1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp

35 439 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp
Tác giả Vũ Thị Thùy Trang
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 237 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tư phát triển là một trong những một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của toàn xã hội nói chung và đối với cá nhân từng doanh nghiệp trong nền kinh tế nói riêng. Đầu tư phát triển nói riêng và đầu tư nói chung là là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ…) để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt được những kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực ra. Nguồn lực của đầu tư là vốn. Nội dung và nguồn gốc của vốn là một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến hoạt động đầu tư. Làm thế nào để huy động đủ vốn cho hoạt động đầu tư, kịp thời và với hiệu quả thấp nhất chính là câu hỏi mà các chủ đầu tư đặc biệt là các doanh nghiệp rất quan tâm. Đây chính là nội dung của đề tài của tôi “Nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp” . Đề tài tập trung phân tích lý thuyết về đầu tư phát triển của doanh nghiệp và đi vào phân tích nguồn vốn đầu tư phát triển cùa doanh nghiệp Nhà nước, từ đó rút ra các phương pháp để nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư. Đề tài gốm 3 chương:

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

1.3.1 Nguồn vốn chủ sở hữu 15

1.3.1.1 Vốn ban đầu: 15

1.3.1.2 Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: 16

1.3.1.3 Phát hành cổ phiếu: 17

1.3.2 Nguồn vốn nợ: 18

1.3.2.1 Phát hành trái phiếu công ty 18

1.3.2.2 Nguồn vốn tín dụng ngân hàng 20

CHƯƠNG 2: Thực trạng nguồn vốn đầu tư phát triển tại doanh nghiệp nhà nước Việt Nam 22

2.2 Đầu tư xây dựng cơ bản 24

2.3 Vốn lưu động bổ sung 24

2.4 Vốn đầu tư phát triển khác 24

2.4.1 Đầu tư nghiên cứu triến khai các hoạt động khoa học công nghệ 24

2.4.2 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực 25

2.4.3 Đầu tư phát triển tài sản vô hình 27

2.4.4 Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp 28

CHƯƠNG 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng sử dụng và huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển tại doanh nghiệp nhà nước Việt Nam 30

1 Về quản lý ở tầm vĩ mô 30

2.Về quản lý vi mô tại doanh nghiệp 32

KẾT LUẬN 35

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Đầu tư phát triển là một trong những một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của toàn xã hội nói chung và đối với cá nhân từng doanh nghiệp trong nền kinh tế nói riêng Đầu tư phát triển nói riêng và đầu tư nói chung là là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ…) để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt được những kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực ra Nguồn lực của đầu tư là vốn Nội dung và nguồn gốc của vốn là một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến hoạt động đầu tư Làm thế nào để huy động đủ vốn cho hoạt động đầu tư, kịp thời và với hiệu quả thấp nhất chính là câu hỏi mà các chủ đầu tư đặc biệt là các doanh nghiệp rất quan tâm Đây chính là nội dung của đề tài của tôi “Nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp” Đề tài tập trung phân tích lý thuyết về đầu tư phát triển của doanh nghiệp và đi vào phân tích nguồn vốnđầu tư phát triển cùa doanh nghiệp Nhà nước, từ đó rút ra các phương pháp để nâng caohiệu quả huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư Đề tài gốm 3 chương:

Chương 1: Lý thyết chung

Chương 2: Thực trạng nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nướcChương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp

Em xin chân thành càm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn của các thầy cô trong quá trình

thực hiện, hoàn thiện đề tài!

Trang 3

CHƯƠNG 1: Lý thuyết chung

1.1 Đầu tư và đầu tư phát triển

1.1.1 Đầu tư

1.1.1.1 Khái niệm

Đầu tư là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; một bộphận của hoạt động sản xuất kinh doanh Các tổ chức, cá nhân đều có quyền tham giahoạt động đầu tư nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mình Đầu tư tạo ra tàisản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hộikhác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống xã hội

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (tiền, tài nguyên thiênnhiên, sức lao động và trí tuệ…) để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt đượcnhững kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực ra Như vậy, mục tiêucủa mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh vềnguồn lực để tiến hành đầu tư

Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sảnvật chất (nhà máy, đường xá…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quảnlý…) Trong những kết quả trên đây, những kết quả trực tiếp của sự hy sinh các tài sảnvật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc,mọi nơi không chỉ với người bỏ vốn mà với cả nền kinh tế Chẳng hạn, một nhà máyđược xây dựng vừa tăng thêm tài sản cho người trực tiếp đầu tư mà tiềm lực cùa nềnkinh tế cũng được tăng thêm

1.1.1.2 Phân loại

Theo mục đích và tính chất của hoạt động đầu tư có thể chia thành: đầu tư tài chính,đầu tư thương mại và đầu tư phát triển

Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra cho vay hoặc mua các

chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn để được hưởng lãi suất đi ̣nhtrước như gửi tiết kiê ̣m hay mua trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho ba ̣c hoă ̣c lãi suấttùy thuô ̣c vào hoa ̣t đô ̣ng sản xuất kinh doanh của công ty phát hành Đầu tư tài chínhkhông làm gia tăng thêm tài sản cho nền kinh tế, nếu không xét đến quan hê ̣ quốc tế

Trang 4

trong lĩnh vực này, nó chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính cho chủ đầu tư Đầu tư tàichính thường được thực hiện gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như ngânhàng, công ty chứng khoán Chủ đầu tư thường có kì vọng lớn vào hoạt động đầu tưcủa mình nhưng lợi nhuận của họ lại phụ thuộc vào tình hình làm ăn của công ty, tổchức mà họ đầu tư Hoạt động đầu tư này là kênh huy động vốn quan trọng cho nềnkinh tế và là một trong những loại hình đầu tư lựa chọn để tối đa hoá lợi ích, giảm thiểurủi ro cho các chủ đầu tư.

Đầu tư thương mại là loại đầu tư người có tiền mua hàng hóa và bán với giá cao

hơn để hưởng chênh lệch giá khi mua và khi bán Nếu không xét đến quan hê ̣ ngoa ̣ithương thì loa ̣i đầu tư này không ta ̣o ra hay làm tăng thêm tài sản cho nền kinh tế màchỉ làm tăng thêm tài sản tài chỉnh cho chủ đầu tư Mă ̣c dù vâ ̣y đầu tư thương ma ̣i la ̣igiúp cho quá trình lưu thông hàng hóa do đầu tư phát triển ta ̣o ra diễn ra mô ̣t cách linhhoa ̣t và dễ dàng hơn Qua đó, nó la ̣i làm cho đầu tư phát triển, tăng tích lũy vốn cho mở

rô ̣ng sản xuất kinh doanh di ̣ch vu ̣ của các đơn vi ̣ cũng như cả nền kinh

Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là tiển

đề, cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác Các hình thức đầu tư khác không thể tồn tại vàvận động nếu không có đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển là một hình thức đầu tư trực tiếp Hoạt động đầu tư này nhằm

duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống.Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất vàcung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng vàphát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia

Ba loại hình đầu tư này luôn luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ nhau Đầu tư phát triểntạo tiền đề để tăng tích lũy, phát triển 2 loại hình còn lại Ngược lại đầu tư tài chính vàđầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát triển

1.1.2 Đầu tư phát triển của doanh nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm đầu tư:

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn hiện tại để tiến

hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà

Trang 5

xưởng, thiết bị, cơ sở hạ tầng…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng,…), gia tăngnăng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.

Nội dung đầu tư phát triển ở phạm vi doanh nghiệp và phạm vi nền kinh tế có thể khác nhau Trên góc độ nền kinh tế, đầu tư phát triển phải làm gia tăng cho nền kinh

tế chứ không phải là hiện tượng chu chuyển tài sản giữa các đơn vị Ví dụ việc muabán tài sản cố định giữa các đơn vị , vẫn được xem là hoạt động đầu tư của đơn vị này, nhưng trên phương diện nền kinh tế, không có đầu tư tăng thêm mà chỉ chuyển

quyền sở hữu từ đơn vị này sang đơn vị khác.

Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều nguồn lực lớn Theo nghĩa hẹp, nguồn lực chođầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực bao gồm cả tiền vốn,đất đai, lao động, thiết bị, tài nguyên Như vậy, khi xem xét lựa chọn dự án đầu

tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư cần tính đúng tính đủ các nguồn lựctham gia

Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốnnhằm đạt những mục tiêu nhất định Trên quan điểm phân công lao động xã hội,

có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.Trên góc độ tính chất và mục đích, đối tượng đầu tư được chia thành hai nhómchính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận Trên góc độxem xét mức độ quan trọng đối tượng đầu tư chia thành : loại được khuyếnkhích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư Từ góc

độ tài sản, đối tượng đầu tư chia thành: những tài sản vật chất ( tài sản thực) vàtài sản vô hình

Kết quả của hoạt động đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhàxưỏng, thiết bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…)

và tài sản vô hình (phát minh sáng chế…) Các kết quả đạt được của đầu tư phát triểngóp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội Hiệu quả của đầu tư phát triểnphản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí chi ra để đạtđược kết quả đó Kết quả và hiệu quả của đầu tư phát triển cần được xem xét trênphương diện chủ đầu tư và xã hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích, pháthuy vai trò chủ động sáng tạo của chủ đầu tư, vai trò quản lý, kiểm tra giám sát của cơquan quản lý nhà nước các cấp

Trang 6

Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia,cộng đồng và nhà đầu tư Ở góc độ vĩ mô, đó là thúc đẩy tăng trưỏng kinh tế, góp phầngiảI quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội Ở góc độ vi

mô, đó là tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh củachủ đầu tư và chất lượng nguồn nhân lực

Đầu tư phát triển thường được thực hiện bởi 1 chủ đầu tư xác định Xác định rõ chủ đầu

tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nóiriêng Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao quản lý, sử dụng vốn đầu tư.Theo nghĩa đầy đủ, chủ đầu tư là người sở hữu vốn, ra quyết định đầu tư, quản lý quátrình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư và là người hưởng lợi thành quả đầu tư đó.Chủ đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tư, chịu trách nhiệm hoàn toàn vềnhững sai phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường môi sinh và do đó,

có ảnh hưởng quan trọng đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư

1.1.2.2Vai trò của đầu tư phát triển

đã cho rằng vốn đầu tư là yếu tố quyết định chủ yếu của số lao động hữư dụng và hiệuquả Việc gia tăng quy mô vốn đầu tư sẽ góp phần quan trọng trong việc gia tăng sảnlượng quốc gia và sản lượng bình quân mỗi lao động.Theo mô hình của Harrod-Domar,mức tăng trưởng của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào mức gia tăng vốn đầu tư thuần

Từ đó suy ra: ΔY=ICOR I

Trang 7

Trong đó :

ΔY :Mức gia tăng sản lượng

ΔK :Mức gia tăng vốn đầu tư

I :Mức đầu tư thuần

K :Tổng quy mô vốn của nền kinh tế

Y :Tổng sản lượng của nền kinh tế

ICOR:Là hệ số gia tăng vốn-sản lượng

Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ nét trong tiến trìnhđổi mới của nền kinh tế nước ta thời gian qua.Với chính sách đổi mới,các nguồn vốnđầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng hoá và gia tăng về quymô,tốc độ tăng truởng của nền kinh tế đạt được cũng rất thoả đáng Cuộc sống vật chất

và tinh thần của đại bộ phận dân cư ngày càng được cải thiện

+Đầu tư tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế:

Tác động đến cầu:

Tổng cầu của nền kinh tế AD = C + I + G +NX

Trong đó C: tiêu dùng I: đầu tư

Q=F(K,L,T,R….)

Trang 8

K:Vốn đầu tưL:Lao độngT:Công nghệR:Nguồn tài nguyên

Trong ngắn hạn tác động đến tổng cầu, tổng cung chưa kịp gia tăng.Làm cho giá tăng và sản lượng tăng Trong dài hạn tổng cung tăng lên tạo nên sự cânbằng, giá hàng hóa sẽ giảm xuống Sản lượng tăng trong khi giá giảm sẽ kích thích tiêudùng

+Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Thông qua các chính sách nhà nước tác động đến cơ cấu đầu tư, các chính sách

về thuế về tín dụng Chính sách đầu tư hợp lý sẽ tạo đà tăng trưởng và chuyển dịch cơcấu kinh tế Giữa đầu tư và tăng trưởng chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối quan hệkhăng khít tương trợ lẫn nhau Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nếu có chính sáchđầu tư hợp lý sẽ tạo đà cho sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỷ trọng phân

bổ vốn cho các ngành khác nhau sẽ mang lại kết quả và hiệu quả khác nhau.Vốn đầu tưcũng như tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành và các vùng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếpđến sự chuyển dịcg cơ cấu kinh tế ngành,cơ cấu kinh tế vùng và cũng đồng thời ảnhhưởng đến tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế Việc đầu tư vốn nhằm mụcđích mang lại hiệu quả kinh tế cao,tăng trưởng nhanh trên phạm vi toàn bộ nền kinh tếcũng sẽ dẫn đến hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý.Ngược lại tăng trưởng kinh tế cao kếthợp với việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào, địnhhướng đầu tư vào các ngành hiệu quả hơn

+Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học và công nghệ của mỗi quốc gia:

Đầu tư và đặc biệt là đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo chấtlượng và năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế và các đơn vị cơ sở.Chính vì vậy,đâu tư cũng là điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lực côngnghệ của quốc gia theo cơ cấu kỹ thuật của đầu tư Nhà nước chi ngân sách cho đầu tưphát triển khoa học công nghệ mới mặc dù vẫn còn nhỏ về quy mô và thấp về tỷ trọng(giai đoạn 2001-2005 là 7,6 nghìn tỷ đồng chiếm 0.9% vốn đầu tư toàn xã hội) Dù sao ở

Trang 9

đây cũng là một trong những biểu hiện của đầu tư và ở mức độ nhận định nó cũng cótạo ra và tăng cường năng lực khoa học công nghệ.

*Trên góc độ vi mô:

Đầu tư phát triển là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại của các cơ sở sản xuất.Việc đầu tư các trang thiết bị máy móc mới, thay thế các cơ sở vật chất đã lỗithời là một nhiệm vụ bắt buộc

1.1.3 Nội dung đầu tư phát triển của doanh nghiệp

Đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư những tài sản vật chất (tài sản thực) và đầu tưnhững tài sản vô hình

Đầu tư những tài sản vật chất gồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơbản) và đầu tư vào hàng tồn trữ Đầu tư phát triển tài sản vô hình gồm các nộidung: đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu triển khaicác hoạt động khoa học, kỹ thuật, đầu tư xây dựng thương hiệu, quảng cáo…Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định củadoanh nghiệp Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động chính như xâylắp và mua sắm máy móc thiết bị Trong doanh nghiệp, đặc biệt trong doanhnghiệp sản xuất kinh doanh, để các hoạt động diễn ra bình thường đều cần xâydựng nhà xưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc, mua và lắp đặt trên nền bệcác máy móc thiết bị…Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỷ trọngcao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị

Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ Hàng tốn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyênnhiên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanhnghiệp Tùy theo loại hình doanh nghiệp, quy mô và cơ cấu các mặt hàng tồn trữcũng khác nhau Nguyên vật liệu là một bộ phận hàng tồn trữ không thể thiếucủa doanh nghiệp sản xuất nhưng lại không có trong doanh nghiệp thương mạidịch vụ Tỷ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ trong tổng vốn đầu tư phát triển củadoanh nghiệp thương mại thường cao hơn các loại hình doanh nghiệp khác Dovậy, xác định quy mô đầu tư hàng tồn trữ tối ưu cho doanh nghiệp là rất cầnthiết

Đầu tư phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọngtrong nền kinh tế và doanh nghiệp Chỉ có nguồn nhân lực chất lượng cao mới

Trang 10

đảm bảo giành thắng lợi trong cạnh tranh Do vậy đầu tư nâng cao chất lượngnguồn nhân lực là rất cần thiết Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm đầu tưcho hoạt động đào tạo (chính qui, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồidưỡng nghiệp vụ…) đội ngũ lao động; đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe, y

tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động…Trảlương đúng và đủ cho người lao động cũng được xem là hoạt động đầu tư pháttriển

Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt độngkhoa học và công nghệ Phát triểnsản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi cần đầu tư cho các hoạtđộng nghiên cứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao Hiện khảnăng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ củadoanh nghiệp VN còn khá khiêm tốn Cùng với đà phát triển của kinh tế đấtnước và doanh nghiệp, trong tương lai tỷ lệ chi cho hoạt động đầu tư này sẽ ngàycàng tăng, tương ứng với nhu cầu và khả năng của doanh nghiệp

Đầu tư cho hoạt động marketing Hoạt động marketing là một trong những hoạtđộng quan trọng của doanh nghiệp Đầu tư cho hoạt động marketing bao gồmđầu tư cho hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu…Đầu tư cho hoạt động marketing cần chiếm một tỷ trọng hợp lý trong tổng vốnđầu tư của doanh nghiệp

1.2 Nguồn vốn và vốn của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm

Vốn(C) là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư Các nguồnlực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và tất cả các tài sảnvật chất khác

Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dưới dạng giá trịđược chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Đây là thuậtngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đápứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội

1.2.2 Bản chất vai trò của nguồn vốn đầu tư

Trang 11

Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ

mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội Điềunày được kinh tế học cổ điển ,kinh tế học chính trị Mac –Lênin và kinh tế học hiệnđại chứng minh

Trong tác phẩm “của cải của các dân tộc ” Adam Smith: Tiết kiệm là nguyên nhântrực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tiếtkiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa ,nhưng không có tiết kiệm thì vốnkhông bao giờ tăng lên”

Sang thế kỷ XIX,khi nghiên cứu về vấn đề cân đối kinh tế kinh tế ,về các mối quan

hệ giữa các khu vưc của nền sản xuất xã hội,về các vấn đề có liên quan trực tiếp đếntích luỹ,C.Mac đã chứng minh rằng : Trong một nền kinh tế với hai khu vực ,khuvực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng Cơ cấu tổnggiá trị của từng khu vực đều bao gồm (c+v+m) trong đó c là phần tiêu hao vật chất ,(v+m) là phần giá trị mới sáng tạo ra Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mởrộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v+m)của khu vực I lớnhơn tiêu hao vật chất (c) của khu vực II Tức là :

để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo

Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:

(c + v + m)II < (v + m)I + (v + m)II

Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sảnxuất ra của khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thỏa mãn, nền kinh tế mới có thểdành một phần thu nhập để tái sản xuất mở rộng Từ đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽgia tăng

Như vậy, để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô cho đầu tư,một mặt phải tăng cường sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng tiết kiệm tưliệu sản xuất ở cả hai khu vực Mặt khác, phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng

ở khu vực II, thực hành tiết kiệm trong sinh hoạt ở cả hai khu vực

Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của Mác, con đường cơbản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực

Trang 12

hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và trong tiêu dùng Hay nói cách khác, nguồn lựccho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất vàtích luỹ của nền kinh tế

Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được nhà kinh tế học hiệnđại chứng minh Trong tác phẩm nổi tiếng ‘ Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi xuất

và tiền tệ’ của mình, John Maynard keynes đã chứng minh được rằng: Đầu tư chínhbằng phần thu nhập mà không chuyển vào tiêu dùng Đồng thời ông cũng chỉ rarằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng:

Tức là:

Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư

Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng

Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng Trong đó,phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệmcủa chính phủ Điểm cần lưu ý là tiết kiệm và đầu tư xét trên góc độ toàn nền kinh tếkhông nhất thiết được tiến hành cùng bởi một cá nhân hoặc doanh nghiệp nào Cóthể có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có tích luỹ nhưng không trựctiếp tham gia đầu tư Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiệnđầu tư khi chưa hoặc tích luỹ chưa đủ Khi đó, thị trường vốn sẽ tham gia giải quyếtvấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sangcho người có nhu cầu sử dụng Ví dụ, nhà đầu tư có thể phát hành cổ phiếu, tráiphiếu ( nếu đáp ứng được một số điều kiện nhất định và tuân thủ quy trình thủ tụcnhất định ) để huy động vốn thực hiện một dự án đầu tư nào đó từ các doanh nghiệp,

hộ gia đình hay các cá nhân - người dư thừa hay tạm thời dư thừa vốn

Trang 13

Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phảibao giờ cũng được thiết lập Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầuđầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiệnđầu tư Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đónền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài Trong trường hợp này, mứcchênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai.

CA = S – I

Trong đó : CA là tài khoản vãng lai (current account)

Như vậy, trong nền kinh tế mở, nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ nội bộ của nềnkinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nướcngoài Khi đó, đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong nhữngnguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế Nếu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơnnhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia

đó có thể đầu tư vốn nước ngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng vốn của nền kinh tế

1.2.3 Vai trò của nguồn vốn đầu tư:

Để thực hiện hoạt động đầu tư phát triển thì phải có vốn Vốn là chìa khoá để thựchiện mọi mục tiêu của doanh nghiệp Vốn có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh

tế như máu trong cỏ thể người

Kế thừa những tư tưởng của những nhà kinh tế cổ điển, Mac đã trình bày nhữngquan điểm của mình vè vai trò của vốn qua các học thuyết : tích luỹ , tuần hoàn vàchu chuyển, tái sản xuất tư bản xã hội, học thuyết địa tô Đặc biệt Mac đã chỉ ranguồn gốc của vốn tích luỹ là lao động thặng dư do người lao động tạo ra, và nguồnvốn đó khi đem vào việc mở rộng và phàt triển sản xuất thì nó vận động như thếnào Khi nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mac đã tìm thấy quy luật vậnđộng tư bản (vốn) mà quy luật này nếu ta trừu tượng những biểu hiện cụ thể về mặt

xã hội thì sẽ thấy bổ ích rằng công thức:

T – H –(SLĐ-TLSX) SX H’ T’

Công thức đó đã chỉ ra rằng bất kì một doanh nghiệp nào muốn thực hiện quá trìnhsản xuất kinh doanh cũng đều phải trải qua 3 giai đoạn: Mua-Sản xuất-Bán hàng Vàđiều quan trọng cho mỗi người sản xuất, mỗi doanh nghiệp phải biết tìm cách cấutrúc một cách khôn ngoan các yếu tố của tiền vốn ,đầu tư nhằm tạo ra nhiều của cảinhất cho mỗi cá nhân , mỗi doanh nghiệp và của cả xã hội Công thức đó cũng chỉ ra

Trang 14

rằng trong dòng chảy liên tục của vốn đầu tư nếu như hình thái nào trong ba hìnhthái trên chưa đi vào chu trinh vận động liên tục của các hoạt động sản xuất kinhdoanh thì đồng vốn đó vẫn ở dạng tiềm năng, chứ nó chưa đem lại lợi ích thiết thựccho mỗi các cá nhân, mỗi doanh nghiệp và toàn xã hội Tích luỹ vốn (tư bản) theoMac là: “Sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản, hay chuyển hoá giá trị thặng dư trở lạithành tư bản ” Từ những phân tích trên Mac đã chỉ ra bản chất của quá trình tíchluỹ vốn trong các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa: “Một khi kết hợp được sức laođộng và đất đai tức là hai nguồn gốc đầu tiên của cải, thì tư bản có một sức bànhchướng cho phép nó tăng những yếu tố tích luỹ của nó lên quá những giới hạn mà

bề ngoài hình như do lượng của bản thân tư bản quyết định, nghĩa là do giá trị vàkhối lượng của những tư liệu sản xuất (trong đó tư bản tồn tại) đã được sản xuất raquyết định”

Yêu cầu khách quan của tích luỹ vốn đã được Mac khẳng định do những nguyênnhân sau :”Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thìquy mô tối thiểu mà một tư bản cá biệt phải có để có thể kinh doanh trong điều kiệnbình thường cũng tăng lên.”

Từ đó Mac khẳng định :” Sự cạnh tranh bắt buộc nhà tư bản nếu muốn duy trì tưbản củ mình thì phải làm cho tư bản ngày càng tăng thêm mẫi lên và không thể nàotiếp tục làm cho tư bản đó ngày càng tăng lên được nếu không có sự tích luỹ ngàycàng nhiều thêm” Mac còn chỉ ra rằng những nhân tố quy định quy mô của tíchluỹ : khối lượng giá trị thặng dư (lơị nhuận) năng suất lao động xã hội và quy môvốn ban đầu (lượng tư bản ứng trước)

Như vậy, cùng với lao động, vốn (tư bản) là một trong các yếu tố đầu vào sản xuất

ra hàng hoá, dịch vụ.Công nghệ sản xuất hiện có quyết định mức sản lượng đượcsản xuất ra từ một lượng tư bản và lao động nhất định Hàm này cho biết các nhân tốsản xuất quyết định mức sản lượng được sản xuất ra như thế nào Nếu kí hiệu Y làsản lượng thì ta có hàm sản xuất như sau:

Y = F(K,L)

Phương trình này nói rằng sản lượng là một hàm của khối lượng tư bản và lao động.Tức là hàng hoá, dịch vụ được tạo ra phu thuộc vào lượng tư bản sẵn có Nhiều tưbản cho phép sản xuất nhiều sản phẩm hơn

* Vốn là yếu tố quan trọng đồi với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế

Trên thị trường vốn

Trang 15

Ta có đẳng nhất thức nền kinh tế quốc dân như sau:

Y – C – G = I

Dưới hình thức này, đồng nhất thức của tài khoản kinh tế quốc dân phản ánhtiết kiệm bằng đầu tư Chúng ta có thể tách tiết kiệm quốc dân thành hai phần, nhằmphân biệt tiết kiệm của hộ gia đình và tiết kiệm của chính phủ:

(Y-C-T)+(T-G)=I

Trong đó T là thuế

Biểu thức (Y-C-T) là tiết kiệm tư nhân

Biểu thức (T-G) là tiết kiệm chính phủ

Nếu chi tiêu nhiều hơn thu, chính phủ bị thâm hụt ngân sách thì tiết kiệm công cộngmang dấu âm

Tiết kiệm quốc dân bằng tiết kiệm chính phủ cộng tiết kiệm tư nhân

Trên thị trường tài chính

Lãi suất vừa là chi phí đi vay vừa là lợi ích đi vay Chính vì thế nó đóng vai trò điềuchỉnh cân bằng trên thị trường vốn, đồng thời nó cho thấy vai trò của tiết kiệm đốivới tăng trưởng kinh tế

S(r) = I(r)

Bất kì sự thay đổi nào ảnh hưởng đến cung vốn sẽ ảnh hưởng đến lãi suất và thôngqua đó ảnh hưởng đến đầu tư Nếu chính phủ thực hiện chính sách tài khoá thắt chặtlàm tiết kiệm chính phủ tăng, đường cung vốn dịch sang phải dẫn tới lãi suất giảm,đầu tư tăng làm sản lượng tăng Như vậy, sự cắt giảm tiêu dùng sẽ giải phóng nguồnlực cho đầu tư

Một nghiên cứu khác cũng khẳng định vai trò của vốn đầu tư đến tăng trưởng vàphát triển kinh tế, đó là hệ số ICOR

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy : muốn giữ tốc độ tăng truởng ởmức trung bình thì tỉ lệ đầu tư phải đạt được ở mức từ 15 đến 20 so vớI GDptuỳ thuộc vào ICOR của từng nước

ICOR = Vốn đầu tư / GDP do vốn tạo ra

Từ đó suy ra:

Mửc tăng GDP = Vốn đầu tư / ICOR

Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư

1.3 Nguồn vốn trong doanh nghiệp

1.3.1 Nguồn vốn chủ sở hữu

1.3.1.1 Vốn ban đầu:

Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốnban đầu nhất định, do các cổ đông_ chủ sở hữu góp Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu

Trang 16

của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vìhình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của nhà nước.Chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước chính là nhà nước Hiện nay, cơ chế quản lítài chính nói chung và quản lí vốn của doanh nghiệp nhà nước nói riêng đang có nhữngthay đổi để phù hợp với tình hình thực tế

Đối với doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp chủ sở hữu phải có số vốn cần thiết

để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp Trong thực tế, vốn tự có của chủ doanh nghiệpbao giờ cũng lớn hơn rất nhiều vốn pháp định, nhất là sau một thời gian hoạt động và

mở rộng hoạt động kinh doanh Chẳng hạn với công ty cổ phần, vốn do các cổ đôngđóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty Mỗi một cổ đông đóng góp là mộtchủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắmgiữ Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau do đó,cách thức huy động vốn của các công ty này cũng khác nhau

1.3.1.2 Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia:

Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mởrộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tài trợ bằng lợi nhuận không chia - nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tàichính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm đước chiphí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài

Để có được lợi nhuận để lại thì trước tiên doanh nghiệp phải đang hoạt động, có lợinhuận và được phép tiếp tục đầu tư Đối với doanh nghiệp nhà nước việc tái đầu tư cònphụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của nhà nước

Đối với công ty cổ phần việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố nhạy cảm Đó

là mối quan hệ giữa việc chi trả cổ tức và giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư Khi công ty đểlại lợi nhuận, tức là cổ đông không được nhận cổ tức, bù lại họ có quyền sở hữu số cổphần tăng lên của công ty

Trang 17

Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tài trợ bằng nguồnvốn nội bộ Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặtkhác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kì trước mắt (ngắn hạn) do cổđôg chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn Nếu tỷ lệ chi trả cố tức thấp, hoặc số lãiròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm sút.

Khi giải quyết vấn đề này cần lưu ý một số yếu tố có liên quan như:

- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ

- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước

- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của công ty,tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó

- Hiệu quả của việc tái đầu tư

Sau khi phát hành phần lớn cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư- các cổ đông Những

cổ phiếu này gọi là những cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường Công ty phát hành cóthể mua lại những cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó, chúng đượcgọi là cổ phiếu ngân quỹ Việc mua bán những cổ phiếu này phụ thuộc vào một sổ yếu

tố như:

Tình hình biến động vốn và khả năng đầu tư

Tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường

Ngày đăng: 25/07/2013, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w