Hoà chung với sự phát triển của thế giới, của xu thế thời đại, hơn mười năm qua, Việt Nam đã thực hiện đường lôí đổi mới chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo nên những bước đột phá, tạo đà phát triển cho nền kinh tế. Mỗi năm có hàng ngàn doanh nghiệp được thành lập nhưng cũng có không ít doanh nghiệp bị phá sản, thua lỗ. Chính sách kinh tế mở cửa đã, đang mang lại cho nền kinh tế nói chung cũng như các doanh nghiệp nói riêng những vận hội lớn để thử sức nhưng cũng kèm theo đó là hàng loạt những thách thức mà các doanh nghiệp phải đối đầu, giải quyết. Cạnh tranh là quy luật kinh tế tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bắt buộc phải chiến thắng trong cạnh tranh, phải khẳng định được vị trí của mình trên thị trường. Để làm được điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, năng động, sáng tạo, phải sử dụng tổng hoà các biện pháp khác nhau để có thể tạo ra những sản phẩm đa dạng về chủng loại, mẫu mã đẹp, phong phú, chất lượng cao phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, làm sao để chi phí bỏ ra là thấp nhất nhưng chất lượng sản phẩm sản xuất ra vẫn phải được đảm bảo, hiệu quả cao. Muốn vậy, một trong các vấn đề mà các doanh nghiệp phải quan tâm hàng đầu là các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất, đặc biệt là nguyên vật liệu và tất yếu một công cụ quản lý không thể thiếu đó chính là hạch toán kế toán nói chung và hạch toán kế toán nguyên vật liệu nói riêng, một công cụ đắc lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp. Đối với hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất thì vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là yếu tố không thể thiếu, trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm, chi phí về nguyên vật liệu lại thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Hạch toán nguyên vật liệu chính xác, kịp thời, toàn diện sẽ đảm bảo cho việc cung cấp nguyên vật liệu kịp thời và đồng bộ cho nhu cầu sản xuất, kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc chấp hành các định mức dự trữ và tiêu hao, ngăn chặn hiện tượng lãng phí vật liệu trong sản xuất, nhờ đó mà tiết kiệm được chi phí, hạ thấp giá thành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động từ đó mà nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Với nhận thức như vậy, sau khi đã được trang bị kiến thức lý luận ở nhà trường và trong thời gian nghiên cứu thực tế tại công ty TNHH Tiến Minh, tôi nhận thấy vấn đề nguyên vật liệu là vấn đề mà những nhà quản lý và hạch toán đặc biệt coi trọng. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: "Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Tiến Minh"
Trang 1Lời nói đầu
Hoà chung với sự phát triển của thế giới, của xu thế thời đại, hơn mười năm qua, Việt Nam đã thực hiện đường lôí đổi mới chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, tạo nên những bước đột phá, tạo đà phát triển cho nền kinh tế Mỗi năm có hàng ngàn doanh nghiệp được thành lập nhưng cũng có không ít doanh nghiệp bị phá sản, thua lỗ
Chính sách kinh tế mở cửa đã, đang mang lại cho nền kinh tế nói chung cũng như các doanh nghiệp nói riêng những vận hội lớn để thử sức nhưng cũng kèm theo đó là hàng loạt những thách thức mà các doanh nghiệp phải đối đầu, giải quyết
Cạnh tranh là quy luật kinh tế tất yếu trong nền kinh tế thị trường Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bắt buộc phải chiến thắng trong cạnh tranh, phải khẳng định được vị trí của mình trên thị trường
Để làm được điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, năng động, sáng tạo, phải sử dụng tổng hoà các biện pháp khác nhau để có thể tạo ra những sản phẩm đa dạng về chủng loại, mẫu mã đẹp, phong phú, chất lượng cao phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, làm sao để chi phí bỏ ra là thấp nhất nhưng chất lượng sản phẩm sản xuất ra vẫn phải được đảm bảo, hiệu quả cao
Muốn vậy, một trong các vấn đề mà các doanh nghiệp phải quan tâm hàng đầu là các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất, đặc biệt là nguyên vật liệu và tất yếu một công cụ quản lý không thể thiếu đó chính là hạch toán kế toán nói chung
và hạch toán kế toán nguyên vật liệu nói riêng, một công cụ đắc lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp
Trang 2Đối với hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất thì vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là yếu tố không thể thiếu, trực tiếp cấu tạo nên thực thể của sản phẩm, chi phí về nguyên vật liệu lại thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Hạch toán nguyên vật liệu chính xác, kịp thời, toàn diện sẽ đảm bảo cho việc cung cấp nguyên vật liệu kịp thời và đồng bộ cho nhu cầu sản xuất, kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc chấp hành các định mức dự trữ và tiêu hao, ngăn chặn hiện tượng lãng phí vật liệu trong sản xuất, nhờ đó mà tiết kiệm được chi phí, hạ thấp giá thành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động từ đó mà nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp
Với nhận thức như vậy, sau khi đã được trang bị kiến thức lý luận ở nhà trường và trong thời gian nghiên cứu thực tế tại công ty TNHH Tiến Minh, tôi nhận thấy vấn đề nguyên vật liệu là vấn đề mà những nhà quản lý và hạch toán đặc biệt coi trọng
Vì vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: "Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Tiến Minh"
Kết cấu chuyên đề gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong doanh
nghiệp sản xuất
Chương II: Tình hình thực tế về tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại
Công ty TNHH Tiến Minh
Chương III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên
vật liệu tại TMC
Do trình độ lý luận còn hạn chế và thời gian tiếp xúc thực tế chưa nhiều, mặc dù
đã được các thầy cô giáo giúp đỡ chỉ bảo, đặc biệt là cô giáo Bùi Thị Hằng, người trực tiếp hướng dẫn cùng các cô, chú, anh, chị kế toán và các phòng ban ở Công ty
Trang 3Tiến Minh nhưng chắc rằng luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định về nội dung và hình thức
Mong các thầy cô giáo cùng những người quan tâm đến vấn đề này đóng góp ý kiến để bản thân tôi có thể hiểu sâu hơn về vấn đề
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 08 tháng 10 năm 2008
Sinh viên thực hiện
Đào Thị Yến
Trang 4Chương I: Những vấn đề lý luận chung về tổ chức công tác
kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất1.1 Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm vật liệu
Trong doanh nghiệp sản xuất thì hoạt động cơ bản nhất, hoạt động tạo
“xương sống” cho doanh nghiệp chính là hoạt động sản xuất Đó là quá trình con người sử dụng tư liệu lao động làm thay đổi hình dáng, kích thước, tính chất lý hoá của đối tượng lao động để tạo ra những sản phẩm công nghiệp với chất lượng ngày càng cao, thoả mãn ngày càng đầy đủ các nhu cầu đa dạng của thị trường Như vậy, để tiến hành sản xuất, doanh nghiệp cần phải có đầy đủ cả ba yếu tố đầu vào là đối tượng lao động, sức lao động và tư liệu lao động
Vật liệu là đối tượng lao động, một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất,
là cơ sở vật chất cấu tạo nên thực thể của sản phẩm nên tất yếu là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý doanh nghiệp cũng như trong công tác kế toán Trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm, vật liệu không ngừng biến đổi, chuyến hoá cả về mặt hiện vật và gía trị
Khác với tài sản cố định, vật liệu có đặc điểm là khi tham gia vào sản xuất, chúng
bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi về hình thái vật chất ban đầu để câú thành thực thể của sản phẩm Về mặt gía trị, vật liệu chuyển dịch một lần toàn bộ giá trị vào sản phẩm mới tạo ra
1.1.2.Vị trí, vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất
Như chúng ta đã biết, nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là một bộ phận trọng yếu của tư liệu sản xuất, do đó nguyên vật liệu giữ một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất, là nhân tố
Trang 5không thể thiếu Thiếu nguyên vật liệu thì quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn hoặc không thể tiến hành được Chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm
Đồng thời vai trò của nguyên vật liệu còn thể hiện ở chỗ: nếu xét về mặt vật chất thì nguyên vật liệu chính là một bộ phận quan trọng của tài sản lưu động, còn
về mặt giá trị thì nó lại là một bộ phận chủ yếu của vốn lưu động, thường chiếm 40% - 60%, hơn nữa trong cơ cấu giá thành thì chi phí về nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ trọng khá cao, tới 60% - 80%
Vì vậy, có thể nói nguyên vật liệu không những giữ vai trò quan trọng không thể thiếu trong quá trình sản xuất mà còn giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong lĩnh vực quản lý giá thành và tài chính, kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1.3.Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán vật liệu
Quản lý vật liệu là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp, đòi hỏi các nhà quản lý luôn phải quan tâm chú trọng và đưa ra những biện pháp quản lý phù hợp Tuỳ vào đặc điểm của từng doanh nghiệp, tuỳ vào đặc điểm lý hoá của từng loại vật liệu sử dụng mà mỗi doanh nghiệp lại có những biện pháp quản lý khác nhau
Nhưng nói chung, trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ vật liệu ở tất cả các khâu, từ khâu thu mua, bảo quản cho tới khâu
sử dụng và dự trữ Cụ thể:
- Khâu thu mua: Phải quản lý chặt chẽ về khối lượng, quy cách, chủng loại, phẩm chất, giá mua cũng như chi phí thu mua, thực hiện kế hoạch mua theo đúng tiến độ thời gian, phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Yêu cầu này đòi hỏi việc thu mua nguyên vật liệu phải đảm bảo cung ứng kịp thời, đầy đủ cho nhu cầu sản xuất, đảm bảo đủ về sản lượng, đúng về
Trang 6chất lượng và hợp lý về giá cả, kế hoạch, không nên mua nhiều gây ứ đọng vốn cũng không nên mua ít mà làm gián đoạn quá trình sản xuất
Đồng thời phải thường xuyên phân tích đánh gía tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật tư, lựa chọn nguồn cung cấp tốt nhất
- Khâu bảo quản: Tổ chức tốt kho tàng, bến bãi, thựu hiện đúng chế
độ bảo quản đối với từng loại vật liệu, tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn
- Khâu sử dụng: Tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời tình hình xuất dùng vật liệu, đảm bảo sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở các định mức và dự toán về chi phí nguyên vật liệu, từ đó hạ thấp được giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Khâu dự trữ: Xác định các định mức dự trữ tối đa, tối thiểu, mức dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm… một cách hợp lý, đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, ổn định và bình thường, tránh tình trạng phải ngưng sản xuất do cung ứng không kịp thời hoặc ứ đọng vốn do dự trữ quá mức, ảnh hưởng tới tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả sử dụng vốn
Để đáp ứng được các yêu cầu quản lý trên, với tư cách là một công cụ quản lý hữu hiệu, không thể thiếu, kế toán vật liệu cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức đánh giá, phân loại vật liệu phù hợp với các nguyên tắc, yêu cầu quản lý thống nhất của nhà nước và yêu cầu quản trị của doanh nghiệp
- Tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho của doanh nghiệp để ghi chép, phân loại, tổng hợp số liệu
về tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm của vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
- Thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua, tình hình sử dụng vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 71.1.4 Ý nghĩa của việc tổ chức tốt công tác kế toán vật liệu
Xuất phát từ tầm quan trọng của vật liệu trong quá trình sản xuất, việc quản lý vật liệu trở thành một yêu cầu tất yếu của mọi doanh nghiệp sản xuất trong đó công tác kế toán vật liệu được đặc biệt coi trọng
Tổ chức tốt công tác kế toán vật liệu ở tất cả các khâu từ thu mua đên sử dụng sẽ gíup cho các nhà quản lý doanh nghiệp nắm bắt được những thông tin kịp thời về nguyên vật liệu để đưa ra các quyết định quản lý, giúp cho bộ phận kế hoạch lập
dự toán chi phí về nguyên vật liệu hợp lý, … nhằm cung cấp nguyên vật liệu kịp thời cho nhu cầu sản xuất đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
Tổ chức tốt việc ghi chép và phản ánh chính xác, kịp thời tình hình xuất dùng nguyên vật liệu sẽ góp phần vào việc sử dụng nguyên vật liệu một cách tiết kiệm
và có hiệu quả, từ đó sẽ hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, tăng thu nhập và tích luỹ cho doanh nghiệp
Như vậy có thể nói: việc tổ chức công tác kế toán vật liệu có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp sản xuất, ảnh hưởng mang tính quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Vì vậy, tổ chức công tác kế toán vật liệu trong các doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết, là một tất yếu đòi hỏi của công tác quản lý
1.2 Tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất
1.2.1Phân loại, đánh gía nguyên vật liệu
1.2.1.1.Phân loại nguyên vật liệu
Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu bao gồm rất nhiều loại, nhiều thứ khác nhau với nội dung kinh tế, vai trò, công dụng và tính chất lý hoá học khác nhau Hơn nữa chúng lại biến động tăng giảm liên tục, thường xuyên, hàng ngày trong quá trình sản xuất Vì vậy, để có thể quản lý chặt chẽ và hạch toán chi tiết
Trang 8tới từng thứ, loại vật liệu phục vụ cho kế toán quản trị thì cần thiết phải tiến hành phân loại vật liệu.
Phân loại vật liệu là việc nghiên cứu, sắp xếp vật liệu theo từng loại, từng nhóm … dựa vào một tiêu thức nhất định
Tuỳ vào đặc thù của mỗi doanh nghiệp mà có thể sử dụng các phương pháp phân loại khác nhau cho phù hợp Nhưng nói chung, phương pháp phân loại vật liệu được các doanh nghiệp dùng phổ biến hiện nay là phương pháp phân loại dựa vào nội dung kinh tế của vật liệu trong quá trình sản xuất và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Theo phương pháp này thì nguyên vật liệu được chia thành các loại sau:
- Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm như sắt, thép trong doanh nghiệp chế tạo máy, cơ khí; xi măng, gạch, ngói trong doanh nghiệp xây dựng; bông, sợi trong doanh nghiệp dệt; vải trong doanh nghiệp may mặc… Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hoá thì cũng được coi là nguyên vật liệu chính Nguyên vật liệu chính dùng vào sản xuất hình thành nên chi phí vật liệu trực tiếp
- Nguyên vật liệu phụ: là các loại vật liệu có vai trò phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như làm tăng chất lượng của nguyên vật liệu hay tăng chất lượng sản phẩm, phục vụ công tác quản lý, công tác sản xuất, bao gói sản phẩm như bao bì, thuốc tẩy, nhuộm…
- Nhiên liệu: là loại vật liệu phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho hoạt động của máy móc thiết bị, phương tiện vận tải như xăng, dầu, than, củi, khí gas…
- Phụ tùng thay thế: gồm các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay thế, sửa chữa các máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải…
Trang 9- Thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các loại thiết bị cần lắp và thiết bị không cần lắp, vật kết cấu, … dùng cho công tác xây lắp, xây dựng cơ bản.
- Vật liệu khác: là loại vật liệu không được xếp vào các loại kể trên gồm phế liệu do quá trình sản xuất loại ra hay phế liệu thu hồi từ việc thanh lý tài sản cố định
Ngoài ra còn có các cách phân loại khác như:
- Nếu căn cứ vào nguồn gốc nguyên vật liệu thì toàn bộ nguyên vật liệu của doanh nghiệp được chia thành nguyên vật liệu mua ngoài và nguyên vật liệu tự chế biến, gia công
- Nếu căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng thì vật liệu lại được chia thành nguyên vật liệu trực tiếp dùng vào sản xuất và nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác như quản lý phân xưởng, tiêu thụ sản phẩm
Nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp thường rất đa dạng về chủng loại, quy cách, kích cỡ với những đặc tính rất khác nhau, yêu cầu quản lý và công tác kế toán vật liệu lại đòi hỏi phải phản ánh, quản lý chi tiết tới từng thứ, từng loại vật liệu
Bởi vậy, trên cơ sở phân loại nguyên vật liệu, doanh nghiệp cần lập danh điểm nguyên vật liệu, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, quy mô hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng lớn, mối quan hệ kinh tế càng rộng, tính chất hoạt động kinh doanh ngày càng phức tạp, công nghệ khoa học cũng ngày một phát triển, việc áp dụng các phần mềm tin học vào công tác kế toán đã ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn để thu nhận,
xử lý một khối lượng lớn thông tin nhằm cung cấp một cách kịp thời nhất cho nhu cầu quản lý
Lập danh điểm vật liệu là quy định cho mỗi thứ vật liệu một ký hiệu riêng ( mã số) bằng hệ thống các chữ số (có thể kết hợp với các chữ cái) để thay thế tên gọi, quy cách, kích cỡ của chúng Ví dụ: 15211A là số danh điểm của vật liệu A
Trang 10trong nhóm 1 loại 1.
Ở đây ta đã thực hiện công tác mã hoá Đây là công tác tối ưu hoá rất đặc biệt Công tác này thay thế một thông tin ở dạng “tự nhiên” thành một ký hiệu thích ứng với mục tiêu của người sử dụng Nói một cách đơn giản thì mã hoá một thuộc tính của mỗi thực thể là gắn cho thực thể đó một ký hiệu mới ( gồm một ký tự hay một nhóm ký tự) Khi ứngdụng phần mềm sử dụng cho công các kế toán thì cần thiết phải mã hoá các đối tượng quản lý một cách chi tiết, cụ thể, càng chi tiết, cụ thể bao nhiêu thì phần mềm sẽ nhận diện càng chính xác, tăng hiệu quả làm việc
Từ đó đảm bảo quy trình xử lý dữ liệu chính xác, phản ánh trung thực tình hình biến động của các loại nguyên vật liệu Để tiến hành công tác mã hoá, doanh nghiệp cần phải tiến hành qua ba bước: xác định đối tượng phải mã hoá, lựa chọn giải pháp mã hoá và triển khai thực hiện Việc mã hoá có thể tiến hành theo phương pháp mã số phân cấp, mã số liên tiếp, mã số gợi nhớ…Vật liệu ở doanh nghiệp gồm rất nhiều loại, nhiều thứ, tên gọi của chúng cũng rất dài, thông số kỹ thuật cũng khác nhau… nên phải quy ước mã số cụ thể cho từng thứ vật liệu theo ngôn ngữ riêng của máy để quản lý va hạch toán Mã hoá vật liệu có thể tiến hành theo nguyên tắc sau:
152 01 0002 Xi măng PC 40
XXX XX XXXX
Mã số hiệu
tài khoản
Mã loại vật liệu
Mã tên vật liệu
Trang 11152 02 0001 Đá 1 x 2
Trang 121.2.1.2.Đánh giá vật liệu
Đánh giá vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện giá trị của vật liệu theo những nguyên tắc nhất định Nói cách khác nó là việc xác định trị giá của vật liệu nhập kho, xuất kho và hiện còn trong kho theo phương pháp thích hợp Việc đánh giá vật liệu có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác hạch toán và quản lý vật liệu Thông qua việc đánh giá vật liệu, kế toán mới ghi chép đầy đủ và có hệ thống các chi phí cầu thành nên giá vật liệu mua vào, trị gía vật liệu tiêu hao cho sản xuất
Từ đó xác định chính xác gía trị sản phẩm sản xuất ra trong kỳ Mặt khác, đánh giá chính xác vật liệu còn góp phần tính toán đúng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp, đảm bảo cho thông tin cung cấp trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp được trung thực, hợp lý
Để xác định chính xác, hợp lý giá vật liệu thì việc đánh giá vật liệu phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Yêu cầu xác thực: tức là việc đánh giá nguyên vật liệu phải được tiến hành trên cơ sở tổng hợp đầy đủ các chi phí cấu thành nên giá trị của vật liệu đồng thời phải loại trừ ra khỏi giá trị của vật liệu những chi phí không hợp lý, hợp lệ
- Yêu cầu thống nhất: việc đánh giá nguyên vật liệu phải đảm bảo thống nhất về nội dung và phương pháp đánh giá giữa các kỳ kế toán của doanh nghiệp
Đồng thời trong quá trình đánh giá vật liệu cũng cần phải chú ý đến các nguyên tắc, khái niệm được thừa nhận trong việc đánh gía vật liệu:
- Khái niệm hoạt động liên tục: theo khái niệm này thì công việc kế toán được đặt trong điều kiện giả thiết rằng doanh nghiệp sẽ tiếp tục hoạt động vô thời hạn hoặc ít nhất vẫn còn hoạt động trong thời gian một năm nữa
Trang 13- Nguyên tắc giá phí: là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của kế toán, đòi hỏi tất cả các loại tài sản, vật tư, hàng hoá, các khoản công nợ, chi phí phải được ghi chép, phản ánh theo giá phí ( theo trị giá vốn), tức là theo số tiền mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được những tài sản đó.
- Nguyên tắc thận trọng: theo nguyên tắc này, kế toán chỉ ghi các khoản thu nhập khi có chứng cứ chắc chắn, còn chi phí thì được ghi ngay khi chưa
có chứng cứ chắc chắn Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi khi giá trị thuần có thể thực hiện được của vật liệu mà cao hơn giá gốc thì kế toán phải ghi chép và báo cáo theo giá gốc Còn vào cuối niên độ, nếu giá gốc mà cao hơn thì kế toán phải lập dự phòng giảm giá và ghi nhận vào giávốn hàng bán ( theo chuẩn mực 02- hàng tồn kho)
- Nguyên tắc nhất quán: tức là việc áp dụng, thực hiện các khái niệm, nguyên tắc, chuẩn mực và các phương pháp tính toán… phải thống nhất trong suốt các niên độ kế toán, nhằm đảm bảo số liệu thông tin kế toán trung thực, khách quan, thống nhất và so sánh được giữa các kỳ với nhau Nếu vì một lý
do đặc biệt nào đó mà phải thay đổi thì doanh nghiệp phải giải trình với cơ quan quản lý chức năng
Theo nguyên tắc đánh giá vật liệu thì vật liệu hiện có ở doanh nghiệp được phản ánh trong sổ kế toán và báo cáo kế toán phải theo trị giá vốn thực tế, tức là toàn bộ
số tiền doanh nghiệp bỏ ra để có được số vật liệu đó Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được
Trang 14* Đối với vật liệu nhập kho:
Tuỳ vào từng nguồn nhập mà giá gốc của vật liệu được xác định như sau:
- Vật liệu mua ngoài: giá gốc bao gồm giá mua, các loại thuế không được hoàn lại, như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu,… chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản, thuê kho, thuê bãi trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua vật liệu như chi phí bảo hiểm, tiền phạt, tiền bồi thường… Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách, phẩm chất thì được trừ khỏi chi phí mua
- Vật liệu tự sản xuất: giá gốc gồm giá thực tế vật liệu xuất chế biến và chi phí chế biến Chi phí chế biến gồm những chi phí có liên quan trực tiếp đến sản xuất vật liệu đó như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi, phát sinh trong quá trình sản xuất vật liệu đó Tại đây, ta cần chú ý một điều là , với chi phí chung biến đổi thì được phân bổ hết vào chi phí chế biến Tuy nhiên, với chi phí sản xuất chung cố định thì cần xét ba trường hợp sau:
+ Một là, với trường hợp số lượng sản xuất đạt ở mức trung bình trong các
điều kiện sản xuất bình thường (công suất bình thường) thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ vào chi phí sản xuất cho mỗi đơn vị sản xuất
ra dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất
+ Hai là, trường hợp mức sản xuất thực tế cao hơn mức bình thường thì
chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị theo chi phí thực tế phát sinh
+ Ba là, trường hợp mức sản xuất thực tế thấp hơn công suất bình thường
thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị vật liệu sản xuất ra theo mức công suất bình thường
Trang 15Khoản chi phí sản xuất chung không phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ và tính vào giá vốn hàng bán trong kỳ:
Nợ TK 632 (chi tiết chi phí sản xuất chung cố định không phân bổ)
Có TK 627
- Vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: giá gốc gồm giá thực tế vật liệu xuất thuê chế biến, chi phí vận chuyển tới nơi thuê chế biến cũng như vận chuyển về, số tiền trả cho đơn vị nhận gia công chế biến
- Vật liệu do nhận góp vốn liên doanh: là giá do hội đồng liên doanh đánh giá
* Đối với vật liệu xuất kho:
Theo chuẩn mực số 02-hàng tồn kho, để tính giá trị vật liệu xuất kho, doanh nghiệp có thể áp dụng theo một trong bốn phương pháp sau đây:
- Phương pháp tính theo gía đích danh: Theo phương pháp này, căn cứ vào sản lượng xuất kho và đơn giá nhập kho của vật liệu xuất kho để tính áp dụng với các doanh nghiệp có ít loại vật liệu hoặc vật liệu ổn định và nhận diện được Đây là phương pháp tính chính xác nhất
- Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, giá thực tế vật liệu xuất kho thường được tính trên cơ sở số lượng vật liệu xuất dùng và đơn giá bình quân:
Trị giá
vật liệu xuất kho =
Số lượngvật liệu xuất kho x
Đơn giábình quân Trong đó:
Đơn giá
bình quân =
Trị giá thực tế VL tồn đầu kỳ + trị giá thực tế VL nhập trong kỳ
Số lượng VL tồn đầu kỳ + Số lượng VL nhập trong kỳViệc tính giá trị trung bình có thể tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô vật liệu về tuỳ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp
Trang 16- Phương pháp nhập trước xuất trước ( FIFO): Phương pháp này giả thiết rằng số vật liệu nào được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước,
số vật liệu tồn kho cuối kỳ là số vật liệu được mua hoặc sản xuất gần cuối kỳ Nghĩa là giá trị vật liệu xuất kho được tính theo giá của vật liệu nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị vật liệu mua trước sẽ dùng làm gía để tính giá thực tế chất lượng xuất trước
Vì vậy giá trị hàng tồn kho sẽ được tính theo giá của vật liệu nhập kho sau hay ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ Phương pháp này thích hợp với trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm
- Phương pháp nhập sau xuất trước (LIFO): giả định vật liệu mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, vật liệu tồn kho cuối kỳ là vật liệu được mua hoặc sản xuất trước đó
Nói cách khác giá trị vật liệu xuất kho sẽ được tính theo giá của vật liệu nhập sau hoặc gần sau cùng, và như thế giá trị vật liệu tồn kho sẽ được tính theo giá vật liệu nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho Phương pháp này thích hợp trong trường hợp giá cả có xu hướng tăng, lạm phát
Ngoài ra, đối với những doanh nghiệp mua vật tư thường xuyên có sự biến động
về giá cả, khối lượng và chủng loại vật tư thì có thể sử dụng giá hạch toán để tính trị giá vốn thực tế của vật liệu xuất kho như sau:
H = Trị giá thực tế VL còn đầu kỳ + trị giá thực tế VL nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán VL tồn đầu kỳ + trị giá hạch toán VL nhập trong kỳ
Trang 17Mỗi phương pháp tính giá vật liệu có những ưu nhược điểm, điều kiện áp dụng khác nhau Vì vậy, doanh nghiệp cần phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, khả năng trình độ kế toán và yêu cầu quản lý … để lựa chọn phương pháp cho phù hợp Điều này rất có ý nghĩa trong việc xác định kết quả kinh doanh và xác định giá trị tài sản hiện còn của doanh nghiệp
1.2.1.3.Hạch toán chi tiết vật liệu
Để đảm bảo cung cấp thông tin nhanh và thông tin định kỳ về tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu cả về chỉ tiêu hiện vật và chỉ tiêu giá trị theo từng thứ, từng nhóm, từng loại, từng quy cách chất lượng ở từng kho bảo quản, sử dụng vật liệu thì kế toán vật liệu phải tiến hành hạch toán chi tiết vật liệu cả ở kho và phòng kế toán trên cùng cơ sở các chứng từ về hàng tồn kho trong hệ thống chứng từ kế toán do Bộ tài chính ban hành như phiếu nhập kho-mẫu 01-VT, phiếu xuất kho-mẫu 01-VT, biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá-mẫu 08-VT,…ngoài ra tuỳ thuộc vào đặc điểm từng doanh nghiệp mà có thể xây dựng các chứng từ kế toán khác cho phù hợp
Trách nhiệm quản lý chất lượng trong doanh nghiệp liên quan đến nhiều bộ phận, nhưng việc quản lý trực tiếp nhập, xuất, tồn kho vật liệu được thực hiện chủ yếu ở bộ phận kho và kế toán hàng tồn kho Vì vậy, giữa hai bộ phận này phải có
sự liên hệ, phối hợp nhịp nhàng, điều đó sẽ đảm bảo cho việc hạch toán chi tiết vật liệu đạt được hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Hiện có ba phương pháp kế toán chi tiết vật liệu gồm phương pháp ghi thẻ song song, phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển và phương pháp mức dư (ghi sổ số dư)
Trang 181.2.1.4.Phương pháp ghi thẻ song song
Kế toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp sử dụng ít chủng loại vật liệu, khối lượng nhập xuất vật liệu ít, không thường xuyên, trình độ chuyên môn kế toán còn hạn chế Nội dung của phương pháp này như sau:
- ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho hàng ngày của từng danh điểm vật liệu ở từng kho theo chỉ tiêu số lượng Mỗi chứng từ nhập, xuất được ghi một dòng trên thẻ kho, cuối ngày thủ kho tính ra số lượng vật liệu tồn kho để ghi vào “Tồn” của thẻ kho
- ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng thẻ (sổ) chi tiết ở cho từng danh điểm vật liệu để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn vật liệu theo từng nhóm, loại nguyên vật liệu để có số liệu đối chiếu với kế toán tổng hợp.Ta có thể khái quát phương pháp này theo sơ đồ sau:
Ghi chú:
: Ghi hàng ngày : Ghi
: Đối chiếu, kiểm tra
Sơ đồ 1.1: Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp ghi thẻ song song
Thẻ kho
Chứng từ nhập
Sổ, thẻ kế toán chi tiết vật liệu
Chứng từ xuất
Bảng kê tổng hợp N-X-T
Trang 19Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ ghi chép, dễ kiểm tra, đối chiếu nhưng lại có nhược điểm về sự ghi chép trùng lặp giữa kho và kế toán về chỉ tiêu
số lượng Ngoài ra việc kiểm tra đối chiếu dồn vào cuối tháng không đáp ứng được yêu cầu quản lý, hạn chế khả năng kiểm tra, giám sát
1.2.1.5.Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển
Phương pháp này được định hình trên cơ sở cải tiến một bước phương pháp thẻ song song, có nội dung như sau:
- ở kho: Việc ghi chép của thủ kho cũng được thực hiện trên thẻ kho giống như phương pháp thẻ song song
- ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho của từng vật liệu thuộc từng kho Sổ này được mở cho cả năm và ghi vào cuối mỗi tháng, theo dõi cả chỉ tiêu số lượng và thành tiền, mỗi thứ vật liệu được ghi một dòng trên sổ Đồng thời kế toán còn lập bảng kê nhập, bảng kê xuất để thuận lợi cho việc ghi sổ đối chiếu luân chuyển cuối tháng Sau khi hoàn thành việc ghi sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán thực hiện đối chiếu số liệu trên sổ này với số liệu trên thẻ kho và sổ kế toán tài chính liên quan
Phương pháp này tuy đã giảm bớt được khối lượng ghi chép so với phương pháp thẻ song song do chỉ ghi một lần vào cuối tháng nhưng vẫn không khắc phục được việc ghi trùng lắp về chỉ tiêu số lượng giữa phòng kế toán và kho, việc kiểm tra đối chiếu vấn dồn vào cuối tháng, hạn chế chức năng kiểm tra thường xuyên, liên tục
Vì vậy, phương pháp này chỉ thích hợp với doanh nghiệp không nhiều nghiệp
vụ nhập, xuất, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi tiết vật liệu
Trang 20Ghi chú:
: Ghi hàng ngày : Ghi cuối tháng
: Đối chiếu, kiểm tra
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hạch toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ đối chiếu
lu ân chuyển
1.2.1.6.Phương pháp mức dư (ghi sổ số dư)
Đặc điểm nổi bật của phương pháp này là kết hợp chặt chẽ việc hạch toán nghiệp vụ của thủ kho với ghi chép của phòng kế toán Trên cơ sở đó, ở kho chỉ hạch toán về số lượng và ở phòng kế toán chỉ hạch toán về giá trị vật liệu
- ở kho: Ngoài việc sử dụng thẻ kho để ghi chép như hai phương pháp trên, thủ kho còn sử dụng sổ số dư để ghi chép tồn kho cuối tháng của từng thứ nguyên vật liệu theo chỉ tiêu số lượng
- ở phòng kế toán: Kế toán mở số số dư theo từng kho mở cho cả năm để ghi số tồn kho cho từng thứ, nhóm, loại vật liệu vào cuối tháng theo chỉ tiêu giá trị Từ các bảng kê nhập, bảng kê xuất lập trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất, kế toán lập bảng luỹ kế nhập, bảng luỹ kế xuất rồi căn cứ vào đó lập
Thẻ kho
Chứng từ nhập
Sổ đối chiếu luân chuyển
Chứng từ xuất
Trang 21bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho theo từng nhóm, loại vật liệu theo chỉ tiêu giá trị Cuối tháng khi nhận sổ số dư do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào tồn kho về số lượng được ghi ở sổ số dư và đơn giá hạch toán để tính ra số tồn kho của từng thứ, nhóm, loại vật liệu theo chỉ tiêu giá trị và ghi vào cột số tiền
ở sổ số dư Việc kiểm tra đối chiếu được tiến hành vào cuối tháng, căn cứ vào cột số tiền tồn cuối tháng trên sổ số dư để đối chiếu với số tiền tồn kho trên bảng kê tổng hợp nhập, xuất, tồn và số liệu của kế toán tổng hợp
Phương pháp này có những ưu nhược điểm sau:
- ưu điểm: Giảm bớt khối lượng ghi sổ kế toán, công việc được dàn đều trong tháng nên đảm bảo cung cấp kịp thời các số liệu cần thiết để phục vụ cho yêu cầu quản lý
- Nhược điểm: Do ở phòng kế toán chỉ ghi theo giá trị nên để có thông tin về tình hình nhập, xuất, hiện còn của thứ vật liệu nào đó thì phải căn cứ vào thẻ kho Ngoài ra việc kiểm tra phát hiện sai sót nhầm lẫn sẽ rất khó khăn.Phương pháp này nên áp dụng trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều chủng loại vật liệu, tình hình nhập, xuất diễn ra thường xuyên và doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống đơn giá hạch toán đồng thời xây dựng được hệ thống danh điểm nguyên vật liệu hợp lý, trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán cao và thủ kho vừa phải có chuyên môn tốt vừa phải ý thức được đầy đủ trách nhiệm trong việc quản lý vật liệu
Ta có thể khái quát phương pháp này theo sơ đồ sau:
Trang 22Ghi chú:
: Ghi hàng tháng : Ghi cuối tháng : Đối chiếu, kiểm tra
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ hạch toán chi tiết vật liệu theo phương pháp sổ số dư
Ba phương pháp trên tuy có nhiều nét tương đồng như việc cùng dùng thẻ kho ở kho để theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn hàng ngày của từng thứ vật liệu theo chỉ tiêu số lượng, phòng kế toán chủ yếu theo dõi về mặt gía trị hay việc kiểm tra thường dồn vào cuối tháng… nhưng giữa chúng vẫn có những điểm khác nhau mang đặc thù của phương pháp với những ưu điểm, nhược điểm cũng như điều kiện áp dụng khác nhau
Chẳng hạn, việc kế toán ở phương pháp thẻ song song và phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển ngoài việc theo dõi về mặt giá trị còn theo dõi cả về mặt hiện vật hoặc tuỳ phương pháp mà kế toán lại mở những sổ chi tiết khác nhau
Vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc điểm cụ thể của mình cũng như những ưu nhược điểm , nội dung của mỗi phương pháp để có sự lựa chọn áp dụng cho phù hợp, có như vậy mới nâng cao được hiệu quả công tác kế toán đáp ứng
Bảng luỹ kế xuất
Thẻ kho
Chứng từ nhập
Bảng kê tổng hợp N-X-T
Trang 23yêu cầu quản lý, từ đó mà nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu
Vật liệu là tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho của doanh nghiệp, việc
mở các tài khoản tổng hợp, ghi chép sổ kế toán và xác định giá trị hàng tồn kho, giá trị vật liệu xuất dùng… là tuỳ thuộc vào việc doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ
1.2.2.1.Kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên
Phương pháp kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép, phản ánh thường xuyên, liên tục tình hình nhập, xuất, tồn kho các loại vật liệu trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp khi có các chứng từ nhập, xuất hàng tồn kho Như vậy việc xác định gía trị vật liệu xuất dùng được căn cứ trực tiếp vào các chứng từ nhập xuất sau khi đã được tập hợp, phân loại theo các đối tượng sử dụng
để phản ánh vào các tài khoản và sổ kế toán
Theo phương pháp này, kế toán sử dụng các tài khoản sau:
- Tài khoản 152-NL,VLL:
Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của các loại nguyên liệu, vật liệu trong kho của doanh nghiệp Tài khoản này có thể được mở thành các loại tài khoản cấp 2, cấp 3 để
kế toán chi tiết cho từng loại, nhóm, thứ vật liệu tuỳ theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
- Tài khoản 152-Hàng mua đang đi đường:
Tài khoản này phản ánh trị giá của các loại hàng hoá, vật liệu… mua ngoài đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, còn đang trên đường vận
Trang 24chuyển ở bến cảng, bến bãi hoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nhận nhập kho
- Tài khoản 331: phải trả người bán:
Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thanh toán về cáckhoản nợ phải trả của doanh nghiệp cho người bán vật tư, hàng hoá theo hợp đồng kinh tế đã ký kết Tài khoản này cũng được mở chi tiết cho từng đối tượng
- Tài khoản 133: thuế GTGT được khấu trừ:
Tài khoản này dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ,
đã khấu trừ và còn được khấu trừ của doanh nghiệp (trường hợp doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế)
Tài khoản 133 có hai loại tài khoản cấp 2 gồm:
Tài khoản 1331-thuế GTGT được khấu trừ của hàng hoá, dịch vụ
Tài khoản 1332-thuế GTGT được khấu trừ của tài sản cố định
Đối với doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ khi mua vật liệu về để phản ánh số thuế GTGT đầu vào thì dùng tài khoản
1331
Ngoài những tài khoản trên, kế toán nguyên vật liệu còn sử dụng các tài khoản khác liên quan như tài khoản 112, tài khoản 141, tài khoản 621, tài khoản 627…
Trang 25Ta có thể khái quát trình tự kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp này như sau:
TK 151 TK 152 TK 621
xxx x Nhập kho tháng trước về Trị giá V L xuất dùng cho
T K 154 TK 138
VL thuê ngoài gia công xxx
Nhập VL tự SX VL thiếu phát hiện khi KK
Trang 261.2.2.2.Kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳPhương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho là phương pháp không theo dõi thường xuyên liên tục tình hình nhập, xuất hàng tồn kho trên các tài khoản hàng tồn kho mà chỉ theo dõi, phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ căn cứ vào số liệu kiểm kê định kỳ hàng tồn kho Việc xác định gía trị vật liệu xuất dùng trên tài khoản kế toán tổng hợp không căn cứ vào chứng từ xuất kho mà lại căn cứ vào giá trị thực tế vật liệu tồn kho đầu kỳ, nhập trong kỳ và kết quả kiểm kê cuối
+
Trị giá vốn thực
tế vật liệu nhập trong kỳ
- Trị giá vốn thực tế vật liệu tồn cuối kỳ
Chính vì có đặc điểm như vậy mà theo phương pháp này trên tài khoản tổng hợp không thể hiện rõ giá trị vật liệu xuất dùng cho từng đối tượng, các nhu cầu khác nhau: sản xuất hay phục vụ quản lý sản xuất sản phẩm, cho nhu cầu bán hàng hay quản lý doanh nghiệp… Hơn nữa, nếu có mất mát, tham ô, hao hụt vật liệu trong quá trình bảo quản, sử dụng thì trên tài khoản tổng hợp cũng không thể hiện được Tuy có nhược điểm như vậy nhưng bên cạnh đó kế toán vật liệu theo phương pháp này cũng có những mặt thuận lợi như tính đơn giản, gọn nhẹ và đặc biệt là giảm nhẹ được khối lượng công tác hạch toán Vì vậy, phương pháp nên được áp dụng ở các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ chỉ tiến hành một loại hoạt động hoặc ở các doanh nghiệp thương mại kinh doanh các mặt hàng có giá trị thấp, nhiều loại
Để ghi chép kế toán vật tư hàng hoá theo phương pháp kiểm kê định kỳ, kế toán
sử dụng tài khoản 611-Mua hàng Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị nguyên liệu, vật liệu mua vào trong kỳ Kết cấu tài khoản 611 như sau:
Bên nợ: + Kết chuyển trị giá thực tế hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu, CCDC tồn kho đầu kỳ ( theo kết quả kiểm kê)
Trang 27+ Trị giá thực tế hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu, CCDC mua vào trong kỳBên có: + Kết chuyển trị giá thực tế hàng hoá, nguyên liệu,vật liệu CCDC tồn kho cuối kỳ ( theo kết quả kiểm kê)
+ Trị giá thực tế hàng hoá, vật liệu… xuất sử dụng trong kỳ
Tài khoản này không có số dư và gồm 2 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 6111-Mua nguyên vật liệu
- Tài khoản 6112-Mua hàng hoáPhương pháp hạch toán: khi mua nguyên vật liệu, căn cứ hoá đơn mua hàng, hoá đơn vận chuyển, phiếu nhập kho, thông báo thuế nhập khẩu phải nộp ( hoặc biên lai thu thuế nhập khẩu) … để ghi nhận trị giá thực tế vật liệu mua vào tài khoản 611-Mua hàng Khi xuất dùng, chỉ ghi một lần vào cuối kỳ kế toán căn cứ vào kết quả kiểm kê
Bên cạnh tài khoản 611, kế toán cũng sử dụng tài khoản 152 nhưng khác với phương pháp kê khai thường xuyên, tài khoản này không phản ánh tình hình nhập, xuất nguyên vật liệu trong kỳ mà nó chỉ phản ánh trị giá vật liệu tồn đầu kỳ và cuối kỳ
Ngoài ra trong phương pháp này kế toán cũng sử dụng các tài khoản liên quan khác như tài khoản 133, tài khoản 111, tài khoản 112… như trong phương pháp kê khai thường xuyên
Trình tự kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Trang 28TK 151 TK 611 TK 111,112,331 xxx x
Giá TT VL đang đi Đầu kỳ kết chuyển giá TT Cuối kỳ KC
đường cuối tháng VL đang đi đường đầu tháng Chiết khấu mua hàng
giảm giá
xxx Giá TT VL tồn Đầu kỳ kết chuyển giá T T Trị giá thực tế NVL xuất
kho cuối tháng VL tồn kho đầu tháng dùng cho SX sản phẩm
xxx TK 627.641,642
Mua NVL trả tiền ngay Trị giá thực tế NVL xuất
dùng cho quản lý SX,KD
xxx TK 138 chưa TK 133
trả tiền xxx V L thiếu phát hiện
VAT trong kiểm kê
VAT đầu vào
TK 333 (3331,3)
xxx VAT VL nhập khẩu TK 412
Chênh lệch giảm do Thuế nhập khẩu đánh giá lại
TK 338
V L thừa phát hiện trong kiểm kê
TK 412
Chênh lệch tăng do đánh giá lại
Sơ đồ kế toán tổng hợp vật liệu theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Trang 291.2.2.3.Tổ chức hệ thống sổ và báo cáo kế toán
Hệ thống sổ kế toán sử dụng trong doanh nghiệp để ghi chép, hệ thống hoá thông tin từ các chứng từ kế toán phù hợp với hình thức kế toán doanh nghiệp áp dụng Nói cách khác, tuỳ thuộc tuỳ thuộc doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung, chúng từ ghi sổ hay nhật ký chúng từ, nhật ký sổ cái mà hệ thông
sổ kế toán sử dụng có sự khác nhau Ví dụ trong hình thức chứng từ ghi sổ thì hệ thống sổ kế toán gồm sổ đăng ký chúng từ ghi sổ, sổ cái, các sổ, thẻ kế toán chi tiết; trong hình thức nhật ký chứng từ thì hệ thống sổ kế toán lại gồm nhật ký chứng từ, các bảng kê, sổ cái và sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết… Mỗi hình thức đều
có những ưu nhược điểm riêng cũng như điều kiện áp dụng khác nhau Vì vậy mỗi doanh nghiệp cần phải căn cứ vào đặc điểm cụ thể của đơn vị mà lựa chọn cho phù hợp Trong điều kiện sử dụng máy vi tính thì hình thức kế toán phù hợp nhất là hình thức kế toán nhật ký chung
Đặc điểm chủ yếu của hình thức kế toán nhật ký chung là tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều được căn cứ vào chứng từ gốc hợp lệ để ghi theo thứ tự thời gian và nội dung nghiệp vụ kinh tế theo đúng mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng kế toán (theo đúng quan hệ đối ứng giữa các tài khoản kế toán)
Hệ thống sổ kế toán trong hình thức nhật ký chung bao gồm:
* Sổ nhật ký chung: là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh
tế, tài chính phát sinh theo thứ tự thời gian, theo các định khoản kế toán đúng với nội dung kinh tế của nghiệp vụ phát sinh, phục vụ cho việc tổng hợp số liệu ghi sổ cái các tài khoản
* Các sổ nhật ký chuyên dùng ( sổ nhật ký đặc biệt): dùng để ghi chép một số loại nghiệp vụ kinh tế riêng biệt như nhật ký thu tiền, chi tiền theo thứ tự thời gian
Trang 30phát sinh các nghiệp vụ Số liệu trên các nhật ký chuyên dùng được sử dụng để ghi vào các tài khoản phù hợp trên sổ cái sau khi đã loại trừ số trùng lắp do một nghiệp vụ được ghi đồng thời ở các sổ nhật ký chuyên dùng khác nhau.
* Sổ cải tài khoản: là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo từng tài khoản trong niên độ kế toán Mỗi tài khoản được mở một hoặc một số trang liên tiếp Cơ sở để ghi vào sổ cái các tài khoản là nhật ký chung và các nhật ký chuyên dùng
* Sổ kế toán chi tiết: được sử dụng để ghi chép, phản ánh chi tiết các đối tượng kế toán cần theo dõi chi tiết, cụ thể phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp và việc tính toán một số chỉ tiêu tổng hợp để phân tích, kiểm tra, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện, cụ thể tình hình, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc mở các sổ chi tiết nào, nội dung kết cấu mẫu biểu cụ thể tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp.Kế toán nguyên vật liệu được thực hiện trên sổ nhật ký chung, sổ nhật ký mua hàng, sổ cái tài khoản 152, 621,
331, 133, 611, …các sổ chi tiết vật liệu, thẻ kho, …
Với hình thức kế toán nhật ký chung trong điều kiện kế toán trên máy vi tính, trình
tự ghi sổ, xử lý tổng hợp, cung cấp thông tin về kế toán vật liệu như sau:
Trang 31Sơ đồ quy trình xử lý kế toán vật liệu áp dụng theo hình thức
kế toán nhật ký chung trên máy vi tính
(1) Căn cứ vào chứng từ gốc (bảng kê chứng từ gốc) sau khi đã kiểm kê tính hợp lý, hợp pháp, hợp lệ của các nghiệp vụ kinh tế, tài chính cũng như của chứng
từ, tiến hành mã hoá, phân loại các chứng từ theo đúng hệ thống má hoá chứng từ của doanh nghiệp để nhập dữ liệu vào máy.
(2) Theo đúng chương trình đã lập cho máy, máy sẽ căn cứ vào các dữ liệu
từ các chứng từ mã hoá để ghi vào sổ nhật ký chung, các chứng từ được ghi sổ kế toán chi tiết vật liệu hoặc nhật ký mua hàng cũng đồng thời được máy xử lý.
(3) Sau khi ghi sổ nhật ký chung và nhật ký mua hàng, số liệu sẽ được xử
lý ghi vào sổ cái các tài khoản 152, 331, 133, 621, …
Chứng từ gốc
(Bảng kê CT gốc)
Mã hoá chứng từ
Nhật ký chung
Sổ cái tài khoản
Báo cáo kế toán
(Bc tổng hợp N-X-T)
Sổ kế toán chi tiết NVL
Sổ nhật ký
mua hàng
Bảng tổng hợp chi tiết NVL
Thẻ kho
Trang 32(4) Căn cứ vào các số liệu trên sổ kế toán chi tiết vật liệu, cuối kỳ máy tính lập bảng tổng hợp số liệu chi tiết vật liệu.
Sau khi đã thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ cái các tài khoản
và bảng tổng hợp chi tiết nguyên vật liệu, máy sẽ ra các báo cáo kế toán, báo cáo tổng hợp nhập xuất tồn vật liệu
Như vậy để máy có thể xử lý số liệu trên cơ sở nhập các dữ liệu từ các chứng
từ gốc một cách chính xác, nhanh nhạy đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được một chương trình kế toán hệ thống, khoa học, lôgic, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trước tiên, doanh nghiệp phải xây dựng được danh mục các chứng từ, tài khoản, tổ chức mã hoá, cài đặt trong phần mềm kế toán
Việc mã hoá theo ngôn ngữ máy tính là một yêu cầu rất phức tạp, cần đảm bảo yêu cầu đơn giản, dễ kiểm tra, dễ đối chiếu, tổng hợp và phải đảm bảo bí mật
về dữ liệu Đồng thời với việc thiết lập một chương trình kế toán máy, doanh nghiệp cũng cần phải chú trọng đào tạo đội ngũ nhân viên, đặc biệt là nhân viên
kế toán, bỗi dưỡng và nâng cao trình độ cho họ Bởi lẽ dù khoa học kỹ thuật có tiến bộ tới mức nào, việc sử dụng và điều khiển chúng vẫn là do con người Con người mới chính là nhân tố trung tâm, máy tính và kỹ thuật tin học chỉ là phương tiện trợ giúp cho kế toán trong việc tính toán, xử lý và cung cấp thông tin kế toán một cách nhanh chóng, kịp thời, nâng cao hiệu quả công việc ứng dụng công nghệ tin học trong công táckế toán là điều cần thiết song không thể thay thế hoàn toàn con người
Trang 33Chương II : Tình hình thực tế về tổ chức kế toán nguyên
vật liệu tại công ty TNHH TIếN MINH.
2.1 Đặc điểm tình hình chung của công ty TNHH TIếN MINH :
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty :
Công ty TNHH Tiến Minh, tên tiếng Anh là Tien Minh Company Limited, có trụ sở đặt tại Ba La,Hà Đông, Hà nội; cơ sở sản xuất (nhà máy) của công ty đặt tại
xã Bình Đà,Thanh Oai, Hà nội Đây là công ty liên doanh được Uỷ ban Nhà nước
về Hợp tác và đầu tư (naylà Bộ kế hoạch và đầu tư) cho phép thành lập theo giấy phép đầu tư số 917/GP ngày 25/7/1994 Hoạt động chính của công ty là sản xuất
và kinh doanh bêtông trộn sẵn với sự góp vốn của hai bên đối tác Việt nam và úc :
- Bên Việt nam : Tổng công ty xây dựng cầu Thăng long, trụ sở đặt tại
Ba La,Hà Đông, Hà nội Đây là một tổng công ty lớn có bề dày thành tích, trực thuộc Bộ giao thông vận tải
- Bên nước ngoài : Công ty Bytenet (A/ASIA) PTY.LTD, trụ sở đặt tại
80 Kitchener Pảade, Bank town, New South Wales, Australia
Công ty TNHH Tiến Minh có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, với vốn đầu tư
là 3.017.000 USD, vốn pháp định là 2.654.000 USD, phía Việt nam góp 30% và phía đối tác nước ngoài góp 70% Theo giấy phép đầu tư thì thời gian hoạt động của công ty là 15 năm kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư
Được thành lập từ tháng 7/1996 nhưng phải đến tháng 7/1998 mới chính thức đi vào sản xuất, tính đến nay công ty đã đi qua được hơn nửa chặng đường, thời gian chưa phải là dài nhưng đã có không biết bao nhiêu sự kiện, khó khăn mà công ty phải đối đầu để hôm nay có thể đứng vững trên thị trường tự hào là một trong những trạm trộn bêtông hàng đầu miền Bắc Đó là kết quả của sự nỗ lực không mệt mỏi của ban lãnh đạo cũng như của toàn bộ cán bộ công nhân viên công ty Quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể tóm lược qua các giai đoạn
Trang 34sau :
- Giai đoạn 1 : Từ tháng 7/1996 đến tháng 6/1998 Đây là giai đoạn công
ty hoàn thành việc góp vốn và tiến hành xây dựng cơ sở vật chất, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa công ty đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Theo như hợp đồng đã ký kết, bên Việt nam sẽ góp bằng quyền sử dụng 6880m2 đất tại xã Bình Đà trong 15 năm trị giá 722.400 USD và giá trị nhà xưởng hiện có, với tổng trị giá vốn góp là 793.390 USD chiếm 30% vốn pháp định Bên nước ngoài sẽ góp bằng máy móc thiết bị và tiền nước ngoài trị giá 1.851.610 USD chiếm 70% vốn pháp định Tuy nhiên do nhiều khó khăn trong quá trình góp vốn mà đến tháng 6/1998 cả hai bên vẫn chưa hoàn thành việc góp vốn và phải đệ trình lên Bộ kế hoạch và đầu tư xin điều chỉnh mức vốn pháp định Ngày 5/6/1998 công ty đã được Bộ kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép điều chỉnh số 917/GPĐC1 cho phép điều chỉnh vốn pháp định của công ty là 2.250.000 USD, mỗi bên góp 50% vốn pháp định Cũng trong thời gian này công ty đã tiến hành xây dựng các công trình kiến trúc nhà xưởng sản xuất, văn phòng, nhà điều hành trạm trộn, Đồng thời tiến hành láp đặt các máy móc thiết bị của trạm trộn dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài và hình thành bộ máy tổ chức quản lý
Kết thúc giai đoạn này công ty đã có một cơ sở vật chất khá khang trang, một khu vực văn phòng, một phòng thí nghiệm với trang bị máy móc thiết bị hiện đại, Một trạm trộn dần được hình thành hoàn chỉnh với công nghệ bêtông trộn ướt nhập từ úc, một hệ thống máy tính nối mạng từ nhà máy, trạm điều khiển, văn phòng đảm bảo cho quá trình sản xuất luôn có sự thống nhất thông suốt từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ nhà máy tới chân công trình
- Giai đoạn 2 : Từ tháng 7/1998 đến hết năm 2001 Đây là giai đoạn công
ty bắt đầu chính thức đi vào sản xuất kinh doanh Đây là một giai đoạn vô cùng khó khăn của công ty Do mới bước vào sản xuất, dây chuyền sản xuất
Trang 35còn chưa ổn định, kinh nghiệm sản xuất chưa có, công nghệ sản xuất bêtông trộn ướt còn khá mới mẻ, lạ lẫm với người lao động, cán bộ kỹ thuật có trình
độ, am hiểu về thiết bị trạm trộn lại thiếu, Tất cả những điều này đã khiến cho việc sản xuất gặp nhiều khó khăn, sản phẩm sản xuất ra bị hỏng khá nhiều, buộc phải bỏ đi đã gây nên những tổn thất rất lớn cho công ty không chỉ là vấn đề kinh tế mà cả về uy tín đối với bạn hàng Trong thời gian này công ty đã liên tiếp bị lỗ, sản lượng sản xuất ít thường chỉ đạt 600m3, tối đa lắm là lên tới 800m3/tháng, một con số rất khiêm tốn với một trạm trộn có đầy đủ phương tiện kỹ thuật hiện đại như Tiến Minh, chi phí bỏ ra lại cao, trong khi đó việc góp vốn vẫn không thể hoàn thành, bộ máy quản lý lại luôn
bị xáo trộn, vị trí tổng giám đốc, người đứng đầu, đại diện cho công ty lại liên tục thay đổi, khiến cho việc chỉ đạo không được thống nhất, người lao động vì thế mà không an tâm sản xuất dẫn tới việc sản xuất kinh doanh bị ngưng trệ, gián đoạn, đã có nhiều lúc hai bên đã bàn bạc đến vấn đề chấm dứt hợp đồng liên doanh Tình hình trở nên rất căng thẳng Tính đến 31/12/2001 công ty đã
bị lỗ tổng cộng là 354.062,71 USD Điều này đã khiến nhiều người phải nản lòng Tuy nhiên với sự phấn đấu nỗ lực không biết mệt mỏi đặc biệt từ khi hội đồng quản trị quyết định trao quyền quản lý điều hành cho quyền tổng giám đốc là người Việt nam hiểu rõ tình hình thực tế, việc sản xuất đã dần đi vào
ổn định Công ty chuyển mình bước sang giai đoạn mới
- Giai đoạn 3 : Từ năm 2001đến nay Hoạt động quản lý lẫn sản xuất kinh doanh của công ty đã dần đi vào ổn định và phát triển, người lao động đã
có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, uy tín công ty đã dần được nâng cao, nhiều khách hàng đã tìm tới công ty ký hợp đồng Sản lượng bêtông trộn đạt ở mức cao, trung bình 6000m3 đến 7000m3/tháng, có tháng cao điểm lên đến 10000m3, doanh thu liên tục tăng, năm 2000 doanh thu đạt gần 2,1 triệu USD bằng 139% so với năm 1999, năm 2001 đạt trên 2,1 triệu USD tăng 115,57%
Trang 36so với năm 2000, Đây là những con số đáng tự hào của một trạm trộn đang dần từng bước trưởng thành, khẳng định vị trí của mình Công ty đã liên tiếp
ký được những hợp đồng lớn, quan trọng đánh dấu sự phát triển vững chắc của công ty, thể hiện sự tin tưởng của khách hàng, tầm vóc công ty đã ngày một lớn mạnh Công ty đã tham gia hàng loạt các công trình quan trọng như bơm bêtông mặt cầu Thăng long, công trình cầu Yên lệnh,
Với những nỗ lực không mệt mỏi, lao động hăng say, tìm tòi, ban giám đốc cùng cán bộ công nhân viên trong công ty đã, đang xây dựng công ty ngày một lớn mạnh, không ngừng mở rộng và chiếm lĩnh thị trường, khẳng định tính ưu việt của một công ty liên doanh với một hệ thống máy móc tiên tiến hiện đại, tính tự động hoá cao, một đội ngũ cán bộ nhân viên có kiến thức, trình độ, kinh nghiệm và tràn đầy nhiệt huyết.Trong thời gian này cũng không hề xảy ra chuyện sản phẩm hỏng Với việc trang vị máy bộ đàm, các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã cho phép việc điều hành sản xuất được thông suốt không chỉ tại nhà máy mà tới tận chân công trình Chất lượng sản phẩm ngày càng được hoàn thiện và nâng cao, phòng thí nghiệm cũng không ngừng nghiên cứu tìm ra những mẫu bêtông không chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng Việt nam mà cả của quốc tế, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi từng kết cấu công trình từ đơn giản đến phức tạp Hiện nay sản phẩm chủ yếu của công
ty vẫn là bêtông tươi với rất nhiều mác khác nhau như mác100, 150, C10, C100, 20MPA, Ngoài ra, công ty còn cung cấp dịch vụ bơm thuê tuy nhiên lãi của hoạt động này thường ít mà chi phí lại cao, máy hay hỏng nên công ty xác định đây chỉ
là việc kinh doanh phụ Từ năm 2001 đến nay công ty luôn làm ăn có lãi, đời sống người lao động ngày một được nâng cao, ngoài lương chính 1,5 triệu đồng/tháng còn có các tháng lương 13,14, phụ cấp, khiến cho người lao động thêm hăng say gắn bó với công ty Cùng với việc quy hoạch thành phố mở rộng ra ngoại vi, xu hướng phát triển của công ty cũng sẽ phát triển mở rộng thị trường ra ngoại vi thành phố đồng thời tập trung vào các công trình trọng điểm.Bên cạnh đó với việc
Trang 37chấp thuận của uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội bằng giấy phép điều chỉnh số 917/GP-HNĐC2 cho phép điều chỉnh vốn pháp định thành 1.548.271 USD, trong
đó bên Việt nam góp 39%, bên nước ngoài góp 61% đã tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc góp vốn và vào năm 2004 công ty đã hoàn thành xong việc góp vốn Chắc rằng đây sẽ là một động lực để hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thêm ổn định và phát triển
Mặc dù từ năm 2001 công ty đã làm ăn có lãi nhưng vẫn chưa có sự phân chia lợi nhuận cho các bên liên doanh do lợi nhuận thu được dùng để bù đắp khoản lỗ luỹ
kế từ những năm trước nhưng tin chắc rằng cùng với sự phát triển của đất nước công ty cũng sẽ ngày một trưởng thành lớn mạnh thêm, khẳng định vị trí của mình trên thị trường
Sau đây là một số chỉ tiêu phản ánh quy mô tài sản và kết quả hoạt động của công ty trong những năm gần đây :
Trang 38ty nổi tiếng của úc đặt tại phòng điều hành Để sản xuất và phục vụ sản xuất, Công
ty tổ chức bốn bộ phận với chức năng nhiệm vụ như sau:
- Phòng điều hành trạm trộn: Phòng này được ví như “bộ não” của trung tâm của trạm trộn Mọi hoạt động sản xuất, quy trình trộn đều do phòng này điều khiển Với một hệ thống thiết bị hiện đại, mang tính tự động hoá cao, được lập trình sẵn chỉ cần nhập khối lượng bê tông cần đạt, mác bao nhiêu, loại xi gì, rồi số lượng cát, đá, phụ gia và tự động khởi động quy trình trộn Mặc dù máy móc hiện đại như vậy nhưng có thể đảm bảo cho chúng vận hành tốt, nâng cao hiệu quả sản xuất đó chính là độ ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ, giầu kinh nghiệm, am hiểu về công nghệ trộn bê tông ướt của Công ty luôn bám sát, kịp thời xử lý mọi tình huống có thể xẩy ra
- Tổ xe: Đây là lực lượng chính của trạm trộn, là “mạch máu” là “xương sống “ của trạm trộn, có nhiệm vụ trộn, vận chuyển , bơm bêtông tới tận chân công trình đúng thời gian, địa điểm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng
Trang 39- Tổ mẫu: Đây là bộ phận chịu trách nhiệm chính về chất lượng một mẻ trộn bêtông, nghiên cứu,tìm tòi sao cho sản phẩm bêtông của Công ty không những đạt tiêu chuẩn chất lượng Việt nam ,mà đạt cả tiêu chuẩn chất lượng của úc, Anh của quốc tế quy định, đáp ứng mọi yêu cầu khắt khe nhất của từng kết cấu của từng công trình , đồng thời tổ mẫu cũng có nhiệm vụ tìm biện pháp hạ giá thành sản phẩm, từ đó hạ giá bán, tăng sản lượng bán ra và mục đích cuối cùng là tăng lợi nhuận.
- Tổ sửa chữa: Có nhiệm vụ phục vụ việc sản xuất, đảm bảo các thiết bị máy móc đặc biệt là xe trộn, luôn luôn sẵn sàng hoạt động tốt, liên tục, mọi lúc mọi nơi, thường xuyên được bảo dưỡng Tuy chỉ là bộ phận sản xuất phụ không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng tổ sửa chữa lại đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được ổn định, thông suốt
Với việc chỉ sản xuất và kinh doanh duy nhất một sản phẩm là betông tươi, nguyên vật liệu lại chưa được bỏ vào một lần ngay từ đầu, có thể nói, quy trình công nghệ sản xuất của Công ty là quy trình công nghệ sản xuất giản đơn, hoạt động của Công ty là sản xuất công nghiệp Ta có thể khái quát quy trình sản xuất của Công ty theo sơ đồ sau:
Trang 40Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất bê tông tươi.
Xilô 1 Xilô 2 Xilô 3 Xilô 4
Van
Agg1 Agg2 Bồn trộn Cân
Van Băng
chuyền
Đá, cát Quy trình công nghệ sản xuất bêtông tươi nói trên có thể giải thích cụ thể như sau: Khi có lệnh sản xuất tại phòng điều hành trạm trộn, các cán bộ kỹ thuật vận hành hệ thống máy móc thiết bị sẽ nhập dữ liệu vào máy, mác bêtông, khối lượng cần trộn, máy sẽ xử lý tự động xác định khối lượng nguyên vật liệu từng loại cần để sản xuất ra mác bêtông đó Nạp dữ liệu xong, máy sẽ khởi động dây chuyền sản xuất Đầu tiên là chất phụ gia cùng cát, đá và nươc được xả vào bồn trộn, sau khi đạt khoản 65% số nguyên liệu, van nước sẽ tự động ngắt Tiếp đó ximăng được chứa trên các xilô sẽ được xả xuống bồn trộn trong khi cát, đá phụ gia vẫn đựơc xả vào bồn trộn, xe luôn quay trộn tự động Khi cát, đá, ximăng, đã xuống hết đủ khối lượng, hệ thống van sẽ tự động đóng, lúc này nước lại tiếp tục