Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó khăn. Văn hóa DN được xây dựng bởi đa số các cá nhân trong DN. Cho nên, chất lượng ban lãnh đạo DN và các nhân viên chủ chốt đóng vai trò quan trọng nhất trong việc định hướng và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và văn hóa DN nói riêng. Hiện nay, chúng ta đã đạt được một số thành tựu to lớn trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, tuy nhiên ta phải đối mặt với hiện tượng nghiêm trọng đó là xuống cấp đạo đức không những ở nhân dân mà còn tồn tại ở bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý. Lịch sử sản xuất, đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt đã hình thành các giá trị đạo đức cho người Việt nhưng không thể phủ nhận vai trò của Nho giáo. Nếu sản xuất và đấu tranh giữ nước là thực tiễn hình thành các giá trị đạo đức truyền thống của người Việt thì Nho giáo chính là hệ thống lý luận làm cho các giá trị đạo đức đó được khái quát lại, thâu tóm lại một cách sâu sắc, có tính "tự giác" và trở thành chuẩn mực cho các thế hệ người Việt. Đặc biệt , trong bối cảnh hội nhập và sự thay đổi trong định hướng giá trị nhân cách của người Việt Nam, việc phát triển con người Việt Nam bền vững cần có cơ sở triết học vững chắc nhằm vừa đảm bảo, duy trì các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp mà vẫn chứa đựng yếu tố năng động, hiện đại Nhằm vận dụng những kiến thức đã tìm hiểu được em đã chọn đề tài : ‘A’nh hưởng đạo đức Nho giáo đối với đạo đức lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp Việt Nam’’
Trang 1
- -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC CÁN
BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Người thực hiện : NGUYỄN THỊ THU VÂN
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2011
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG CHÍNH 4
Mục 1 : Một vài nét khái quát về đạo đức Nho giáo và đạo đức Nho giáo ở Việt Nam 4
1.1 : Nguồn gốc và một số nội dung cơ bản của Nho giáo Trung Quốc 4 1.2 : Đạo đức Nho giáo ở Việt Nam 5 Mục 2 : Anh hưởng đạo đức Nho giáo đối với đạo đức cán bộ, lãnh đạo, quản lý 6
2.1 : Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý 6 2.2 : Thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay và một số vấn đề đặt ra 7
Mục 3 : Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của ảnh hưởng đạo đức Nho giáo đối với việc xây dựng đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 9
3.1 : Một số yêu cầu về đạo đức của người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta 9
3.2 : Một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của ảnh hưởng đạo đức Nho giáo trong xây dựng đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý
ở nước ta hiện nay 10
C KẾT LUÂN 12
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó khăn Văn hóa
DN được xây dựng bởi đa số các cá nhân trong DN Cho nên, chất lượng ban lãnh đạo
DN và các nhân viên chủ chốt đóng vai trò quan trọng nhất trong việc định hướng và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và văn hóa DN nói riêng
Hiện nay, chúng ta đã đạt được một số thành tựu to lớn trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, tuy nhiên ta phải đối mặt với hiện tượng nghiêm trọng đó là xuống cấp đạo đức không những ở nhân dân mà còn tồn tại ở bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý
Lịch sử sản xuất, đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt đã hình thành các giá trị đạo đức cho người Việt nhưng không thể phủ nhận vai trò của Nho giáo Nếu sản xuất và đấu tranh giữ nước là thực tiễn hình thành các giá trị đạo đức truyền thống của người Việt thì Nho giáo chính là hệ thống lý luận làm cho các giá trị đạo đức đó được khái quát lại, thâu tóm lại một cách sâu sắc, có tính "tự giác" và trở thành chuẩn mực cho các thế hệ người Việt Đặc biệt , trong bối cảnh hội nhập và sự thay đổi trong định hướng giá trị nhân cách của người Việt Nam, việc phát triển con người Việt Nam bền vững cần có cơ
sở triết học vững chắc nhằm vừa đảm bảo, duy trì các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp
mà vẫn chứa đựng yếu tố năng động, hiện đại
Nhằm vận dụng những kiến thức đã tìm hiểu được em đã chọn đề tài : ‘A’nh hưởng đạo đức Nho giáo đối với đạo đức lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp Việt Nam’’
Trang 4B NỘI DUNG CHÍNH
Mục 1: MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VÀ ĐẠO ĐỨC
NHO GIÁO Ở VIỆT NAM
1.1 Nguồn gốc và một số nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo ở Trung Quốc
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học Có thể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Bên cạnh những phát minh, phát kiến về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu
Á cũng như toàn thế giới
Trong số các học thuyết triết học lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nho giáo
Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, “Nho” là một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi Nho giáo là hệ thống giáo lý của các nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả Những cơ sở của nó được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt là với sự đóng góp của Chu Công Đán Đến lượt mình, Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và tích cực truyền bá, vì vậy ông được xem là người sáng lập Nho giáo
Trong Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người Đạo làm người của Khổng Tử dạy là đạo làm người trong xã hội phong kiến Trong xã hội có giai cấp thì những nguyên tắc để đánh giá hành vi của con ngươì, phẩm hạnh của con người trong mối quan hệ với người khác và trong mối quan hệ với nhà nước, Tổ quốc đều mang tính giai cấp rõ rệt và có tính chất lịch sử Những quan niệm về đạo đức điều thiện, điều ác “thay đổi rất nhiều từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này đến thời đại khác đến nỗi thường thường trái ngược hẳn nhau” (Enghen)
Vấn đề đạo đức là vấn đề cơ bản nhất, bao quát nhất của Nho giáo, của học thuyết Khổng Mạnh Theo Khổng Tử, “đạo” của con người là 5 mối quan hệ trong xã hội - “Ngũ luân”, trong đó có 3 quan hệ giường cột là “Tam cương” Tam Cương: Tam là ba; Cương là
giềng mối; Tam Cương là ba mối quan hệ: Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê
(chồng vợ) Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều
phải hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
Trong Luận ngữ, khái niệm "Nhân" được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần và tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà "Nhân" được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo nghĩa sâu rộng nhất "nhân" là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử Nhân" được ông coi là cái quy định bản tính con người thông qua "lễ", "nghĩa", quy định quan hệ giữa người và người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội "Nhân" có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì "Nhân" là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người Theo quan điểm của Khổng Tử, “đạo” và
Trang 5“đức” gắn chặt với nhau Bao quát những quan hệ lớn nhất theo Nho giáo, Kinh Lễ nêu ra mười đức là: “cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng lời, trưởng có ân,
ấu ngoan ngoãn, vua nhân, tôi trung”
1.2 Đạo đức Nho giáo ở Việt Nam
Có nhiều yếu tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã bị biến đổi cho phù hợp với truyền thống của văn hóa dân tộc Chữ nghĩa có thể vẫn thế, nhưng cách hiểu đã khác đi nhiều
Xã hội các quốc gia cổ đại vùng Trung Nguyên, với gốc gác du mục của mình luôn đầy biến động Bởi vậy, Nho giáo muốn tạo nên một xã hội ổn địnhss Tuy nhiên ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ yên ngai vàng (giữ ổn định trong đối nội), còn với bên ngoài thì luôn chủ trương bành trướng (phát triển trong đối ngoại) Đối với Việt Nam nông nghiệp, ước mong về một cuộc sống ổn định, không xáo trộn là một truyền thống lâu đời Ở Việt Nam, nhu cầu duy trì sự ổn định không chỉ có ở dân mà
ở cả triều đình, không chỉ trong đối nội mà cả trong đối ngoại Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng thực hiện đều mang tính tự vệ, với phong kiến Trung Hoa cũng thế
mà đối với người Chiêm Thành cũng thế
Để duy trì sự ổn định, làng xã Việt Nam đã tạo nên sự lệ thuộc của cá nhân vào tập thể cộng đồng bằng cách phân biệt dân chính cư – dân ngụ cư, cộng đồng hóa lĩnh vực hôn nhân; sử dụng hữu hiệu bộ máy dư luận Tương tự, muốn duy trì sự ổn định của quốc gia, nhà nước Nho giáo đã tạo ra sự phụ thuộc của bộ máy quan lại vào nhà cầm quyền bằng hai biện pháp:
a) Biện pháp kinh tế là “nhẹ lương nặng bổng”: Quan lại xưa sống không bằng lương mà chủ yếu bằng bổng do dưới nộp lên và lộc do trên ban xuống – cuộc sống được bao cấp theo lối ban ơn
b) Biện pháp tinh thần là “trọng đức khinh tài”: Khai thác truyền thống trọng đức của văn hóa nông nghiệp (mà “đức” là khái niệm rất chủ quan, mập mờ), nhà nước Nho giáo buộc quan lại không thể hành động mà không tính đến dư luận
Yếu tố quan trọng thứ hai là việc trọng tình người Vì trọng tình vốn là truyền thống lâu
đời của văn hóa phương Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt Nam đã tâm
đắc với chữ “Nhân” hơn cả Nhân là lòng thương người: Bán mình là hiếu, cứu người là
nhân (Truyện Kiều) “Nhân” gắn liền với “Nghĩa”: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”
(Nguyễn Trãi) Đối với người bình dân, “nhân đồng nghĩa với “Tình” Các chữnhân tình,
nhân ngãi (biến âm của nhân nghĩa), nhân duyên trong tiếng Việt đã trở lại nói về tình
yêu trai gái
Trong Nho giáo Việt Nam, việc trọng tình được bổ sung bằng truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp (vốn có trong Nho giáo nguyên thủy, nhưng đến Hán Nho đã bị loại trừ) Chính nhờ tính dân chủ ấy mà khi Nho giáo Trung Hoa thâm nhập vào Việt Nam nó
đã được “làm mềm” đi, không quá hà khắc Nhờ truyền thống dân chủ ấy mà Nho giáo Việt Nam, dù có giữ vị trí độc tôn nhưng cũng không dám loại trừ Phật giáo và hủy bỏ cái gốc Việt Nam là đạo Mẫu Tiếp thu chữ “hiếu” của Nho giáo, người Việt Nam đặt nó
trong mối quan hệ bình đẳng với cả cha và mẹ: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ
Trang 6như nước trong nguồn chảy ra, Một lòng thờ mẹ kính ca, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Thứ ba là tư tưởng “Trung quân” Nho giáo rất coi trọng tư tưởng “trung quân” còn tư
tưởng yêu nước thì không đề cập đến: quan lại Trung Hoa và võ sỹ Nhật Bản đều coi việc trung thành với “minh quân”, “minh chúa”, “Thiên Hoàng” làm trọng, sẵn sàng xả thân vì
họ Trong khi đó thì ở Việt Nam tiếp thu tư tưởng “trung quân” Nho giáo trên cơ sở tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có, khiến cho cái trung quân đó đã bị biến đổi và gắn liền với ái quốc Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa vua và đất nước, dân tộc thì đất nước, dân tộc là cái quyết định
Thứ tư là xu hướng trọng văn Chính vì chịu ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp
phương Nam nên Nho giáo nguyên thủy rất coi trọng văn, trọng kẻ sỹ Tuy nhiên Trung Hoa có trọng thì quan văn cũng chỉ ngang hàng với quan võ Ở các nhà nước Đông Nam
Á, chữ Dũng vẫn được coi trọng nhưng ở những mức độ khác nhau: Trong quân đội Tưởng Giới Thạch, 5 đức tính được đề cao là Trí-Tín-Nhân-Dũng-Trực; trong quân đội Triều Tiên thời Silla thì đề cao Trung-Hiếu-Tín-Nhân-Dũng; còn trong quân đội Nhật thì
ca ngợi Trung-Lễ-Dũng-Tín-Kiêm Thứ bậc “sỹ-nông-công-thương”có ở cả Việt Nam và Nhật Bản, nhưng trong khi “sỹ” ở Việt Nam là văn sỹ thì ở Nhật Bản lại là võ sỹ Ở Việt Nam, văn được coi trọng hơn hẳn võ: Tuy luôn phải đối phó với chiến tranh, nhưng
người Việt Nam ít quan tâm đến các kỳ thi võ mà chỉ ham học chữ, thi văn: Một kho
vàng không bằng một nang chữ Người Việt Nam nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ văn
hóa, một con đường làm nên nghiệp lớn
Thứ năm là thái độ đối với nghề buôn Nho giáo Trung Hoa khuyến khích làm giàu nếu
nó không trái với lễ: “Phú quý mà có thể cầu được thì dù làm kẻ cầm roi đánh xe hầu người, ta cũng làm” (Luận ngữ) Làm giàu không chỉ nên, mà còn là trách nhiệm của người cai trị: Mạnh Tử từng bàn đến các vấn đề trao đổi hàng hóa, giá cả, chính sách thu thuế chợ, thuế đường…; ông nói: “người ta có hằng sản mới có hằng tâm” Chính vì vậy
mà ở Trung Hoa, Nho giáo không hề cản trở nghề buôn phát triển
Trong khi đó thì ở Việt Nam với văn hóa nông nghiệp đậm nét, với tính cộng đồng và tính tự trị, lại có truyền thống khinh rẻ nghề buôn Nó đã bám rễ vào suy nghĩ và tình cảm mỗi người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt Nam không thể phát triển được; nó
còn được khái quát thành quan niệm mang tính chính thống: dĩ nông vi bản, dĩ thương vi
mạt và đường lối trọng nông khinh thương “Truyền thống” này khiến cho Việt Nam
nông nghiệp vốn đã âm tính lại càng duy trì được sự ổn định lâu dài, tránh mọi nguy cơ đồng hóa
Mục 2: ẢNH HƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ,
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
2.1 Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý
Cán bộ quản lý bao gồm tất cả những người tham gia vào hệ thống quản lý và hình thành chức năng nhất định Đó là tất cả những người không tham gia trực tiếp vào quán trình sản xuất theo chức năng thì cán bộ quản lý chia làm 3 loại:
• Cán bộ lãnh đạo: chỉ huy trong bộ máy quản lý có một chức danh nhất định do nhà
Trang 7nước cấp hoặc do cấp trên bổ nhiệm Phải chịu trách nhiệm trước nhà nước và cấp trên trong việc chỉ đạo hoạt động của tổ chức do mình phụ trách Hoạt động đặc trưng của họ
là đề ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý
• Các chuyên gia: là những người có trình độ chuyên môn trong 1 lĩnh vực nào đó như kinh tế, toán học, kĩ sư,…Chức năng của họ là chuẩn bị các phương án cho người cán bộ lãnh đạo ra quyết định ngoài ra còn được người cán bộ lãnh đạo giao cho nhiệm vụ theo dõi kiểm tra một số công tác nào đó theo nguyên tắc quản lý
• Các nhân viên quản lý như: nhân viên kế toán, thống kê, thư kí,… Chức năng của họ là thu thập , chỉnh lý và truyền đạt những thông tin ban đầu chuẩn bị và hình thành các loại
tư liệu cần thiết đảm bảo cho cán bộ lãnh đạo và chuyên gia điều hành sản xuất kinh doanh của một tổ chức nào đó
2.2
Thực trạng ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đạo đức cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay và một số vấn đề đặt ra
2.2.1 Người cầm quyền cần có tài năng và đức độ, lấy mình làm tấm gương cảm hóa dân chúng, tạo nên tôn ti trật tự xã hội
Không ai phủ nhận người lãnh đạo phải có tài, cái tài ấy không chỉ thể hiện trong việc cai trị đất nước mà còn ở cách thâu tóm lòng người về một mối Chịu ảnh hưởng sâu sắc của
tư tưởng Nho gia nhưng dân tộc ta mà sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng khéo léo tư tưởng ấy chỉ ra yêu cầu đối với người lãnh đạo cách mạng trước hết phải vừa
có “đức” vừa có “tài” Rõ ràng, đức và tài luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau trong nhận thức tư tưởng, hoạt động thực tiễn Mối quan hệ giữa đức và tài như sự ràng buộc, đi liền nhau: Có cái này phải có cái kia và cái kia chứa đựng trong cái này Giống như hai mặt của một tờ giấy, đức và tài là hai mặt không thể thiếu của người cán
bộ, nhất là người lãnh đạo Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay là nhằm tiếp tục bồi dưỡng cái gốc, để rèn luyện cho cán bộ, người
lãnh đạo nhân cách và bản lĩnh vững vàng trước mọi cám dỗ, thử thách Trong Luận ngữ,
Khổng Tử răn dạy các học trò của mình phải biết quan tâm tới những người dưới quyền Phát triển từ quan điểm này, người lãnh đạo DN taị Việt Nam đã chú trọng hành động trên cơ sở đạo đức, quan tâm tới lợi ích của cấp dưới Tuy nhiên vẫn tồn tại một số nhà lãnh đạo chỉ quan tâm tới quyền lợi và sự giàu có của chính mình, thậm chí trong thời kỳ khủng hoảng họ đều muốn bảo toàn vị trí của mình bằng mọi giá Họ đặt cái lợi ích của mình lên trên hết và sẵn sàng đạp đổ quyền lợi chính đáng của nhân viên cấp dưới vì lợi ích cá nhân, vì bị cuốn theo cơn lốc vũ bão của đồng tiền và danh vọng mà đi ngược lại với đạo đức cách mạng và những truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ ngàn xưa để lại Hành động này hoàn toàn trái ngược với những điều nhà lãnh đạo nên làm vì nhân viên
và tổ chức của mình Điển hình 22 vụ tham nhũng đã được phanh phui ở Hà Nội trong năm 2011, gần 60 trường hợp bị xử lý hình sự Gần một nửa trong số này (10 vụ) liên quan cán bộ ngân hàng, mà người đứng đầu trong các vụ bê bối ấy là chính những người lãnh đạo chủ chốt trong ngành Đặc biệt là vụ kế toán trưởng và giao dịch viên Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Mỹ Đức lập tài khoản ảo rút hơn 40 tỷ đồng của khách hàng đang là vấn đề gây nhức nhối trong dư luận Hay đầu năm 2010, ông Đoàn Tiến Dũng - Phó TGĐ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) bị
Trang 8bắt để điều tra về hành vi nhận hối lộ số tiền gần 1 tỷ đồng của một doanh nghiệp muốn vay vốn với lãi suất thấp tại ngân hàng này…
2.2.2 Biết lắng nghe những người dưới quyền
Giao tiếp giữa nguời lãnh đạo và những người dưới quyền là một quá trình tác động tương hỗ Đó là một quá trình mà cả người lãnh đạo và những người thừa hành đều là những chủ thể tích cực Có như vậy thì giao tiếp mới đạt hiệu quả cao Điều đó có nghĩa
là, khi nguời lãnh đạo truyền đạt các chỉ thị, mệnh lệnh hay quyết định nào đó cho những người thừa hành thì cần phải quan tâm đến thái độ, phản ứng và mức độ thực thi các chỉ thị, mệnh lệnh đó của họ
Tuy vậy ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến và Nho giáo, những người lãnh đạo thường coi mình như những người bề trên, ban phát lợi ích cho nhân viên cấp dưới Khi quyền lực của người lãnh đạo càng lớn thì tư tưởng này thể hiện càng rõ Điều này ở trong các doanh nghiệp thể hiện rõ hơn các cơ quan hành chính sự nghiệp, vì ở các doanh nghiệp thu nhập và việc làm của người lao động phụ thuộc trực tiếp vào quyền lực của người lãnh đạo Cấp trên giao chỉ tiêu, kế hoạch và cấp dưới có nhiệm vụ được thực hiện Chính cách thức quản lý này đã tạo nên một phong cách quản lý cho những người lãnh đạo – phong cách chỉ biết ban hành, ra chỉ thị, mệnh lệnh xuống dưới mà ít quan tâm đến chiều ngược lại
2.2.3 Lòng nhân ái và sự quan tâm đối với mọi nguời
Người lãnh đạo giỏi phải biết dùng cái tài của mình để huy động sức mạnh tập thể cùng chèo chống đến thành công và dùng cái đức để tạo nên tinh thần đoàn kết quyết chiến quyết thắng cho tập thể ấy Muốn thế người lãnh đạo trước hết phải có: nhân “Nhân” là thật thà, thương yêu, hết lòng giúp đỡ Đối với mỗi chúng ta, lòng nhân ái là một phâm chất không thể thiếu được Đối với người lãnh đạo, yếu tố này lại càng có ý nghĩa Trong một tổ chức, khi người lãnh đạo có những mối quan hệ sâu sắc, nhân ái với mọi người thì
sẽ tạo nên sự hợp tác rộng rãi của các thành viên đối với mình Khi người lãnh đạo có tình thương đối với mọi người thì doanh nghiệp sẽ có sức mạnh – sức mạnh được tạo nên
từ phía những người thừa hành
Lòng nhân ái của người lãnh đạo thường dễ thể hiện trong các nhóm nhỏ, trong phạm vi hẹp Đối với các doanh nghiệp có quy mô càng lớn thì lòng nhân ái và tình yêu thương cấp dưới của người lãnh đạo càng khó thể hiện, khó có điều kiện bộc lộ Sẽ là đúng khi chúng ta nói rằng, một người lãnh đạo tốt là người có tình yêu thương, có lòng nhân ái với mọi người trong tổ chức do người đó quản lý Tình yêu thương của người lãnh đạo không chỉ là một cảm giác, không chỉ thể hiện trên lời nói, mà phải được thể hiện qua những việc làm, những hành động cụ thể.Trong ứng xử với cấp dưới, sự thể hiện lòng nhân ái, quan tâm của người lãnh đạo phải dựa trên sự hiểu biết về hoàn cảnh, nguyện vọng, chứ không phải mang tính tự phát Người lãnh đạo nào hình thành được thói quen ứng xử mang tính nhân ái và chân thành đối với cấp dưới thì người đó sẽ có được tình cảm sâu sắc rộng lớn trong quan hệ với các thành viên của tổ chức
Trang 9Có thể nói, người lãnh đạo cần sử dụng linh họat và có hiệu quả tình cảm của mình để tạo nên những mối quan hệ có hiệu quả nhất với các thành viên
Mục 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT
HUY MẶT TÍCH CỰC, HẠN CHẾ MẶT TIÊU CỰC CỦA ẢNH HƯỞNG ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Một số yêu cầu về đạo đức của người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay
3.1.1 Yêu cầu về phẩm chất chính trị: thể hiện ở các điểm sau:
- Phải có quan điểm chính trị sâu rộng, có ý chí vững vàng, kiên định trong công việc, biết đánh giá kết quả theo những tiêu chuẩn chính trị
- Có khả năng tạo đc long tin của tập thể đối vs bản thân
3.1.2 Yêu cầu về năng lực chuyên môn:
- Phải có những kiến thưc về mặt kinh tế, hành chính, kĩ thuật, tương xứng vs giá trị của mình để tổ chức công việc của hệ thống đạt hiệu quả mong muốn
- Năng lực chuyên môn được thể hiện cụ thể ở các điểm sau:
+ Khả năng phân tích và giải quyết các vấn đề như : phân tích tình huống, phát hiện các cơ hội, thực thi các giải pháp để tận dungjcacs cơ hội có lợi, tập trung tiềm lực
để giải quyết các câu xung yếu nhất của hệ thống
+ Khả năng xác định đúng đắn phương hướng phát triển của hệ thống do mình phụ trách
3.1.3 Yêu cầu về năng lực tổ chức:
Đó là những yêu cầu về các kĩ năng khác nhau trong công việc tổ chức điều hành, công việc của cán bộ quản lý thể hiện ở những điểm cụ thể sau:
- Tổ chức công việc của bản than bao gồm: các phương pháp, quá trình, quy trình làm việc hằng ngày của cán bộ quản lý, khả năng kết hợp giữa công việc hằng ngày với công việc chuẩn bị cho hướng phát triển tương lai của hệ thống
- Khả năng làm việc với mọi người: thể hiện ở những năng lực hợp tác, năng lực tham gia vào các công việc cụ thể, năng lưc tạo ra môi trương trong đó con người cảm thấy an toàn và dễ dàng phát biểu ý kiến của mình
Trang 10- Biết đánh giá và sử dụng đúng khả năng của từng người có khả năng kiểm tra công viêc và giữ vững kỉ luật lao động
- Khả năng thấy đc vấn đề tổng quát và vấn đề chi tiết, khả năng nhân được những nhân
tố chính trong những hoàn cảnh, những mối quan hệ cơ bản, những phần tử 3.1.4 Yêu cầu về đạo đức: thể hiện ở 4 khía cạnh sau:
- Có ước muốn làm việc quản lý
- Quan hệ đồng cảm với mọi người
- Chính trực và trung thực, công bằng và phân tâm, có văn hóa, biết tôn trọng con người,
có thiện chí con người, không làm điều ác với con người
- Thường xuyên học hỏi để trau dồi trí tuệ
3.2
Một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của ảnh hưởng đạo đức Nho giáo trong xây dựng đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay
3.2.1 Tiếp thu những mặt tiến bộ của Nho giáo, Đảng và Nhà nước ta khuyến khích chủ trương làm giàu chính đáng, cạnh tranh lành mạnh, hợp đạo để động viên nhân dân ta trong công cuộc phát triển kinh tế xây dựng đất nước
Nho giáo không phải là học thuyết kinh tế, không tác động trực tiếp vào công việc xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa bằng những chủ trương kinh tế Nhưng bằng những quan điểm về cách sống, về đạo đức, Nho giáo đưa ra chữ “nhân” với Doanh nghiệp nói chung và với người quản lý, lãnh đạo nói riêng khi làm kinh tế ,
đó chính là đạo đức kinh doanh - một phẩm chất vô cùng quan trọng của các doanh nhân trên thương trường
Ngày nay đạo đức kinh doanh được các doanh nghiệp Việt Nam thể hiện thông qua việc sản xuất sản phẩm đúng chất lượng, tiêu chuẩn đặt ra, cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, không sử dụng những chất độc hại cho con người trong sản phẩm… Đạo đức kinh doanh ngày nay còn thể hiện qua “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” Đó chính là việc xem xét tới các yếu tối môi trường và con người trong quá trình tạo ra sản phẩm của bộ phận quản lý Việt Nam đã có bình chọn cho giải thưởng “Top 100 doanh nghiệp vì sức khỏe cộng đồng năm 2009”
Ngoài ra các doanh nhân Việt Nam còn thể hiện tấm lòng nhân nghĩa của mình bằng việc cấp học bổng cho học sinh nghèo, ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”, giúp đỡ một số trường hợp hoạn nạn,… Đó chính là những biểu hiện phẩm chất tốt đẹp của các doanh nghiệp Việt Nam, của những tấm gương lãnh đạo bởi họ không chỉ biết lo làm giàu cho bản thân mình mà còn quan tâm tới những mảnh đời khó khăn trong xã hội