Hiện nay,nước ta đang thực hiện bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội với nhiều nội dung chuyển đổi về kinh tế – chính trị văn hoá xã hội. Để đạt được mục tiêu đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp chúng ta cần thực hiện đồng thời nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy các ngành kinh tế tăng trưởng phù hợp với chiến lược phát triển mà Đảng đã ra.Trong đó nước ta vẫn chủ yếu dựa vào các ngành nông- lâm- ngư nghiệp vốn là thế mạnh của chúng ta trên trường quốc tế.Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp (nông nghiệp,lâm nghiệp, thuỷ sản) nước ta liên tiếp thu được nhiều thành tựu to lớn. Thành tựu lớn nhất là trong một thời gian không dài, từ một nền nông nghiệp tự cấp, tự túc,lạc hậu vươn lên trở thành một nền nông nghiệp hàng hoá, đảm bảo an toàn lương thực quốc gia và có tỉ suất hàng hoá ngày càng lớn có vị thế đáng kể trong khu vực và thế giới. Nước ta đã trở thành một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu 4 mặt hàng: gạo, cà phê, điều, hạt tiêu. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, thuỷ sản là ngành có khả năng trở thành ngành sản xuất có lợi thế lớn nhất của nền nông nghiệp Việt Nam. Trong 40 năm qua, ngành thuỷ sản luôn giữ xu thế tăng trưởng không ngừng về năng lực sản xuất, sản lượng và giá trị. Kim ngạch xuất khẩu có mức tăng trưởng tương đối cao (22-23%/ năm). Năm 1997, kim ngạch sản xuất đạt 776 triệu USD, năm 1998 đạt 850 triệu USD, năm 1999 đạt 950 triệu USD, năm 2000 đạt 1,45 tỷ USD và năm 2001 đạt 1,76 tỷ USD đứng thứ 2 trong các ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó phải kể đến sự đóng góp to lớn của một số công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản như: Tổng công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản (Seaprodex) và các công ty thành viên, công ty xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish)… để tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước Chính phủ Việt Nam đã đề ra một số biện pháp hỗ trợ trong đó có việc ra Nghị quyết số 09/2000/NQ- CP của Chính phủ ngày15 tháng 6 năm 2000 về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay,nước ta đang thực hiện bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hộivới nhiều nội dung chuyển đổi về kinh tế – chính trị văn hoá xã hội Để đạtđược mục tiêu đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước côngnghiệp chúng ta cần thực hiện đồng thời nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy cácngành kinh tế tăng trưởng phù hợp với chiến lược phát triển mà Đảng đãra.Trong đó nước ta vẫn chủ yếu dựa vào các ngành nông- lâm- ngư nghiệpvốn là thế mạnh của chúng ta trên trường quốc tế.Thực hiện đường lối đổimới của Đảng trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp (nông nghiệp,lâmnghiệp, thuỷ sản) nước ta liên tiếp thu được nhiều thành tựu to lớn Thànhtựu lớn nhất là trong một thời gian không dài, từ một nền nông nghiệp tựcấp, tự túc,lạc hậu vươn lên trở thành một nền nông nghiệp hàng hoá, đảmbảo an toàn lương thực quốc gia và có tỉ suất hàng hoá ngày càng lớn có vịthế đáng kể trong khu vực và thế giới Nước ta đã trở thành một trong nhữngnước đứng đầu thế giới về xuất khẩu 4 mặt hàng: gạo, cà phê, điều, hạt tiêu.Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, thuỷ sản là ngành có khả năng trởthành ngành sản xuất có lợi thế lớn nhất của nền nông nghiệp Việt Nam.Trong 40 năm qua, ngành thuỷ sản luôn giữ xu thế tăng trưởng không ngừng
về năng lực sản xuất, sản lượng và giá trị Kim ngạch xuất khẩu có mức tăngtrưởng tương đối cao (22-23%/ năm) Năm 1997, kim ngạch sản xuất đạt
776 triệu USD, năm 1998 đạt 850 triệu USD, năm 1999 đạt 950 triệu USD,năm 2000 đạt 1,45 tỷ USD và năm 2001 đạt 1,76 tỷ USD đứng thứ 2 trongcác ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam trong đó phải kể đến sự đóng góp
to lớn của một số công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản như: Tổng công ty xuấtnhập khẩu thuỷ sản (Seaprodex) và các công ty thành viên, công ty xuấtnhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish)… để tăng khả năng cạnh tranh của
Trang 2các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước Chính phủ Việt Nam đã đề ramột số biện pháp hỗ trợ trong đó có việc ra Nghị quyết số 09/2000/NQ- CPcủa Chính phủ ngày15 tháng 6 năm 2000 về một số chủ trương và chínhsách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Trongphạm vi bài viết này, em xin được trình bày những tác động của Nghị quyết
số 09/2000/NQ – CP đối với hoạt động xuất nhập khẩu thủy sản của công tySeaprodex Việt Nam
Trang 3I.Hoàn cảnh ra đời của Nghị quyết 09/2000/NQ-CP.
1.Hoạt động của công ty Seaprodex trước khi có Nghị quyết
Tổng công ty thuỷ sản Việt Nam –công ty Seaprodex -được thành lậpvào năm 1978, kể từ đó đến nay công ty luôn là doanh nghiệp hàng đầu củangành thuỷ sản Việt Nam cả về năng lực sản xuất, sản lượng và giá trị xuấtkhẩu Tính đến năm 2000, công ty có 17 nhà máy chế biến thuỷ sản đônglạnh xuất khẩu, trong đó 13 nhà máy chế biến hải sản đông lạnh xuất khẩuvới tổng công suất 200 tấn/ ngày, 4 nhà máy chế biến thuỷ sản tiêu thụ nộiđịa ( sản xuất nước mắm, bột cá, thức ăn gia súc) với tổng công suất 12000tấn/ năm Ngoài ra, công ty còn có hệ thống kho thành phẩm với sức chứa
10000 tấn, kho nước đá 300 tấn, 50 chiếc xe lạnh, 89 xe bảo ôn Kim ngạchxuất khẩu thuỷ sản của công ty trong giai đoạn 1990- 2000 đã không ngừngtăng lên với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 17,3 %/ năm
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của công ty Seaprodex Việt Nam
KNXK củacông ty
Tỷ trọng(%)
Trang 4Nguồn: Niên giám thống kê 1996; kinh tế 1998-1999 và 2000- 2001Việt Nam và thế giới ( thời báo kinh tế Việt Nam); bản tin thương mại thuỷsản tháng 1 năm 2000.
Như vậy, ta có thể thấy kim ngạch xuất khẩu của công ty chiếm tỷtrọng tương đối lớn trong kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nước với tốc độtăng trưởng tương đối cao và bền vững Đặc biệt năm 2000, kim ngạch xuấtkhẩu của công ty đạt 174 triệu USD, bằng 137,6% so với cùng kì; thị trườngxuất khẩu mở rộng ra hơn 30 quốc gia; một số doanh nghiệp thành viên đãtăng kim ngạch xuất khẩu trên 10 triệu USD/ năm so với năm 1999
Tuy là doanh nghiệp có tiềm lực mạnh trong ngành thuỷ sản Việt Namnhưng trong thời gian qua công ty gặp không ít khó khăn, cũng như đa sốcác công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam Đó là công nghệ chế biếncòn lạc hậu và chưa phù hợp với nguồn nguyên liệu sẵn có ở Việt Nam;nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất hàng thuỷ sản xuất khẩu không ổnđịnh và chất lượng nguyên liệu chưa đảm bảo; hoạt động marketing đặc biệt
là hoạt động xúc tiến thương mại còn yếu kém
Đối với công ty Seaprodex, đa số các nhà máy chế biến thuỷ sản đônglạnh của công ty đều được xây dựng từ trước năm 1975 Những năm gầnđây, tuy được đầu tư nâng cấp nhưng chưa đồng bộ Vì vậy, hầu hết nănglực chế biến của các nhà máy chỉ đạt 65- 70 % công suất thiết kế, bởi ngànhcông nghiệp thuỷ sản mang đậm tính chất mùa vụ và chưa được đầu tư đổimới công nghệ kịp thời Từ năm 1990 đến 1998 công ty đã đầu tư 4,7 triệuUSD cho các cơ sở chế biến thuỷ sản, trong đó vốn tín dụng 700.000USDcòn lại là vốn tự có Kèm theo đó công ty còn lập phương án quy hoạch,nâng cấp hàng thuỷ sản xuất khẩu của công ty Seaprodex Minh Hải tại Bạc
Trang 5Liêu, Seaprodex miền trung tại Đà Nẵng, Seaprodex Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh, với tổng nhu cầu đầu tư cho các công trình trên dự kiến là 250
tỷ đồng Ngoài ra, để khắc phục những khó khăn trên Seaprodex Việt Nam
đã xác định 2 vấn đề cơ bản là xây dựng định hướng chiến lược và ổn địnhcác doanh nghiệp thành viên Cùng với việc đầu tư nâng cấp các nhà máychế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu, công ty còn xác định lợi thế của từngdoanh nghiệp thành viên, xác định các vùng sản xuất trọng điểm, doanhnghiệp trọng điểm để xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng thànhviên và các biện pháp thực hiện nhiệm vụ Ví dụ, năm 1999 công ty đã xácđịnh khu vực miền Tây có lợi thế phát triển sản xuất, trong đó lấy SeaprodexMinh Hải là trọng điểm sản xuất và xuất khẩu Việc xác định doanh nghiệptrọng điểm đã tạo nên động lực mạnh thúc đẩy doanh nghiệp này phát triển;
ở Seaprodex Minh Hải đã tăng từ 18 triệu USD năm 1998 lên 31 triệu USDnăm 2000, chiếm tỷ trọng giá trị chế biến cao nhất ( 25,76%) trong toàncông ty Có thể nói định hướng của công ty Seaprodex là tiền đề, là động lựcmạnh mẽ để mỗi doanh nghiệp thành viên tăng cường đẩy mạnh xuất khẩu.Bên cạnh việc chủ động xây dựng định hướng đúng là việc ổn định cácdoanh nghiệp thành viên để củng cố thực lực mỗi thành viên và tạo sứcmạnh của toàn công ty Doanh nghiệp phấn đấu không phải chỉ là để nămsau cao hơn năm trước, mà còn để xứng đáng với uy tín công ty SeaprodexViệt Nam
Ngoài ra, nguồn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất hàng thuỷ sản xuấtkhẩu không ổn định và chất lượng nguyên liệu chưa đảm bảo cũng là khókhăn cho toàn bộ các công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam nói chungcũng như công ty Seaprodex nói riêng Trên thực tế, theo báo cáo của BộThương mại gần như toàn bộ các nhà máy chế biến thuỷ sản của nước ta đều
Trang 6dựa vào nguồn nguyên liệu khai thác tự nhiên, lệ thuộc vào thiên nhiên donuôi trồng chưa phát triển và trở thành nguồn cung cấp ổn định Phụ thuộcvào thiên nhiên và tính chất mùa vụ của các loài hải sản nhiệt đới cùng vớiđiều kiện kết cấu hạ tầng cho việc khai thác ( như đội tàu và kỹ thuật viên,
hệ thống cảng và chợ chuyên dụng…) chưa phát triển tương ứng đã làm chochất lượng nguyên liệu không cao và không ổn định Đó là do Việt Namhiện nay, khai thác thuỷ hải sản tự nhiên chủ yếu được thực hiện bằng độitầu có kích cỡ nhỏ của ngư dân, rất khó có điều kiện áp dụng công nghệ mớihiện đại trong việc bảo quản sau thu hoạch (như các khoang sơ chế tại tàu,các hầm lạnh cỡ lớn đảm bảo chất lượng nguyên liệu cho các chuyến đánhbắt xa bờ dài ngày)
Đối với các công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam thì đó vẫnchưa phải là khó khăn cuối cùng, mà các công ty của Việt Nam còn yếu kémtrong khâu marketing đặc biệt là hoạt động xúc tiến thương mại Trong điềukiện hiện nay, để có thể thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp cầnphải tạo ra sản phẩm tốt giá thành hạ, các dịch vụ cung cấp sản phẩm đếnkhách hàng thuận tiện đồng thời họ cũng phải đặc biệt quan tâm đến hoạtđộng xúc tiến thương mại Bởi vì nếu sản phẩm ít được khách hàng biết đến,không được phân phối hợp lý, không hiểu rõ về đối thủ cạnh tranh thì doanhnghiệp rất khó giành vị thế thắng cuộc trong thương trường Thực tế chothấy, các hoạt động như nghiên cứu thị trường, quảng cáo… kể cả thịtrường nội địa hầu như chưa được các doanh nghiệp sản xuất hàng thuỷ sảnViệt Nam lưu tâm thực hiện Việc tiêu thụ sản phẩm chủ yếu dựa trên cácquan hệ truyền thống, chờ khách hàng tìm đến Thêm vào đó, việc hỗ trợ củacác cơ quan quản lý Nhà nước( Bộ Thuỷ sản, Bộ Thương mại…) trong cungcấp thông tin thị trường, tổ chức hội chợ, giới thiệu sản phẩm Việt Nam đến
Trang 7khách hàng thông qua các văn phòng đại diện ở nước ngoài… chưa đượcthực hiện một cách thường xuyên.
Như vậy, trong hoàn cảnh các công ty xuât nhập khẩu thuỷ sản ViệtNam nói chung và công ty Seaprodex nói riêng điều gặp những khó khănnhư trên, nên chăng các cơ quan quản lý Nhà nước cần đưa ra các giải phápphù hợp nhằm tháo gỡ những khó khăn trên Trước tình hình đó Chính phủ
đã ban hành Nghị quyết 09/2000/ NQ- CP ngày 15/6/2000 về chuyển dịch
cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nhằm giải quyết một số vấn
đề khó khăn đối với ngành thuỷ sản Việt Nam Kèm theo đó Bộ Thuỷ sảncũng ra thông tư số 05/2000/ TT- BTS ngày 3/11/2000 hướng dẫn thực hiệnNghị quyết trên
2.Một số nội dung chính của Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP
Theo đánh giá của các chuyên gia, thuỷ sản là ngành sản xuất sảnphẩm đạm động vật có nhu cầu ngày càng tăng ở thị trường trong nước vàxuất khẩu lớn, có khả năng trở thành ngành sản xuất có lợi thế lớn nhất củangành nông nghiệp Việt Nam Sản lượng thủy sản đạt 3- 3,5 triệu tấn/năm,đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước, nâng kim ngạch xuất khẩu vươn lênhàng đầu trong khu vực châu Á Chính phủ đã đưa ra một số chủ trương,chính sách để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm thủy sản, thúc đẩy sản xuấtphát triển như sau:
a.Ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học- công nghệ mới vào sản xuất thuỷ sản.
Về nuôi trồng thuỷ sản, điều tra nghiên cứu, lập kế hoạch phát triểnnuôi trồng thuỷ sản trên các loại hình mặt nước thuộc các vùng nước mặn,
Trang 8lợ và ngọt Các Viện nghiên cứu nuôi trông thuỷ sản I, II và Trung tâmkhuyến ngư các tỉnh phối hợp với các cơ quan nghiên cứu và đào tạongoài ngành liên quan tổ chức để chuyển giao các công nghệ sinh họccho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất thuỷ sản nhằm khai thác sửdụng có hiệu quả các loại đất, mặt nước.
Về khai thác thuỷ sản, nghiên cứu điều tra xác định nguồn lợi hảisản vùng xa bờ, các vùng hải sản trọng điểm, phân bố tập trung, tập tínhsinh học, quy luật di cư và biến động của các đối tượng khai thác Nghiêncứu cải tiến một số nghề khai thác hải sản ven bờ quan trọng hiện có, tiếnhành trang bị máy định vị, máy dò cá…Đối với công nghệ khai thác hảisản xa bờ, tăng cường nghiên cứu cải tiến kết cấu ngư cụ, phương phápđánh bắt và một số công nghệ của nước ngoài để khai thác các loại thuỷ-hải sản
Về chế biến thuỷ sản, nhập khẩu công nghệ chế biến, đa dạng hoámặt hàng để nâng cao giá trị của sản phẩm đông lạnh Đồng thời đào tạonâng cao tay nghề cho công nhân, nhập khẩu công nghệ đông rời (IQF) cócông suất thích hợp với từng vùng nguyên liệu
b.Tạo thêm các nguồn lực phát triển kinh tế thuỷ sản
Tổ chức thực hiện tốt những chính sách về đất đai theo quy địnhcủa luật đất đai, giao quyền sử dụng đất mặt nước bãi bồi, bãi cát venbiển, hải đảo, đầm phá, hồ chứa, sông lớn vẫn còn bỏ hoang ít sử dụngcho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào việc phát triển nuôitrồng thuỷ sản
Trang 9Tăng cường hợp tác liên doanh liên kết, thành lập các hội nghềnghiệp giữa các hộ sản xuất, các chủ trang trại, các thành phần kinh tế để
mở rộng quy mô, tăng khả năng đầu tư vốn, thu hút lao động sản xuất rahàng hoá thuỷ sản có giá trị kinh tế, gắn kết sản xuất- xây dựng cơ sở chếbiến thuỷ sản với việc giao lưu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩmtrong và ngoài nước
c.Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản.
Phải tăng cường công tác thông tin thị trường, nâng cao khả năngtiếp thị; gắn thị trường với sản phẩm, thị trường nước ngoài với thị trườngtrong nước, gắn hợp tác thương mại, quan hệ đối ngoại với trao đổi buônbán xuất khẩu hàng hoá thuỷ sản Gắn chất lượng hàng hoá, mẫu mã và đadạng hoá sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm thuỷ sản, với yêu cầu thịhiếu của khách hàng nhập khẩu (nhất là thị trường Mĩ, Nhật Bản, EU…)
Tạo điều kiện để các cơ quan đại diện của nước ngoài tiếp xúc vớicác nhà doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp thuỷ sản trong nước;đại diện ngoại giao và tham tán thương mại Việt Nam ở nước ngoài nắmbắt được những thông tin, giới thiệu và nâng cao vị thế các mặt hàng thuỷsản Việt Nam với bàn bè Quốc tế
II Đánh giá tác động của Nghị quyết số 09/2000/NQ–CP tới hoạt động xuất nhập khẩu của công ty Seaprodex.
1.Tác động của Nghị quyết tới ngành thuỷ sản Việt Nam
Khi nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngành thuỷ sản hainăm vừa qua, nhiều khi người ta liên tưởng trước hết đến lĩnh vực nuôitrồng thuỷ sản Điều này có phần dễ hiểu vì từ cuối năm 2000 và nhất là
Trang 10trong năm 2001, sự chuyển dịch mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp từtrồng lúa, làm muối, trồng cói kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản đãdiễn ra rộng khắp ở các tỉnh ven biển, gây nên tiếng vang lớn trong cảnước Song trên thực tế, quá trình này diễn ra ở mọi lĩnh vực hoạt độngcủa ngành và trong mọi thành tựu mà ngành thuỷ sản thu lượm được đềumang đậm dấu ấn của quá trình đó.
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu năm
2001
Tổng sản lượng: 2.300.000 tấn
Sản lượng khai thác: 1.350.000 tấn
Sản lượng nuôi và khai thác nội địa: 950.000 tấn
Diện tích mặt nước sử dụng để nuôi thuỷ sản: 887.500 ha
Kim ngạch xuất khẩu : 1,7 tỷUSD
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: 5.913 tỷ đồng
Nộp ngân sách nhà nước: 1.105 tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm
2001 và chỉ tiêu biện pháp thực hiện ké hoạch phát triển kinh tế xãhội năm 2002, Bộ thuỷ sản
Về lĩnh vực khai thác thuỷ sản, theo tinh thần của Nghị quyết, thì cầnnghiên cứu điều tra xác định nguồn lợi hải sản vùng xa bờ, vùng hải sảntrọng điểm, đồng thời tăng cường nghiên cứu cải tiến kết cấu ngư cụ,phương pháp đánh bắt và nhập một số công nghệ nước ngoài để áp dụng vàokhai thác hải sản xa bờ Thực tế hoạt động của năm 2001, trong tổng sản
Trang 11lượng hải sản khai thác 1,35 triệu tấn đã có 456.000 tấn được đánh bắt trongvùng biển xa bờ, chiếm 33% tổng số, trong đó sản phẩm làm nguyên liệuxuất khẩu chiếm 30% Đó chính là kết quả hoạt động của đội tàu đánh cá xa
bờ hơn 6000 chiếc với năng suất khai thác tương đối cao (0,45 tấn/CV) gấprưỡi so với các tàu đánh cá ven bờ ( 0,32 tấn/ CV) Năm 2001 cũng là lầnđầu tiên chúng ta thử nghiệm thuê tàu trần và chuyên gia của nước ngoài đểtham gia khai thác trên biển
Còn trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, sự chuyển dịch phải nói là
“rầm rộ” Theo định hướng của Nghị quyết 09/2000/NQ –CP để phát triểnmạnh mẽ nuôi trồng thuỷ sản trước hết phải quy hoạch lại cơ cấu sử dụngđất đai Những vùng đất có điều kiện đưa nước mặn vào và đủ điều kiệnnuôi thuỷ sản thì khuyến khích nông dân chuyển đổi sang nuôi tôm và cácloại thuỷ-hải sản Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện sinh thái, môi trường, thổnhưỡng…của từng vùng và địa phương mà có phương thức tổ chức nuôitrông phù hợp như: thâm canh, bán thâm canh…Đồng thời giao cho các cơquan có thẩm quyền trong ngành lập quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷsản trên các loại hình mặt nước và nghiên cứu phát triển giống thuỷ sản, cácloại vắc xin nhằm nâng cao chất lượng hàng thuỷ sản Thực hiện nghị quyết,nhân dân ở hầu hết các tỉnh ven biển đã tiến hành chuyển đổi vùng đấtnhiễm mặn trồng lúa, trồng cói, làm muối và vùng đất cát khô cằn sang nuôitrồng thuỷ sản, mà chủ yếu là nuôi tôm Tổng diện tích chuyển đổi ở vùngven biển đã lên tới trên 220.000 ha đưa tổng diện tích mặt nước sử dụng đểnuôi thuỷ sản năm 2001 lên 887.500 ha Diện tích chuyển đổi này đã gópphần quan trọng trong số 60.000 tấn tôm nuôi tăng thêm, nâng tổng sảnlượng tôm nuôi lên gần 160.000 tấn, cao gấp rưỡi so với năm 2000 Đặcbiệt, mô hình nuôi luân canh tôm- lúa đã đem lại hiệu quả cao và bền vững ở