“Tư tưởng chủ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN”. Đó chính là lời khẳng định của Đảng tại Đại Hội VI (1986) về việc đổi mới cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Từ sau Đại Hội VI đến nay nước ta phát triển nền kinh tế hị trường (KTTT) được 16 năm và đã đạt được nhiều thành tựu, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế hàng năm khá cao, năm 1990: 5.1%; 1991: 5.9%;1999: 4.8%; 2000: 6.8% và rất cao vào những năm 1994: 8.84%; 1995: 9.54%; 1996: 9.34%. Các thành tựu của nền kinh tế còn được đánh giá qua sự phát triển toàn diện của xã hội: Việt Nam được coi là đất nước hòa bình và ổn định về chính trị, xã hội; Hà Nội được bầu là thành phố hòa bình, nhiều hội nghị quốc tế quan trọng đã được tổ chức ở Việt Nam,… tất cả điều đó nói lên sự tin tưởng của bạn bè thế giới đối với đất nước ta.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
“Tư tưởng chủ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóngmọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước
và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sảnxuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN” Đó chính là lờikhẳng định của Đảng tại Đại Hội VI (1986) về việc đổi mới cơ chế quản lý tậptrung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường
Từ sau Đại Hội VI đến nay nước ta phát triển nền kinh tế hị trường(KTTT) được 16 năm và đã đạt được nhiều thành tựu, tốc độ tăng trưởng nềnkinh tế hàng năm khá cao, năm 1990: 5.1%; 1991: 5.9%;1999: 4.8%; 2000:6.8% và rất cao vào những năm 1994: 8.84%; 1995: 9.54%; 1996: 9.34% Cácthành tựu của nền kinh tế còn được đánh giá qua sự phát triển toàn diện của xãhội: Việt Nam được coi là đất nước hòa bình và ổn định về chính trị, xã hội; HàNội được bầu là thành phố hòa bình, nhiều hội nghị quốc tế quan trọng đã được
tổ chức ở Việt Nam,… tất cả điều đó nói lên sự tin tưởng của bạn bè thế giớiđối với đất nước ta
Tuy nhiên nền kinh tế cũng phải đối mặt với những vấn đề nóng bỏngnhư lạm phát, thất nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh, v.v….Nhà nước ta chủtrương phát triển nền KTTT theo định hướng XHCN đây là một khó khăn rấtlớn bởi nền kinh tế chúng ta mới là “ định hướng XHCN, đang trong thời kì quá
độ còn quá non trẻ, do đó việc giải quyết các mâu thuẫn thị trường rất khó khăn
Đâu sẽ là giải pháp cho nền kinh tế nước ta? Lúc này chúng ta mới nhắcđến vai trò của Nhà nước như là nhân tố trung tâm trong việc duy trì ổn địnhcủa KTTT thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô Trong nền KTTT chúng taphải làm gì để Nhà nước thực hiện tốt vai trò của mình? Chính vì vậy tôi chọn
đề tài: “Tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước là nhân tố quan trọng để hình thành và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế mới ở nước ta hiện nay”
làm đề tài của mình
Trang 2Đề án của em được hoàn thành dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ về nội dung và tài liệu của thầy Lê Việt – giảng viên chính trực tiếp của em về bộ môn kinh tế chính trị
Em xin chân thành cảm ơn và mong được chỉ bảo thêm của thầy!
Trang 3I LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC.
1 Sự cần thiết khách quan về vai trò kinh tế của Nhà nước nói chung.
1.1 Lịch sử ra đời vai trò kinh tế của Nhà nước qua các thời đại lịch sử:
Nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị được sử dụng để duy trì trật tự
xã hội sao cho phù hợp với lợi ích của chính giai cấp thống trị Trong lịch sử từkhi xuất hiện kiểu Nhà nước đầu tiên đến nay không có Nhà nước nào hoàntoàn tách rời các quá trình kinh tế bởi Nhà nước nào cũng dựa trên cơ sở kinh tếnhất định Thật ra lịch sử đã chứng minh chức năng kinh tế của Nhà nước đượcphôi thai ngay từ buổi ban đầu, khi Nhà nước chỉ vừa xuất hiện ở các thời kìkhác nhau, ở các chế độ khác nhau, do tính chất Nhà nước khác nhau nên vaitrò và chức năng kinh tế của Nhà nước có biểu hiện khác nhau
Trong thời đại chiếm hữu nô lệ Nhà nước chủ nô đã trực tiếp dùngquyền lực của mình can thiệp vào việc phân phối của cải được sản xuất ra.Trong thời đại của Nhà nước chủ nô, của cải được sản xuất ra bởi những người
nô lệ dưới sự chỉ huy điều khiển quá trình sản xuất của giai cấp chủ nô, nhưngkhối lượng của cải ấy không được phân phối mà bị giai cấp chủ nô chiếm đoạtbằng bạo lực, các thủ đoạn bạo lực phi kinh tế ở đây được sử dụng làm công cụchiếm đoạt, cưỡng bức kinh tế
Trong thời đại phong kiến Nhà nước phong kiến không chỉ can thiệp vàoviệc phân phối của cải mà còn đứng ra tập hợp lực lượng nhân dân xây dựng kếtcấu hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp, khuyến khích quan lại đi mở mang cácvùng đất mới để ra các chính sách ruộng đất thích hợp với từng thời kì Nhìnchung các hoạt động này diễn ra một cách tự phát Tuy nhiên chức năng quản lýkinh tế được các Nhà nước phong kiến phương Đông nhận thức sớm hơn so vớicác Nhà nước phong kiến phương Tây
Phương thức sản xuất phong kiến tan rã, chủ nghĩa tư bản (CNTB) rađời, tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản xuất hiện trong giai đoạn này
là chủ nghĩa trọng thương Tư tưởng xuất phát của chủ nghĩa trọng thương chorằng: Tiền là nội dung căn bản của của cải, là tài sản thật sự của một quốc gia
Trang 4Do đó mục tiêu chủ yếu của các chính sách kinh tế của mỗi nước là tăng giakhối lượng tiền tệ và Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạtđộng ngoại thương để ngày càng tạo ra nhiều của cải cho xã hội.
Chủ nghĩa trọng thương đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã ngay từđầu thế kỉ XVII, trước hết là ở Anh Những sự kiện kinh tế - xã hội, khoa học ởcuối thế kỉ XVII như cách mạng tư sản Anh đã chứng tỏ thời kì tích lũy ban đầucủa chủ nghĩa tư bản đã kết thúc và thời kì sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN)bắt đầu Tính chất phiến diện của học thuyết trọng thương trở nên quá rõ ràngđòi hỏi phải có lý luận mới để đáp ứng với sự vận động và phát triển của sảnxuất TBCN Trên cơ sở đó, chính trị kinh tế học cổ điển Anh ra đời, tiêu biểucho trường phái này là nhà kinh tế chính trị cổ diển Anh Adamsmith (1723 -1790) với thuyết “ bàn tay vô hình” và nguyên lý “ Nhà nước không can thiệp”vào hoạt động của nền kinh tế
Tuy nhiên đầu những năm 30 của thế kỉ XX, khủng hoảng kinh tế rổ rathường xuyên, đặc biệt là khủng hoảng 1929 – 1933 đã chứng tỏ rằng “ bàn tay
vô hình” không thể đảm bảo điều kiện ổn định cho kinh tế thị trường phát triển
Từ đó nhiều trường phái kinh tế chính trị tư sản lần lượt xuất hiện, tiêu biểu làcác trường phái kinh tế chính trị mới, trường phái Keynes, chủ nghĩa tự do mớiv.v… trong đó tiêu biểu là trường phái keynes – John Menard Keynes (1884 -1946) đã đưa ra thuyết “ Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường” hay còn gọi
là “ Bàn tay hữu hình” Theo thuyết này để hạn chế khủng hoảng thất nghiệp,đảm bảo cho sự cân bằng kinh tế thì phải có sự can thiệp của Nhà nước vàokinh tế cả ở tầm vĩ mô và vi mô Song những chấn động lớn vẫn diễn ra và ngàycàng trầm trọng Điều này làm tăng làn sóng phê phán lý thuyết của Keynes vàlàm xuất hiện tư tưởng phối hợp “bàn tay vô hình” với Nhà nước để điều chỉnhnền KTTT Nổi bật là quan điểm “kinh tế hỗn hợp” của Paul Samuelson (1915),một nhà kinh tế người Mỹ Theo đó, cơ chế thị trường xác định giá cả và sảnlượng, trong khi đó chính phủ điều tiết thị trường bằng các chương trình thuế vàluật lệ, cả chính phủ và thị trường đều có vai trò quan trọng thiết yếu Chính vìvậy vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước ngày càng được xác lập và nâng cao
Trang 5Qua những điều trên ta nhận thấy rằng cho dù có nhiều thuyết khác nhaunhưng không ai phủ nhận được vai trò kinh tế của Nhà nước trong việc ổn định
và phát triển nền KTTT
1.2 Tính tất yếu khách quan trong việc xuất hiện vai trò kinh tế của Nhà nước:
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máychuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệtnhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện những mục đích của giai cấp thống trị vàbảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị đó trong xã hội Tuy nhiên Nhà nước còn làlực lượng quản lý toàn bộ xã hội, đảm bảo cho toàn xã hội phát triển Nhà nước
có vai trò về kinh tế, chính trị, đời sống xã hội; và vai trò kinh tế là một trongnhững vai trò quan trọng của Nhà nước Cùng với sự phát triển của khoa học kĩthuật hiện đại, nhiều loại công cụ lao động tiên tiến đã được sử dụng trong cáclĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp,… đã ngày càng tạo ra được khốilượng sản phẩm lớn Trên thị trường xuất hiện nhiều doanh nghiệp cùng sảnxuất một loại sản phẩm vì thế đã xuất hiện sự cạnh tranh không lành mạnh giữacác doanh nghiệp Vì vậy cần sự điều tiết của xã hội đối với sản xuất nhằm hạnchế sự cạnh tranh không lành mạnh
Mặc dù nền KTTT có những ưu điểm to lớn không thể phủ nhận đượcnhưng nó cũng nảy sinh nhiều nhược điểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đếnsản xuất và đời sống xã hội:
Sản xuất mù quáng gây ra khủng hoảng (thừa, thiếu): Các nhà sảnxuất vì mục tiêu lợi nhuận đã sản xuất ra khối lượng sản phẩm lớn, vượt quánhu cầu của thị trường; trong khi đó khả năng mua sắm của dân cư có hạn, dầndần dẫn đến sự khủng hoảng trên thị trường hàng hóa – dịch vụ
Các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hoạt động không thể tránhkhỏi sự cạnh tranh không lành mạnh, đã làm phá sản nhiều doanh nghiệp Cácdoanh nghiệp có thể dùng nhiều thủ đoạn, thế lực để gây khó khăn cho nhaunhằm hạn chế nhau Các doanh nghiệp phá sản sẽ dẫn theo tỷ lệ thất nghiệp
Trang 6tăng nhanh, khiến cho đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn, tệ nạn xãhội phát triển nhanh.
Cũng vì mục tiêu lợi nhuận nên một số ngành phát triển được nhiềudoanh nghiệp trú trọng đầu tư Các ngành có lợi nhuận thấp hơn rất ít được trútrọng đầu tư Chính hiện tượng này đã dẫn đến việc đầu tư không cân đối giữacác ngành, nền kinh tế phát triển lệch lạc Mặt khác cũng tạo ra sự phát triểnkhông cân đối giữa các vùng trên một lãnh thổ Có những vùng dân cư tậptrung đông do có nền kinh tế phát triển, nhưng có những vùng dân cư tập trungquá thưa thớt cũng gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, người lao động có thunhập ngày càng tăng Tuy nhiên sự tăng lên này không đều giữa các bộ phậndân cư đã dẫn đến sự phân hóa thu nhập ngày càng sâu sắc Đây là một khuyếttật to lớn của nền KTTT Bộ phận người giàu vẫn có thu nhập ngày càng cao;còn bộ phận người nghèo, người lao động có thu nhập đã cao hơn so với trướcđây nhưng nhìn chung thì vẫn còn thấp Sự phân hóa thu nhập đi liền với sựphân hóa giàu nghèo Trong xã hội xuất hiện hai bộ phận đối lập với nhau về lợiích là người giàu và người nghèo
Các doanh nghiệp trong quá trinhg sản xuất đã cố ý, hoặc không cố ýgây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Sự ô nhiễm môi trường đất, nướckhông khí, tiếng ồn,… ngày càng gia tăng nhanh Hiện tượng phá rừng bừa bãi,khai thác tài nguyên không hợp lý đã đến mức báo động Nhiều doanh nghiệpkhông chú ý đầu tư cho hệ thống sản xuất nhằm hạn chế sự thải chất độc rangoài môi trường, cũng một phần do sự đầu tư này khá tốn kém
Trong nền KTTT, do mục tiêu trên hết là lợi nhuận, là tiền vì vậy conngười có thể dùng nhiều thủ đoạn để kiếm được lời lãi, mà không để ý gì đếnhậu quả mà công việc của mình đã gây ra cho môi trường Do đó đã làm choquan hệ của con người dễ bị bóp méo, và thường bị chi phối bởi dục vọng thấphèn nhằm hạn chế đối phương và trục lợi cá nhân Chính vì vậy mà các tệ nạn
xã hội, việc thanh toán lẫn nhau,… ngày càng gia tăng trong xã hội
Trang 7Chính vì những ưu, nhược điểm này mà cần có sự quản lý của Nhà nướcnhằm cân bằng lại thị trường và xã hội, với mục đích là ngày càng làm cho nềnkinh tế phát triên cân đối bền vững, và làm cho xã hội ngày càng ổn định.
2 Sự hình thành cơ chế quản lý Kinh tế mới ở Việt Nam:
2.1 Cơ chế quản lý Kinh tế trước năm 1980:
Sau khi miền Bắc được hoàn tờn giải phóng (1954) Nhà nước bắt tay bàokhôi phục và xây dựng nền khinh tế miền Bắc đi lên con đường XHCN Dựavào kinh nghiệm của các nước XHCN đi trước, đất nước ta đã bắt đầu xây dựng
mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung dựa trên hình thức sở hữu công cộng về
tư liệu sản xuất (TLSX)
Vấn đề chủ yếu của cơ chế quản lý Kinh tế giai đoạn này là: Kế hoạchhóa được coi là cơ chế quản lý với kế hoạch là công cụ số một, có tính chấtpháp lệnh bắt buộc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với tất cả các ngành, các cấp,các tổ chức kinh tế xã hội, các đơn vị kinh tế và công dân Luật pháp về kinh tế(mới có rất ít) và các công cụ quản lý khác đều được xếp sau công cụ kếhoạch Nhà nước quản lý trực tiếp bằng các chỉ tiêu kế hoạch mang tính chấtpháp lệnh, quy định tỉ mỉ và chặt chẽ: Sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, phânphối như thế nào,…Doanh nghiệp Nhà nước chỉ có nhiệm vụ chấp hành cácmệnh lệnh sắp xếp đó Mọi sự thay đổi trong kế hoạch và tổ chức thực hiệnđều phải báo cáo lên cơ quan có trách nhiệm và khi được chấp nhận mới đượctriển khai Nhà nước thực hiện chế độ bao cấp với mọi đơn vị cấp dưới và cácdoanh nghiệp Nhà nước Đầu vào của doanh nghiệp do Nhà nước cấp pháthoàn toàn, do vậy toàn bộ sản phẩm làm ra đều phải giao nộp lại cho Nhà nước
để Nhà nước phân phối
Từ quan điểm lịch sử mà xét thì cơ chế kế hoạch hóa đã góp phần đắclực trong việc động viên nhân tài, vật lực phục vụ cho các nhiệm vụ sản xuất
và chiến đấu phù hợp với đặc điểm tình hình lịch sử của đất nước ta trong hoàncảnh chiến tranh và sau chiến tranh đất nước còn nhiều khó khăn Nhà nướcquản lý được tập trung thống nhất và giải quyết được những nhu cầu công
Trang 8cộng của xã hội và an ninh Hạn chế được sự phân hóa giàu nghèo và bất công
xã hội, tập trung nguồn lực để giải quyết được những cân đối lớn của nền Kinh
tế Quốc dân
Tuy vậy sau năm 1975, khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng thốngnhất, khi tình hình trong nước cũng như tình hình thế giới đã có nhiều biến đổi.Chúng ta đã không kịp thời thay đổi cơ chế quản lý cho phù hợp, trái lại vẫnvẫn tiếp tục duy trì cơ chế cũ ở miền Bắc và áp dụng nguyên xi vào miền Nam
Vì vậy nhiều hậu quả với những tác hại khôn lường đã xảy ra: Động lực củangười lao động và cán bộ quản lý bị triệt tiêu, do Chủ nghĩa bình quân trongphân phối nên người lao động không năng động, sáng tạo, không nhiệt tìnhlàm việc, không quan tâm tới tiết kiệm vật tư, nguyên liệu,… cho nên năngsuất lao động ngày càng giảm và chi phí trên một đơn vị ngày càng tăng
- Hiệu quả kinh tế thấp Do chỉ sản xuất theo kế hoạch mà kế hoạch lạikhông thể bao quát toàn bộ mọi nhu cầu của nền kinh tế và xã hội Vì thế chonên sản xuất không phù hợp với tiêu dùng (có cái thì thừa, lại có thứ thì thiếu),
đã gây ra lãng phí rất lớn Do không có cạnh tranh cần thiết nên kỹ thuật, côngnghệ chậm được đổi mới Các doanh nghiệp làm ăn tốt không được tạo điềukiện phát triển mạnh, còn các doanh nghiệp làm ăn kém không bị đào thải kịpthời Bao bì đóng gói sản phẩm không được đổi mới mẫu mã, vì vậy chấtlượng sản phẩm, mẫu mã ngày càng kém giá thành lại ngày càng cao Do hạchtoán mang nặng tính hình thức dẫn đến tình trạng lỗ lãi không rõ ràng Tất cảnhững điều này làm cho hiệu quả kinh tế chung ngày càng giảm sút rõ ràng
- Hàng hóa trên thị trường thiếu hụt trầm trọng do việc phân phối địnhlượng theo tem phiếu Giá cả hàng hóa được quy định thấp một cách giả tạo
và sự chia cắt thị trường theo kiểu “cát cứ” địa phương
- Nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, sản xuất đình đốn, giá cả leo thangdẫn đến lạm phát, đời sống nhân dân khó khăn Tốc độ gia tăng vốn cho sảnxuất giảm sút (do viện trợ từ các nước ngoài trong thời kỳ chiến tranh naykhông còn nữa), không theo kịp tốc độ giảm sút năng suất lao động đã làm
Trang 9cho lạm phát lên đến 700%, khiến giá cả tăng vọt gấp hàng chục lần bìnhthường, đời sống của người lao động càng khó khăn hơn.
Chính tình hình trên đã gây áp lực rất mạnh mẽ từ dưới lên trên nhằmđưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng , từng bước ổn định và nâng cao đờisống nhân dân
2.2 Cơ chế thị trường:
Khi nói tới cơ chế thị trường là nói tới bộ máy tự điều tiết quá trình sảnxuất và lưu thông sản xuất và lưu thông hàng hóa, điều tiết sự vận động củanền kinh tế thị trường
Cơ chế thị trường là một khái niệm rộng, dựa trên Kinh tế chính trị Mac–Lênin thì “cơ chế thị trường là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môi trường,động lực và quy luật phân phối sự vận đông của thị trường” ( Kinh tế Chính trịhọc, NXB Sự Thật, Hà Nội 1993, trang 65), “Cơ chế thị trường là một hìnhthức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người dùng và các doanh nghiệp tácđộng qua lại lẫn nhau trên thị trường để xác định vấn đề trung tâm của tổ chứckinh tế là: Sản xuất cái gì ? Sản xuất như thế nào ? Và sản xuất cho ai ?” Cũng
có thể khái quát cơ chế thị trường là “bộ máy” kinh tế điều tiết toàn bộ sự vậnđộng của kinh tế thị trường, điều tiết quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóathông qua sự tác động của các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường Đặcbiệt là quy luật giá trị – quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thônghàng hóa
Cơ chế thị trường không phải là một sự hỗn độn mà là một trật tự kinh
tế, là bộ máy tinh vi phối hợp một cách không có ý thức hoạt động của ngườitiêu dùng và người sản xuất thông qua hệ thống giá cả thị trường Cơ chế thịtrường bao gồm các nhân tố cơ bản là “cung”, “cầu” và “giá cả thị trường”
Cầu là nhu cầu của xã hội về hàng hóa được biểu hiện trên thị trường ởmột mức giá nhất định, nó bị giới hạn bởi khả năng thanh toán của dân cư Hay
Trang 10cụ thể hơn cầu là lượng một mặt hàng mà người mua muốn mua ở một mứcgiá nhất định Khi giá cả càng cao thì lượng hàng hóa mà người mua muốnmua càng ít và ngược lại giá cả càng thấp thì lượng hàng hóa mà người muamuốn mua càng nhiều.
Cung là lượng hàng hóa có trên thị trường và có thể đưa đến thị trường
ở một mức giá nhất định Nói một cách cụ thể hơn, cung là lượng một mặthàng mà người bán muốn bán ở một mức giá nhất định Trong điều kiện cácyếu tố ảnh hưởng đến cung một loại hàng hóa không thay đổi, nếu giá cả hànghóa càng cao thì người sản xuất càng cung cấp cho thị trường một lượng hànghóa nhiều và ngược lại
Giữa các nhân tố của cơ chế thị trường có mối quan hệ mật thiết vớinhau Giá cả thị trưòng phản ánh tương quan cung – cầu, còn các yếu tố cung,cầu đều phụ thuộc vào giá cả thị trường Cơ chế thị trường có những ưu điểm
to lớn có tác động đến toàn bộ nền kinh tế hàng hóa
Khi cơ chế thị trường phát triển thì kích thích mạnh việc áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hóa sảnxuất
Kinh tế thị trường lấy lợi nhuận siêu ngạch làm động lực hoạt động.Chính động lực này là nguyên nhân kích thích hoạt động của các chủ thể kinh
tế, nó đòi hỏi các doanh nghiệp thường xuyên hạ thấp chi phí lao động cá biệtxuống thấp hơn chi phí lao động xã hội cần thiết Điều này đòi hỏi phải nângcao năng suất lao động trên cơ sở áp dụng những thành tựu mới của khoa học
kỹ thuật công nghệ sản xuất
Cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanhchóng Sở dĩ như vậy vì trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc: Ai đưa
ra thị trường một loại hàng hóa mới và đưa ra sớm nhất sẽ thu được lợi nhuậncao nhất Điều đó tất yếu đòi hỏi phải năng động thường xuyên
Trang 11Trong nền kinh tế thị trường hàng hóa rất đa dạng, phong phú cả về mẫu
mã, chất lượng, kích cỡ, giá cả,…Chất lượng hàng hóa không ngừng đượcnâng cao để đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất văn hóa và sựphát triển toàn diện của mọi thành viên trong xã hội
Tuy nhiên nền kinh tế thị trường cũng tồn tại không ít các nhược điểm
mà hiện nay cần khắc phục
Do chạy theo lợi nhuận tối đa nên giữa các doanh nghiệp có sự cạnhtranh không lành mạnh: Đầu cơ, buôn lậu và lối sống duy vật chất, xem thườngtruyền thống và các chuẩn mực đạo đức của xã hội Trong xã hội khó tránhkhỏi sự lừa gạt lẫn nhau, sự giành giật thị trường, hợp đồng của nhau để gây ra
sự phá sản của các doanh nghiệp Chính sự cạnh tranh không lành mạnh này
đã dẫn đến sự bất ổn định trong nền kinh tế, dần dần dẫn đến sự bất ổn địnhcủa toàn xã hội
Vì động cơ lợi nhuận cho nên số nhu cầu công cộng rất cần cho xã hội
và mọi người nhưng lợi nhuận thấp hoặc không có nên không có doanh nghiệpnào thực hiện, những yêu cầu về an ninh quốc phòng và xã hội không đượcgiải quyết thỏa đáng
Cũng vì mục đích lợi nhuận là tối đa và duy nhất nên các doanh nghiệp
đã lạm dụng tài nguyên quốc gia, tàn phá đất đai, rừng đầu nguồn, ô nhiễmkhông khí, đất đai Lượng khí thải công nghiệp thải ra bầu khí quyển ngàycàng nhiều đã làm cho nhiệt độ trái đất ngày càng nóng lên, gây ra lũ lụt, hạnhán ở nhiều nơi trên trái đất Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp nhanh chóngkhiến cho đất đai bị xói mòn, ngày càng bị xa mạc hóa
Kinh tế thị trường tạo ra sự phân hóa giai cấp do đó đã làm tăng thêmmâu thuẫn giai cấp Tác động của kinh tế thị trường đã dẫn đến tình trạng một
bộ phận người trở lên giàu có, còn một số người khác lại nghèo đi, trở thànhnhững người làm thuê Sự ngăn cách giàu nghèo ngày càng mở rộng, tỉ lệngười thất nghiệp ngày càng tăng Sự đối kháng về kinh tế là cơ sở của đấutranh giai cấp
Trang 12Khủng hoảng sản xuất là căn bệnh cố hữu của các nền kinh tế thị trườngphát triển Do mức cung hàng hóa vượt quá mức cầu có thể thanh toán dẫn đếntình trạng dư thừa hàng hóa, dẫn đến khủng hoảng sản xuất “ thừa” Các cuộckhủng hoảng luôn mang tính chu kì Nguyên nhân của tình trạng đó là do mâuthuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này đượcthể hiện ở tính cao độ trong từng doanh nghiệp với tính vô chính phủ trên toàn
bộ nền sản xuất xã hội
2.3 Sự vận dụng cơ chế thị trường vào Việt Nam:
Thực ra mầm mống của sự đổi mới nền kinh tế, đặc biệt là đổi mới về
cơ chế quản lý ở nước ta đã xuất hiện từ đầu thập kỉ 80 Song phải tới đại hộilần thứ VI của Đảng (Tháng 12 - 1986) mới có những nhận thức mới và thayđổi quan điểm
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở Việt Nam được thực hiện thông qua quátrình phi tập trung hóa, bao hàm 3 khía cạnh chính:
Thứ nhất: Tạo ra các đơn vị hành chính, kinh tế tương đối độc lập
nhằm phân chia trách nhiệm trong việc cung cấp các dịch vụ công cộng thiếtyếu nhất, mà thiếu nó thì không một xã hội nào tồn tại được
Thứ hai: Công nhận quyền sở hữu tư nhân, quyền được thuê khoán
của tư nhân đối với một số phương tiện sản xuất cụ thể Chủ yếu là đất canh tácnông nghiệp Nước ta đã thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, nềnkinh tế cá thể và tư nhân ngày càng được khuyến khích phát triển mạnh mẽ Cácdoanh nghiệp Nhà nước cố gắng nâng cao hiệu quả kinh tế của mình, cố gắnglàm cho kinh tế quốc doanh thực sự giữ vai trò chủ đạo trong một số ngành vàtrong lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Nhà nước ban hành nhiều quyết định,chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp tích cực làm ăn, mở rộng sảnxuất kinh doanh
Thứ ba: tự do hóa giá cả từng bước nhằm làm cho người sản xuất
nhạy cảm hơn với nhu cầu thị trường Nhờ đó, tự do hóa giá cả đem lại sức
Trang 13sống mới cho sản xuất Nhà nước không can thiệp sâu vào việc định mức giá cảcho các loại hàng hóa trên thị trường mà để cho thị trường tự điều tiết, làm cânbằng mức giá hàng hóa.
Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hóa hay cơchế tập trung quan liêu bao cấp, sang cơ chế thị trường và sự phát triển của cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN ngày cànglàm cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế– xã hội của đất nước Tuy nhiên trong nền kinh tế cũng bộc lộ nhiều tiêu cực
vì vậy càng cần thiết phải có sự quản lý của Nhà nước về kinh tế để dần hạnchế những tiêu cực đó
II VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ MỚI
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1 Sự cần thiết tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước Việt Nam trong
cơ chế mới.
1.1 Các đặc trưng cơ bản của nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta:
KTTT định hướng XHCN thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựatrên những nguyên tắc và quy luật của KTTT, vừa dựa trên những nguyên tắc
và bản chất của CNXH Do đó nền kinh tế ở nước ta ngoài những đặc trưngvốn có của nền KTTT còn có những đặc trưng cơ bản rất riêng của CNXH vàhoàn cảnh thực tế ở nước ta Đó là:
Về chế độ sở hữu:
Cốt lõi của KTTT là sản xuất hàng hóa trao đổi mua bán hàng hóa, dịch
vụ trên thị trường theo nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi Theonguyên tắc trên, sản xuất và trao đổi chỉ xảy ra khi mọi chủ thể tham gia vàonền KTTT ý thức rõ ràng về sở hữu vật đem trao đổi, cũng như lợi ích từ sựtrao đổi đó Người lao động tư nhân độc lập có thể là một người lao động cáthể hay một người lao động tổng thể (công xưởng, xí nghiệp hợp tác, ) mà chỉsản phẩm của cả tập thể mới trở thành hàng hóa Xét trên toàn xã hội thì laođộng của mỗi người lao động trước hết biểu hiện là lao động tư nhân, sản
Trang 14phẩm làm ra trước hết thuộc sở hữu tư nhân đó (nếu không xét đến vấn đề sởhữu đầu vào của các yếu tố sản xuất) và thông qua trao đổi thì lao động tưnhân đó mới biểu hiện thành lao động xã hội Chính vì vậy “muốn cho những
đồ vật đó quan hệ với nhau như những hàng hóa thì những người giữ hàng hóaphải đối xử với nhau như những người mà ý chí của họ chi phối các vật đó,…
Do đó, họ phải công nhận lẫn nhau là những người tư hữu” (C.Mác vaPh.Anghen, toàn tập, T23 NXB CTQG Hà nội – 1993, trang 132)
Trong nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản có nhiều hình thức sởhữu nhưng nền tảng của nó là chế độ tư hữu về TLSX Các công ty tư bản độcquyền, một bộ phận các nhà tư bản lớn đã giữ vai trò chi phối sự phát triểntoàn diện nền kinh tế, phân phối của cải làm ra trong xã hội
Trong nền KTTT định hướng XHCN cũng dựa trên nhiều hình thức sởhữu khác nhau về tư liệu sản xuất như: Sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân, sởhữu tập thể, sở hữu hỗn hợp Đó là các thể chế kinh tế của những chủ thể tự do,
tự chủ kinh doanh theo Pháp luật Các thành phần tham gia vừa cạnh tranh, vừaliên kết, hợp tác với nhau để phát triển với trình độ xã hội hóa cao, thông quađan xen, đan kết nhiều hình thức sở hữu Nhà nước thực hiện việc hợp nhấtquyền sử dụng TLSX với quyền và nghĩa vụ công dân trong người chủ sở hữunhằm tạo ra những điều kiện pháp lý để xác định rõ ai là chủ nhân đích thực củanhững nguồn lực được đưa vào sản xuất kinh doanh Việc trả lại cho TLSX chủnhân đích thực của nó, sẽ làm cho TLSX được sử dụng một các có hiệu quảhơn, nền kinh tế sẽ trở nên năng động hơn trước những nhu cầu của dân cư vềhàng hóa, dịch vụ…
Về cơ chế quản lý và vận hành:
Cơ chế vận hành nền KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta là cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sảnViệt Nam Cơ chế này đảm bảo tính hướng dẫn, điều khiển hướng tới đíchXHCN của nền kinh tế theo phương châm: Nhà nước điều tiết vĩ mô, thịtrường hưống dẫn cho doanh nghiệp
Trang 15Trong điều hành quản lý vĩ mô nền kinh tế, Nhà nước cần hạn chế tối đacác mệnh lệnh hành chính để cho các hoạt động thị trường chủ yếu theo sựhướng dẫn của các quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh; đảm bảo nguyên tắcvận hành của nền kinh tế là nguyên tắc thị trường “tự điều chỉnh” Nhà nướckhông can thiệp trực tiếp, không áp đặt thô bạo ý chí của Nhà nước vào cácquá trình hình thành giá, Nhà nước điều khiển sự hoạt động của nền kinh tếbằng các chiến lược, các kế hoạch dài hạn, can thiệp vào các hiện tượng vàcác quá trình kinh tế bằng các công cụ lãi suất thuế và chi tiêu thông qua cơchế lợi ích theo nguyên tắc mỗi cá nhân theo đuổi lợi ích riêng, đạt được lợiích riêng bằng cách làm cho xã hội.
Cơ chế vận hành nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta được thể hiện
rõ qua các mặt cơ bản sau:
- Một là: Nhà nước XHCN – Nhà nước của dân, do dân, vì dân – lànhân tố đóng vai trò “nhân vật trung tâm” và điều tiết nền kinh tế vĩ mô nhằmtạo dựng và đảm bảo môi trường pháp lý, kinh tế, xã hội thuận lợi cho cácdoanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường; thực hiện chính sách xã hội,đảm bảo công bằng xã hội, can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế để đạtđược các mục tiêu đề ra
- Hai là: Cơ chế thị trường là nhân tố trung tâm của nền kinh tế đóngvai trò trung gian giữa Nhà nước và doanh nghiệp Một vấn đề quan trọng nữa
là Nhà nước ta quản lý nền kinh tế và xã hội theo nguyên tắc kết hợp thịtrường với kế hoạch, phát huy mặt tích cực, khắc phục và hạn chế mặt tiêu cựccủa cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của người lao động và của toàn thể nhândân Thực chất của vấn đề kế hoạch hóa thị trường, xét từ góc độ Nhà nước, cóthể được coi là sự kết hợp giữa điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch và điềukhiển gián tiếp thông qua cơ chế thị trường đối với các hoạt động kinh tế trong
xã hội Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng sẽ hợp lý và hiệu quả hơn nếu thôngqua công cụ kế hoạch hóa mà Nhà nước điều tiết thị trường để thị trường điềutiết sản xuất và điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị
Trang 16trường định hướng XHCN, quản lý kinh tế theo nguyên tắc kết hợp kế hoạchvới thị trường sẽ càng có thêm điều kiện giải phóng lực lượng sản xuất, đẩynhanh sự phát triển kinh tế – xã hội.
Về phân phối thu nhập:
Sự thành công của nền KTTT định hướng XHCN không chỉ dừng lại ởtốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững mà còn phải không ngừng nâng caođời sống nhân dân, bảo đảm tốt các vấn đề xã hội
Trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta hiện nay, Đảng tarất coi trọng việc mở rộng dần các sự nghiệp phúc lợi xã hội Trong việc giảiquyết các vấn đề xã hội, Đại hội VII của Đảng nêu bật hai quan điểm lớn:
- Một là: Coi mục tiêu và động lực chính của sự phát triển xã hội làcon người, do con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của các chính sách
và chương trình phát triển xã hội, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân,mỗi tập thể và cả cộng đồng Coi trọng lợi ích cá nhân người lao động, xem đó
là động lực trực tiếp để phát triển kinh tế xã hội
- Hai là: Bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính xãhội Mục tiêu của hai chính sách đó là thống nhất tất cả vì con người Pháttriển kinh tế là điều kiện để thực hiện chính sách xã hội, nhưng chính sách xãhội lại là sự cụ thể hóa mục đích của các hoạt động kinh tế
Để thực hiện các quan điểm này, nền KTTT định hướng XHCN phảithực hiện 3 vấn đề sau:
- Một là: Kết hợp các vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội Mục đíchcủa sự kết hợp này là vừa đảm bảo cho các chủ thể tham gia KTTT có được lợinhuận cao, vừa được tạo điều kiện chính trị – xã hội bình thường cho sự pháttriển kinh tế
- Hai là: Kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của CNXH
và nguyên tắc KTTT như: phân phối theo lao động, phân phối theo vốn, theo
Trang 17tài năng, phân phối qua quỹ phúc lợi xã hội,…trong đó phân phối theo laođộng là chính.
- Ba là: điều tiết phân phối thu nhập Một mặt, Nhà nước phải cóchính sách sao cho giảm bớt sự chênh lệch giữa lớp người giàu và lớp ngườingèo; mặt khác phải có chính sách, biện pháp nâng cao thu nhập chính đángcủa người giàu, người ngèo và của toàn xã hội Việc điều tiết phân phối thunhập được thực hiện theo hai kênh: Một là, Nhà nước XHCN là chủ thể duynhất tiến hành điều tiết phân phối thu nhập trên phạm vi toàn xã hội, nhằmđảm bảo công bằng xã hội và bình đẳng phúc lợi cho toàn xã hội; hai là, điềutiết phân phối thu nhập theo những nguyên tắc của thị trường, cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước
Đây là những đặc trưng cơ bản của nên KTTT theo định hướng XHCN
ở nước ta Nhà nước đã dựa vào những đặc trưng này để có thể thực hiện vaitrò kinh tế của mình nhằm bảo đảm phát triển kinh tế và giữ vững định hướngXHCN
2 Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay:
Vai trò kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo địnhhướng XHCN đòi hỏi phải phát hiện ra những khuyết tật của kinh tế thị trường
tư bản chủ nghĩa để tìm ra những định chế có khả năng xóa bỏ những khuyếttật đó và tạo ra dần dần một kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
Vai trò kinh tế của Nhà nước ta được thể hiện ở những mặt sau:
2.1 Giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế:
Định hướng XHCN là hướng nền kinh tế quốc dân phát triển theo conđường đi lên CNXH – mô hình xã hội lý tưởng của cách mạng Việt Nam màĐảng, Bác Hồ và toàn thể nhân dân ta đã chọn Vì vậy, giữ vững định hướngXHCN là nhiệm vụ bao trùm nhất và quan trọng nhất trong việc vạch rõ hướng
Trang 18đích cho cả quá trình phát triển lâu dài, ổn định ở nước ta nói chung, trong đó
có phát triển kinh tế
Chúng ta biết rằng, nền KTTT không phải là mục tiêu, mà chỉ là phươngpháp, phương tiện để đi tới mục tiêu Mặt khác, nền KTTT mà ta đang nỗ lựcxây dựng không phải là nền KTTT kiểu TBCN mà là định hướng XHCN Tuynhiên, trên thực tế những giải pháp của Nhà nước ta từ khi đổi mới đến nayphần lớn mang tính quá độ, trung gian Để đảm bảo giữ vững định hướngXHCN cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước trong giai đoạn đổi mớitheo chiều sâu thì không chỉ dừng lại ở những tư tưởng, đường lối chung, màphải cụ thể hóa thành những nội dung mang tính xác định về mặt pháp lý
Trong báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII trình bàytại Đại Hội IX có viết: “ Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán
và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận độngtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đóchính là nền KTTT định hướng XHCN” (Văn kiện Đại Hội IX, WXBCTQG,
Hà Nội – 2001, tr.23)
Nguyên tắc định hướng XHCN là giới hạn quan trọng hàng đầu cho mọibiện pháp để hoàn thiện chức năng kinh tế của Nhà nước ta Nguyên tắc nàyxuất phát từ cơ sở triết học là mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trịtrong đó kinh tế là nền tảng của chính trị còn chính trị đóng vai trò quyết địnhphương hướng cho sự phát triển kinh tế Nguyên tắc định hướng XHCN đòihỏi chức năng kinh tế của Nhà nước phải được hoàn thiện trong mối liên hệhữu cơ với việc hoàn thiện các chức năng chính trị, chức năng xã hội của Nhànước và chức năng kinh tế của Nhà nước cũng hướng tới các mục tiêu cao cả
là giải phóng con người, giải phóng xã hội theo lý tưởng của cách mạngXHCN
2.2 Đảm bảo sự vận hành tự do và an toàn của nền KTTT:
Bản chất của quan hệ KTTT là tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệmcủa các chủ thể kinh tế Vì thế sự vận hành một cách tự do và an toàn của các
Trang 19quan hệ kinh tế là điều kiện để ổn định và tăng trưởng nền kinh tế quốc dân.Nhà nước chính là nhân tố đảm bảo cho nền KTTT phát huy được các ưu điểm
và khắc phục được những khuyết tật vốn có của nó
Vì vậy vai trò đảm bảo sự vận động tự do và an toàn của nền KTTT baohàm những nội dung rộng lớn, trong đó cốt lõi là sự bảo đảm từ phía Nhà nướccho tự do kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinhdoanh cũng như phòng tránh những tổn thất cho các chủ thể kinh doanh Trênthực tế vai trò này đòi hỏi Nhà nước trước hết phải dành sự ưu tiên cho hoạtđộng hợp pháp của các chủ thể kinh doanh chứ không phải chỉ dành sự thuậntiện cho hoạt động quản lý Nhà nước Khi Nhà nước buông lỏng quản lý thì tự
do và an toàn có thể bị xâm hại, dẫn đến tình trạng lấn lướt, vi phạm quyền vàlợi ích của nhau; tình trạng độc quyền, lũng đoạn kinh tế hoặc “ cá lớn nuốt cábé”’ theo kiểu luật rừng, nhưng cũng có thể bị xâm hại ngay từ chính sự hoạtđộng quản lý Nhà nước Do vậy việc đảm bảo cho sự vận hành tự do và antoàn của nền KTTT thực chất là xây dựng và củng cố nền dân chủ XHCN trênlĩnh vực kinh tế, vì đó là giá trị cao cả của xã hội mà chúng ta đang phấn đấuxây dựng
Để đảm bảo sự vận hành tự do và an toàn của nền KTTT, Nhà nước đã
đề ra nhiều chính sách cụ thể để phát triển kinh tế, tạo lập hành lang pháp lý đểbảo đảm sự an toàn trong các hoạt động kinh doanh Hệ thống luật pháp luônluôn được sửa đổi, bổ xung cho phù hợp với từng giai đoạn, từng thời kì kinhdoanh Chức năng kinh tế của Nhà nước là phương thức, là khuôn khổ của dânchủ XHCN trong lĩnh vực kinh tế Cho nên hoàn thiện chức năng kinh tế củaNhà nước nghĩa là Nhà nước phải đảm bảo cho việc thực hiện các quyền tự do,dân chủ về kinh tế Nhà nước phải không ngừng mở rộng quyền dân chủ vềkinh tế – xã hội, đảm bảo hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh của các chủthể kinh doanh, phải tạo ra được cơ chế kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế.Quản lý là quyền của Nhà nước còn hoạt động kinh doanh là quyền của cácchủ thể kinh tế, nhưng hai quyền đó phải thống nhất với nhau, không hạn chếhay loại trừ nhau Vì thế, trong điều kiện hiện nay nếu không mở rộng và phát