1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của công ty bằng chứng thực nghiệm tại các ngân hàng việt nam

94 131 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 13,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Dựa theo bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính thanh khoản lên giá trị công ty: Bằng chứng thực nghiệm tại các Ngân hàng Đài Loan” của Shih-Kuo Yeh và các c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

ĐỖ MẠNH TUẤN

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN GIÁ TRỊ CỦA CÔNG TY: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

ĐỖ MẠNH TUẤN

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN GIÁ TRỊ CỦA CÔNG TY: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài Chính- Ngân Hàng

Mã Số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Lê Đạt Chí

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

LỜI CAM ĐOAN 1

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2

1.1 Lý do thực hiện nghiên cứu 2

1.2 Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu 5

1.3 Kết cấu của đề tài 6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 7

2.1 Tính chất đặc trưng của ngân hàng thương mại 7

2.1.1 Ngân hàng thương mại khác gì so với doanh nghiệp thông thường 7

2.1.2 Chức năng đặc trưng của Ngân hàng thương mại 8

2.1.3 Đo lường giá trị của Ngân hàng thương mại 9

2.2 Lý thuyết về thanh khoản của tài sản, tài sản tài chính 10

2.2.1 Mô hình thị trường thanh khoản thấp 10

2.2.2 Mô hình thị trường thanh khoản hoàn hảo 12

2.3 Lý thuyết về thanh khoản trong thị trường chứng khoán 13

2.4 Lý thuyết về thanh khoản ngân hàng 14

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Trong quá trình thực hiện Luận văn Thạc sỹ với đề tài “Ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của công ty: Bằng chứng thực nghiệm tại các ngân hàng Việt Nam”, tôi đã vận dụng các kiến thực học tập của mình và với sự trao đổi, hướng

dẫn góp ý của Giáo viên hướng dẫn để thực hiện đề tài Luận văn Thạc sĩ này Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả trong Luận văn Thạc sĩ này là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Các kết quả của Luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Đạt Chí

TP.HCM, Ngày 10 Tháng 09 Năm 2017 Học viên thực hiện Luận văn

Đỗ Mạnh Tuấn

Trang 5

2.5 Những bằng chứng ảnh hưởng của trạng thái thanh khoản đến giá trị

doanh nghiệp hoặc ngân hàng 22

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 29

3.1 Ảnh hưởng trạng thái thanh khoản đến giá trị ngân hàng 30

3.2 Đo lường sự sụt giảm giá trị thanh khoản của tài sản (Liquidity Discount) 32

3.3 Phương pháp phân tích hồi quy GLS và GLM 33

3.3.1 Mô hình GLS (Generalized Least Square) 33

3.3.2 Mô hình GLM (Generalized Linear Model) 34

3.4 Phương pháp phân tích hồi quy FEM và REM 35

3.4.1 Mô hình ảnh hưởng cố định FEM (Fixed Effects Model) 35

3.4.2 Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên REM (Random Effects Model) 36

3.4.3 Phương pháp để chọn FEM hay REM 36

3.5 Phương pháp phân tích hồi quy PVAR 36

3.6 Phương pháp kiểm định dữ liệu trước khi phân tích hồi quy 37

3.7 Dữ liệu nghiên cứu 39

3.8 Các biến chính được sử dụng trong phân tích 41

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM 45

4.1 Kiểm định dữ liệu 45

4.2 Kiểm định tính dừng 46

4.3 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi- kiểm định White 49

Trang 6

4.4.2 Trạng thái giảm thanh khoản thay đổi như thế nào theo thời gian? 50

4.5 Kết quả ước lượng tổng quát mô hình GLS, GLM, FEM và REM 56

4.5.1 Kết quả ước lượng tổng quát mô hình GLS, GLM, FEM và REM 56

4.5.2 Kiểm định việc lựa chọn giữa mô hình FEM và REM 59

4.6 Thảo luận kết quả ước lượng FEM 60

4.7 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy PVAR 66

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng Tên Bảng Trang

Bảng 3.1 Danh sách các ngân hàng trong nghiên cứu 40 Bảng 3.2 Tóm tắt các biến chính sử dụng trong bài 41-43

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định tính dừng Levin–Lin–Chu, 2002 47 Bảng 4.4 Kết quả ước kiểm định phương sai thay đổi 49 Bảng 4.5 Kết quả hoạt động của NHTM Việt Nam theo thời gian 50 Bảng 4.6 Sự thay đổi mức giảm thanh khoản của các ngân hàng

Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2016

52

Bảng 4.7 Chỉ số đo lường khả năng hoạt động và trạng thái thanh

khoản giảm của các ngân hàng Việt Nam

54-55

Bảng 4.8 Kết quả ước lượng mô hình GLS, GLM, FEM và REM 57-58

Bảng 4.11 Kết quả ước lượng VAR cho Cash và LD 63 Bảng 4.12 Kết quả ước lượng VAR cho tất cả các ngân hàng Việt

Nam

67

Bảng 4.13 Kết quả ước lượng VAR cho Safe Banks 67 Bảng 4.14 Kết quả ước lượng VAR cho Crisis- contagious Banks 68 Bảng 4.15 Kết quả ước lượng VAR cho Liquidity- vulnerable Banks 68

Trang 9

Hình vẽ Tên hình Trang Hình 4.3 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi theo thời gian của

chuỗi dữ liệu

48

Trang 10

TÓM TẮT

Dựa theo bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính thanh khoản lên giá trị công ty: Bằng chứng thực nghiệm tại các Ngân hàng Đài Loan” của Shih-Kuo Yeh và các cộng sự (2016) với mẫu nghiên cứu gồm các ngân hàng

và công ty tại chính tại Đài Loan, bài nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu phân tích sự ảnh hưởng của trạng thái thanh khoản đến giá trị của các tổ chức tài chính, cụ thể là các ngân hàng tại Việt Nam Tính thanh khoản được nghiên cứu trong trường hợp thị trường đang ghi nhận sự sụt giảm, đó chính là tính giảm thanh khoản (Liquidity Discount) và giá trị của công ty được đánh giá thông qua các chỉ

số đánh giá khả năng năng sinh lời, như là ROE, ROA Nghiên cứu cũng phân các ngân hàng Việt Nam thành ba nhóm: Safe Banks, Crisis- contagious Banks và Liquidity- vulnerable Banks để phân tích chi tiết Thông quan mô hình FEM và mô hinh PVAR với dữ liệu bảng, có tần suất theo quý, từ năm 2010 đến năm 2016, bài

nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của công ty: Bằng chứng

thực nghiệm tại các ngân hàng Việt Nam”, đã đạt được những kết quả chính như

sau: Thứ nhất, những nhân tố nội tại (the bank’s inside factors) ảnh hưởng đến sự

sụt giảm tính thanh khoản của các ngân hàng Việt Nam bao gồm: Currentratio (Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn), Debtratio (Tỷ lệ nợ), Cash (Tỷ lệ tiền mặt trên vốn

cổ phần), Size (Quy mô giá trị tài sản của ngân hàng) Trong đó, Currentratio (Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn) và Cash (Tỷ lệ tiền mặt trên vốn cổ phần là ảnh

hưởng nhiều nhất đến sự thay đổi của trạng thái giảm tính thanh khoản Thứ hai, khi

thị trường xảy ra tình trạng giảm tính thanh khoản thì sẽ ảnh hưởng chủ yếu đến khả năng chi trả nghĩa vụ nợ của các ngân hàng, cũng như là giá trị của lượng tiền mặt tại các ngân hàng Ngoài ra, khả năng sinh lợi của các ngân hàng (được đại diện bằng biến ROE) cũng giảm khi thanh khoản trên thị trường giảm Nghiên cứu cũng

đã ghi nhận rằng mức giảm tính thanh khoản của các ngân hàng tại Việt Nam thì khác nhau, tùy theo quy mô của các ngân hàng, và cũng thay đổi theo thời gian, với chiều hướng được cải thiện hơn

Từ khóa chính: Liquitdity Discount, Tính thanh khoản giảm, FEM, REM, GLS, VAR

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do thực hiện nghiên cứu

Đã chín năm kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, nhưng dư

âm của nó vẫn còn đó Còn nhớ, vào tháng 9/2008, Lehman Brothers đã “chìm xuồng” với khối tài sản 639 tỷ USD, mở ra thời kỳ leo thang của khủng hoảng tài chính trên phạm vi toàn cầu Trước hết, có thể kết luận Lehman là nạn nhân của chính mình chứ không phải ai khác Ngân hàng đầu tư là một định chế tài chính có mức độ rủi ro rất cao và kiếm tiền thông qua quản trị rủi ro Rủi ro cao đối với lĩnh vực bất động sản trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng tín dụng toàn diện và khốc liệt trong lịch sử là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của một đế chế tài chính già cỗi 158 năm tuổi- Lehman Brothers Khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn đã lan sang tín dụng trên chuẩn và toàn bộ thị trường tín dụng nói chung Lehman cũng như các ngân hàng đầu tư khác sử dụng các phát minh tài chính mà cụ thể là nghiệp

vụ chứng khoán hóa (Securitisation) để biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản (MBS, MBO, CDO) đầy rủi ro cung cấp cho thị trường Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu

có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm Điều này

có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng Vòng xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản Hậu quả là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo các khoản lỗ kinh doanh

Tại Việt Nam, không nằm ngoại lệ, hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế trên là không tránh được Trong bối cảnh nền kinh tế đang dần phục hồi như hiện nay, hoạt động của Ngân hàng là rất nhạy cảm với các yếu tố thay đổi của nền kinh tế vĩ mô và các chính

Trang 12

sách của Nhà nước Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại nói riêng mà còn tác động đến thị trường tiền tệ và hệ thống tài chính nói chung Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án số

254 về tái cấu trúc các tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng) mà trọng tâm là các ngân hàng thương mại (NHTM) Sau gần 04 năm thực hiện, một số các NHTM yếu kém

đã được sáp nhập với nhau, hoặc sáp nhập vào các NHTM lớn; một số NHTM hoạt động yếu kém, nợ khách hàng lớn hơn nhiều lần vốn chủ sở hữu, NHNN đã mua với giá 0 VND và nhận nợ thay, chuyển sang mô hình Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên, sau đó giao cho Vietcombank và Vietinbank quản lý, điều hành Ổn định để phát triển bền vững là mục tiêu mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang hướng tới Một hệ thống ngân hàng được xem là phát triển không chỉ thể hiện

ở quy mô, doanh số huy động và cho vay tăng lên, thị phần mở rộng; mà còn phải thể hiện ở năng lực quản trị rủi ro, quản trị doanh nghiệp và tính chịu trách nhiệm cao của Ban lãnh đạo các ngân hàng Việc đẩy mạnh các biện pháp xử lý hậu tái cấu trúc nhằm nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị rủi ro, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận được vốn và các dịch vụ ngân hàng với giá/phí hợp lý…

là những vấn đề trọng yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay Hơn hai thập

kỷ qua, kể từ khi hệ thống ngân hàng Việt Nam thực hiện quá trình cải cách các ngân hàng thương mại (NHTM) đã có bước phát triển mới cả về lượng và chất, nhưng vấn đề rủi ro thanh khoản dường như chưa được quan tâm đúng mức Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản lý ngân hàng cần thực hiện là đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng Ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt, hay nói cách khác là ngân hàng không gặp rủi ro thanh khoản khi luôn có được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần Điều này có nghĩa nếu ngân hàng không có đủ nguồn vốn cần thiết để đáp ứng mọi nhu cầu của thị trường sẽ có thể mất khả năng thanh toán, mất uy tín và dẫn đến sự

đổ vỡ của toàn hệ thống

Nhưng, một điều quan trọng mà các NHTM Việt Nam cần lưu ý đó là không chỉ đảm bảo khả năng thanh toán hay khả năng thanh khoản, mà phải tính đến cả trường

Trang 13

hợp thị trường ghi nhận sự sụt giảm thanh khoản, thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến khả năng hoạt động Trở lại với trường hợp của Lehman Brothers Đây là một trong những ví dụ điển hình cho trường hợp thị trường sụt giảm tính thanh khoản và công

ty đã phá sản: khi nền kinh tế đi xuống, thì giá trị của tài sản đảm bảo cho tài sản tài chính đã giảm giá theo, kế đến là giá chứng khoán sụt giảm và cuối cùng là giá trị công ty sụt giảm do nhà đầu tư mất niềm tin, và phá sản là điều có thể tiên liệu được Ngoài ra, theo Shih- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) thì khi giá cả chứng khoán hay giá cả của tài sản tài chính sụt giảm, khả năng chuyển đổi của các tài sản tài chính đó thành tiền mặt sẽ giảm theo, đây chính là “sụt giảm tính thanh khoản (Liquidity Discount)” của tài sản tài chính Cũng từ bài học của Leman Brothes, Shih- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) đã tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của các ngân hàng tại Đài Loan Trong nghiên cứu của Shih- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) tính thanh khoản được phân tích chính là Liquidity Discount, hay là tính thanh khoản đang ở trạng thái giảm Vì vậy, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc sụt giảm tính thanh khoản đến hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam là điều cần thiết

Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu với đề tài quản trị thanh khoản tại các NHTM Việt Nam, như là nghiên cứu của Đặng Thị Thu Hiền (2013), Đoàn Thị Vân Khanh (2013), Trần Ngọc Trà Mi (2014), Lê Quốc Toản (2016) Hay cũng có đề tài phân tích đề tìm ra nguyên nhân nào ảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản của các NHTM Việt Nam, như là: Trương Quang Thông (20130, Phạm Duy Hưng (2013), Nguyễn Thị Băng Thanh (2013), hay Nguyễn Văn Phương (2015)

Tuy nhiên, các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào việc phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản ròng của các NHTM Việt Nam, hoặc là nghiên cứu sự thiếu hụt thanh khoản sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của các NHTM Việt Nam Theo nghiên cứu của tác giả, tác giả chưa tìm thấy được nghiên cứu nào phân tích sự ảnh hưởng của việc sụt giảm tính thanh khoản sẽ ảnh hưởng như thế nào đến giá trị của các NMTM Việt Nam Cần phân biệt rõ là sụt giảm tính thanh khoản khác với thiếu hụt thanh khoản Thiếu hụt thanh khoản có thể

Trang 14

là do việc quản trị không tốt nguồn vốn và tài sản của ngân hàng, dẫn đến việc các ngân hàng mất cân đối nguồn tiền và không đủ khả năng chi trả cho các nghĩa vụ nợ đến hạn Còn sụt giảm tính thanh khoản chính là khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản giảm, thường xảy ra khi nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống và lãi suất tang cao, như Shih –Kuo Yeh và các cộng sự (2015) đã định nghĩa trong nghiên cứu tại Đài Loan

Vì vậy, cần thiết để nghiên cứu về vấn đề khi nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống dẫn đến sự sụt giảm tính thanh khoản, thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến giá trị của các ngân hàng thương mại Việt Nam Ngoài ra, cũng cần tìm hiểu những nhân tố nào có khả năng làm gia tăng trạng thái giảm tính thanh khoản của các ngân hàng

Xuất phát từ những lý do bên trên, tác giả đã chọn nghiên cứu và phân tích đề tài:

“Ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của công ty: Bằng chứng thực nghiệm tại các ngân hàng Việt Nam”

1.2 Mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu chính của tác giả là phân tích ảnh hưởng của sụt giảm thanh khoản đến giá trị của công ty, công ty cụ thể ở đây là các ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên do giới hạn trong cách trình bày nên đề tài của tác giả được mô tả ngắn gọn

như sau: “Ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của công ty: Bằng chứng thực nghiệm tại các ngân hàng Việt Nam”

Bằng kết quả phân tích thực nghiệm thông qua mô hình FEM và PVAR với dữ liệu bảng, tác giả sẽ làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu thông qua việc giải đáp các vấn đề

sau Thứ nhất, các nhân tố nào gây ra sự sụt giảm tính thanh khoản tại các ngân hàng Việt Nam Thứ hai, khi thị trường xảy ra tình trạng giảm tính thanh khoản thì

ảnh hưởng như thế nào đến khả năng hoạt động của các ngân hàng

Như vậy, đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là sự sụt giảm tính thanh khoản trong điều kiện giả định là thị trường thanh khoản thấp Phạm vi nghiên cứu bao gồm 09 ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016

Trang 15

1.3 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Phụ lục, danh mục bảng, danh mục các chữ viết tắt, tài liệu tham khảo, Nghiên cứu được tổ chức theo cấu trúc như sau:

Chương 1: Giới thiệu Trong chương này, tác giả giới thiệu chung về nghiên cứu trình bày lý do, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong chương này, tác giả thảo luận các lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu thực nghiệm về sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của công ty

Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Trong chương này, tác giả thảo luận phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, mô tả cụ thể nguồn thu thập số liệu cũng như mô hình nghiên cứu

Chương 4: Phân tích thực nghiệm Trong chương này, tác giả trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu chính đã đạt được, so sánh kết quả với các nghiên cứu trước đó

để rút ra kết luận

Chương 5: Kết luận Trong chương này, tác giả trình bày những kết luận chính và một số hạn chế của nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Trong chương 2, tác giả tập trung thảo luận các lý thuyết nền tảng cho thấy có tồn tại mối quan hệ giữa sự thay đổi tính thanh khoản và gía trị của công ty (Firm Values) Chương này cũng điểm lại một số nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả khác từ trước đến nay

2.1 Tính chất đặc trưng của ngân hàng thương mại

Vì nghiên cứu tập trung vào việc phân tích sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của ngân hàng, mà ngân hàng lại là một loại hình công ty có những đặc thù riêng Nên, cần thiết để tóm lược một cách cơ bản về tính chất đặc trưng của ngân hàng cũng như hiểu rõ trạng thái thanh khoản ngân hàng đóng vai trò như thế nào

2.1.1 Ngân hàng thương mại khác gì so với doanh nghiệp thông thường

Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, và ngược lại, kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thương mại tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng(Trương

Quang Thông, 2010 Quản trị ngân hàng thương mại) Dù có lịch sử ra đời và phát

triển song hành với sự phát triển của xã hội loài người, cho đến thời điểm hiện nay, cách hiểu về NHTM vẫn chưa thực sự đồng nhất:

Theo Peter S.Rose (2001),“Ngân hàng là loại hình thức tổ chức tài chính cung cấp một dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch

vụ thanh toán và cũng thể hiện nhiều chức năng nhất do với bất ỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”

Theo quy định tại Việt Nam, định nghĩa Ngân hàng thương mại đã được nêu rõ trong Luật tổ chức tín dụng năm 2010 Theo đó, Ngân hàng thương mại

là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt

Trang 17

động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận (trích Khoản 3, Điều 4, Chương 1); từ đó có thể hiểu ngân hàng thương mại như những tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi

từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán

Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính, mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản

là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội

2.1.2 Chức năng đặc trưng của Ngân hàng thương mại

Chức năng trung gian tín dụng:

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay

Chức năng trung gian thanh toán:

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ

Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp

Trang 18

chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế

sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế

Chức năng tạo tiền:

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình

đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế

Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM

là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM Do vậy, ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn

2.1.3 Đo lường giá trị của Ngân hàng thương mại

Giống như những doanh nghiệp thông thường, giá trị của Ngân hàng Thương Mại cũng được đo lường qua những chỉ tiêu cơ bản như là Tobin’Q (Q) hay ROE Các chỉ số này này đóng một vai trò quan trọng trong nhiều nhiều nghiên cứu về năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động và giá trị của doanh nghiệp (Chung & Pruitt, 1994) Tobin Q được định nghĩa là tỷ lệ giá trị thị trường với chi phí thay thế tài sản của một công ty Giá trị công ty trên thị trường chứng khoán lớn hơn so với chi phí

Trang 19

nếu chọn để thay thế toàn bộ tài sản? Nếu con số này nằm giữa 0 và 1 có nghĩa là chi phí để thay thế toàn bộ tài sản cao hơn giá trị thị trường Điều này có nghĩa rằng các cổ phiếu bị định giá thấp Nếu nó là lớn hơn 1, nó cho thấy rằng cổ phiếu được định giá quá cao Tuy nhiên, rất khó để được chính xác trong chi phí thay thế các tài sản vô hình, do đó nó không có nghĩa là cổ phiếu được định giá quá cao cho khi mới gia nhập thị trường Ví dụ, các công ty công nghệ sẽ có chi phí thay thế tương đối thấp đối với tài sản của họ so với giá trị thị trường so với công ty đó sản xuất máy móc công nghiệp Trong khi đo ROE lại phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong đó vốn chủ sở hữu, chỉ số này thông thường lớn hơn ROA gấp nhiều lần Các nhà đầu tư thường so sánh ROE với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường Từ đó quyết định và lựa chọn mua cổ phiếu công ty có triển vọng Tỷ số ngày càng cao có nghĩa doanh nghiệp sử dụng vốn của cổ đông càng hiệu quả Trong nghiên cứu này Tobin Q được tính như sau:

𝑇𝑜𝑏𝑖𝑛′𝑄 =𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑉𝐶𝑆𝐻 + 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑛ợ

𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑉𝐶𝑆𝐻 + 𝑔𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑛ợ

≈ 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔 𝑐ủ𝑎 𝑉𝐶𝑆𝐻𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑠ổ 𝑠á𝑐ℎ 𝑐ủ𝑎 𝑉𝐶𝑆𝐻 (1) 𝑅𝑂𝐸 = 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế

𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 (2) Trong đó giá trị sổ sách được tính toán dựa trên bảng cân đối kế toán và đó là

sự khác biệt giữa tổng tài sản và nợ phải trả của công ty (Giá trị sổ sách của VCSH

= (Vốn chủ sở hữu – tài sản vô hình)/Tổng số lượng cổ phiếu đang lưu hành)) Giá trị thị trường của VCSH là giá giao dịch của chính cổ phiếu đó trên thị trường

2.2 Lý thuyết về thanh khoản của tài sản, tài sản tài chính

2.2.1 Mô hình thị trường thanh khoản thấp

Như Shih –Kuo Yeh và các cộng sự (2015) đã định nghĩa thanh khoản của một tài sản (cụ thể là tài sản tài chính) chính là khả năng mà tài sản đó có thể chuyển đổi thành tiền mặt thông qua quá trình mua bán lại tài sản đó trên thị trường Khả năng chuyển đổi thành tiền mặt phụ thuộc vào cung và cầu của trên thị trường đối với tài

Trang 20

sản đó Khi thị trường ghi nhận sự sụt giảm trong gía trị của tài sản tài chính, khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản đó sẽ sụt giảm theo Điều này đồng nghĩa tính thanh khoản của tài sản cũng sẽ thay đổi theo chiều hướng giảm Việc thay đổi tính khoản của tài sản tài chính theo chiều hướng giảm chính là Liquidity discount (LD) Theo Shih –Kuo Yeh và các cộng sự (2015), LD sẽ được tính theo công thức tổng quát như sau:

𝑳𝑫𝒊𝒕 =𝑽𝑻 − 𝑽𝑻

𝑽𝑻 (𝟑)

Trong dó 𝑉𝑇 được gọi là tài sản thanh khoản, 𝑉𝑇∗ gọi là tài sản không có tính thanh

khoản hoặc thanh khoản thấp

Như vậy, theo Shih –Kuo Yeh và các cộng sự (2015):

Thứ nhất, giá trị của tài sản có tính thanh khoản:

𝑉𝑇 = max {𝑌𝑇 − 𝐾, 0} (4) Với,

YT: được biết đến như giá trị trung bình của tài sản theo thị trường, được quyết định bởi các yếu tố kinh tế cơ bản của thị trường YT là một hàm thay đổi theo thời gian với giá trị trung bình là µT và phương sai αY2

K: chính là mức giá thực hiện (strike price) đối với quyền chọn mua tài sản, được quy định cố đinh trong các hợp đồng quyền chọn Khi K= 0, có nghĩa trên thị trường tài sản không có tính thanh khoản

Thứ hai, lúc giá trị tới hạn khi K = 0, thanh khoản không ảnh hưởng đến giá trị tài

sản Dựa trên Chen (2012) của lý luận, khi thị trường thanh khoản thấp vô cùng, có

là không có giao dịch cho phép cho các tài sản Sau đó giá của tài sản không thanh khoản (𝑉T∗) có thể được tính bằng phương trình sau

𝑉𝑇∗= 𝟏

𝑹(𝒕, 𝑻)(𝑬[𝑽𝑻] − 𝜷${𝑬[𝑽𝑻] − 𝑹(𝒕, 𝑻)𝒀𝑻})(𝟓)

Với, 𝑹(𝒕, 𝑻) = 𝒆𝒓(𝑻−𝒕) là lãi suất phi rủi ro 𝜷$ =𝑪𝒐𝒗[𝑽𝑻 ,𝒀𝑻]

𝑽𝒂𝒓[𝒀𝑻] hệ số Beta Dollar, hay chính là hệ số đo lường rủi ro hệ thống của tài sản tài chính Vậy, theo Shih –Kuo

Trang 21

Yeh và các cộng sự (2015), gía trị tài sản không có thanh khoản có thể ước tính theo (03) với điều kiện là tài sản đó không còn được đo lường trên thị trường

2.2.2 Mô hình thị trường thanh khoản hoàn hảo

Theo đề xuất của Chen (2012), khi nền kinh tế là “bình thường” và thị trường

là thanh khoản hoàn hảo, thì phải là trường hợp giá trị mặc định chỉ có thể xảy ra do các nguyên nhân kinh tế Kết quả là, chúng ta có thể áp dụng các cấu trúc Geske (1977) lựa chọn mô hình hỗn hợp để đánh giá giá trị tài sản khi nền kinh tế không

có bất kỳ căng thẳng thanh khoản Giả sử giá trị tài sản của công ty mà không có bất

kỳ giảm tính thanh khoản (𝑉) theo mô hình Black-Scholes:

𝑑𝑣

𝑣 = μ𝑣𝑑𝑡 + 𝜎𝑣𝑑𝑤 (6) Trong đó w là chuyển động Brown, μ𝑣 và 𝜎𝑣 là các khuếch tán tương ứng

Để đơn giản, chúng tôi giả định rằng công ty có hai khoản nợ (được mở rộng để nhiều nợ coupon), cả hai zero coupon với các giá trị 𝐹1 và 𝐹2 và kỳ hạn 𝑇1 và 𝑇2

(8)

𝑋1 = 𝑉̅𝑇1 Trong đó là tổng giá trị nợ (Geske) và 𝑋2 = 𝐹2

Khi nền kinh tế chịu áp lực thanh khoản thì giá trị tài sản sẽ bị ảnh hưởng do thiếu thanh khoản Kết quả mặc định về kinh tế 𝑉𝑇1 < 𝑉̅𝑇1và mặc định thanh khoản

𝑉𝑇∗1 < 𝐹1

Trang 22

Để thực hiện thực nghiệm các mô hình giảm tính thanh khoản, thời giá của dòng tiền ra năm đầu tiên được mặc định là 𝐹1 Đối với 𝐹2, tổng hợp các luồng tiền mặt năm thứ hai và một nửa trong số tiền mặt còn lại Thời gian đáo hạn 𝑇1 và 𝑇2

được cố định một đến hai năm, tương ứng Sau đó, chúng ta có thể sử dụng thông tin thị trường để hiệu chỉnh giá trị tài sản thanh khoản 𝑉𝑡 và giá trị tài sản thanh khoản 𝑉𝑡 *

2.3 Lý thuyết về thanh khoản trong thị trường chứng khoán

Trong thị trường chứng khoán, thanh khoản được hiểu là một khái niệm trừu tượng với rất nhiều định nghĩa khác nhau Hiểu một cách đơn giản nhất thanh khoản là mức độ dễ dàng của việc giao dịch một chứng khoán nào đó Hiểu một cách thực tế hơn thị trường được coi là thanh khoản khi mà các chi phí giao dịch tương ứng được tối thiểu hóa các thành phần cấu thành nên tính thanh khoản bao gồm: chi phí tìm kiếm đối tác giao dịch, chi phí rủi ro tồn đọng do trì hoãn giao dịch, rủi ro lựa chọn đối nghịch và các rủi ro do bất hoàn hảo thị trường (Kyle, 1985)

Dự trên lý luận này nhiều tác giả đã phát triển rủi ro thanh khoản khác nhau

và mỗi thước đo tập trung khai thác một khía cạnh trong định nghĩa về thanh khoản Tiêu biểu như Amihud (2002) đo lường thanh khoản bằng độ nhạy cảm của giá, Lesmond và cộng sự (1999) đo lường thanh khoản bằng tần suất giao dịch có tỉ suất sinh lời bằng 0 hay Roll (1984) đo lường thanh khoản dựa trên chênh lệch hỏi mua chào bán

Thước đo chênh lệch giữa giá mua và giá bán lại không có sẵn trong các thị trường mới nổi Do đó, để ước lượng về thanh khoản trong thị trường này, nhiều học giả đã đưa ra những cách đo lường khác nhau Trong đó phương pháp phổ biến

là sử dụng tỷ số khối lượng giao dịch (Trading Volume) và coi yếu tố này là 01 chỉ báo cho tính thanh khoản của thị trường cổ phiếu (Lesmond, 2005) Ngoài ra, Amihud (2002) cho rằng khối lượng giao dịch trong quá khứ có thể cung cấp thông tin quan trọng về chứng khoán Chứng khoán có tỷ số khối lượng giao dịch càng lớn thì tính thanh khoản càng cao đồng thời chúng cũng có chênh lệch giữa giá hỏi mua

(9)

Trang 23

và giá chào bán thấp hơn Theo Francisco Muñoz (2012) tính thanh khoản được ước lượng như sau:

𝑙𝑖𝑞𝑢𝑖𝑑𝑖𝑡𝑦 = ∑ 𝑇𝑟𝑎𝑑𝑒𝑠ℎ𝑎𝑟𝑒𝑡

𝑄 𝑡=1

𝐷𝑄 𝑆ℎ𝑎𝑟𝑒 𝑜𝑢𝑡𝑠𝑡𝑎𝑛𝑑𝑖𝑛𝑔Trong đó DQ là số ngày giao dịch trong quý, Trade sharet là số lượng cổ phiếu giao dịch trong thời gian t, Share outstanding là chứng khoán đang được lưu hành của công ty

Một thước đo thanh khoản khác của Amihud (2002) là ILQ –tỷ lệ hằng ngày của giá trị tuyệt đối tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên khối lượng giao dịch của nó lấy trung bình trong một khoảng thời gian, nó thể hiện đo lường thô của tác động giá cả

𝐼𝐿𝑄𝑖𝑦 = ∑𝐷𝑦𝑖𝑇=1|𝑅𝑖𝑑𝑦|

𝐷𝑦𝑖 ∗ 𝑉𝐾𝑖𝑑𝑦Trong đó Ridy là tỷ suất sinh lời của chứng khoán i vào ngày d năm y, VKidy là khối lượng giao dịch hằng ngày, Diy là số ngày trong đó dữ liệu sẵn có cho chứng khoán i trong năm y

Theo Amihud và các cộng sự (1997), tỷ lệ thanh khoản liên quan đến sự thay đổi đơn vị trong giá chứng khoán, tỷ lệ thanh khoản cao ngụ ý thanh khoản thị trường lớn hơn

𝐿𝑅 = ∑ 𝑉𝐾𝑖𝑑/ ∑ |𝑅𝑖𝑑| = ∑ 𝑝𝑛𝑣𝑛

𝑁𝑡 𝑛=1

∑ |( 𝑝𝑖𝑑

𝑝𝑖(𝑑−1)− 1) ∗ 100|

𝑦 𝑦

𝑦

Trong đó VKid là khối lượng giao dịch hằng ngày, Rid là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i vào ngày d ước lượng khối lượng giao dịch khi có 1% thay đổi trong giá chứng khoán hoặc so sánh khối lượng giao dịch với những thay đổi tuyệt đối trong giá chứng khoán tại một thời điểm nào đó

2.4 Lý thuyết về thanh khoản ngân hàng

Trong phần 2.3, tác giả đã thảo luận về tính thanh khoản trong thị trường chứng khoán Hay chính là những lý thuyết thảo luận về tính thanh khoản cũng như

(10)

(11)

Trang 24

phương pháp đo lường tính thanh khoản của các tài sản tài chính (cổ phiếu, trái phiếu…) Như vậy, tính thanh khoản của ngân hàng có phải cũng được đánh giá dựa trên sự thay đổi về giá của chứng khoán đại diện cho giá trị ngân hàng hay không? Vấn đề này sẽ được thảo luận trong những phần tiếp theo sau của luận văn này

2.4.1 Thanh khoản tại Ngân hàng là gì?

Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cho rằng: “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn …” Theo Duttweiler (2009), có hai khía cạnh khác nhau

về thanh khoản cần phải đặc biệt quan tâm, đó là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo Trong đó, thanh khoản tự nhiên nghĩa là các dòng lưu chuyển xuất phát từ tài sản hoặc nợ nhưng có thời gian đáo hạn theo luật định Trong lĩnh vực ngân hàng, khi một giao dịch với khách hàng thường được tái tục, có thể với cùng

số tiền hoặc với số tiền nhỏ hơn/lớn hơn thì nhìn chung nhóm khách hàng này thường hành động gần như theo cách có thể dự đoán được Điều này không chỉ đúng với các tài sản mà còn đúng với các khoản nợ Còn thanh khoản nhân tạo lại được tạo ra thông qua khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn Ở đây có thể thấy hầu như lúc nào cũng có thể dễ dàng chuyển một chứng khoán cụ thể thành tiền mặt, đặc biệt nếu vẫn còn công ty nào muốn chuyển chứng khoán thành tiền mặt thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch Từ trước đến nay đã có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro thanh khoản Nhưng, rủi ro thanh khoản có thể được hiểu là rủi ro khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó nó sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn (Duttweiler, 2009) Như vậy, ở đây đã xác định trạng thái thanh khoản của một ngân hàng là gì, đó là khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ của NHTM

Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng:

Trang 25

Nhiều nghiên cứu đã tương đối thống nhất khi chỉ ra rằng, rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, theo Nguyễn Văn Tiến (2010),

có ba nguyên nhân tiền đề khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản thường xuyên là: “Thứ nhất, ngân hàng huy động và đi vay vốn thời gian ngắn, sau

đó cứ tuần hoàn chúng để cho vay thời gian dài hơn Do đó nhiều ngân hàng phải đối mặt với sự không trùng khớp về kỳ hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.”

“Thứ hai, sự nhạy cảm của tài sản tài chính với thay đổi lãi suất Khi lãi suất tăng, nhiều người gửi tiền sẽ rút tiền ra tìm kiếm nơi gửi khác có mức lãi suất cao hơn Những người có nhu cầu tín dụng sẽ hoãn lại, hoặc rút hết số dư hạn mức tín dụng với lãi suất thấp đã thỏa thuận Như vậy, thay đổi lãi suất ảnh hưởng đồng thời đến luồng tiền gửi cũng như luồng tiền vay, và cuối cùng là đến thanh khoản của ngân hàng” “Thứ ba, ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách hoàn hảo Những trục trặc về thanh khoản sẽ làm xói mòn niềm tin của dân chúng vào ngân hàng.”

Ở nguyên nhân thứ hai, sự sụt giảm tính thanh khoản của ngân hàng đến từ sụt giảm giá trị của các tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ Dẫn đến khó khăn trong việc

chuyển đổi tài sản thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn

Lý thuyết về đo lường thanh khoản và các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các NHTM

Trước đây, người ta thường sử dụng các tỷ lệ thanh khoản để đưa ra các biện pháp quản lý rủi ro thanh khoản tốt hơn Tỷ lệ mà các nghiên cứu trước đây sử dụng bao gồm: tỷ lệ tài sản thanh khoản/tổng tài sản (ví dụ như Aspachs và ctg (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008) Tỷ lệ tài sản thanh khoản/tiền gửi khách hàng và vay ngắn hạn (Aspachs và ctg năm 2005; Rychtárik năm 2009; Praet and Herzberg năm 2008), Tỷ lệ tài sản thanh khoản/Tổng huy động ngắn hạn (Indriani, 2012) Nếu các tỷ lệ thanh khoản này cao chứng tỏ ngân hàng hoạt động

có hiệu quả và ít rủi ro hơn Bên cạnh đó, một số nghiên cứu sử dụng tỷ lệ vốn vay/tổng tài sản (ví dụ như Athanasoglou và ctg., 2006.), tỷ lệ cho vay ròng với

Trang 26

khách hàng/tài trợ ngắn hạn (ví dụ như Pasiouras và Kosmidou, 2007) để đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng Nếu các tỷ số này cao có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng

Nghiên cứu về tính thanh khoản rất quan trọng đối với thị trường tài chính và các ngân hàng, đặc biệt là từ sau khủng hoảng kinh tế 2008 Theo Aspachs (2005)

và Nikolau (2009), tính thanh khoản không đơn giản phụ thuộc vào các yếu tố khách quan bên ngoài (chẳng hạn như thị trường hiệu quả, cơ sở hạ tầng, chi phí giao dịch thấp, số lượng lớn người mua và người bán, đặc tính minh bạch của tài sản giao dịch) mà điều quan trọng là nó ảnh hưởng bởi yếu tố bên trong, đặc biệt là các phản ứng của người tham gia thị trường khi đối mặt với sự không chắc chắn và thay đổi giá trị tài sản

Bằng kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả, như Aspachs và ctg (2005), Rychtárik (2009), Praet và Herzberg (2008), thì có 04 chỉ số cở bản có thể dùng để đo lường trạng thái thanh khoản của ngân hàng:

L1: Tài sản thanh khoản/ Tổng tài sản (Liquid assets/Total assets)

Tỷ số này cung cấp một thông tin chung về khả năng thanh khoản của ngân hàng Tức là trong tổng tài sản của ngân hàng tỷ trọng tài sản thanh khoản là bao nhiêu Trong đó, tài sản thanh khoản bao gồm các mục I (tiền mặt, vàng bạc, đá quý), II (tiền gửi tại ngân hàng nhà nước), III (tiền gửi và cho vay tại các tổ chức tín dụng khác), IV (Chứng khoán kinh doanh) Tỷ số này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng rất tốt Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này quá lớn cũng không có lợi

L2: Tài sản thanh khoản/Tiền gửi khách hàng và vay ngắn hạn (Liquid

assets/Deposits+ Short term borrowing)

Tỷ lệ này cho biết khả năng đáp ứng nghĩa vụ đến hạn của ngân hàng L2 tập trung vào mức độ nhạy cảm của ngân hàng đối với nguồn vốn huy động được Trong đó, tài sản thanh khoản bao gồm các mục I (tiền mặt, vàng bạc, đá quý), II (tiền gửi tại ngân hàng nhà nước), III (tiền gửi và cho vay tại các tổ chức tín dụng khác), IV (Chứng khoán kinh doanh) Tiền gửi khách hàng và vay ngắn hạn bao

Trang 27

gồm mục: I (các khoản nợ của chính phủ và ngân hàng nhà nước), II (Tiền gửi và vay từ các tổ chức tính dụng khác), III (tiền gửi của khách hàng)

Tỷ số thanh khoản L2 sử dụng tài sản thanh khoản để đo lường khả năng thanh khoản là rất tốt Tuy nhiên, tỷ lệ này là tập trung vào mức độ nhạy cảm của ngân hàng khi lựa chọn các loại kinh phí (bao gồm tiền gửi của các hộ gia đình, doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khác) Tỷ số này cũng giống L1, tức là tỷ số này cao cũng thể hiện thanh khoản của ngân hàng là tốt

L3: Cho vay/ Tổng tài sản (Loans/ Total assets)

Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm khoản cho vay trên tổng tài sản ngân hàng Do đó tỷ lệ này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng càng kém vì, ngân hàng cho vay càng nhiều thì tài sản thanh khoản kém sẽ tăng cao và tài sản thanh khoản của ngân hàng cũng giảm theo

L4: Cho vay/ Tiền gửi khách hàng + các khoản tài trợ ngắn hạn

(Loans/Deposits + Short term financing)

Tỷ số cũng giống L3, tức là nếu cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu Các tỷ số này tương ứng với nhiều nghiên cứu khác nhau sẽ sử dụng làm biến phụ thuộc để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại

Ngoài ra, cũng quan trọng để một ngân hàng duy trì Dự trữ thanh khoản

Theo Duttweiler (2009), với mục đích là duy trì khả năng thanh toán, và Ngân hàng thương mại cũng phải đảm bảo toàn bộ giá trị tài sản có phải lớn hơn các khoản nợ

ở mọi thời điểm Nếu trong kinh doanh vốn cho vay không có khả năng thu hồi và

lỗ trong nghiệp vụ chứng khoán sẽ làm cho giá trị tài sản có xuống thấp hơn tài sản

nợ và như vậy sẽ dẫn đến ngân hàng mất khả năng thanh toán, có thể phải đóng cửa hoặc phải bán tài sản cho ngân hàng khác Trong các nguồn dự trữ để đảm bảo khả năng thanh khoản cho các ngân hàng có hai nguồn quan trọng mà các nhà quản lý trong ngân hàng phải đặc biệt quan tâm, đó là: Nguồn dự trữ sơ cấp và nguồn dự trữ thứ cấp (Duttweiler, 2009) Dự trữ sơ cấp là các khoản mục về ngân quỹ tiền mặt, tiền gửi ở Ngân hàng Trung ương, tiền gửi các ngân hàng khác Các khoản dự trữ

Trang 28

này được sử dụng để dự trữ theo quy định của Ngân hàng Trung ương và đáp ứng nhu cầu bất thường về tiền mặt cho khách hàng hoặc để thực hiện các khoản thanh toán cho ngân hàng khác trong việc thanh toán giữa các ngân hàng Dự trữ thứ cấp bao gồm các loại chứng khoán có khả năng chuyển thành tiền dễ dàng như: trái phiếu kho bạc, giấy chấp nhận trả tiền của ngân hàng Dự trữ thứ cấp được dùng

để hỗ trợ cho dự trữ sơ cấp về các nhu cầu rút tiền, thanh toán giữa các ngân hàng

và vay mượn của khách hàng đã được dự kiến trước

Theo Amihud và các cộng sự (1997), tỷ lệ thanh khoản liên quan đến sự thay đổi đơn vị trong giá chứng khoán, tỷ lệ thanh khoản cao ngụ ý thanh khoản thị trường lớn hơn

𝐿𝑅 = ∑ 𝑉𝐾𝑖𝑑/ ∑ |𝑅𝑖𝑑| = ∑ 𝑝𝑛𝑣𝑛

𝑁𝑡 𝑛=1

∑ |( 𝑝𝑖𝑑

𝑝𝑖(𝑑−1)− 1) ∗ 100|

𝑦 𝑦

𝑦

Trong đó VKid là khối lượng giao dịch hằng ngày, Rid là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán i vào ngày d ước lượng khối lượng giao dịch khi có 1% thay đổi trong giá chứng khoán hoặc so sánh khối lượng giao dịch với những thay đổi tuyệt đối trong giá chứng khoán tại một thời điểm nào đó

Một thước đo thanh khoản khác của Amihud (2002) là ILQ –tỷ lệ hằng ngày của giá trị tuyệt đối tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên khối lượng giao dịch của nó lấy trung bình trong một khoảng thời gian, nó thể hiện đo lường thô của tác động giá cả

𝐼𝐿𝑄𝑖𝑦 = ∑𝐷𝑦𝑖𝑇=1|𝑅𝑖𝑑𝑦|

𝐷𝑦𝑖 ∗ 𝑉𝐾𝑖𝑑𝑦Trong đó Ridy là tỷ suất sinh lời của chứng khoán i vào ngày d năm y, VKidy là khối lượng giao dịch hằng ngày, Diy là số ngày trong đó dữ liệu sẵn có cho chứng khoán i trong năm y

Từ lúc thanh khoản trở thành vấn đề đáng được quan tâm của các ngân hàng thương mại thì đã có rất nhiều lý luận, nhiều tác giả đề cập đến những yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản Tuy nhiên, những nghiên cứu cho kết quả đáng tin cậy nhất đa số tập trung vào các nghiên cứu về ngân hàng ở Châu Âu và

(12)

(13)

Trang 29

Bắc Mỹ Những nghiên cứu trên tập trung vào hai nhóm yếu tố chính có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại: Nhóm thứ nhất là những yếu tố nội tại của chính bản thân các ngân hàng đó như: lợi nhuận, vốn chủ

sở hữu, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ cho vay trên huy động, quy mô ngân hàng, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng … Nhóm thứ hai đề cập đến các yếu tố vĩ mô như: tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, lãi suất cho vay, lãi suất cơ bản của NHTW, lãi suất bình quân liên ngân hàng … Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào các yếu tố nội tại, chưa đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của các yếu tố vĩ

mô đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng

2.4.2 Mô hình đo lường sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của ngân hàng

Bên cạnh những chỉ số (L1, L2, L3 và L4) đã được trình bày trong phần 2.3, được dùng để đo lường cho tính thanh khoản của ngân hàng, thì cũng có những tác giả đã xây dựng một mô hình để ước lượng tính thanh khoản của ngân hàng

Trong nghiên cứu của Shin – Kuo Yeh và các cộng sự (2015), các tác giả đã nhắc lại rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức tài chính Dựa trên nhận định đó, Shin – Kuo Yeh và các cộng

sự (2015) đã xây dựng một mô hình đo lường sự ảnh hưởng của trạng thái thanh khoản đến giá trị của ngân hàng, dựa trên mô hình giảm tính thanh khoản của Chen (2012) và một mô hình cơ cấu vốn bởi Geske (1979) Để kết hợp cả hai mô hình, chúng ta thực hiện các giả định giống như cả hai mô hình đo lường thanh khoản tài sản như trình bày ở phần 2.2

Theo Shin – Kuo Yeh và các cộng sự (2015), có hai nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm giá trị của một công ty (Firm Values), cũng như là dẫn đến nguy cơ một công

ty mất khả năng chi trả:

Thứ nhất, do hoạt động không hiệu quả dẫn đến việc công ty mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, gồm có: chi phí vận hành, chi phí quản lý hàng tồn kho và nghĩa vụ nợ ngắn hạn Đây chính là rủi ro hoạt động

Trang 30

Thứ hai, sự sụt giảm giá trị thanh khoản của các tài sản tài chính mà công ty sở hữu do yếu tố thị trường Việc này sẽ dẫn đến công ty khó khăn trong việc chuyển đổi tài sản tài chính thành tiền mặt, để thanh toán các nghĩa vụ tài chính Khi đó, các tài sản tài chính đối diện hai rủi ro chính: giảm thanh khoản và giảm thị giá Đây chính là rủi ro thanh khoản

Rủi ro hoạt động có thể xảy ra trước rủi ro thanh khoản, trong trường hợp một công

ty có thể chuyển đổi tài sản tài chính thành tiền mặt dễ dàng, nhưng vẫn không đủ nguồn lực tài chính để thanh toán các nghĩa vụ nợ, từ đây giá trị công ty cũng sụt giảm theo

Trái lại, rủi ro thanh khoản có thể xảy ra trước rủi ro hoạt động, trong trường hợp thị trường bắt đầu bước vào thời kỳ suy thoái Khi đó, việc sụt giảm giá trị thanh khoản của các tài sản tài chính có thể ảnh hưởng đến gía trị của công ty

Đối với công ty là các tổ chức tài chính hay ngân hàng, trạng thái thanh khoản ròng được hiểu là sự chênh lệch giữa tổng các nguồn tạo thành thanh khoản và tổng nhu cầu sử dụng thanh khoản Khi tổng giá trị tài sản của ngân hàng sụt giảm thì trạng thái thanh khoản ròng cũng giảm theo

Trong Nnghiên cứu của Shin – Kuo Yeh và các cộng sự (2015) tập trung vào việc phân tích cho trường hợp thị trường xảy ra tình trạng giảm tính thanh khoản Do đó, theo Shin – Kuo Yeh và các cộng sự (2015), mô hình đo lường sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của ngân hàng sẽ bao gồm hai phân tích:

Đầu tiên là phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố cụ thể gây ra sự sụt giảm tổng giá trị tài sản ngân hàng, từ đó cũng ảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng Đây cũng chính là phân tích sự sụt giảm tính thanh khoản của ngân hàng bắt nguồn từ đâu

Thứ hai, là phân tích sự ảnh hưởng ngược lại của trạng thái sụt giảm thanh khoản đến tổng giá trị tài sản của ngân hàng

Trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị công ty: Bằng

chứng thực nghiệm tại các ngân hàng Việt Nam”, tác giả cũng thực hiện cả hai

phân tích như Shin – Kuo Yeh và các cộng sự (2015), để xác định sự ảnh hưởng của

Trang 31

trạng thái thanh khoản đến giá trị ngân hàng, cũng như là xác định các nhân tố nào gây ra sự sụt giảm trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng

2.5 Những bằng chứng ảnh hưởng của trạng thái thanh khoản đến giá trị doanh nghiệp hoặc ngân hàng

Có rất nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến giá trị tài sản và tính thanh khoản đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị tài sản tài chính Trong khi có rất nhiều khái niệm về thanh khoản, thanh khoản liên quan đến định giá tài sản đại diện cho mức độ mà tài sản có thể được chuyển đổi sang tiền mặt phụ thuộc vào nhu cầu

và nguồn cung các tài sản Nếu tính thanh khoản của một tài sản giảm trên thị trường, các nhà đầu tư sẽ muốn bán tài sản, sau đó họ có thể hạ thấp giá của nó để thực hiện việc buôn bán được gọi là giảm tính thanh khoản

Hiện nay có nhiều tài liệu nghiên cứu về khả năng thanh khoản Tuy nhiên, tập trung chủ yếu vào nghiên cứu cấp độ vi mô chẳng hạn như khối lượng giao dịch, bid-ask, hoặc tần số giao dịch phản ánh tính thanh khoản trong vi thị trường Amihud (2002) đã sử dụng dữ liệu hàng ngày khối lượng giao dịch cổ phiếu để đo lường cổ phiếu thanh khoản Tuy nhiên, lưu ý rằng mặc dù các dữ liệu cần thiết trong tính toán của Amihud (2002) có sẵn tại các thị trường phát triển, nhưng không đầy đủ trong các thị trường mới nổi như Đài Loan Để khắc phục những vấn đề của mẫu chuỗi thời gian ngắn, Bekaert et al (2007) đã sử dụng tỷ lệ quan sát lợi nhuận trung bình hàng ngày so với tháng để đo tính thanh khoản cho 19 thị trường chứng khoán mới nổi

Pastor và stambaugh (2003) đo lường thanh khoản bằng hệ số đảo ngược giá,

do tác động giá tạm thời của khối lượng giao dịch Biện pháp này được dựa trên quan điểm rằng thanh khoản thấp nghĩa là có sự đảo chiều về tỷ suất sinh lời của khối lượng giao dịch cao hơn Các biện pháp của Roll (1984) đề nghị xem xét phát sinh từ thực tế giá sự phục hồi của giá và áp lực lên giá bid và ask Do đó, sự thay đổi biên động hiệp phương sai của giá cả là một biện pháp đo lường thanh khoản Bao, Pan, và Wang (2011) đưa ra biện pháp thanh khoản tổng hợp từ trái phiếu đầu

Trang 32

tư sử dụng các biện pháp Roll và xem xét những tác động tính thanh khoản thấp của giá

Al-Tamimi và Obeidat (2013) xác định các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến an toàn vốn của các ngân hàng thương mại của Jordan tại sở giao dịch chứng khoán Amman cho giai đoạn từ 2000 –2008 Nghiên cứu cho thấy rằng có mối tương quan tích cực ý nghĩa thống kê giữa mức độ đầy đủ vốn tại ngân hàng thương mại và các yếu tố rủi ro thanh khoản, và lợi nhuận trên tài sản, và một mối quan hệ nghịch đảo không có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ an toàn vốn tại ngân hàng thương mại và các yếu tố rủi ro vốn, rủi ro tín dụng và doanh thu

Lartey et al (2013) đã tìm cách để tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ lệ thanh khoản và lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Ghana Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trong giai đoạn 2005-2010, cả hai tính thanh khoản và lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết đã giảm Một lần nữa, nó cũng được tìm thấy rằng đã có mối quan hệ tích cực rất yếu giữa tính thanh khoản

và lợi nhuận của các ngân hàng được liệt kê ở Ghana

Các nghiên cứu hiện nay không thể phản ánh tác động của rủi ro thanh khoản đối với giá trị tài sản của tổ chức tài chính với mô hình định giá toàn diện Hơn nữa, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đã được coi là hai mối quan tâm lớn cho các tổ chức tài chính Ericsson và Renault (2006) cho rằng cả hai rủi ro có tương quan cao,

nó sẽ thích hợp hơn để sử dụng một mô hình có thể cung cấp sự tương tác giữa rủi

ro thanh khoản và tín dụng Mô hình của Chen (2012) đề xuất mô hình cân bằng đó

là phù hợp với mô hình Merton sử dụng rộng rãi trong mô hình đo lường rủi ro tín dụng Do đó, có thể lấp khoảng trống này bằng việc đo lường thanh khoản truyền thống và áp dụng các mô hình giảm tính thanh khoản thấp trong Chen (2012) để đánh giá giá trị của các tổ chức tài chính

Chen, Yang và Yeh (2014), đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra những yếu tố ảnh hưởng đến giảm thanh khoản công ty, cụ thể là các tổ chức tài chính Chen, Yang và Yeh (2014), xem xét liệu có sự thay đổi đáng kể trong giảm giá thanh khoản trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Mỗi ngân hàng

Trang 33

cũng có thể áp dụng một mô hình để hiểu rủi ro thanh khoản riêng của mình và thông qua các bước cần thiết để tăng cường thanh khoản của họ Có hai nguồn khác nhau đến rủi ro phá sản của doanh nghiệp: (1) doanh thu (2) thanh khoản mặc định

là do thiếu đủ tiền mặt để thanh toán các nghĩa vụ nợ hiện có Dựa nghiên cứu của Chen et al (2012), mô tả cấu trúc vốn của một công ty và giá trị mặc định kinh tế và tính thanh khoản của các mô hình Geske (1979), là một phần mở rộng thời gian của

mô hình Merton (1974) Chen và các cộng sự (2014) cũng thông qua Geske (1977) lựa chọn mô hình phù hợp nhất để kiểm tra kết quả nghiên cứu của Lehman Brothers ở giữa khủng hoảng tài chính năm 2008 Để ước tính giá trị tài sản của tổ chức tài chính, nghiên cứu kết hợp các mô hình thanh khoản của Chen (2012) với

mô hình Geske Các mẫu được sử dụng trong nghiên cứu của Chen (2012) bao gồm

22 tổ chức tài chính: 10 ngân hàng và 12 công ty tài chính, trong đó bao gồm toàn

bộ ngành công nghiệp tài chính tại Đài Loan với đầy đủ dữ liệu Nghiên cứu của Chen (2012) áp dụng phân tích hồi quy để điều tra đặc trưng doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc giảm thanh khoản Mô hình thanh khoản của các ngân hàng thương mại bao gồm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (𝑅𝑂𝐸), thanh khoản ngắn hạn- khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (𝐶𝑢𝑟𝑟𝑒𝑛𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜), tỷ lệ nợ trên tài sản (𝐷𝑒𝑏𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜),

tỷ lệ tiền mặt trên tài sản (𝐶𝑎𝑠ℎ) và quy mô doanh nghiệp (𝑆𝑖𝑧𝑒) Kết quả nghiên cứu cho thấy bằng chứng tác động của thanh khoản đến giá trị của các tổ chức tài chính, chỉ tiêu này có khuynh hướng tích cực kể từ sau suy thoái kinh tế thế giới

2008

Shin- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) nghiên cứu sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của công ty: Bằng chứng thực nghiệm tại các ngân hàng Đài Loan Shin- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) đã xây dựng mô hình đo lường dựa theo nghiên cứu của Chen (2012) với các biến bao gồm: Mức sụt giảm tính thanh khoản, Liquitdity Discount (LD), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (𝑅𝑂𝐸), thanh khoản ngắn hạn- khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (𝐶𝑢𝑟𝑟𝑒𝑛𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜), tỷ lệ nợ trên tài sản (𝐷𝑒𝑏𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜), tỷ lệ tiền mặt trên tài sản (𝐶𝑎𝑠ℎ) và quy mô doanh nghiệp (𝑆𝑖𝑧𝑒) Shin- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) đã chia các ngân hàng tại Đài Loan

Trang 34

thành ba nhóm chính Thứ nhất, ngân hàng hoạt động hiệu quả an toàn, ít bị ảnh hưởng khi thị trường sụt giảm thanh khoản (Safe banks) Thứ hai, ngân hàng hoạt động hiệu quả trung bình, bị ảnh đáng kể khi thị trường sụt giảm thanh khoản (Crisis- contagious banks) Cuối cùng, là những ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi thị trường sụt giảm thanh khoản (Liquidity- vulnerable banks) Shin- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) bằng phân tích thực nghiệm đã phát hiện ra những kết quả thú vị Đầu tiên, mức sụt giảm tính thanh khoản (LD) của các ngân hàng tại Đài Loan thay đổi khá mạnh trong suốt năm 2008, nhưng sau khoảng hai năm rưỡi đã có dấu hiệu phục hồi khả quan và ít biến động hơn Thứ hai, trước khủng hoảng năm

2008 thì trạng thái thanh khoản của các ngân hàng Đài Loan đã có dấu hiệu xấu Đây cũng là tín hiệu để những nhà đầu tư nhận biết khủng hoảng tài chính có khả năng xảy ra Thứ ba, Shin- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) phát hiện ra rằng có sự tương quan mạnh giữa ROE và mức sụt giảm tính thanh khoản của ngân hàng Khi ROE sụt giảm thì mức sụt giảm tính thanh khoản của ngân hàng cũng tăng lên

Ngoài ra, cũng có rất nhiều nghiên cứu về đề tài thanh khoản ngân hàng được thực hiện cho trường hợp Việt Nam

Trong nghiên cứu “ Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống các Ngân hàng thương mại Việt Nam”, của Trương Quang Thông (2013) đã lập luận rằng, rủi ro thanh khoản ngân hàng không những phụ thuộc vào các yếu tố bên trong hệ thống ngân hàng như là: quy mô tổng tài sản, dự trữ thanh khoản, vay liên ngân hàng và tỷ lệ vốn tự có so với tổng nguồn vốn, mà còn chịu sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô, tức là những yếu tố bên ngoài hệ thống ngân hàng như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, đặc biệt thể hiện qua độ trễ chính sách

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Băng Thanh (2013), với mục tiêu là đo lường các yếu tố tác động đến thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Nguyễn Thị Băng Thanh (2013) đã xây dựng mô hình hồi quy đo lường các yếu tố tác động đến thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam dựa trên nghiên cứu của Pavla Vodová (2011) Chỉ số đại diện cho trạng thái thanh khoản của các ngân hàng Việt Nam chính là các chỉ số L1, L2, L3 và L4 Những kết quả

Trang 35

chính đạt được trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Băng Thanh (2013) như sau: Thứ nhất, các biến lãi suất ngân hàng, lãi suất cho vay, tỷ lệ thất nghiệp không có tác động đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam Thứ hai, các chỉ số như Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản, quy mô ngân hàng, tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất thị trường tiền tệ, chênh lệch lãi suất, chính sách tiền tệ, đều có tác động đến các chỉ tiêu đo lường thanh khoản của các NHTM Việt Nam Kết luận của Nguyễn Thị Băng Thanh (2013) cho thấy, thanh khoản của các NHTM Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố vĩ mô hơn là các nhân tố nội tại bên trong của NHTM Việt Nam

Trong nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các NHTM Việt Nam”của Phạm Duy Hưng (2013), tác giả đã tiến hành phân tích để tìm ra những nhân tố chính ảnh hưởng tới tính thanh khoản của các NHTM Việt Nam Cũng giống như Nguyễn Thị Băng Thanh (2013), Phạm Duy Hưng (2013) đã

sử dụng biến LIQUITDITY (một trong bốn chỉ số L1, L2, L3 và L4) đại diên cho tính thanh khoản của ngân hàng thương mại Bằng việc phân tích dữ liệu bảng cho mẫu dữ liệu gồm 30 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, thông qua mô hình hồi quy OLS, Phạm Duy Hưng (2013), đã phát hiện ra ba nhân tố chính ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các NHTM Việt Nam, đó là: Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay/tổng tiền gửi khách hàng, Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu ngân hàng/Tổng tài sản có ngân hàng và quy mô ngân hàng

Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, Đặng Thị Thu Hiền (2013) tập trung vào việc phân tích cơ bản về quản trị rủi ro thanh khoản trong kinh doanh ngân hàng, cũng như là đánh giá tính thanh khoản và quản trị thanh khoản Nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” của Đặng Thị Thu Hiền (2013) đã tìm ra những

ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế và một số gợi ý cho hoạt động quản trị thanh khoản cho các ngân hàng Việt Nam, trong giai đoạn 2013 – 2015

Trong nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, của Nguyễn Văn Phương (2015), tác giả đã tiến hành

Trang 36

phân tích để tìm ra các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Dựa trên cơ sở mô hình nghiên cứu của Vodová (2011, 2013a và 2013b) và Trương Quang Thông (2013), nghiên cứu của Nguyễn Văn Phương (2015) đã được những kết quả chính như sau: thứ nhất, quy mô tài sản ngân hàng và vốn chủ sở hữu đều có ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro thanh khoản Thứ hai, tăng trưởng tín dụng tạo ra ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro thanh khoản Vì, khi ngân hàng tăng cường cho vay thì khối lượng tài sản thanh khoản kém mà ngân hàng nắm giữ sẽ tăng lên, còn tài sản có tính thanh khoản cao sẽ giảm đi Từ đó, khả năng thanh khoản của ngân hàng cũng giảm Thứ ba, các nguồn tài trợ bên ngoài như là thị trường liên ngân hàng có thể là giải pháp giúp các ngân hàng xử lý việc thiếu hụt thanh khoản trong ngắn hạn Khi gia tăng các nguồn tài trợ thì rủi ro thanh khoản của ngân hàng cũng giảm theo Thứ tư, tăng trưởng kinh tế sẽ tác động ngược chiều đến rủi ro thanh khoản Thứ năm, lạm phát không ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các ngân hàng tại Việt Nam

Gần đây nhất, nghiên cứu “Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, của Lê Quốc Toản (2016), tác giả đã sử dụng mô hình kiểm tra sức chịu đựng rủi ro thanh khoản của các ngân hàng dựa trên mô hình của Martin Cihak (2007), một trong hai mô hình nghiên cứu của IMF Ngoài ra, Lê Quốc Toản (2016) dùng mô hình để kiểm tra sức chịu đựng của các ngân hàng trước các cú sốc thanh khoản giả định Trong mô hình, các cú sốc thanh khoản được thể hiện dưới dạng tỷ

lệ rút tiền tăng đột biến Để đáp ứng nhu cầu chi trả tăng đột biến, các ngân hàng phải bán tài sản của mình và mô hình này không tính đến sự trợ giúp của ngân hàng nhà nước và thị trường liên ngân hàng Tài sản của ngân hàng bao gồm: tài sản có tính thanh khoản cao, với khả năng chuyển đổi thành tiền cao và tài sản có tính thanh khoản thấp, với khả năng chuyển đổi thành tiền thấp Kết luận chính trong nghiên cứu của Lê Quốc Toản (2016) cho thấy, trong giai đoạn đến năm 2016 tình hình thanh khoản của các ngân hàng thương mại niêm yết của Việt Nam vẫn chưa thật sự khoẻ mạnh, dễ dàng mất khả năng thanh khoản khi có cú sốc xảy ra mà

Trang 37

không có sự giúp đỡ từ bên ngoài Không chỉ có những ngân hàng có quy mô nhỏ

và vừa, mà một số ngân hàng có quy mô lớn cũng mất khả năng chi trả

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị công ty: Bằng

chứng thực nghiệm tại các ngân hàng Việt Nam”, của tác giả được dựa sự tiếp thu

các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác trong và ngoài Việt Nam, và nền tảng phương pháp dựa trên nghiên cứu “Ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của công ty: Bằng chứng thực nghiệm tại các ngân hàng Đài Loan” của Shin- Kuo Yeh

và các cộng sự (2015)

Trang 38

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Phần này sẽ trình bày phương pháp và dữ liệu nghiên cứu để có thể đạt được những mục tiêu mà tác giả đã trình bày ở phần 1.2 Đó là, phân tích ảnh hưởng tính thanh khoản đến giá trị công ty (Firm Values), các công ty chính là các ngân hàng thương mại Việt Nam

Dựa theo nghiên cứu của Shin- Kuo- Yeh và các cộng sự (2015), mô hình phân tích ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của các ngân hàng thương mại Đài Loan, bao gồm những biến chính: Mức giảm thanh khoản (LD), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (𝑅𝑂𝐸), thanh khoản ngắn hạn- khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (𝐶𝑢𝑟𝑟𝑒𝑛𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜), tỷ lệ nợ trên tài sản (𝐷𝑒𝑏𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜), tỷ lệ tiền mặt trên tài sản (𝐶𝑎𝑠ℎ) và quy mô doanh nghiệp (𝑆𝑖𝑧𝑒) Trong nghiên cứu của Shin- Kuo- Yeh và các cộng sự (2015), tác giả đã dùng các mô hình như là mô hình tuyến tính GLS (Generalized Least Square), mô hình các ảnh hưởng cố định FEM (Fixed Effects Model) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên REM (Random Effects Model) để phân tích

Vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả cũng sẽ sử dụng những mô hình tương tự với Shin- Kuo- Yeh và các cộng sự (2015), để phân tích sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của các ngân hàng thương mại Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả sự dụng thêm hai mô hình, bao gồm mô hình tuyến tính tổng quát hóa GLM (Generalized Liner Model) và mô hình vector tự hồi quy cho dữ liệu bảng PVAR Tác giả sử dụng nhiều mô hình là để đạt được kết quả ước lượng tối ưu, cũng như là

để tìm được kết quả ước lượng phù hợp nhất với mục tiêu nghiên cứu Những mô hình trong bài được ước lượng thông qua phần mềm Stata 12 và Eviews 8

Lý do tác giả sử dụng nhiều mô hình là vì: dữ liệu trong bài là dữ liệu bảng và thay đổi theo thời gian nên mô hình nghiên cứu thích hợp là FEM và REM Tuy nhiên 02

mô hình này được thực hiện dựa trên nền tảng cơ bản là cơ bản là mô hình GLS Do

đó GLS được thực hiện trước tiên, kế đến dựa trên kết quả GLS tác giả phân tích tiếp 02 mô hình FEM và REM Ngoài ra mô hình GLM là một mô hình tương đồng

Trang 39

với GLS, nhưng lại thiếu kỹ thuật ước lượng FEM và REM Vì vậy, mục đích sử dụng GLM chính là để đảm bảo kết quả GLS có ý nghĩa thống kê, tức là kết quả ước lượng GLM dùng để kiểm tra lại mô hình GLS Từ đó khi kết quả ước lượng GLS đạt mức thống kê như kỳ vọng thì tác giả mới có cơ sở thực hiện tiếp kỹ thuật phân tích FEM và REM

Trong chương này, tác giả sẽ trình bày chi tiết các mô hình phân tích và cách đo lường biến

3.1 Ảnh hưởng trạng thái thanh khoản đến giá trị ngân hàng

Dựa trên nghiên cứu của Chen và các cộng sự (2012) và nghiên cứu của Shih- Kuo Yeh và các cộng sự (2015) thì trạng thái thanh khoản của mỗi ngân hàng sẽ rất khác nhau Nguyên nhân là do mỗi ngân hàng khác nhau về quy mô hay khả năng sinh lợi Ngoài ra, các chỉ số đánh giá sức khỏe hoạt động của một ngân hàng như là tỷ lệ

nợ trên tài sản, tỷ lệ nợ ngắn hạn hay tỷ lệ tiền mặt có sẵn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản Vì vậy, tất cả những yếu tố được dùng để đánh giá khả năng hoạt động của một ngân hàng thì cũng sẽ giải thích được sự thay đổi trạng thái thanh khoản của một ngân hàng

Do đó, mô hình nghiên cứu để phân tích sự ảnh hưởng của tính thanh khoản đến giá trị của ngân hàng thương mại Việt Nam của tác giả, được xây dựng dựa trên cơ sở

lý thuyết về thanh khoản ngân hàng thương mại, giá trị của công ty (Firm Values)

và các công trình nghiên cứu quốc tế kết hợp với nghiên cứu nền tảng, như là của Al-Tamimi và Obeidat (2013) và Lartey et al (2013), của Chen, Yang và Yeh (2014), của Shih- Kuo Yeh và các cộng sự (2015), và các công trình nghiên cứu có liên quan nghiên cứu tình huống các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh

tế và tái cấu trúc ngành ngân hàng Tính thanh khoản ở đây chính là tính sụt giảm thanh khoản (Liquidity Discount- LD) Mô hình nghiên cứu cụ thể như sau:

Trang 40

Các biến khác của (14) bao gồm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (𝑅𝑂𝐸), khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (𝐶𝑢𝑟𝑟𝑒𝑛𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜), tỷ lệ nợ trên tài sản (𝐷𝑒𝑏𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜),

tỷ lệ tiền mặt trên tài sản (𝐶𝑎𝑠ℎ), và quy mô doanh nghiệp (𝑆𝑖𝑧𝑒)

Trạng thái sụt giảm thanh khoản có thể thay đổi theo đặc điểm cụ thể ngân hàng Với mục đích này, tác giả thu thập dữ liệu đặc trưng của ngân hàng để giải thích việc giảm thanh khoản trong một phân tích hồi quy Những đặc trưng theo từng ngân hàng là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (𝐶𝑢𝑟𝑟𝑒𝑛𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜), tỷ lệ nợ trên tài sản (𝐷𝑒𝑏𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜), tỷ lệ tiền mặt trên tài sản,

và quy mô doanh nghiệp ROE được đo bằng thu nhập ròng chia vốn chủ sở hữu bình quân Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (𝐶𝑢𝑟𝑟𝑒𝑛𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜), được đo lường bằng tài sản lưu động trên quy mô nợ ngắn hạn Tỷ lệ nợ trên tài sản (𝐷𝑒𝑏𝑡 𝑅𝑎𝑡𝑖𝑜) đo lường bằng tỷ lệ tổng nợ phải trả trên quy mô tổng tài sản và tỷ lệ tiền mặt trên tài sản (𝐶𝑎𝑠ℎ), là lượng tiền mặt chia cho tổng tài sản Quy mô ngân hàng (𝑆𝑖𝑧𝑒) là giá trị log của giá trị tài sản của ngân hàng, biểu hiện cho sự thay đổi quy mô của ngân hàng theo thời gian

Khi tiến hành ước lượng mô hình (14), tác giả sẽ tìm câu trả lời cho hai mục tiêu

nghiên cứu: Thứ nhất, các nhân tố nào gây ra sự sụt giảm tính thanh khoản tại các ngân hàng Việt Nam Thứ hai, khi thị trường xảy ra tình trạng giảm tính thanh

khoản thì ảnh hưởng như thế nào đến khả năng hoạt động của các ngân hàng

Ngày đăng: 02/12/2017, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Đặng Thị Thu Hiền, 2013. Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận Văn Thạc Sĩ, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
19. Đoàn Thị Vân Khanh, 2013. Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Luận Văn Thạc Sĩ, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
20. Hoàng Ngọc Nhậm, 2007. Giáo Trình Kinh Tế Lượng. Đại học Kinh Tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Trình Kinh Tế Lượng
21. Lê Quốc Toản, 2016. Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận Văn Thạc Sĩ, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
22. Nguyễn Cao Vũ, 2016. Quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng TMCP Việt Nam. Luận Văn Thạc Sĩ, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng TMCP Việt Nam
23. Nguyễn Đăng Dờn, 2009. Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại. Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại
24. Nguyễn Ngọc Thanh, 2011. Bài Tập Kinh Tế Lượng. Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài Tập Kinh Tế Lượng
25. Nguyễn Thị Băng Thanh, 2013. Đo lường các yếu tố tác động đến thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận Văn Thạc Sĩ, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường các yếu tố tác động đến thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
26. Nguyễn Thị Mỹ Linh, 2012. Quản trị thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Luận Văn Thạc Sĩ, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị thanh khoản tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
28. Nguyễn Văn Phương, 2015. Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận Văn Thạc Sĩ, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
29. Nguyễn Văn Tiến, 2010. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
30. Nguyễn Văn Tiến, 2013. Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
31. Phạm Duy Hưng, 2013. Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các NHTM Việt Nam. Luận Văn Thạc Sĩ. Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các NHTM Việt Nam
32. Phan Thị Cúc, 2009. Quản trị ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
33. Phan Thị Thu Hà, 2009. Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất Bản Giao Thông Vận Tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất Bản Giao Thông Vận Tải
34. O. Blanchard. Fulbright Economics Teaching Program 2000- 2001. Chương 16. Hồi quy dữ liệu Bảng. Người dịch Kim Chi, Hiệu Đính: Nam An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fulbright Economics Teaching Program 2000- 2001. Chương 16. Hồi quy dữ liệu Bảng
35. Trần Ngọc Trà Mi, 2014. Kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản các ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận Văn Thạc Sĩ, Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản các ngân hàng thương mại Việt Nam
36. Trương Quang Thông, 2010. Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài Chính
37. Trương Quang Thông, 2013. Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí phát triển kinh tế, số 276, trang 50-62.Danh mục tài liệu Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống các Ngân hàng thương mại Việt Nam
38. Acharya, V., S. Davydenko, and K. Strebulaev, 2012. Cash Holdings and Credit Risk. Review of Financial Studies, 25, 3572-3609 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cash Holdings and Credit Risk

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm