Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 2000- 2005, tiếp tục công cuộc đổi mới của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá Thủ đô, Quận Đống Đa đã phát huy, khai thác triệt để các tiềm năng kinh tế, huy động tối đa mọi nguồn lực và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Chính vì vậy, những bài học trong giai đoạn trước thực sự sẽ là những kinh nghiệm đúc rút quý báu mang tính thực tiễn cao, những bài học quý giá, tạo cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch 2006-2010 thành công, góp phần vào thực hiện những thắng lợi của Quận nói riêng và của Thành phố nói chung. Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006- 2010 có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm hoàn thành nhiệm vụ kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010, thực hiện thắng lợi nghị quyết 15 - NQ/TW của Bộ chính trị, Pháp lệnh Thủ đô và kỷ niệm trọng thể 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Bước vào 5 năm tiếp theo của giai đoạn ( 2001-2010) của thế kỷ 21, thế kỷ của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Quận Đống Đa sẽ được kế thừa những thành quả phát triển của kế hoạch 5 năm 2001-2005, tiếp tục phát huy những kinh nghiệm tích luỹ trong khai thác nguồn lực, trong chỉ đạo điều hành phát triển, trong đổi mới quản lý kinh tế - xã hội, tận dụng được những cơ hội mới với vị thế là một phần của thủ đô Hà Nội. Song, cũng phải thừa nhận rằng là một bộ phận của Hà nội khi mà tình hình kinh tế xã hội Thủ đô cũng đứng trước nhiều thách thức gay gắt, trước sự biến động nhiều mặt của khu vực và thế giới, nhân dân và chính quyền quận Đống đa cũng xác định rõ những nhiệm vụ khó khăn trong giai đoạn 5 năm ( 2006-2010) tiếp theo. Trong đó, Quận cần tập trung vào việc bảo đảm ổn định vững chắc về chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế toàn diện và bền vững, góp phần xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại. Với vai trò quan trọng của việc tăng trưởng kinh tế quận, em quyết định chọn đề tài: Một số biện pháp quản lý nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Quận Đống Đa giai đoạn 2006-2010
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 2000- 2005, tiếp tục công cuộcđổi mới của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá Thủ đô, Quận Đống Đa
đã phát huy, khai thác triệt để các tiềm năng kinh tế, huy động tối đa mọinguồn lực và đạt được những kết quả đáng khích lệ Chính vì vậy, những bàihọc trong giai đoạn trước thực sự sẽ là những kinh nghiệm đúc rút quý báumang tính thực tiễn cao, những bài học quý giá, tạo cơ sở cho việc xây dựng
kế hoạch 2006-2010 thành công, góp phần vào thực hiện những thắng lợicủa Quận nói riêng và của Thành phố nói chung
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006- 2010 cóvai trò đặc biệt quan trọng nhằm hoàn thành nhiệm vụ kinh tế xã hội giaiđoạn 2001-2010, thực hiện thắng lợi nghị quyết 15 - NQ/TW của Bộ chínhtrị, Pháp lệnh Thủ đô và kỷ niệm trọng thể 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
Bước vào 5 năm tiếp theo của giai đoạn ( 2001-2010) của thế kỷ 21,thế kỷ của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Quận Đống Đa sẽ được kế thừanhững thành quả phát triển của kế hoạch 5 năm 2001-2005, tiếp tục phát huynhững kinh nghiệm tích luỹ trong khai thác nguồn lực, trong chỉ đạo điềuhành phát triển, trong đổi mới quản lý kinh tế - xã hội, tận dụng được những
cơ hội mới với vị thế là một phần của thủ đô Hà Nội Song, cũng phải thừanhận rằng là một bộ phận của Hà nội khi mà tình hình kinh tế xã hội Thủ đôcũng đứng trước nhiều thách thức gay gắt, trước sự biến động nhiều mặt củakhu vực và thế giới, nhân dân và chính quyền quận Đống đa cũng xác định
rõ những nhiệm vụ khó khăn trong giai đoạn 5 năm ( 2006-2010) tiếp theo
Trang 2Trong đó, Quận cần tập trung vào việc bảo đảm ổn định vững chắc về chínhtrị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế toàn diện và bền vững, góp phầnxây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại.
Với vai trò quan trọng của việc tăng trưởng kinh tế quận, em quyếtđịnh chọn đề tài:
Một số biện pháp quản lý nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Quận Đống Đa giai đoạn 2006-2010
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của chuyên đề gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế của quậnĐống Đa, tất cả các lĩnh vực mà ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế của quận
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao quát tất cả các phạm vi hoạt độngkinh tế, chính trị, xã hội của quận Đống Đa trong những năm gần đây (2001-2005)
Nội dung và kết cấu chuyên đề
Lời mở đầu
2
Trang 3ChươngI: Quản lý Nhà nước và tăng trưởng kinh tế
Chương II: Thực trạng tăng trưởng kinh tế quận Đống Đa và
vai trò quản lý Nhà nước của Quận
Chương III Giải pháp quản lý Nhà nước nhằm thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế quận Đống Đa đến năm 2010
Trang 4Chương I:
Quản lý Nhà nước và tăng trưởng kinh tế quận
I Tăng trưởng kinh tế quận
và chủ yếu của quận là tính cách không gian khu vực của sự thống nhất hữu
cơ của thực thể kinh tế, thực thể xã hội và thực thể vật chất, các ngành kinh
tế, dân số và kiến trúc Tuy nhiên xét về mặt lịch sử phát triển quận vàphương thức trưởng thành của quận thì thực thể quận trước hết là thực thểkinh tế Tựu chung lại, tăng trưởng kinh tế quận gồm:1
Đầu tiên, kinh tế quận là tổ hợp có hệ thống đạo lý của một số ngànhkinh tế phi nông nghiệp, mà các ngành này có đặc trưng cơ bản là tập trung
về địa lý, tiến bộ về công nghệ, chuyên môn hoá hệ thống tổ chức và hiệuquả kinh doanh cao - chúng không chỉ phân bố ở các ngành sản xuất vật chất
và các ngành kinh doanh như công nghiệp, thương nghiệp, xây dựng, giaothông vận tải, mà còn gồm các ngành sinh hoạt xã hội như dịch vụ, du lịch,tiền tệ, tài chính, bảo vệ môi trường, phúc lợi xã hội Đó là tính đa dạng hoặc
4
Trang 5tính chất khau nhau về chất của quận, đồng thời cũng là toàn bộ cơ sở củatăng trưởng kinh tế quận.
Thứ hai, kinh tế quận là tập hợp của cải xã hội với các loại dạng xéttheo khía cạnh nội dung vật chất, không chỉ bao gồm các yếu tố sản xuất vậtchất như đất đai, tài nguyên, vốn, sức lao động, công nghệ và thông tin; màcòn bao gồm các yếu tố sinh hoạt quận hoặc yếu tố sản xuất vật chất giántiếp như các loại hàng hoá lưu động, các loại kiến trúc và các công trìnhcông cộng, phúc lợi xã hội không ngừng biến đổi trong quận, đây là tế bàovật chất của quận
Ở các giai đoạn phát triển khác nhau của kinh tế quận, điều kiện môitrường kinh tế xã hội khác nhau, tăng trưởng giá trị, tăng trưởng dân số vàtăng trưởng vật chất có ý nghĩa khác nhau đối với quá trình phát triển kinh tếquận Sự phát triển các ngành kinh tế quận thời kỳ công nghiệp hoá tư bảnchủ nghĩa, dẫn tới niên đại 50 phát sinh ở Phương Tây cuộc cách mạng xâydựng và quy hoạch quận; sự gia tăng nhanh chóng dân số quận trong cácnước đang phát triển đã làm phát sinh nhiều bệnh quận Tuy nhiên, chỉ cóxem xét từ quá trình tăng trưởng giá trị của quận, từ quá trình sản xuất ra cácloại của cải vật chất và dịch vụ của quận, mới thấy các ngành phi sản xuấtvật chất và các ngành kết cấu hạ tầng quận, cũng có ý nghĩa quan trọngngang hàng với ngành sản xuất vật chất trực tiếp
Tính tiên tiến của quá trình tăng trưởng kinh tế quận, không chỉ cótính hợp lý của tỷ lệ các yếu tố vật chất và tính hiệu quả cao của việc sảnxuất ra các ngành sản xuất vật chất, mà còn ở tính tiên tiến và tính hợp lýcủa phương thức kết hợp toàn bộ các ngành kinh tế quận, nhất là giữa cácngành sản xuất vật chất với các ngành kết cấu hạ tầng, cũng như ở sự ănkhớp giữa các ngành kinh tế chủ đạo với toàn bộ các ngành kinh tế củaquận
Trang 6Tăng trưởng giá trị, tăng trưởng dân số và tăng trưởng vật chất củaquận luôn quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau Các ngành kinh tếhiện đại đều mang tính dung hoà kinh tế- xã hội rõ ràng, đặc tính này đượcbiểu hiện tập trung ở sự phát triển của tổng hợp hoá, thông tin hoá, xã hộihoá của các ngành trong quận và sự tăng cường mức độ quan hệ giữa chúng.Điều này không thể không đưa chúng ta đến chỗ chúng ta phải suy nghĩ vànhận thức lại đối với cơ chế tăng trưởng kinh tế quận và chính sách đối vớicác ngành kinh tế đô thị.
2 Ý nghĩa
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu đầu tiên của tất cả các quận trongphạm vị thành phố, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạnphát triển của bản thân quận đó Điều này càng có ý nghĩa quan trọng đốivới các nước đang phát triển trong quá trình theo đuổi mục tiêu tiến kịp vàhội nhập với các nước phát triển
3 Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế quận
3.1 Chỉ tiêu chung đánh giá tăng trưởng kinh tế đô thị 1
Đo lường tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề có tính bảnchất của việc phân tích kinh tế quận Cũng như muốn tìm hiểu sự thật vềmột sự vật thì phải làm rõ mối quan hệ biến đổi về mặt số lượng của cácnhân tố ảnh hưởng đến nó Về điểm này, các nhà kinh tế học phương tây đãlàm được nhiều việc Nhưng đặt trong sự phát triển kinh tế như nước ta hiệnnay, thì còn xa mới có đủ điều kiện để tiến hành phân tích thuần tuý về mặt
số lượng
1 Giáo trình Kinh tế học đô thị, NXB Khoa học và kỹ thuật, tr: 141
6
Trang 7Sự tăng trưởng của một nền kinh tế được biểu hiện ở sự gia tăng sảnlượng hàng năm do nền kinh tế đó tạo ra Vì vậy, số đo chung sự tăng trưởngkinh tế quận nói riêng hay đô thị và kinh tế quốc dân nói chung thường baogồm các đại lượng sau:
Sự tăng trưởng của một nền kinh tế được biểu hiện ở sự gia tăng sảnlượng hàng năm do nền kinh tế đó tạo ra Vì vậy, số đo chung sự tăng trưởngkinh tế đô thị nói riêng và tăng trưởng kinh tế quốc dân nói chung thườngbao gồm các đại lượng: Tổng sản phẩm quốc nội(GDP), tổng sản phẩm quốcdân(GNP), sản phẩm quốc dân thuần tuý(NNP), thu nhập quốc dân sảnxuất(NI), thu nhập quốc dân sử dụng(NDI) Trong đó, GDP và GDP bìnhquân đầu người là số đo được áp dụng rộng rãi nhất trong việc phân tích tăngtrưởng kinh tế
GDP là đại lượng dùng để đo sản lượng ròng hay giá trị gia tăng củamột nền kinh tế bằng các đo lường hàng hoá và dịch vụ được mua bằng tiền,không tính phần sản lượng không được mua vào và bán ra
3.2 Các chỉ tiêu cụ thể đo lường sự tăng trưởng kinh tế quận
Số đo tăng trưởng kinh tế là một vấn đề cốt lõi của kinh tế học lý luận
Số đo cụ thể sự tăng trưởng kinh tế hết sức đa dạng, tuỳ theo các mục đíchkhác nhau của sự phân tích mà sử dụng các đại lượng khác nhau Tốc độtăng trưởng của một nền kinh tế bất kỳ được biểu hiện ở mức tăng phần trămhàng năm sản lượng của nó, vì vậy xét về mặt nguyên tắc để đo lường sựtăng trưởng kinh tế quận thì phải tiến hành phân tích mối quan hệ hàm sốgiữa mức sản lượng với các nhân tố chế ước nó Sự phân tích được bắt đầu
từ hàm sản xuất sau:
Trang 8Sản lượng = f ( vốn sản xuất, số lượng lao động, tài nguyên thiên
nhiên, kỹ thuật công nghệ)
Theo hàm sản xuất trên thì có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sảnlượng nhưng trong thực tiễn khi phân tích sự tăng trưởng kinh tế quận phảichú ý nhiều hơn đến nhân tố vốn sản xuất Quan trọng là các nhân tố sau:
3.2.1 Lượng tăng nhu cầu và lượng tăng đầu tư: Sự gia tăng đầu tư
được thực hiện thông qua hai hình thức
+ Một là nhu cầu hàng hoá trên thị trường kéo giá cả lên cao, nó trởthành tín hiệu chỉ đạo của việc đầu tư không đủ cho ngành đó, trong điềukiện sử dụng đầu tư còn chưa đầy đủ ,có thể gia tăng đầu tư tự chủ ( tự đầu
tư của ngành, doanh nghiệp )
+ Hai là, đầu tư tự chủ dẫn đến sự mở rộng cơ cấu nhu cầu của cácngành và các doanh nghiệp khác, phát sinh sự gia tăng đầu tư dẫn xuất
Quá trình vận doanh của toàn bộ cơ chế đầu tư là: Nhu cầu chủ Đầu tư tự chủ…, Nhu cầu phát sinh - Đầu tư dẫn xuất…, hình thành một quátrình phát triển tuần hoàn, không ngừng lặp đi lặp lại Vì vậy, lượng tăngnhu cầu và lượng tăng đầu tư hàm số của nhau
đạo-3.2.2 Hiệu suất công nghệ Hiệu suất công nghệ ở đây đại diện cho
sự ảnh hưởng lớn hay nhỏ của hình thái công nghệ và trình độ tiến bộ côngnghệ kết tinh trong đầu tư đối với sự tăng trưởng kinh tế đô thị Do đó, trongtoàn bộ quá trình tăng trưởng kinh tế đô thị, hiệu suất công nghệ không chỉbiểu hiện thành hệ số điều tiết của năng suất đầu tư mà còn trực tiếp là mộtyếu tố của tăng trưởng kinh tế Thậm chí có trường hợp, tác dụng của nâng
8
Trang 9cao hiệu suất công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế đô thị, biểu hiện thànhbội số của tác dụng nân cao hiệu suất đầu tư.
3.2.3 Năng suất đầu tư cận biên và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đô thị.
Đầu tư đô thị mang lại ba loại hiệu quả trực tiếp: Sáng tạo sức sản xuất, tănggia sản xuất và tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao trình độ công nghệ sảnxuất Mà sự biến đổi năng suất cận biên của đầu tư đô thị thì quyết định bởihai nhân tố:
+ Một là, sự biến đổi điều kiện tài nguyên và thị trường đô thị, đây làyếu tố sản xuất trực tiếp và là mặt có tính quyết định
+ Hai là, các nhân tố có liên quan trực tiếp tới việc tổ chức, quản lý…đây là mặt hiệu quả xã hội của đầu tư và tác dụng của nhân tố chính sách
Vì vậy, xét về bản chất thì năng suất đầu tư cận biên có thể tạo ra tiềmlực cho tăng trưởng kinh tế đô thị, xu thế, mô thức đầu tư và hiệu suất côngnghệ có ảnh hưởng to lớn đối với sự gia tăng sức sản xuất của đô thị
3.2.4 Sự tổn thất của sức sản xuất đầu tư Nguyên nhân gây ra sự
tổn thất này là:
+ Sự hạn chế của việc cung cấp các yếu tố phi vốn Tài nguyên thiênnhiên, sức lao động;
+ Sự tổn thất của việc thay thế đầu tư- lợi ích cơ hội;
+ Sự tổn thất của việc cung cấp đồng bộ vốn ( vốn tiền tệ, vốn hànghoá) hoặc là sự tổn thất của việc đầu tư sai lầm do cơ chế điều phối đầu tưbuông lỏng gây ra Sự biến đổi của nhu cầu thị trường cũng có thể làm choquy mô và cơ cấu đầu tư đã được hình thành không thể hoàn toàn thích ứngvới sự biến đổi đó, dẫn đến giảm thiểu tỷ suất hiện thực của năng suất đầu
tư Mặc dù như vậy, ở đây vẫn coi các loại tổn thất nói trên là một hiện
Trang 10tượng không bình thường, mà thực ra hiện nay vẫn chưa có cách để tính toánchuẩn xác.
3.2.5 Hiệu quả ngoại vi và tài chính cộng cộng Hiệu quả ngoại vi có
nghĩa là đô thị cho phép người đầu tư khi đề ra quyết sách có thể xem nhẹ sựchênh lệch giữa hiệu quả xã hội với hiệu quả doanh nghiệp Hiệu quả ngoại
vi có thể là một lại lợi ích hoặc là một loại giá thành, vì vậy về mặt lý luận
nó được chia ra thành: ngoại vi tích cực và ngoại vi tiêu cực
Đặc tính của hiệu quả ngoại vi do hoạt động đầu tư của doanh nghiệptrực tiếp gây ra, nhưng xã hội lại hưởng thụ thành quả hoặc gánh chịu toàn
bộ hậu quả Ở đây, tài chính công cộng đô thị giữ vai trò quyết định, sự điềutiết của chính sách cũng có tác dụng tương đối lớn
4 Các điều kiện để tăng trưởng
Theo nhà kinh tế học người Anh Batơn đề ra ba điều kiện đảm bảocho sự tăng trưởng kinh tế đó là1:
- Mức độ tương tự của cơ cấu kinh tế đô thị với cơ cấu kinh tế quốcdân Tính tương tự này quyết định bởi độ nhạy cảm của kinh tế đô thị đốivới tổng mức kinh tế quốc dân
- Tính co giãn về thu nhập của sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của đôthị Tính co giãn thu nhập tương đối lớn chứng tỏ thu nhập quốc dân của đôthị có thể tăng trưởng càng nhanh so với thu nhập quốc dân của cả nước, còntính co giãn thu nhập tương đối nhỏ nói lên rằng sự tăng trưởng của xuấtkhẩu hàng hoá đô thị gặp nhiều khó khăn
- Tính linh hoạt và tính nhạy cảm đối với sự biến động của kinh tế đôthị Đô thị cần xây dựng một hệ thống các ngành kinh tế linh hoạt, năng
10
Trang 11động thì mới có thể thích ứng đầy đủ với yêu cầu biến đổi của thị trườngkhông ngừng đổi mới và hợp lý hoá hệ thống tổ chức các ngành kinh tế.
Như vậy, các điều kiện tác động tới tăng trưởng kinh tế quận có thểtựu chung xem xét dưới hai khía cạnh sau:
4.1 Xét trêm khía cạnh tình trạng kinh tế và trình độ phát triển của các ngành kinh tế xung quanh quận.
Quận, đô thị với tính cách là một thực thể kinh tế mở cửa nó có mốiliên hệ kinh tế rộng rãi với khu vực xung quanh Quận cùng với khu vựcxung quanh không chỉ hình thành chỉnh thể của hệ thống sản xuất, mà cònhình thành mạng lưới thương nghiệp, dịch vụ, thông tin tương đối độc lập.Trong mối liên hệ kinh tế với khu vực xung quanh, quận do điều kiện kinh tế
ưu việt của mình, nó có tác dụng thu hút và tác dụng khuyếch tán to lớn đốivới các khu vực xung quanh Các điều kiện kinh tế chủ yếu là:
- Hình thức công nghiệp hiện đại tiến bộ, có thể sản xuất chuyên môn hoá và hiệp tác hoá, có hiệu quả kinh tế tương đối cao.
- Điều kiện kỹ thuật tiên tiến, làm cho quận có ưu thế cạnh tranh, do vậy có thể thu hút vào quận một số lượng lớn tài nguyên.
- Hệ thống thương nghiệp, tiền tệ hoàn thiện, làm cho quận trở thành thị thường tài nguyên về sản phẩm rất lớn, do đó trở thành nơi tập trung các nguồn tài nguyên của khu vực.
- Hệ thống dịch vụ hoàn hảo, tăng cường công năng và nâng cao hiệu suất của quận.
Mặt khác, tăng trưởng kinh tế quận lại chịu sự chế ước và ảnh hưởngcủa tình trạng kinh tế và trình độ phát triển của các ngành kinh tế của khuvực xung quanh Không chỉ kinh tế quận gặp phải có sự cạnh tranh của khu
Trang 12vực xung quanh đối với tàinguyên và các yếu tố sản xuất, hơn nữa trình độphát triển các ngành kinh tế của khu vực xung quanh cũng ảnh hưởng đến thịphần chiếm lĩnh thực tế của quận.
4.2 Xét trên khía cạnh trình độ tương quan của kinh tế quận với quận và với nền kinh tế quốc dân, ảnh hưởng tới tốc độ và tính ổn định của tăng trưởng kinh tế quận
Do đó, tính tương quan của kinh tế quận với đô thị và nền kinh tếquốc dân, sẽ từ hai mặt ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế quận
Mặt thứ nhất, sự khác biệt giữa trình độ chuyên môn hoá các ngànhkinh tế quận với cơ cấu các ngành kinh tế quốc dân Sự khác biệt này khôngchỉ ảnh hưởng đến thị phần mà quận chiếm lĩnh trong thị trường quốc nội,đồng thời cũng ảnh hưởng đến độ nhạy cảm của kinh tế quận Nói chung,nền kinh tế quận với trình độ chuyên môn hoá cao, có tính độc lập lớn vàsức cạnh tranh thị trường mạnh, nhưng tính co giãn kém và thích ứng thịtrường yếu
Mặt thứ hai, tính không ăn khớp giữa chu kỳ đổi mới các ngành kinh
tế quốc dân sẽ giảm bớt sự ảnh hưởng của đại tuần hoàn đầu tư trong nướcđối với sự tăng trưởng kinh tế quận, đồng thời cũng lan truyền đến sự biếnđổi tính co giãn thu nhập của sản phẩm xuất khẩu của quận Bởi lẽ, thịtrường thống nhất quốc nội với chu kỳ đổi mới kinh tế quốc dân trên mức độlớn là ăn khớp với nhau, cơ cấu của nhu cầu thị trường về căn bản quyếtđịnh bởi cơ cấu và mức thu nhập, nhưng chịu sự ảnh hưởng rất lớn của hệthống sản xuất
12
Trang 13BIẾN SỐ ĐẦU VÀO SỰ CÂN BẰNG BIẾN SỐ ĐẦU RA CỦA THỊ TRƯỜNG
Sơ đồ1: Mối quan hệ các nhân tố kinh tế của sự tăng trưởng 1
II Vai trò Nhà nước trong tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là yếu tố cơbản điều tiết hoạt động của nền kinh tế Sự tác động qua lại giữa tổng mứccung và tổng mức cầu tạo ra mức thu nhập thực tế, công ăn việc làm- tỷ lệthất nghiệp, mức giá- tỷ lệ lạm phát, đó là cơ sở để giải quyết ba vấn đề cơbản của nền kinh tế
- Cung A
A
B
Tổng sản phẩm quốc nội
Trang 14Mặt khác, một chiều hướng nổi bật trong lịch sử hiện đại là vai tròngày càng tăng của Chính phủ trong đời sống kinh tế Việc mở rộng kinh tếthị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước không chỉ vì thị trường
có những khuyết tật, mà còn vì xã hội đặt ra mục tiêu mà thị trường dù cóhoạt động tốt cũng không thể đáp ứng được Theo Samuelson, trong nềnkinh tế hỗn hợp hiện đại, Nhà nước có 4 chức năng chính cơ bản: thiết lậpkhuôn khổ pháp luật; xác định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô; tác độngvào việc phân bổ tài nguyên để cải thiện hiệu quả kinh tế Theo ông, Nhànước cần tạo ra môi trường ổn định để cho các doanh nghiệp và các hộ giađình có thể tiến hành sản xuất và trao đổi sản phẩm một cách thuận lợi
Nhà nước cũng cần đưa ra những sản phẩm một cách thuận lợi Chínhphủ cũng cần đưa ra những định hướng cơ bản về phát triển kinh tế vànhững hướng ưu tiên cần thiết cho từng thời kỳ và sử dụng các công cụ nhưthuế quan, chương trình tín dụng, trợ giá để hướng dẫn các ngành, các doanhnghiệp hoạt động
Nhà nước cũng thường xuyên tìm cách duy trì công ăn, việc làm ởmức cao bằng cách đưa ra cách chính sách thuế, chi tiêu và tiền tệ hợp lý.Đồng thời, khuyến khích một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế vững chắc, chốnglạm phát và giảm ô nhiễm môi trường Nhà nước thực hiện phân phối lại thunhập của cải giữa các doanh nghiệp và các hộ gia đình thông qua thuế thunhập, thuế tài sản và những biện pháp khác Chính phủ cũng thực hiện cáchoạt động phúc lợi công cộng như cung cấp phúc lợi cho người già, ngườitàn tật và những người thất nghiệp Tóm lại, các vai trò to lớn của Nhà nướcđối với tăng trưởng kinh tế gồm bốn vấn đề chủ yếu:
1 Vai trò định hướng phát triển kinh tế
14
Trang 15Trong nền kinh tế thị trường thuần tuý, cơ chế thị trường không thểgiải quyết có hiệu quả những vấn đề cơ bản, những khuyết tật nảy sinh trongquá trình hoạt động Nó chỉ có thể được giải quyết bằng sự can thiệp củaNhà nước thông qua các loại hình kế hoạch và các công cụ quản lý khácnhau Để các thành phần kinh tế có thể phát triển nhanh và bền vững mặtkhác lại không đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa thìvai trò to lớn củaNhà nước lại càng được khẳng định hơn bao giờ hết.
Vai trò định hướng phát triển kinh tế là vai trò quan trọng nhất củaNhà nước đối với tăng trương kinh tế Nhà nước phải căn cứ vào điều kiệnkinh tế của từng thời kỳ nhất định để tiến hành lựa chọn chính xác mục tiêuphát triển kinh tế và phương án thực thi cho thời kỳ nhất định trong tươnglai Cụ thể là Nhà nước phải lựa chọn mục tiêu chung dài hạn của phát triểnkinh tế trong một thời kỳ dài và các biện pháp quan trọng để thực hiện mụctiêu chung dài hạn đó cùng với những kế hoạch trong từng giai đoạn cụ thể.Xuất phát từ góc độ toàn cục, tổng thể mà Nhà nước xác định phươnghướng, quy mô, cơ cấu và tốc độ phát triển nền kinh tế quốc dân, phối hợp
và điều hoà sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực, các khu vực
Bên cạnh việc kết hợp lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của quốc giacòn phải gắn kết hài hoà lợi ích khu vực và lợi ích tổng thể đất nước, khắcphục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường
Sự can thiệp của Nhà nước nhằm ổn định và phát triển kinh tế đã đượcthừa nhận cả về mặt lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế ở các nước trênthế giới song các hình thức và phương pháp can thiệp của các Chính phủ lạirất khác nhau Tuy nhiên tựu chung lại là Chính phủ phải làm như thế nào đểcân đối tổng cung cầu xã hội và cơ cấu sản xuất xã hội không chỉ trong bộphận mà là trong tổng thể, không chỉ trong ngắn hạn và hình thức mà còntrong dài hạn và cơ bản, trong định hướng phát triển chung của cả quốc gia
Trang 16Đây là phương hướng chỉ đạo quan trọng của phát triển lâu dài và ổn địnhcủa nền kinh tế; là hạt nhân của quản lý kinh tế, xuyên suốt quá trình quản lýnền kinh tế, là cơ sở để thực hiện và phát huy các chức năng khác của quản
lý kinh tế.1
2 Vai trò tạo môi trường cho tăng trưởng kinh tế
Nền kinh tế thị trường chứa đựng trong nó xu thế hội nhập khu vực vàhội nhập thế giới Hội nhập đem đến cho nền kinh tế quốc dân những cơ hộiphát triển, song cũng không ít khó khăn thách thức Nhất là đối với các quốcgia có nền kinh tế đang phát triển, còn thua kém những nước phát triển vềnhiều phương diện như Việt Nam thì vai trò của Nhà nước để tạo ra môitrường thuận lợi, ưu đãi để tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết
Nếu không có sự can thiệp hữu hiệu của Nhà nước bằng các chínhsách đối ngoại thì sẽ không được các nguồn lực nước ngoài kể cả vốn, côngnghệ, thị trường và kinh nghiệm quản lý, đồng thời khó có thể khắc phụcđược những bất cập do hội nhập sinh ra, kể cả những vấn đề kinh tế, vănhoá và chủ quyền quốc gia.2
Nhà nước phải thiết lập đồng bộ hệ thống pháp luật và thi hành nhấtquán các chính sách đã ban để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho cácnhà kinh doanh trong, ngoài nước yên tâm sản xuất kinh doanh, chú trọngbảo đảm sự hoạt động bình thường của các loại thị trường hàng tiêu dùng, tưliệu sản xuất, bất động sản, vốn, sức lao động… trên địa bàn của quận, vìđây là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởngkinh tế của một quận
1 Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân - tập 1, tr 18
2 Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân - tập 1, tr 35
16
Trang 17Vai trò tạo môi trường cho tăng trưởng kinh tế của Nhà nước quy định
rõ chức năng và cơ cấu tương ứng của các phân hệ của hệ thống tổ chức vàquản lý nền kinh tế, làm cho các phân hệ, bộ phận này ăn khớp với nhau,phối hợp chặt chẽ hình thành hệ thống quản lý kinh tế nhằm mục tiêu chung
là tăng trưởng, phát triển lâu dài bền vững cho nền kinh tế quốc dân
3 Vai trò hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế
Hạn chế độc quyền, khuyến khích cạnh tranh, giải quyết thoả đángvấn đề ngoại ứng kể cả những ngoại ứng tích cực và tiêu cực thì chỉ có Nhànước với các công cụ quyền lực trong tay mới có thể thực hiện được Nềnkinh tế quốc dân có tăng trưởng, phát triển mạnh mẽ hay không không thểchỉ có sự nỗ lực phấn đấu của chỉ riêng các thành phần kinh tế bởi vì các chủthể này chỉ chạy theo lợi nhuận tối đa của họ mà còn rất cần sự can thiệp vớivai trò hỗ trợ của Nhà nước Nhà nước ở đây với vai trò là tài phán viên vàhuấn luyện viên của thị trường sẽ tạo ra sân chơi bình đẳng, công bằngtrong cạnh tranh để tạo điều kiện tốt nhất cho các thành phần kinh tế pháthuy tác dụng, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững
Nhà nước phải vận dụng tổng hợp, linh hoạt các phương pháp hànhchính, kinh tế, giáo dục và pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp để điều tiết cácquan hệ kinh tế giữa các cấp, các khâu, các ngành, các khu vực của nền kinh
tế quốc dân, dẫn dắt hành vi của các chủ thể vi mô theo định hướng chungcủa toàn bộ nền kinh tế vĩ mô
Vai trò hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng trong việcthực thi kế hoạch kinh tế quốc dân Nền kinh tế được sự hỗ trợ bởi nhữngcông cụ, kế hoạch, chính sách của Nhà nước sẽ phát triển đầy đủ, bền vững
và nhanh chóng hơn
Trang 184 Vai trò cung cấp các dịch vụ công
Trong nền kinh tế thị trường hàng hoá công cộng không được cungcấp đầy đủ, bởi vậy vai trò của Nhà nước trong vấn đề này là rất quan trọng.Đối với các lĩnh vực hoạt động công cộng với đặc trưng tiêu dùng công nhưquốc phòng, công an, bảo vệ môi trường, văn hoá, khoa học kỹ thuật, y tếgiáo dục, giao thông, thông tin… thị trường không thể phát huy tác dụng, do
đó Chính phủ cần phải có sự can thiệp Những hàng hoá công cộng khó cóthể được cung cấp đầy đủ cho mọi người thông qua hệ thống thị trường tưnhân là vì: mọi người trong xã hội đều có nhu cầu, do tính chất sử dụngmiễn phí của hàng hoá công cộng và do lợi ích riêng của người sản xuấthàng hoá côgn cộng ít hơn nhiều và phục tùng lợi ích toàn xã hội Chính vìvậy mà hầu như không tồn tại khái niệm doanh nghiệp tư nhân sản xuất haycung cấp hàng hoá công cộng cho xã hội Có chăng thì điều đó là rất hiếm
và hãn hữu Qua đó ta có thể thấy được tầm quan trọng đến thế nào của Nhànước trong lĩnh vực này
Sự can thiệp của Chính phủ nhằm đảm bảo hàng hoá công cộng đượcthực hiện thông qua hai phương thức chủ yếu
Thứ nhất, Nhà nước trực tiếp cung cấp những hàng hoá này thông quacác cơ quan và tổ chức của minh đó là các cơ quan và các doanh nghiệp Nhànước
Thứ hai, Nhà nước gián tiếp cung cấp những hàng hoá công cộngthông qua định hướng và chính sách nhằm thu hút các tổ chức trong xã hộitham gai vào việc cung cấp các hàng hoá công cộng cho xã hội.1
III Các công cụ quản lý Nhà nước
1 Giáo trình Quản lý học kinh tế quốc dân - tập 1, tr 33
18
Trang 19Một nền kinh tế vận hành một cách bình thường, và điều kiện truyềndẫn tác động quản lý của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phậnhợp thành của nó như là các quận, huyện, thành phố Chính vì vậy mà hệthống các công cụ đó có tác dụng to lớn trong quá trình thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần nâng cao hiệu suất của hoạtđộng quản lý kinh tế quốc dân.
Cũng giống như tất cả các quân huyện khác trên địa bàn Hà Nội hay
cả nước, Quận Đống Đa trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển cần phải
áp dụng toàn bộ hệ thống các công cụ quản lý kinh tế quốc dân một cáchtoàn diện và ứng biến linh hoạt Đó là điều kiện tiên quyết để xây dựng mộtnền kinh tế phát triển theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa mà Nhà nước ta đãxây dựng trong giai đoạn qua
Để quản lý nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải sử dụng các công cụquản lý của mình với tư cách là vật truyền dẫn các tác động quản lý của chủthể quản lý xã hội lên các đối tượng quản lý và khách thể quản lý Như vậy,các công cụ quản lý kinh tế quốc dân chính là các phương tiện hữu hìnhhoặc vô hình mà Nhà nước dùng để tác động lên các chủ thể kinh tế nhằmđạt được các ý đồ, mục tiêu của mình Chính nhờ các công cụ quản lý màNhà nước truyền tải được các ý định và ý chí của mình lên mỗi con người,mỗi hệ thống trên toàn bộ các vùng đất nước và các khu vực phạm vi ảnhhưởng có thể ở bên ngoài
Các công cụ quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước nói chung, cáccông cụ điều hành nền kinh tế quốc dân nói riêng bao gồm các quyết địnhquản lý điều hành, được phân thành các loại kế hoạch; pháp luật, chính sáchkinh tế,…
1 Công cụ kế hoạch
Trang 20Kế hoạch Nhà nước là một hệ thống, bao gồm tất cả các khâu, các giaiđoạn hoạt động từ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hàng năm, chương trình,
dự án Chính vì vậy nâng cao chất lượng kế hoạch hoá là một đòi hỏi mangtính cấp bách không thể không giải quyết trong giai đoạn hiện nay Do đó,cần phải tăng cường công tác thu thập và xử lý thông tin kinh tế - xã hội,phân tích và dự báo xu hướng vận động, phát triển của nền kinh tế quuốcdân và của xã hội
Kế hoạch là tập hợp các mục tiêu và phương thức để đạt được mụctiêu
Lập kế hoạch là quyết định trước xem trong tương lai phải làm gì?Làm như thế nào? Làm bằng công cụ gì? Khi nào làm và ai làm? Mặc dùchúng ta ít khi tiên đoán chính xác được tương lai và những yếu tố nằmngoài sự kiểm soát có thể phá vỡ cả những kế hoạch tốt nhất đã có, nhưngnếu không có kế hoạch thì các sự kiện sẽ diễn ra một cách ngẫu nhiên và ta
sẽ mất đi khả năng hành động một cách chủ động
Kế hoạch xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn khách quan và do
đó mục đích của nền sản xuất xã hội là sản xuất ra tối đa của cải vật chấtđáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của mọi thành viên trong xã hội Bởivậy nhận thức và vận dụng những quy luật khách quan là điều kiện bắt buộc
để bảo đảm tính hiện thực và tính có căn cứ khoa học của các giải pháp
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, kế hoạch Nhà nước là lấyđường lối, chính sách của Đảng làm căn cứ cơ bản, xem thị trường là đốitượng và là căn cứ quan trọng nhất; kết hợp với kế hoạch hoá với vận dụng
cơ chế thị trường Điều đó hoàn toàn có nhiều chuyển biến tích cực và pháttriển hơn về chất so với kế hoạch Nhà nước thời bao cấp, kế hoạch mớimang tính định hướng và tổng quát, điều tiết gián tiếp thông qua các đòn bẩykinh tế, hướng vào hiệu quả kinh tế - xã hội, kết hợp kế hoạch phát triển
20
Trang 21kinh tế quốc dân với kế hoạch phát triển xã hội, cân đối hài hoá phươnghướng, mục tiêu phát triển với nguồn lực, phương tiện thực hiện phươnghướng, mục tiêu đã định.
Để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, côngtác kế hoạch cần được đổi mới theo hướng: Tập trung sức xây dựng chiếnlược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình và dự án lớncho từng ngành, từng vùng, từng lĩnh vực; chuyển dần sang kế hoạch 5 năm
là chính, có phân ra chỉ tiêu từng năm, giảm nhẹ khối lượng công việc lập vàxét duyệt kế hoạch hàng năm Kế hoạch Nhà nước không được phiến diện,phải bao quát các ngành, các vùng, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế.Trong quá trình lập kế hoạch có thể xuất hiện những sự thay đổi khônglường trước về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, xuất hiện những khảnăng mới về ứng dụng những thành tựu của tiến bộ khoa học, kỹ thuật vàothực tiễn, những biện pháp giải quyết từng vấn đề riêng biệt trong từng giaiđoạn của sự phát triển… Do đó cần thiết và có khả năng điều chỉnh một sốđiểm trong lập kế hoạch đã thông qua trước đây
Như vậy công cụ kế hoạch cũng như quá trình lập kế hoạch không thểchấm dứt bằng việc lựa chọn các giải pháp phương án tối ưu thông qua hệthống những chỉ tiêu và nhiệm vụ cân đối với nhau, có tính chất pháp lệnh
và được phân công cụ thể mà đòi hỏi còn phải có giai đoạn phân tích quátrình thực hiện kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch có tính đến những kết quảthu được trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch, sự tác động của nhữngnhân tố mới và sự thay đổi những điều kiện trong nước cũng như tình hìnhkinh tế - chính trị bên ngoài Có như vậy, kế hoạch mới trở thành một công
cụ quản lý nhà nước hữu hiệu và phát huy toàn bộ tính ưu thế tuyệt đối củanó
Trang 22Hệ thống kế hoạch của Nhà nước bao gồm những loại kế hoạch cơbản sau:
- Chiến lược: Là hệ thống các đường lối và biện pháp chủ yếu nhằm
đưa hệ thống đạt đến các mục tiêu dài hạn
Nội dung của chiến lược bao gồm:
+ Các đường lối tổng quát, các chủ trương mà hệ thống sẽ thựchiện trong một thời gian đủ dài,
+ Các mục tiêu dài hạn cơ bản của hệ thống và+ Các phương thức chủ yếu để đạt được những mục tiêu đó.Sau một thời gian chiến lược, hệ thống phải đạt tới một trình độ pháttriển vượt bậc với những mục tiêu đặc trưng cho trình độ này
- Các kế hoạch trung hạn ( thường là 5 năm) để cụ thể hoá các mục
tiêu, giải pháp được lựa chọn trong chiến lược Kế hoạch trung hạn là loại kếhoạch rất quan trọng, là định hướng khung cho quá trình phát triển kinh tế xãhội của đất nước
- Các chương trình mục tiêu: được xây dựng rất phổ biến nhằm xác
định đồng bộ các mục tiêu, các chính sách, các bước cần tiến hành, cácnguồn lực cần sử dụng để thực hiện một số ý đồ lớn, một mục đích nhất địnhnào đó của Nhà nước Chương trình thường gắn với các ngân sách cần thiết
- Các chương trình: có thể là những chương trình lớn và dài hạn như
chương trình bảo tồn và phát triển nền văn hoá dân tộc hay chương trìnhtrung hạn nhằm đào tạo lại cán bộ quản lý… Một chương trình lớn thườngbao gồm nhiều chương trình bộ phận và được giao cho những đơn vị khácnhau thực hiện
- Các kế hoạch năm: là sự cụ thể háo nhiệm vụ phát triển kinh tế xã
hội căn cứ vào định hướng mục tiêu chiến lược, kế hoạch trung hạn, vào kết
22
Trang 23quả nghiên cứu, điều chỉnh các căn cứ xây dựng kế hoạch cho phù hợp vớiđiều kiện của năm kế hoạch.
- Các dự án: nhằm triển khai, thực thi các chương trình mục tiêu.
Pháp luật đòi hỏi các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế - xã hội
và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành, đấu tranh phòng ngừa vàchống lại các tội phạm và các vụ việc vi phạm pháp luật; mọi hành độngxâm phạm lợi ích quốc gia, quyền lợi hợp pháp của tập thể và công dân đều
bị xử lý theo pháp luật Chính vì tính nguyên tắc của nó mà các văn bản quyphạm pháp luật bao gồm nhiều chủng loại song tựu chung lại có thể gộpthành 2 nhóm lớn như sau:
- Các văn bản luật: Bao gồm Hiến pháp và luật Các văn bản luật doQuốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hoàXHCN Việt Nam ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất,quan trọng nhất và ổn định nhất Chúng có hiệu lực pháp lý trên toàn bộ lãnhthổ và có giá trị pháp lý cao nhất so với các văn bản dưới luật
- Các văn bản dưới luật: Bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật cógiá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật, đồng thời nội dung của chúng
Trang 24không được trái với các văn bản luật Trong đó lại chia ra các văn bản dướiluật mang tính chất luật và các văn bản pháp quy.
+ Các văn bản dưới luật mang tính chất luật bao gồm: Nghịquyết của Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
+ Các văn bản pháp quy gồm nghị quyết, nghị định của Chínhphủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị, thông
tư của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; nghị quyết, quyết định,chỉ thị của Hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các cấp
Ngày nay, trong xã hội Nhà nước pháp quyền, các quan hệ xã hội chủyếu được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật Pháp luật trở thành công
cụ tối quan trọng của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và quản lý
sự vận hành của nền kinh tế xã hội theo mục tiêu đã định
Điều 12, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 ghi rằng: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa”
Chính vì vậy, để phát huy vai trò của công cụ pháp luật trong quản lýkinh tế quốc dân, đi đôi với việc xây dựng và ban hành pháp luật, cần tăngcường công tác tổ chức thực thi pháp luật.Vì Pháp luật bao gồm một hệthống các quy phạm có tính bắt buộc chung, do Nhà nước ban hành và đượcNhà nước đảm bảo thực thi trong một thời gian dài để điều chỉnh quan hệ xãhội Nên muốn toàn dân hiểu và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật thì côngtác quan trọng đầu tiên là phải chú trọng phổ cập pháp luật rộng rãi, pháttriển các hình thức dịch vụ pháp lý; mở rộng quy mô và nâng cao chất lượngđào tạo các luật gia, nhất là luật gia về kinh tế; kiện toàn bộ máy thực thi vàkiểm tra việc thực thi pháp luật Hiệu lực thực thi pháp luật phụ thuộc tươngđối lớn vào tình hình vận dụng các hình thức thực thi pháp luật:
24
Trang 25- Tuân thủ pháp luật: Là hình thức thực thi pháp luật trong đó chủ thể
pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăncấm
- Thi hành pháp luật: Là hình thức thực thi pháp luật trong đó chủ thể
pháp luật thực hiện nghĩa vụ của mình bằng hành động tích cực
- Sử dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó chủ thể
pháp luật có thể thực hiện hay không thực hiện quyền được pháp luật trao,chứ không bị ép buộc phải thực hiện
- Áp dụng pháp luật: Là hình thức thực thi pháp luật mang tính tổ
chức, quyền lực của Nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan Nhànước và người có thẩm quyền, hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nướctrao quyền theo trình tự, thủ tục do Nhà nước quy định nhằm cá biệt hoánhững quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể
Vì là một công cụ đặc thù và hết sức quan trọng để Nhà nước dùngđiều hành nền kinh tế quốc dân, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự cótính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra, bảo vệ và thực hiện nhằm mục tiêuduy trì và phát triển xã hội nói chung, kinh tế nói riêng theo các đặc trưng xãhội mong đợi
Pháp luật của mỗi nước là một tổng thể quy phạm pháp luật và chếđịnh pháp lý thuộc nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước;trong đó có tác động trực tiếp là pháp luật kinh tế Pháp luật kinh tế là tổnghợp những quy phạm pháp luật, những chế định pháp lý do các cơ quan nhànước có thẩm quyền đặt ra trong các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điềuchỉnh các quan hệ xã hội về quản lý kinh tế và kinh doanh trong và ngoài xãhội, các quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các danh nghiệpvới nhau trong hoạt động kinh doanh, các quan hệ giữa doanh nghiệp với
Trang 26người lao động mà doanh nghiệp thuê mướn, sử dụng và các quan hệ xã hộikhác( sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường thiên nhiên…)
Việc sử dụng công cụ pháp luật để điều hành nền kinh tế quốc dân baogồm:
- Xây dựng và thực thi hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý kinh
tế, bao gồm:
+ Các yếu tố cần chi phối để quản lý sự phát triển kinh tế - xãhội trên mọi phương diện, bảo đảm cho xã hội, phát triển ổn định, an toàn,bền vững
+ Các quy định nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của các cơquan thuộc bộ máy hành chính nhà nước về kinh tế từ Trung ương đến tận
cơ sở bao gồm: Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, các Bộ, các cơ quan thuộcChính phủ; chính quyền địa phương các cấp cũng như các cơ quan quản lýnhà nước được thành lập theo luật định
+ Các quy định chế độ công vụ và các quy chế công chức trongquản lý kinh tế
- Hệ thống các chế định về tài phán hành chính: nhằm giải quyết
những mâu thuẫn phát sinh, khiếu tố, khiếu nại và sự vi phạm pháp luật củacác cơ quan quản lý hành chính Nhà nước đối với công dân, đối với các tổchức xã hội trong các hoạt động kinh tế
- Hệ thống các thủ tục hành chính: nhằm giải quyết các mối quan hệ
giữa Nhà nước với công dân, với các tổ chức xã hội trong và ngoài nướctrong các hoạt động kinh tế Hệ thống các thủ tục hành chính trong điềuhành kinh tế quốc dân tạo ra hệ thống dịch vụ mềm, hỗ trợ cho các hoạtđộng kinh tế được phát triển thuận lợi; giải phóng mọi trở ngại cho lựclượng sản xuất trong nước phát triển Đây đang là một vấn đề bức xúc đượcđặt ra cho bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế của mọi người
26
Trang 27Các quan điểm chính là các nguyên tắc thể hiện bản chất của một chế
độ xã hội được dùng để xem xét mọi vấn đề đặt ra trong tiến trình xây dựngđất nước, đánh mất nó Nhà nước sẽ bị tiêu diệt, xã hội sẽ biến mất
Các quan điểm còn là kim chỉ nam chỉ đạo tất cả các hoạt động củacác phân hệ ( địa phương, ngành) Nó là chuẩn mực để khi tiến hành lựcchọn các mục tiêu bộ phận người ta không được phép gây tổn hại tới mụctiêu chung, lợi ích chung của cả đất nước
Thực tế đã chỉ rõ, để tiến hành quản lý xã hội, Nhà nước phải giảiquyết triển khai thực hiện rất nhiều mục tiêu khác nhau nhằm giải quyết cácvấn đề khác nhau theo các trình tự ưu tiên khác nhau Như vừa phải lo pháttriển kinh tế, vừa phải chăm lo đến vấn đề an ninh quốc phòng Vừa phảigiải quyết vấn đề lo vốn để phát triển vùng dân tộc miền núi, vừa chăm lo
sự nghiệp giáo dục và nâng cao dân trí…
Như vậy, một hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp với yêu cầu pháttriển của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là bảo đảm vữngchắc cho sự vận hành bình thường, hữu hiệu của nền kinh tế thị trường Nhờ
đó mà có thể khơi dậy được các tiềm năng, sử dụng hợp lý và tiết kiệm cácnguồn lực, phát huy tính tích cực, sáng tạo và ý chí vươn lên làm cho dângiàu, nước mạnh của các tầng lớp dân cư Ngược lại, chỉ cần một chính sáchsai lầm sẽ gây ra phản ứng tiêu cực dây chuyền đến các chính sách khác,
Trang 28cũng như đến các bộ phận khác nhau của hệ thống công cụ quản lý kinh tếquốc dân, kết quả là dẫn đến là giảm thiểu hiệu suất tác động của hệ thốngchính sách, làm suy yếu động lực phát triển kinh tế xã hội.
Chính sách kinh tế của mỗi nước, về thực chất, là một chủ trươngtương đối dài của Nhà nước để sử dụng các nguồn lực và cơ hội nhằmhướng dẫn, khai thông con đường phát triển kinh tế của đất nước Chínhsách kinh tế thường hướng vào việc xử lý những lĩnh vực bức bách nhằmkhai thông và phát triển lực lượng sản xuất trong nước, bảo đảm cho sự tồntại và phát triển của đất nước, chống trả các mũi nhọn cản phá của thế lựcthù địch cố ý hoặc vô tình gây ra Cho nên mỗi chính sách đều có thời hạntồn tại nhất định của nó
Trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế quốc dân, chính sách là bộphận năng động nhất, có độ nhảy cảm cao trước những biến động trong đờisống kinh tế - xã hội của đất nước nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà
xã hội đã đặt ra Thực tiễn nước ta và nhiều nước trên thế giới đều chứng tỏ:phần lớn những thành công trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế đềubắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng những chính sách thích hợp, có hiệusuất cao để khai thác tối đa các lợi thế so sánh của đất nước
Mỗi chính sách cụ thể là tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiệncác mục tiêu bộ phận trong quá trình hướng tới đạt mục tiêu chung của pháttriển kinh tế quốc dân và phát triển xã hội Một chính sách bất kỳ thườngđược kết cấu bởi hai bộ phận: các mục tiêu cần đạt, các nhiệm vụ cần hoànthành; các nguồn lực cần có, các biện pháp cần áp dụng Chính sách là một
hệ thống đa chủng loại, có thể ghép thành hai nhóm lớn:
- Các chính sách kinh tế: chủ yếu gồm các chính sách cơ cấu kinh tế,
chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách giá cả, chính sách kinh tếđối ngoại
28
Trang 29- Chính sách xã hội: chủ yếu gồm chính sách dân số và lao động,
chính sách giáo dục, chính sách y tế, chính sách bảo đảm xã hội, chính sáchvăn hoá, chính sách khoa học công nghệ, chính sách bảo vệ môi trường…
Chính sách là sản phẩm chủ quan của các nhà lãnh đạo và hoạch địnhđất nước trong quá trình thực thi quyền lực và ý đồ của mình; cho nên nó chỉ
có thể thành công nếu nó phù hợp với các điều kiện thực tế khách quan diến
ra của hệ thống và khắc phục được những tác động phản kháng nghịch chiềuhay gây nhiễu khác từ mọi phía đối với hệ thống
4 Kết cấu hạ tầng xã hội:
Kết cấu hạ tầng xã hội là công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm hỗtrợ cho sự phát triển của kinh tế quận, bao gồm một hệ thống các công trìnhvật chất kỹ thuật, được tổ chức thành các đơn vị sản xuất và dịch vụ, cáccông trình sự nghiệp có chức năng bảo đảm sự di chuyển các luồng thôngtin, vật chất, dịch vụ nhằm phục vụ cho các nhu cầu có tính phổ biến củasản xuất và đời sống cộng đồng dân cư theo lãnh thổ ( hệ thống đường giaothông, bưu chính, viễn thông, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn quản
lý, y tế, đào tạo, pháp luật…) quận nào có trình độ kinh tế phát triển hơn thí
sẽ có kết cấu hạ tầng cao hơn Ngày nay, một kết luận đã được thừa nhận, là
để phát triển kinh tế quốc dân vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng xã hội phảiđược ưu tiên phát triển đi trước một bước
5 Các doanh nghiệp Nhà nước:
Doanh nghiệp Nhà nước là một tổ chức sản xuất kinh doanh, do Nhànước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là chủ sở hữu, hoạt độngtheo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật
Trang 30Các doanh nghiệp Nhà nước với tư cách là một trong các công cụ điềuhành nền kinh tế quốc dân của Nhà nước được thể hiện qua vai trò quantrọng của nó đối với quá trình vận hành nền kinh tế quận phát triển
+ Tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho quận mà cácthành phần kinh tế khác không muốn và không có khả năng sản xuất,
+ Góp phần tích cực trong việc khai thác sử dụng có hiệu quảcác nguồn tài nguyên trong quận, tạo ra của cải, chỗ làm cho mọi công dântrong quận nói riêng và Nhà Nước nói chung, dẫn dắt các thành phần kinh tếkhác phát triển
Chính vì với vai trò to lớn này mà các nước Xã hội chủ nghĩa đều coicác doanh nghiệp Nhà nước là nền tảng của nền kinh tế nhà nước, giúp chonền kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo của mình trong việcquản lý và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Các doanh nghiệp Nhà nước còn giúp Nhà nước xoá bỏ tìnhtrạng độc quyền sản xuất kinh doanh bất hợp lý của các doanh nghiệp thuộccác thành phần kinh tế khác vì lợi ích chung của cộng đồng và xã hội
Điều khó khăn nhất là việc sử dụng kết hợp các công cụ nói trên nhưthế nào cho mỗi giai đoạn phát triển; để một mặt duy trì được sự ổn địnhcủa xã hội về mặt chính trị, văn hoá, tư tưởng; mặt khác phải tung ra đượccác động lực đủ lớn và có hiệu quả để góp phần phát triển kinh tế đất nướcvới tốc độ cao nhất; không ngừng củng cố và phát triển địa vị đất nước gópphần xứng đáng vào việc bảo vệ môi trường sống và trật tự kinh tế chung
30
Trang 31Chương II: Thực trạng tăng trưởng kinh tế
quận Đống Đa
Trang 32I Đặc điểm kinh tế xã hội1
1 Đặc điểm tự nhiên
Quận Đống Đa là một trong 7 quận của thủ đô Hà Nội hiện nay vớidiện tích tự nhiên là 997.64 ha nằm ở khu trung tâm của bản đồ nội thànhthành phố, có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp quận Ba Đình
- Phía Nam giáp quận Thanh Xuân
- Phía Đông, Đông Bắc giáp quận Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm
- Phía Tây, Tây Nam giáp quận Cầu Giấy
Quận có địa hình tương đối bằng phẳng, có nhiều ao hồ, kênh mươngxen kẽ trong đó có một số ao hồ lớn như hồ Xã Đàn, hồ Ba Mẫu, hồ LángThượng…
Quận Đống Đa với diện tích tự nhiên 997.64ha ( chiếm 1.08% diệntích tự nhiên toàn thành phố Hà Nội) gồm có 21 phường: Cát Linh, VănMiếu, Hàng Bột, Quốc Tử Giám, Văn Chương, Thổ Quan, Khâm Thiên,Trung Phụng, Trung Liệt, Ngã Tư Sở, Thịnh Quang, Khương Thượng,Phương Mai, Phương Liên, Kim Liên, Trung Tự, Nam Đồng, Quang Trung,
Ô Chợ Dừa, Láng Hạ, Láng Thượng
2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Năm 2001 Quận Đống Đa có dân số 315.980 người với 79.200 hộ dânsinh sống và hơn 400 cơ quan tổ chức hoạt động trên địa bàn quận QuậnĐống Đa là một trong bốn quận nội thành cũ của Hà Nội, đang trong quátrình quận hoá với tốc độ nhanh, dân số tập trung đông, mật độ dân cư caonhất thành phố, thành phần dân cư đa dạng và phức tạp từ Cán bộ công nhân
1 Giới thiệu tổng quan về quận Đống Đa- Báo cáo phát triển kinh tế xã hội 2004
32
Trang 33viên chức Nhà nước, quân nhân trong quân đội, dân lao động phổ thông vàrất đông bà con làm nghề buôn bán nhỏ.
Trong những năm qua Quận Đống Đa luôn giữ được tốc độ tăngtrưởng khá So với năm trước giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17% trong đókinh tế tập thể tăng 8.4%, kinh tế hỗn hợp tăng 20.5% đặc biệt kinh tế tưnhân tăng 54.3% Hoạt động buôn bán trên địa bàn quận diễn ra cũng hết sứcmạnh mẽ, tấp nập
Với lợi thế nằm ở trung tâm thành phố, trên địa bàn quận Đống Đa lại
có các trục giao thông chính của Hà Nội chạy qua hoặc tiếp giáp như: Giảng
Võ, Nguyễn Thái Học, đường Giải Phóng, Lê Duẩn, Tây Sơn, Tôn ĐứcThắng, Thái Hà, Huỳnh Thúc Kháng, Láng Hạ, Nguyễn Chí Thanh…Mật độđường xá khá dày đặc, đặc biệt gần đây được nâng cấp tu sửa rất khangtrang Điều đó là một thuận lợi lớn cho việc giao lưu buôn bán phát triểnkinh tế xã hội cũng như giao thông đi lại của nhân dân trong quận
Nói tóm lại, trong những năm qua đời sống kinh tế văn hoá của nhândân trong Quận được nâng cao rõ rệt cả về vật chất lẫn tinh thần Cũng chính
vị vậy quận trở thành một trong những địa điểm thu hút dân cư từ nơi khácchuyển đến làm ăn sinh sống, là nơi ngày càng tập trung đông các tổ chứckinh tế, văn hoá, xã hội Đây là thuận lợi đồng thời cũng là một vấn đề cầnđược quan tâm lưu ý của lãnh đạo Quận để Quận có thể phát triển ổn định,cân bằng, văn minh hiệu quả hơn trong những năm tới
II Thực trạng tăng trưởng kinh tế quận Đống Đa
1 Các chỉ tiêu tăng trưởng đạt được từ năm 2000 đến nay
Tiếp tục công cuộc đổi mới, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp
Trang 34XXI, quận Đống Đa thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quậnĐống Đa 5 năm 2001 -2005 căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế của Nhànước và thủ đô Hà Nội: tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế thị trườngtheo định hướng Xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế xã hội phải đảm bảotính bền vững, kết hợp chặt chẽ hiệu quả kinh tế với văn hoá xã hội theophương châm “ Phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm,xây dựng Đảng là then chốt”, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân,phát huy dân chủ cơ sở, đảm bảo công bằng xã hội, an ninh chính trị và trật
tự an toàn xã hội
Như những thành tựu mà quận Đống Đa đã đạt được trong giai đoạn2001-2005 là giai đoạn tiếp theo của “ bước đệm” 1996-2000 sau khi tách 5phường về quận Thanh Xuân, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội củaquận Đống Đa đã đi vào ổn định với nhiều thuận lợi mới: quá trình quận hoádiễn ra, những tiềm lực và kết cấu hạ tầng quận được tăng cường đáng kể; sựquan tâm chỉ đạo, đầu tư của Đảng và Nhà nước cùng với sự ủng hộ phốihợp của các ban, ngành trên địa bàn Quận,sự trưởng thành của Đảng bộ,chính quyền và nhân dân toàn quận Những thuận lợi trên cùng với nhữngyếu tố tích cực của xu hướng hội nhập kinh tế của Thủ đô và cả nước đã tạovận hội để quận Đống Đa có thể đẩy nhanh tốc độ phát triển
Tuy nhiên, quận Đống Đa cũng gặp phải những khó khăn: tốc độ pháttriển kinh tế của Quận chưa cao, sức cạnh tranh yếu, hiệu quả sản xuất kinhdoanh thấp- đặc biệt là các hợp tác xã và các doanh nghiệp có quy mô nhỏ,thiết bị lạc hậu; một số chỉ tiêu kinh tế chưa đạt được; quản lý quận cònnhiều tồn tại, hệ thống hạ tầng quận còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh
tế xã hội; công tác giải phóng mặt bằng còn chậm; tình trạng quá tải về giaothông, ô nhiễm môi trường chưa được khắc phục
34
Trang 35Trên cơ sở những thuận lợi và khó khăn còn tồn tại, các mục tiêuđược đặt ra là: khai thác và huy động tối đa mọi nguồn lực nhằm ổn địnhkinh tế, tăng dần các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, tập trung cho các lĩnh vựcphát triển hạ tầng quận, hoàn thành cơ bản việc cấc giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, đổi mới sâu rộng và phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí, đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng, có cơ cấuhợp lý theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập trung giải quyết cácvấn đề nhà ở, còn hộ nghèo, các tệ nạn xã hội; giữ vững ổn định an ninhchính trị trên địa bàn, bảo đảm trật tự kỷ cương, an toàn xã hội, phục vụ yêucầu nhiệm vụ trong các hoạt động kinh tế - xã hội
-Các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm ( 2001-2005) của QuậnĐống Đa được thông qua là:
- Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn bình quân 5 năm là 11%-13%
- Giá trị xuất khẩu địa phương tốc độ tăng bình quân 5 năm là 13.5%
- Mức giảm tỷ lệ sinh đến năm 2005 là 1.28 %
- Số lao động được giải quyết việc làm là 6500-7000 người / năm.1
2 Thực trạng tăng trưởng kinh tế quận
Từ năm 2001 đến nay, quận Đống Đa đã có những bước tiến toàn diệntrên các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội Thực vậy, nền kinh tếliên tục tăng trưởng hàng năm với mức 15% - 30%, giá trị sản xuất côngnghiệp ngoài quốc doanh thuộc Quận quản lý tăng qua từng năm, năm saugiá trị sản lượng luôn cao hơn năm trước và vượt chỉ tiêu Thành phố giao
Trang 36Bảng 1: Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh do Quận quản lý
Nguồn: Báo cáo kết quả tăng trưởng các năm 2001- 2004
Mặc dù có khó khăn, nhưng nhìn chung giá tị sản xuất công nghiệpngoài quốc doanh đã tăng lên đáng kể, trong đó năm 2003 so với năm 2001 (
là năm đầu tiên thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 5năm ) tổng giá trị sản xuất ngoài quốc doanh tăng lên 1.5 lần ( từ 253.270triệu đồng lên 376.477 triệu đồng), đặc biệt phải kể đến năm 2004, ước thựchiện tăng 19.6% so với giá trị cùng kỳ so với giá trị gia tăng là 136.690 triệuđồng Một số ngành có sự tăng trưởng khá và ổn định so với năm trước:ngành thực phẩm đồ uống ( tăng 63.4%), các sản phẩm in ( tăng 55.8),ngành sản xuất thiết bị máy móc ( tăng 15.2%),
2.1 Thực trạng tăng trưởng kinh tế tập thể
Trong quá trình thực hiện đổi mới, phát triển và nâng cao kinh tế tậpthể trên địa bàn quận còn nhiều hạn chế vì các HTX hoạt động sản xuất kinhdoanh theo luật HTX, điều lệ HTX nên việc định hướng HTX phát triển còngặp nhiều khó khăn Đa số các HTX trê n địa bàn quận là sản xuất nhỏ, sảnxuất các mặt hàng giản đơn chủ yếu là sản phẩm nhựa, cơ khí , địa điểmsản xuất chật hẹp lại xen kẽ trong khu vực dân cư nên việc đảm bảo môitrườn là điều khó tránh khỏi, vì vậy mở rộng sản xuất kinh doanh còn gặpnhiều khó khăn
36
Trang 37Kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX dưới nhiều hình thức, trình độkhác nhau trong các ngành, các lĩnh vực đã cố gắng phát huy nội lực, mởmang ngành nghề kinh doanh, đã sản xuất được nhiều mặt hàng kinh doanh
đa dạng, đóng góp lớn vào ngân sách Nhà nước, giải quyết được công ănviệc làm cho người lao động, cải thiện đời sống xã viên…
2.1.2 Thực trạng kinh tế tổ hợp tác
Hiện nay trên địa bàn Quận còn 20 tổ hợp tác, các tổ hợp tác hoạtđộng đơn điệu, nhỏ lẻ mang tính chất gia đình là chính hiệu quả thấp, cònlỏng lẻo, quy mô nhỏ khả năng cạnh tranh kém
Xu hướng chung của các tổ hợp tác là: có tiềm lực về tài sản, vốn quỹ,
sẽ chuyển đổi thành mô hình doanh nghiệp hoặc HTX, các tổ hợp quy mônhỏ hoạt động cầm chừng, đơn điệu sẽ chuyển sang mô hình kinh tế hộ
- HTX nông nghiệp: 09 HTX ( chưa chuyển đổi)
- HTX vận tải: 04 HTX ( 03 thành lập mới + 01 chuyển đổi)
- HTX thương mại: 05 HTX ( chuyển đổi)
- HTX khác: 01 HTX ( chuyển đổi)
Trong thời kỳ 2001- 2004, nhiều HTX tỏ ra sa sút, tốc độ tăng trưởng và giátrị tổng sản lượng bình quân liên tục giảm Tổng số HTX trên địa bàn quậnĐống Đa là 75 HTX Trong đó: