthực hiện đạt 11 tỉ USD khiến tỷ lệ vốn thực hiện/vốn đăng ký tăng khá cao
Trang 37>Cơ cấu nguồn vốn của nước ta giai đoạn 2001-2011 chuyển dich theo hướng hợp lý:
Tuy vẫn giữ vai trò nòng cốt, chi phối trong một số ngành, lĩnh vực chủ yếunhưng đầu tư của Nhà nước đã giảm đáng kể Đầu tư ngoài nhà nước, nhấtlàđầu tư tư nhân trong nước có sự gia tăng mạnh mẽ (nhất là khi Luật Doanhnghiệp ra đời vàđi và cuộc sống) Đầu tư nước ngoài, mặc dù có những thăngtrầm theo xu hướng chung của kinh tế thế giới, vẫn có những bước phát triểnvượt bậc, thu hút vốn đầu tư ngày càng tăng cao và hiện diện ở hầu hết cácngành, địa phương trong nền kinh tế.Như vậy, cơ cấu nguồn vốn nhìn chung
đã chuyển dịch theo hướng: tỷ trọng nguồn vốn khu vực Nhà nước giảm, tỷtrọng nguồn vốn tư nhân và dân cư cũng như tỷ trọng nguồn vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài đều tăng
Cơ cấu vốn đầu tư
Cơ cấu vốn đầu tư dành cho xây dựng cơ bản từ NSNN.
Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN chiếm tỷ trọng cao nhất, luôn lớn hơn24%, có thời kỳ lớn hơn 30% (năm 2003) Đây là cốt lõi của đầu tư pháttriển toàn xã hội
Nếu như năm 2001 vốn xây dựng cơ bản là 36.139 tỷđồng chiếm khoảng31% ngân sách nhà nước thì đến năm 2008 đã tăng lên gần 3,5lần(124.664tỷđồng) Đặc biệt đến 2009 gấp 6,5 lần (171.631 tỷđồng) dođược bổ sung nguồn từ gói kích thích kinh tế, nguồn dự phòng ngân sách nhànước
Cơ cấu vốn dành cho giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ
Vốn dành cho đầu tư giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ luôn chiếm
tỷ trọng khoảng 4% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tỷ trọng hầu nhưkhông thay đổi nhưng qui mô thì tăng lên đáng kể theo từng năm Như năm
2005 có 3,16% vốn đầu tư được dùng cho lĩnh vực giáo dục vàđào tạo nhưngchỉ có 0,83% vốn đầu tư được chi cho các hoạt động chuyên môn khoa học
và công nghệ Đến năm 2010 chi cho giáo dục vàđào tạo chỉ còn chiếm2,85% trong khi chi cho các hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệchiếm tới 1,12% vốn đầu tư
Trang 38>Thực tế, việc sử dụng, phân bố, cơ cấu nguồn vốn ở nước ta vẫn chưa hợp lý.
Mặc dù sự chuyển dịch theo hướng vốn chi cho công tác giáo dục đào tạo vàkhoa học công nghệ tăng, nhưng vẫn ở mức thấp, chưa đáp ứng được nhucầu phát triển của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay Đất nước ta muốnphát triển nhanh đểđuổi kịp các nước trên thế giới thì cần dựa vào sức mạnhtri thức, sức mạnh con người Yêu cầu đặt ra là phải đầu tư nhiều vào cáclĩnh vực giáo dục, khoa học công nghệ phục vụ nền kinh tế
Chủ đề 7: Các nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp
Lý thuyết:
I NỘI DUNG VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRONG DN
Khái niệm: Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể
hiện dưới dạng giá trị được chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầuphát triển của xã hội Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung vàphân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhànước và của xã hội
Bản chất: nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ
mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội
Vai trò: Để thực hiện hoạt động đầu tư phát triển thì phải có vốn Vốn là
chìa khoá để thực hiện mọi mục tiêu của doanh nghiệp Vốn có tầm quan
trọng đối với hoạt động kinh tế như máu trong cỏ thể người Vốn còn là yếu
tố quan trọng đồi với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế: Y – C – G = I
Một nghiên cứu khác cũng khẳng định vai trò của vốn đầu tư đến tăngtrưởng và phát triển kinh tế, đó là hệ số ICOR= Vốn đầu tư/ GDP do vốn tạo
ra Từ đó suy ra: Mửc tăng GDP= Vốn đầu tư/ ICOR
Huy động: Nguồn vốn trong Dn có rất nhiều hình thức huy động trog đó cóthể chia thàh 2 nguồn chính: nguồn vốn chủ sở hữu v nguồn vốn vay(vốnnợ)
Trang 391.Nguồn vốn chủ sở hữu
gồm:vốn ban đầu;vốn từ lợi nhuận ko chia(lợi nhuận chưa phân phối);&phat hành cổ phiếu, quỹ khấu hao
Về vốn ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh
nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định, do các cổ đông_ chủ sởhữu góp Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũngphải xem xét hình thức sở hữu của DN đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết địnhtính chất và hình thức tạo vốn của DN Đối với DNNN, vốn góp ban đầuchính là VĐT của nhà nước Chủ sở hữu của các DNNN chính là nhà nước.Đối với DN ngoài NN, theo luật DN chủ sở hữu phải có số vốn cần thiết đểxin đăng ký thành lập DN Mỗi một cổ đông đóng góp là một chủ sở hữu củaCty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ Tuynhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau do đó,cách thức huy động vốn của các công ty này cũng khác nhau
Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia:
Nguồn vốn từ LN không chia là bộ phận LN được sử dụng tái ĐT, mở rộngSXKD của DN,là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và kháhấp dẫn của các DN, vì DN giảm đước chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vàobên ngoài.Để có được LN để lại thì trước tiên DN phải đang hoạt động, có
LN và được phép tiếp tục ĐT Đối với DNNN việc tái ĐT còn phụ thuộc vàochính sách tái ĐT của nhà nước.Đối với Cty cổ phần việc để lại LN liênquan đến một số yếu tố nhạy cảm Đó là mqh giữa việc chi trả cổ tức và giữlại LN để tái ĐT Khi công ty để lại LN, tức là cổ đông không được nhận cổtức, bù lại họ có quyền sở hữu số cổ phần tăng lên của Cty Như vậy, giá trịghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tài trợ bằng nguồn vốn nội
bộ Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặtkhác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kì trước mắt (ngắnhạn) do cổ đôg chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn Nếu tỷ lệ chi trả cốtức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảmsút Khi giải quyết vấn đề này cần lưu ý một số yếu tố có liên quan như: