1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê-nin về chủ nghĩa tư bản độc quyền. Vận dụng vấn đề nghiên cứu trên phân tích liên minh thương mại – Tổ chức Thương mại_ Hiệp hội các nước Đông Nam A (ASEAN)

22 19,8K 116
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê-nin về chủ nghĩa tư bản độc quyền. Vận dụng vấn đề nghiên cứu trên phân tích liên minh thương mại – Tổ chức Thương mại_ Hiệp hội các nước Đông Nam A (ASEAN)
Tác giả Thái Thị Dịu Mến
Người hướng dẫn TS. Đỗ Thị Kim Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin
Thể loại Bài tập lớn
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 677 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước tư bản ra đời đó là một tất yếu của lịch sử. Nhà nước tư bản đã trải qua nhiều hình thái phát triển khác nhau trong đó có Chủ Nghĩa Tư Bản độc quyền Nhà nước. Sự ra đời phát triển của Chủ Nghĩa Tư Bản độc quyền là mặt biến đổi quan trọng trong quan hệ quản lý và là đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa tư bản đương đại. Vận dụng vấn đề nghiên cứu chủ nghĩa tư bản độc quyền trên liên minh thương mại đặc biệt là tổ chức Asean (trong đó có Việt Nam)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

==========

BÀI TẬP LỚN MÔN NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN

HỌC PHẦN II

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VỀ

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN VẬN DỤNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨUTRÊN PHÂN

TÍCH LIÊN MINH THƯƠNG MẠI

MSV : CQ532487 LỚP : NL2 – 16 NHÓM 5

GVHD : TS ĐỖ THỊ KIM HOA

Trang 2

Đề bài: Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê-nin về chủ nghĩa tư bản độc quyền Vận dụng vấn đề nghiên cứu trên phân tích liên minh thương mại – Tổ chức Thương mại_ Hiệp hội các nước Đông Nam A (ASEAN)

A PHẦN MỞ ĐẦU

Nhà nước tư bản ra đời đó là một tất yếu của lịch sử Nhà nước tư bản đã trảiqua nhiều hình thái phát triển khác nhau trong đó có Chủ Nghĩa Tư Bản độcquyền Nhà nước Sự ra đời phát triển của Chủ Nghĩa Tư Bản độc quyền là mặtbiến đổi quan trọng trong quan hệ quản lý và là đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa

tư bản đương đại Vận dụng vấn đề nghiên cứu chủ nghĩa tư bản độc quyền trênliên minh thương mại đặc biệt là tổ chức Asean (trong đó có Việt Nam)

Đầu thế kỷ XX, V I Lênin đã chỉ rõ: Chủ nghĩa tư bản độc quyền thành chủ nghĩa tư bản độc quyền là khuynh hướng tất yếu Nhưng chỉ đến những năm 50 của thế kỷ XX, Chủ Nghĩa Tư Bản độc quyền mới trở thành một thực thể rỏ ràng là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại Vì vậy dưới góc độ một bải tiểu luận em xin trình bày: “Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin về chủ nghĩa tư bản độc quyền, vận dụng vấn đề nghiên cứu trên liên minh thương mại”

Sẽ làm sáng tỏ hai vấn đề chính:

+Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền

+ Vận dụng chủ nghĩa tư bản độc quyền trên liên minh thương mại

Thông qua đó làm rõ được tầm quan trọng của chủ nghĩa tư bản độc quyền trên liên minh thương mại, đặc biệt là ở tổ chức Asean Bài tập đã được hoàn thành nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót, em rất mong được sự bổ sung đóng góp ý kiến của các thầy cô để bài tập của em được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô

Sinh viên thực hiện: Thái Thị Dịu Mến

Trang 3

B PHẦN NỘI DUNG

I Quan điểm của chủ nghĩa Mác lê nin về chủ nghĩa Tư bản độc quyền.

1 Nguyên nhân hình thành CNTB độc quyền.

Theo Lênin "tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuấtnày, khi phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền".Sự độcquyền hay sự thống trị của tư bản độc quyền là cơ sở của chủ nghĩa tư bản độcquyền Sự xuất hiện của tư bản độc quyền do những nguyên nhân chủ yếu sauđây:

Một là, sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tiến bộ của khoa học kỹ thuật

đã làm xuất hiện những ngành có trình độ tích tụ cao Đó là những xí nghiệp lớnđòi hỏi những hình thức kinh tế tổ chức mới

Hai là, vì là cạnh tranh tự do nên buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ thuật, tăng

quy mô tích lũy, bên cạnh đó thì nhiều doanh nghiệp nhỏ có trình độ kỹ thuậtkém thì một là phải liên kết lại với nhau để thành một doanh nghiệp lớn, vữngmạnh hơn, đứng vững trong cạnh tranh; hai là sẽ bị các doanh nghiệp lớn thôntính lại Vì vậy đã xuất hiện một số xí nghiệp tư bản lớn nắm địa vị thống trị mộthay nhiều ngành công nghiệp

Ba là, hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và

vừa bị phá sản, những xí nghiệp muốn tiếp tục tồn tại thì phải đổi mới kỹ thuật,

do đó thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất

Bốn là, những xí nghiệp và công ty lớn mạnh thì cạnh tranh với nhau ngày càng

khốc liệt hơn, bất phân thắng bại, do đó lai nảy sinh các xu hướng thỏa hiệp

Từ đó hình thành các tổ chức độc quyền

2 Bản chất của CNTB độc quyền.

- Xét về bản chất CNTB độc quyền là một nấc thang phát triển mới của CNTB

- CNTB độc quyền là CNTB trong đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế

- Sự ra đời của CNTB độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của

Trang 4

CNTB Bản thân quy luật lợi nhuận độc quyền cũng chỉ là một hình thái biến tướng của quy luật giá trị thặng dư.

*Đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền

Có thể khái quát một số đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyềnnhư sau:

Sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền

Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền.Tổchức độc quyền là liên minh giữa những nhà tư bản lớn để tập trung vàotrongtay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành, cho phép liênminh này phát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất vàlưu thông củangành đó Những liên minh độc quyền, thoạt đầu hình thành theo sự liên kếtngang, tứclà sự liên kết những doanh nghiệp trong cùng ngành, dưới những hìnhthức cácten, xanhđica, tờrớt

Cácten là hình thức tổ chức độc quyền dựa trên sự ký kết hiệp định giữa cácxí

nghiệp thành viên để thoả thuận với nhau về giá cả, quy mô sản lượng, thịtrườngtiêu thụ, kỳ hạn thanh toán còn việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩmvẫn do bảnthân mỗi thành viên thực hiện

Xanhđica là hình thức tổ chức độc quyền trong đó việc tiêu thụ sản phẩm domột

ban quản trị chung đảm nhiệm, nhưng sản xuất vẫn là công việc độc lậpcủa mỗi

thành viên.Cácten và xanhđica dễ bị phá vỡ khi tương quan lực lượng thay đổi.

Vì vậy, một hình thức độc quyền mới ra đời là tờrớt Tờrớt thống nhất cả việc

sản xuất và tiêu thụ vào tay một ban quản trị chung, còn các thành viên trở thànhcác cổ đông.Tiếp đó, xuất hiện sự liên kết dọc, nghĩa là sự liên kết không chỉnhững xínghiệp lớn mà cả những xanhđica, tờrớt thuộc các ngành khác nhaunhưngcó liên quan với nhau về kinh tế và kỹ thuật, hình thành cáccôngxoócxiom.Từ giữa thế kỷ XX phát triển một kiểu liên kết mới - liên kết đangành – hình thành những cônglômêrat (conglomerat) hay consơn (concern)khổng lồ thâu tóm nhiều công ty, xí nghiệp thuộc những ngành công nghiệprất khác nhau,đồng thời bao gồm cả vận tải, thương mại, ngân hàng và cácdịch vụ khác,v.v Nhờ nắm được địa vị thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu

Trang 5

thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền Giá cả độcquyền là giá cả hàng hóa có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất Họ định

ra giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất đối với những hàng hóa mà họ bán

ra và giá cả độc quyền thấp dưới giá cả sản xuất đối với những hàng hóa mà họmua, trước hết là nguyên liệu Qua đó họ thu được lợi nhuận độc quyền.Tuynhiên, giá cả độc quyền không thủ tiêu được tác động của quy luật giá trị và quyluật giá trị thặng dư Vì xét toàn bộ xã hội thì tổng giá cả vẫn bằng tổng số giátrị và tổng lợi nhuận vẫn bằng tổng giá trị thặng dư trong các nước tư bản chủnghĩa Những thứ mà các tổ chức độc quyền kếch xù thu được cũng là nhữngthứ mà các tầng lớp tư sản vừa và nhỏ, nhân dân laođộng ở các nước tư bản chủnghĩa và nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc mất đi

Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính

Tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng dẫn đến sự hình thành các tổ chức độcquyền trong ngân hàng Từ chỗ làm trung gian trong việc thanh toán và tín dụng,nay do nắm được phần lớn tư bản tiền tệ trong xã hội, ngân hàngđã trở thànhngười có quyền lực vạn năng chi phối các hoạt động kinh tế - xã hội

Các tổ chức độc quyền ngân hàng cho các tổ chức độc quyền công nghiệpvay

và nhận gửi những số tiền lớn của các tổ chức độc quyền công nghiệptrong mộtthời gian dài, nên lợi ích của chúng xoắn xuýt với nhau, hai bênđều quan tâmđến hoạt động của nhau, tìm cách thâm nhập vào nhau Từ đó, hình thành mộtloại tư bản mới gọi là tư bản tài chính Tư bản tài chính là sự thâm nhập và dunghợp vào nhau giữa tư bản độcquyền ngân hàng và tư bản độc quyền trong côngnghiệp.Bọn đầu sỏ tài chính (trùm tư bản tài chính) thiết lập sự thống trị củamìnhthông qua "chế độ tham dự" Thực chất của chế độ tham dự là một nhà

tư bản tài chính hoặc một tập đoàn tài chính, nhờ nắm được số cổ phiếukhốngchế mà chi phối được công ty gốc hay "công ty mẹ", rồi qua công ty mẹchi phối các công ty phụ thuộc hay các "công ty con", các công ty nàylại chi phối các "công ty cháu" v.v Bởi vậy, với một số tư bản nhất định, mộttrùm tư bản tài chính có thể chi phối được những lĩnh vực sản xuất rất lớn

Xuất khẩu tư bản

Trang 6

Xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giátrị thặng dư, còn xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài (đầu tư tưbản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đoạt giá trị thặng dư ở cácnước nhậpkhẩu tư bản đó Xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu, vì trong những nước tưbản chủ nghĩa phát triển đã tích luỹ được một khối lượng tư bản lớn và nảy sinhtình trạng"thừa tư bản" Tình trạng thừa này không phải là thừa tuyệt đối, mà làthừa tương đối, nghĩa là không tìm được nơi đầu tư có lợi nhuận cao ở trongnước Tiến bộ kỹ thuật ở các nước này đã dẫn đến tăng cấu tạo hữu cơ của

tư bản và hạ thấp tỷ suất lợi nhuận; trong khi đó, ở những nước kém phát triểnvềkinh tế, nhất là ở các nước thuộc địa, dồi dào nguyên liệu và nhân công giá rẻnhưng lại thiếu vốn và kỹ thuật Do tập trung trong tay một khối lượng tư bảnkhổng lồ nên việc xuất khẩu tư bản ra nước ngoài trở thành một nhu cầu tất yếucủa các tổ chức độc quyền Xét về hình thức đầu tư, có thể phân chia xuất khẩu

tư bản thành xuất khẩu tư bản trực tiếp và xuất khẩu tư bản gián tiếp Xuấtkhẩu tư bản trực tiếp là đưa tư bản ra nước ngoài để trực tiếp kinh doanh thulợi nhuận cao Xuất khẩu tư bản gián tiếp là cho vay để thu lợi tức

Việc xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ranước ngoài, là công cụ chủ yếu để bành trướng sự thống trị của tư bản tài chính

ra toàn thế giới Tuy nhiên, việc xuất khẩu tư bản, về khách quan có những tácđộng tích cực đến nền kinh tế các nước nhập khẩu, như thúc đẩyquá trìnhchuyển kinh tế tự cung tự cấp thành kinh tế hàng hóa, thúc đẩy sự chuyển biến

từ cơ cấu kinh tế thuần nông thành cơ cấu kinh tế nông – công nghiệp, mặc dù

cơ cấu này còn què quặt, lệ thuộc vào kinh tế của chính quốc

Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc quyền

Việc xuất khẩu tư bản tăng lên về quy mô và mở rộng phạm vi tất yếu dẫn đếnviệc phân chia thế giới về mặt kinh tế, nghĩa là phân chia lĩnh vực đầu tư tư bản,phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền Cuộc đấu tranh giànhthị trường tiêu thụ, nguồn nguyên liệu và lĩnh vực đầu tư có lợi nhuận cao ởnước ngoài trở nên gay gắt Những cuộc đụng đầu trên trường quốc tế giữa các

tổ chức độc quyền có sức mạnh kinh tế hùng hậu dẫn đến các cuộc cạnh tranh

Trang 7

khốc liệt giữa chúng, tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp, ký kết hiệp định đểcủng cố địa vị độc quyền của chúng trong những lĩnh vực và những thị trườngnhất định Từ đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế, các tập đoànxuyên quốc gia…

Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc

Khi đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, tư bảnđộc quyền không chỉ thu được lợi nhuận độc quyền không thôi mà là“siêu lợinhuận độc quyền” do có những điều kiện thuận lợi mà tại chính quốc không cóđược như nguồn nguyên liệu dồi rào giá rẻ hoặc lấy không, giá nhân công rẻmạt…Do đó luôn diễn ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các tổ chức độc quyềnthuộc các quốc gia khác nhau Điều này đòi hỏi có sự can thiệp của nhà nướcnhằm giúp cho các tổ chức độc quyền của nước mình giành giật thị trường vàmôi trường đầu tư nhằm thu được siêu lợi nhuận độc quyền ở ngoại quốc Sựcan thiệp đó của nhà nước đã biến nó thành một nước đế quốc chủ nghĩa Nhưvậy, chủ nghĩa đế quốc là sự kết hợp giữa yêu cầu vươn ra và thống trị ở nướcngoài của tư bản độc quyền với đường lối xâm lăng của nhà nước.Chủ nghĩa đếquốc là một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc quyền biểu hiện trong đường lốixâm lược nước ngoài, biến những nước này thành hệ thống thuộc địa củacác cường quốc nhằm đáp ứng yêu cầu thu siêu lợi nhuận độc quyền của tư bảnđộc quyền Lợi ích của việc xuất khẩu tư bản thúc đẩy các cường quốc tư bản đixâm chiếm các nước khác và lập nên hệ thống thuộc địa, vì trên thị trường thuộcđịa dễ dàng loại trừ được các đối thủ cạnh tranh, dễ dàng nắm được độc quyềnnguyên liệu và thị trường tiêu thụ Đối với tư bản tài chính, không phải chỉnhững nguồn nguyên liệu đã được tìm ra mới có ý nghĩa, mà cả những nguồnnguyên liệu có thể tìm được cũng rất quan trọng, do đó tư bản tài chính cókhuynh hướng mở rộng lãnh thổ kinh tế và thậm chí cả lãnh thổ nói chung Chủnghĩa tư bản phát triển càng cao, nhu cầu nguyên liệu càng lớn, sự cạnh tranhcàng gay gắt thì cuộc đấu tranh để giành giật thuộc địa giữa chúng càng quyếtliệt Bước vào thế kỷ XX, việc phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các đếquốc tư bản ra đời sớm đã hoàn thành Nhưng sau đó các đế quốc ra đời muộnhơn đấu tranh đòi chia lại thế giới Đó là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộcChiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914 - 1918 và lần thứ hai 1939 -1945, vànhững xung đột nóng ở nhiều khu vực trên thế giới…

Trang 8

PHÂN TÍCH LIÊN MINH THƯƠNG MẠI

Tổ chức thương mại hiệp hội các nước Đông Nam Á ( ASEAN)

* Mô tả liên minh

I Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của ASEAN.

1 Lịch sử hình thành.

Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong môitrường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEANtrước nhứng thách thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kếtchặt chẽ và nỗ lực vủa toàn hiệp hội, những thách thức đó là:

- Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặcbiệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEANngày càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũngnhư quốc tế

- Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như Khuvực mậu dịch tự do Bắc Mỹ và Khu vực mậu dịch tự do Châu Âu của EU,NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoáASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này

- Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộngrãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyênthiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và cácnước Đông Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòihỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầmhợp tác khu vực

Để đối phó với những thách thức trên, năm 1992, theo sáng kiến của Thái lan,Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập mộtKhu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA)

Ngày 8/8/1967 Hiệp hội các nước Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN được thànhlập

Trang 9

- Sự ra đời của ASEAN đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử khu vực vàthế giới, là cầu nối của các quốc gia trong khu vực Trải qua bốn thập kỷ hoạtđộng và phát triển, từ một tổ chức non trẻ, sự hợp tác trong khu vực còn lỏnglẻo, chưa có vị thế trên trường quốc tế, ASEAN đã lớn mạnh thành một trởthành một thực thể chính trị – kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng đóng gópcho hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và là đối tác không thể thiếu của cácnước và các tổ chức lớn trên thế giới ).

2 Mục đích chủ yếu của ASEAN.

- Xây dựng một liên minh kinh tế, chính trị, văn hóa trong khu vực tạo cơ sở đểhòa bình ổn định xã hội, phát triển kinh tế

- Tạo dựng một môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh cho các quốc gia thànhviên trong khu vực

- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế văn hóa, giáo dục và sự tiến bộ xã hội của cácnước thành viên

- Giải quyết những nội bộ liên quan đến mối liên hệ giữa asean với các nướckhác, các khối nước và các tổ chức quốc tế khác

- Giúp đỡ lẫn nhau dưới hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiện nghiêncứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kỹ thuật hành chính

- Thúc đẩy việc nghiên cứu Đông Nam Á

- Đoàn kết hợp tác vì một ASEAN hòa bình, ổn định, cùng phát triển

Cụthể:

+ Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là xây dựng Hiệp hội thành một tổ

chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sởpháp lý là Hiến chương ASEAN; nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia

và không khép kín mà vẫn mở rộng hợp tác với bên ngoài

Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chínhtrị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa - xã hội Quan hệ đốingoại của ASEAN cũng như mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trongASEAN (nhất là: IAI) được lồng ghép vào nội dung của từng trụ cột Cộng đồngASEAN

Trang 10

+ Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC) nhằm mục tiêu là tạo dựng

một môi trường hòa bình và an ninh cho phát triển ở khu vực Đông Nam Áthông qua việc nâng hợp tác chính trị - an ninh ASEAN lên tầm cao mới, với sựtham gia và đóng góp xây dựng của các đối tác bên ngoài, không nhằm tạo ramột khối phòng thủ chung

+ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường

chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự docủa hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề; từ đó nâng cao tínhcạnh tranh và thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực; tạo sự hấp dẫn vớiđầu tư – kinh doanh từ bên ngoài

Trên cơ sở kết quả thực hiện VAP (phần về AEC) nhất là việc đã cơ bản hoànthành Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), ASEAN đã nhất trí thông qua

Kế hoạch tổng thể về AEC với những đặc điểm và nội dung sau :

Đến năm 2015, ASEAN sẽ trở thành :

- Một thị trường duy nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưuchuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề - Mộtkhu vực kinh tế có sức cạnh tranh cao

- Một khu vực phát triển kinh tế đồng đều, nhất là thực hiện có hiệu quả Sángkiến liên kết ASEAN (IAI)

- Một khu vực ASEAN hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu Đồng thời,ASEAN nhất trí đề ra Cơ chế thực hiện và Lộ trình chiến lược thực hiện Kếhoạch tổng thể

- ASEAN cũng nhất trí xác định 12 lĩnh vực ưu tiên đẩy nhanh liên kết với lộtrình hoàn thành đến năm 2010, đó là: Hàng nông sản, Ô tô, Điện tử, Nghề cá,Các sản phẩm từ cao su, Dệt may, Các sản phẩm từ gỗ, Vận tải hàng không,Thương mại điện tử ASEAN, Chăm sóc sức khoẻ, Du lịch, và Logistics

+ Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC) với mục tiêu là phục vụ và nâng cao

chất lượng cuộc sống của người dân ASEAN, sẽ tập trung xử lý các vấn đề liênquan đến bình đẳng và công bằng xã hội, bản sắc văn hóa, môi trường, tác độngcủa toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ

Trang 11

Chương trình hành động Viên chăn (VAP) và Kế hoạch hành động về ASCC đãxác định 4 lĩnh vực hợp tác chính là :

- Tạo dựng cộng đồng các xã hội đùm bọc

- Giải quyết những tác động xã hội của hội nhập kinh tế

- Phát triển môi trường bền vững

- Nâng cao nhận thức và bản sắc ASEAN Hàng loạt biện pháp hoạt động cụ thể

đã được đề ra trong từng lĩnh vực hợp tác này

Theo đó, hợp tác ASEAN đã và đang được đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực khácnhau như : văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học – công nghệ, môi trường, y tế,phòng chống ma tuý, buôn bán phụ nữ và trẻ em, HIV/AIDS, bệnh dịch, … Khókhăn lớn nhất trong việc thực hiện Kế hoạch hành động về ASCC là thiếu nguồnlực Đây là vấn đề ASEAN đang phải tập trung xử lý trong thời gian tới Quátrình xây dựng Kế hoạch tổng thể về ASCC cũng phải tính đến việc huy độngnguồn lực

Tương tự như các trụ cột Cộng đồng Chính trị - An ninh và Kinh tế, Kế hoạchtổng thể xây dựng Cộng đồng Văn hóa - xã hội (ASCC), một bộ phận của Lộtrình xây dựng Cộng đồng ASEAN, đang được ASEAN đẩy mạnh triển khai, tậptrung vào một số lĩnh vực ưu tiên như: phát triển nguồn nhân lực, phúc lợi vàbảo trợ xã hội, quyền và công bằng xã hội, đảm bảo môi trường bền vững, xâydựng bản sắc ASEAN

Hội đồng Cộng đồng Văn hóa xã hội sẽ nhóm họp lần đầu tiên trong tháng8/2009 để điều phối việc triển khai thực hiện Kế hoạch tổng thể này cũng nhưtăng cường phối hợp giữa các cơ quan tham gia trụ cột ASCC

3 Triển vọng của ASEAN đến 2015.

Trên cơ sở phân tích các nhân tố tác động đến triển vọng của ASEAN trong

10-15 năm tới, dự báo khả năng hiện thực nhất là ASEAN sẽ chuyển hóa dần từmột Hiệp hội khá lỏng lẻo thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ có mức độràng buộc pháp lý cao hơn và liên kết sâu rộng hơn, nhưng không trở thành một

tổ chức siêu quốc gia; sẽ trở thành một thực thể chính trị-kinh tế gắn kết hơn,

Ngày đăng: 25/07/2013, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w