+ Nhiệm vụ khoa học kỹ thuật: Nghiên cứu phương án bố trí xây dựng lưới trắc địa nhà nước phục vụ cho việc đo vẽ bản đồ địa hình nhà nước và các công tác trắc địa công trình, nghiên cứu
Trang 1Lời nói đầu
Trắc địa là một ngành khoa học về quả đất, có nhiệm vụ đo vẽ bản đồ một khu
vực trên đất hoặc bản đồ bề mặt quả đất, xác định hình dạng và kích thước quả đất
Tùy theo việc nghiên cứu khu vực lớn hay nhỏ người ta chia ra làm hai chuyên ngành:
Trắc địa cao cấp và trắc địa cơ sở Nhiệm vụ chính của trắc địa được chi ra làm 2
nhiệm vụ
+ Nhiệm vụ khoa học: Nghiên cứu hình dáng, kích thước của trái đất, nghiên
cứu thế trọng trường của trái đất, sự dịch chuyển của lục địa theo thời gian Để thực
hiện điều này trắc địa phải phối hợp chặt chẽ với một số nghành thiên văn trắc địa
+ Nhiệm vụ khoa học kỹ thuật: Nghiên cứu phương án bố trí xây dựng lưới
trắc địa nhà nước phục vụ cho việc đo vẽ bản đồ địa hình nhà nước và các công tác
trắc địa công trình, nghiên cứu các thiết bị đo, phương pháp xử lý toán học, mạng lưới
khống chế mặt bằng quốc gia
Nắm bắt được điều đó Khoa Công trình - Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã
quyết định giao cho em nhiệm vụ :Thiết kế và tổ chức thi công đo vẽ bản đồ địa
hình tỉ lệ 1:500 phục vụ nâng cấp tuyến đường Thạch Thất – Hà Nội làm đồ án tốt
nghiệp Trải qua những năm học tập trên ghế nhà trường, quá trình tham khảo các tài
liệu liên quan và 12 tuần làm đề tài dưới sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy hướng dẫn
Th.s.Nguyễn Thị Hồng, em đã hoàn thành đồ án đúng qui định
Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn ít nên đồ án tốt nghiệp của
em còn rất nhiều thiếu sót, em rất mong những lời góp ý quý báu từ các thầy cô giáo
Trong quá trình làm đồ án em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy
hướng dẫn và các thầy cô trong bộ môn “An toàn đường thủy – Khoa Công Trình” và
sự giúp đỡ của các bạn trong lớp Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng ngày 20 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Hữu Tùng
Trang 2Muốn xây dựng một lưới trắc địa bất kì nào có đủ độ chính xác để có cơ sở cho việc đo vẽ bản đồ địa hình của nhà nước và phục vụ cho công tác trắc địa công trình cũng như các ngành có liên quan như: Trắc địa bản đồ, trắc địa biển, trắc địa mỏ… Cũng như việc thành lập một hệ thống bản đồ thống nhất từ toàn diện đến cục bộ, các bản đồ tỉ lệ lớn với đầy đủ các thông tin về tự nhiên, xã hội và dân cư Với hệ thống tọa độ thống nhất với mạng lưới khống chế độ cao và mặt bằng nhà nước phục vụ cho việc bố trí phân vùng kinh tế
Cụ thể mục đích của đề tài là thành lập và thi công lưới khống chế địa hình và độ cao để phục vụ nâng cấp tuyến đường trong khu vực
1.1.1.2 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trước hết ta phải tiến hành thiết lập bản thiết kế kĩ thuật (quy trình và các chỉ tiêu kĩ thuật của bản thiết kế kĩ thuật phải tuân theo quy phạm đo đạc bản đồ do cục đo đạc và bản đồ nhà nước quy định)
Bản thiết kế kĩ thuật là tài liệu chỉ đạo trong suốt quá trình công tác xây dựng lưới sau này về các mặt: Tiến độ, kĩ thuật, kinh tế Nó là cơ sở để kiểm tra và nghiệm thu toàn bộ khối lượng công tác khi hoàn thành
Dựa vào bản thiết kế kỹ thuật em tiến hành các bước thi công lưới khống chế và sau đó thành lập bản đồ địa hình tỉ lệ 1:500 khu vực Thạch Thất – Hà Nội
1.1.2 Nội dung, ý nghĩa của đề tài
Thiết kế chi tiết mặt bằng cho từng vùng trong khu đo, lập bảng vẽ bố trí đo nối các đường đã thiết kế với mốc trắc địa cơ bản, các toà nhà và công trình:
Trang 3Để lập bản đồ tỉ lệ 1:500 phục vụ công tác nâng cấp và sửa chữa các tuyến đường tại Thạch Thất – Hội Nội đã xuống cấp nghiêm trọng
Sau khi thiết kế thì tiến hành các bước thi công lưới khống chế mặt bằng, lưới khống chế độ cao
Từ các lưới khống chế đo vẽ tiến hành đo đạc chi tiết địa hình khu đo
Từ các số liệu đã có kết hợp với số liệu thu thập được sẽ thành lập nên bản đồ chi tiết
1.2 Khái quát chung về khu đo vẽ
1.2.1 Vị trí địa lý của khu vực đo vẽ
Tuyến đường có chiều dài 2,2 km thuộc xã Phú Ổ - huyện Thạch Thất trực thuộc Thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với:
- Phía bắc và đông bắc giáp với tỉnh lộ 419 và đường 80
- Phía nam và đông nam tiếp giáp với xã Phú Xá
- Phía tây nam và nam giáp với địa lộ Thăng Long
- Phía tây giáp với thị xã Tây Sơn
Trong địa bàn huyện Thạch Thất có rất nhiều các tuyến đường chạy qua như Đại lộ Thăng Long, tỉnh lộ 419, tỉnh lộ 420, Quốc lộ 32, Quốc lộ 21… Mặc
dù thời gian gần đây các tuyến đường chính đã được nâng cấp, sửa chữa Song bên cạnh đố các tuyến đường liên huyện, xã vẫn còn xuống cấp trầm trọng cần được nâng cấp, thiết lập trật tự an ninh trên các tuyến đường
Hình 1.1 Khu vực Phú Ổ - Thạch Thất – Hà Nội
Trang 41.2.2 Đặc điểm của khu vực đo vẽ
1.2.2.1 Đặc điểm chung của khu vực đo vẽ
Địa hình khu đo tương đối đa dạng và phức tạp, dốc theo chiều Tây Bắc xuống Đông Nam vừa có núi đá vôi, vừa có đồng bằng và hệ thống sông ngoài dày đặc Có nhiều làng nghề và khu công nghiệp, khu dân cư tạo điều kiện cho phát triển kinh tế nhưng cũng gây khó khăn cho công tác thiết kế lưới và đo vẽ ngoài thực địa
1.2.2.2 Đặc điểm tình hình dân cư trong vùng
Địa hình đồng bằng xen lẫn trung du ,nhà dân ở xen lẫn ruộng vườn, dân cư tập trung nhiều ở thị trấn Liên Quan Dân chủ yếu là dân tộc Kinh và nghề nghiệp chính là buôn bán và làm ruộng
1.2.2.3 Đặc điểm về giao thông vận tải
Hệ thống giao thông trong khu vực chủ yếu là Quốc lộ 21, Quốc lộ 32, tỉnh lộ 419, tỉnh lộ 420 phục vụ giao thông đi lại giữa Thạch Thất và các khu vực lân cận như Phú Thọ, Hòa Bình, Tây Sơn Các tuyến đường này mặc dù đã được sửa chữa nhưng vẫn xuống cấp nghiêm trọng
1.2.3 Tài liệu trắc địa đã có trên khu đo
Sau một thời gian tham khảo và thu thập những tài liệu liên quan đến khu vực đo
vẽ từ đó em có được một số tài liệu như sau:
- Về tọa độ: Có 04 điểm tọa độ chuyền cấp 1, thuộc hệ tọa độ Nhà nước VN-2000, kinh tuyến trục 1050, múi chiếu 30
- Về cao độ: Có 04 điểm độ cao đo bằng thủy chuẩn kỹ thuật thuộc hệ độ cao Nhà nước
Bảng 1-1 Bảng tọa độ, độ cao các điểm cấp 1
Tên Điểm X(m) Y(m) H(m)
Trang 5Chương 2
CÔNG TÁC XÂY DỰNG LƯỚI KHỐNG CHẾ MẶT BĂNG
2.1 Khái quát chung về lưới khống chế mặt bằng
2.1.1 Phân loại lưới khống
2.1.1.1 Lưới cơ sở trắc địa
Lưới cơ sở trắc địa bao gồm lưới cơ sở mặt bằng (tọa độ) và lưới độ cao Để xây
dựng lưới cơ sở mặt bằng người ta dùng phương pháp đo góc, tam giác đo cạnh,
đường chuyền…còn lưới độ cao được xây dựng chủ yếu bằng phương pháp thủy
chuẩn (đo cao hình học)
Lưới cơ sở trắc địa trên lãnh thổ Việt Nam được chia làm 3 loại :
- Lưới cơ sở trắc địa Nhà nước
- Lưới cơ sở trắc địa địa phương (lưới khống chế địa hình khu vực)
- Lưới cơ sở trắc địa độ chính xác thấp (lưới khống chế đo vẽ)
Lưới cơ sở trắc địa Nhà nước Việt Nam cả mặt bằng và độ cao đều chia thành
bốn hạng I, II, III, IV Thuật ngữ thông dụng trong thực tế hiện nay, lưới cơ sở trắc
địa Nhà nước được chia ra bốn hạng, lưới cơ sở trắc địa địa phương xây dựng theo hai
hoặc ba cấp
Lưới cơ sở trắc địa Nhà nước là cơ sở để khống chế đo vẽ các loại bản đồ địa
hình toàn quốc, phục vụ các yêu cầu trắc địa công trình và nghiên cứu khoa học
Lưới cơ sở trắc địa địa phương là những mạng lưới chêm dày vào lưới Nhà nước
các cấp hoặc phát triển độc lập trên toàn khu vực nhằm phục vụ các yêu cầu đo vẽ bản
đồ địa hình lớn và các công tác khảo sát, thiết kế, thi công các công trình thành phố,
khu công nghiệp, giao thông, thủy lợi…Lưới cơ sở trắc địa địa phương ở những khu
vực rộng lớn có thể tương đương lưới hạng IV Nhà nước, ở khu vực bình thường thì
xây dựng lưới tam giác giải tích cấp 1, cấp 2 hoặc đường chuyền cấp 1, cấp 2
Lưới không chế đo vẽ là tập hợp các điểm chêm dày vào lưới cơ sở Nhà nước
hoặc địa phương phục vụ trực tiếp cho công tác đo vẽ bản đồ địa hình Vị trí các điểm
này được xác định bằng phương pháp tam giác nhỏ, đường chuyền kinh vĩ hoặc các
dạng giao hội
Trang 62.1.2 Tính số lượng điểm khống chế cho từng cấp
Khi đo vẽ bản đồ địa hình ở khu vực nào đó ta phải xây dựng lưới khống chế trắc
địa, khống chế mặt bằng và độ cao rải đều toàn bộ khu đo với độ chính xác cần thiết để
đo vẽ địa hình địa vật Mật độ điểm khống chế địa hình là số lượng điểm cần có trên
một đơn vị diện tích Nếu biết mật độ điểm khống chế và diện tích khu đo ta có thể xác
định được tổng số điểm khống chế cần có trên khu vực đo vẽ
Mật độ điểm khống chế địa hình phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau:
- Phương pháp đo vẽ bản đồ
- Tỷ lệ bản đồ địa hình cần vẽ
- Đặc điểm địa hình địa vật khu đo
- Phương pháp thành lập lưới khống chế
Có nhiều phương pháp đo vẽ bản đồ địa hình như: phương pháp đo trực tiếp,
phương pháp đo ảnh, phương pháp biên tập từ bản đồ lớn Trong nội dung đồ án này,
em chỉ xin trình bày phương pháp đo trực tiếp Phương pháp đo vẽ trực tiếp là phương
pháp dùng các loại máy kinh vĩ hoặc toàn đạc xác định vị trí tương đối của các điểm
chi tiết địa hình địa vật rồi biểu diễn chúng lên tờ giấy trắng
Trong phương pháp đo vẽ trực tiếp vị trí điểm bất kì thường được xác định bằng
phương pháp toạ độ cực Trên hình vẽ (2 – 1) điểm A và B là hai điểm khống chế địa
hình đã biết toạ độ và độ cao Đặt máy tại A định hướng về B đo góc cực β, khoảng
cách nằm ngang d và chênh cao ha Sai số đo góc β bằng máy kinh vĩ hoặc kẻ hướng
bằng máy toàn đạc cùng với sai số đo chiều dài đoạn sẽ gây ra sai số điểm K Nếu coi
ảnh hưởng của hai sai số này đến sai số vị trí điểm là như nhau Mẫu số tỷ lệ bản đồ là
M thì sai số đo chiều dài là:
2 5 0 2
M m
d
(2-1) Trong đó:
mdv : là sai số trung phương điểm địa vật
md : là sai số đo chiều dài
M: là mẫu số tỉ lệ bản đồ
Khoảng cách d đo bằng cự trong máy, theo các số liệu thực nghiệm sai số trung
phương tương đối một lần đo khoảng cách bằng dây thị cự sẽ là:
Trang 7m m
Hình 2-2.Diện tích khống chế của điểm đo vẽ
Nếu lấy chiều dài cạnh bằng 2 lần khoảng cách xa nhất từ máy đến mia (S = 2d)
thì đặt máy đo chi tiết sẽ còn một khoảng bỏ trống không với tới Vì vậy, khoảng cách
xa nhất từ máy đến mia là đoạn AK lúc đó chiều dài lớn nhất của cạnh lưới đo vẽ là:
cot
(2-5) Diện tích lục giác đều cạnh a sẽ là:
Trang 82
3)232
1(
(2-6) Vậy khoảng cách giữa các điểm khống chế là S thì tính được diện tích khống chế
của một điểm theo công thức (2–6) Giả sử, diện tích cả khu đo là F ta sẽ tính được
tổng số điểm khống chế các cấp là:
P
F
Nhưng trong thực tế đo đạc người ta thường thêm một số điểm dự trữ để dự
phòng địa hình phức tạp nên số lượng điểm khống chế được tính theo công thức:
% 15
F
N
(2-7)
2.1.3 Độ chính xác cần thiết của các bậc khống chế
Để đáp ứng yêu cầu của các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, người ta thành lập
bản đồ địa hình với các tỷ lệ khác nhau:
Trong khi khảo sát sơ bộ trong phạm vi rộng, trong giai đoạn đầu người ta dùng
bản đồ địa hình với các tỷ lệ nhỏ 1:100.000 hoặc 1:50.000
Khi khảo sát qui hoạch phân vùng kinh tế ở giai đoạn 2 thường dùng bản đồ địa
hình tỷ lệ 1:10.000 và 1:5.000
Ở giai đoạn 3, để thiết kế kỹ thuật và chuyển thiết kế ra thực địa trên khu vực
rộng thường dùng bản đồ tỷ lệ 1:2.000 Khi thiết kế xây dựng các công trình còn phải
đo vẽ thêm các loại bản đồ tỷ lệ lớn 1:1.000 và 1:500 và 1:200
Với mỗi quốc gia đều có mức độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau cũng như
khả năng đo vẽ bản đồ cũng khác nhau Trong cùng một nước có những vùng phát
triển mạnh đòi hỏi phải có bản đồ tỷ lệ lớn hơn, còn vùng chưa phát triển thì chỉ cần
bản đồ tỷ lệ nhỏ hơn Người ta chọn một tỷ lệ bản đồ thích hợp với trình độ phát triển
của đất nước và khả năng của ngành đo đạc làm bản đồ cơ bản của Nhà nước Bộ bản
đồ tỷ lệ cơ bản của nhà nước phải vẽ trên toàn bộ lãnh thổ, còn ở khu vực kinh tế phát
triển sẽ vẽ các tỷ lệ lớn hơn Nước ta hiện nay lấy bản đồ tỷ lệ 1:5.000 là bản đồ cơ
bản Nhà nước song vẫn hoàn thiện trên toàn lãnh thổ
Lưới khống chế cơ sở trắc địa Nhà nước phải đáp ứng được yêu cầu mật độ điểm
và độ chính xác đo vẽ bản tỷ lệ cơ bản Nhà nước đồng thời nó cũng phải thỏa mãn yêu
cầu đo vẽ bản đồ tỷ lệ lớn hơn ở giai đoạn về sau
Trang 9Người ta xây dựng lưới khống chế địa hình theo phương pháp chêm dầy tuần tự
nhiều cấp Phát triển lưới khống chế theo nguyên tắc này sẽ đơn giản được quá trình
tính toán chính kết quả đồng thời cho phép nhanh chóng cung cấp đầy đủ số điểm
khoảng cách cần thiết để triển khai công tác đo vẽ ở các khu vực nhỏ
Số cấp khống chế cần lập sẽ phụ thuộc chủ yếu vào diện tích đo vẽ và đặc điểm
địa hình, địa vật khu đo Người ta cố gắng xây dựng càng ít bậc càng tốt để giảm bớt
sự tích lũy sai số từ cấp cao đến cấp khống chế cuối cùng
2.1.4 Các loại lưới khống chế mặt bằng
2.1.4.1 Lưới tam giác
Theo quy mô và độ chính xác xây dựng lưới người ta thường chia lưới tam giác
làm 3 loại, lưới tam giác nhà nước, lưới tam giác giải tích và lưới tam giác nhỏ
Các dạng đồ hình lưới:
1) Lưới tam giác nhà nước
Chia làm 4 hạng: I, II, III, IV
- Lưới hạng I có độ chính xác cao nhất chiều dài cạnh trung bình khoảng từ 2025km,
độ chính xác đo góc từ 0,5” 0,6” Có 14 cạnh gốc chiều dài và góc phương vị
mỗi cạnh được đo với độ chính xác 1/400000 và công trừ 0,5” Mỗi cạnh gốc được
bố trí cách nhau từ 1012 tam giác rải đều trong toàn lưới Cạnh yếu nhất của tam giác
hạng I có độ chính xác 1/300000 Ngoài các trị đo góc và đo cạnh khởi đầu người ta
còn đo toạ độ thiênvăn và các yếu tố trọng lực ở nhiều điểm nên còn gọi là lưới thiên
văn trắc địa Mạng lưới này cung cấp các số liệu cơ bản để nghiên cứu hình dáng trái
đất và là cơ sở phát triển hệ toạ độ thống nhất trên toàn lãnh thổ và xây dựng lưới cấp
hạng thấp hơn
- Lưới tam giác hạng II phát triển chêm dày từ lưới hạng I
- Lưới tam giác hạng III, IV được phát triển chêm dày từ lưới tam giác hạng I, II
nhằm phục vụ những yêu cầu đo vẽ bản đồ địa hình
Phương pháp chêm dày vào lưới hạng cao: kẻ ba đường phân giác cắt nhau tại
một điểm thì khu vực xung quanh là khu vực chêm điểm tốt nhất
Các chỉ tiêu kỹ thuật đặc trưng mỗi lưới tam giác cấp hạng nhà nước như sau:
Trang 10Bảng 2-1.Đặc trưng kỹ thuật của lưới tam giác nhà nước
Các yếu tố đặc trưng Lưới tam giác nhà nước
Sai số trung phương tương
đối cạnh khởi đầu 1/400000 1/300000 1/200000 1/120000
Sai số trung phương tương
đối cạnh yếu nhất 1/300000 1/200000 1/120000 1/70000
Sai số trung phương đo góc 0,7’’ 1’’ 1,8’’ 2,5’’
2) Lưới tam giác giải tích.
Được chia ra làm 2 cấp là giải tích 1 và giải tích 2, được xây dựng nhằm chêm
dày lưới nhà nước để làm cơ sở phát triển lưới khống chế đo vẽ cho bản đồ tỷ lệ
1:5000 đến 1:500
Ở khu vực có lưới khống chế nhà nước thì lưới giải tích cấp 1 sẽ là lưới chêm
dày từng điểm, từng chuỗi tam giác hoặc dày đặc, lưới giải tích cấp 2 sẽ phát triển trên
cơ sở lưới tam giác nhà nước và lưới tam giác giải tích cấp 1 Nếu khu đo có diện tích
nhỏ không đủ điểm khống chế Nhà nước thì lưới giải tích có thể xây dựng độc lập với
toạ độ giả định
Bảng 2-2 Đặc trưng kỹ thuật của lưới tam giác giải tích
Các yếu tố đặc trưng Lưới giải tích 1 Lưới giải tích 2
Trang 11chuỗi tam giác giữa hai cạnh khởi đầu
Sai số trung phương tương đối cạnh
Sai số trung phương tương đối cạnh
Tuỳ theo diện tích hình dạng địa hình khu đo cũng như mật độ và sự phân bố các
điểm khống chế hạng cao mà có thể lựa chọn hình dạng của lưới giải tích chêm điểm
e) Chuỗi tam giác đơn f) Chuỗi tam giác nối
Hình 2-3.Các dạng lưới tam giác giải tích 3) Lưới tam giác nhỏ
Là một trong các phương án phát triển lưới khống chế đo vẽ bản đồ tỷ lệ lớn nó
có thể ứng dụng các dạng chêm điểm chêm lưới, chêm chuỗi tam giác vào giữa các
cạnh hoặc các điểm khống chế từ giải tích 2 trở lên Cạnh khởi đầu là cạnh tam giác
hoặc cạnh đường chuyền cấp cao hơn, trường hợp ít cạnh cấp cao có thể đo thêm cạnh
khởi đầu với sai số trung phương tương đối là 1/5000
Các chỉ tiêu kích thước lưới tam giác nhỏ bao gồm:
Bảng 2-3.Quy phạm về lưới tam giác nhỏ
Các yếu tố đặc trưng Lưới tam giác nhỏ
0
Trang 12Số tam giác nằm giữa 2 cạnh gốc
Sai số tương đối cạnh khởi đầu 1/5000
Sai số tương đối cạnh yếu nhất 1/2000
*) Ưu điểm: Kết cấu đồ hình chặt chẽ, độ chính xác cao, khối lượng công tác đo
cạnh ít (chỉ cần đo chiều dài cạnh đáy-cạnh gốc rồi tính ra các cạnh còn lại trong lưới
tam giác)
*) Hạn chế : phương pháp này chỉ dùng đo vẽ cho khu vực theo hình vuông ,
hình chữ nhật … đặc biệt khu đo của ta nằm trên tuyến đường khảo sát có nhiều nhà
và chướng ngại vật nên việc chọn điểm mốc hơi khó khăn , không đảm bảo được tính
kinh tế khi đo vẽ trên tuyến đường vì phải xây dựng nhiều điểm nên tốn kém vật tư
2.1.4.2 Lưới đường chuyền
- Đường chuyền phù hợp: Khu vực đo kéo dài, hai đầu có các điểm khống chế
hạng cao có đo góc β1 và βn+1 nối với hai điểm cấp cao khác như hình vẽ Nếu đường
gãy khúc từ A đến C gần tạo thành một đường thẳng ta gọi là đường chuyền duỗi
Hình 2-4.Sơ đồ dạng đường chuyền duỗi thẳng
- Đường chuyền treo: Đường chuyền chỉ có một điểm khống chế hạng cao ở
một đầu gọi là đường chuyền treo
Trang 13Hình 2-5.Sơ đồ mô tả lưới đường chuyền treo
- Đường chuyền khép kín: nếu khu đo không lớn ta có thể chọn đường chuyền
S S
Hình 2-6.Sơ đồ lưới đường chuyền dạng khép kín
Ngoài ra ta còn bố trí kết hợp giữa đường chuyền khép kín với đường chuyền
phù hợp Các điểm nút N1, N2, N3 gọi là các điểm nút
0.8 0.12
0.35 0.08
Sai số tương đối giới hạn
Sai số trung phương đo góc
Sai số giới hạn khép góc đường chuyền
Trang 14*) Ưu điểm: Dễ thông hướng trong mọi trường hợp vì tại mỗi một điểm đo chỉ
cần thông với 2 hướng đo, rất thuận lợi cho ta khi đo vẽ ở những vùng đông dân cư
nhà cửa và cây cối che khuất , vì phải xây dựng ít điểm khống chế nhưng vẫn đảm bảo
được độ chính xác nên yếu tố kinh tế và kĩ thuật được đảm bảo
*) Hạn chế: Kết cấu đồ hình không chặt chẽ và độ chính xác không cao bằng lưới
tam giác Khối lượng công tác đo chiều dài cạnh nhiều vì phải đo tất cả các cạnh
đường chuyền
2.1.4.3 Công nghệ GPS
- Lưới GPS: là lưới xác định tọa độ của các điểm khống chế trắc địa bằng cách sử
dụng kết quả thu tín hiệu vệ tinh GPS
- Có 2 phương pháp cơ bản là : định vị tuyệt đối và định vị tương đối
+ Định vị tuyệt đối : xác định trực tiếp tọa độ điểm trên hệ tọa độ địa tâm
Descartes, từ đó chuyển sang hệ tọa độ kinh vĩ độ và cao độ trên WGS-84, trong kiểu
này chỉ cần 1 máy thu , việc thực hiện đo bằng cách xác định thời gian lan truyền của
tín hiệu, trị đo khoảng cách gải là trị đo xung
+ Định vị tương đối : là quá trình xử lý để xác định hiệu tọa độ tương đối giữa 2
điểm thu Các trạm thu này quan trắc đồng thời các trị đo khoảng cách đến cùng một
tập hợp các vệ tinh GPS Khi xử lý các trị đo hiệu, ta nhận được các đường đáy
*Ưu điểm:
- Không đòi hỏi tính thông hướng giữa các trạm đo như ở phương pháp truyền thống
- Các vệ tinh có thể được quan sát trên một vùng lãnh thổ rộng lớn như quốc gia, lục
địa, trong khi phương pháp truyền thống chỉ khống chế ở khu vực nhỏ hẹp
- Độ chính xác định vị cao và đang ngày càng được cải thiện
- Người điều hành tuy không cần quan tâm đến việc điều hành hệ thống nhưng vẫn có
khả năng khai thác và sử dụng các tín hiệu của hệ thống dễ dàng
*Nhược điểm:
- Không dùng được ở công trình ngầm, dưới nước và nơi có độ che phủ cao
- Nhiều công việc GPS cho hiệu quả không cao
- Giá thành cao
- Người sử dụng phải được đào tạo bài bản
Trang 15Do tuyến đường cong, tầm nhìn xa ngắn nên em sẽ lấy Stb=150m
17 8 , 16
% 15 15 , 0
2 , 2 15 , 0
2 , 2
L
Khu vực đo đã có 4 điểm đường truyền cấp 1=> số lượng điểm cần thiết kế 17 - 4 =13 điểm
2.2.2 Thiết kế lưới đường chuyền trên bản đồ
1 Các chỉ tiêu kĩ thuật đường chuyền cấp 2
Bảng 2-5 Đặc trưng kĩ thuật của đường truyền cấp 2
9 Chiều dài cạnh
- Lớn nhất
- Ngắn nhất
0.35 0.08
Số cạnh tối đa trong đường chuyền 15 Sai số tương đối giới hạn
Sai số trung phương đo góc
Sai số giới hạn khép góc đường truyền
Sai số trung phương vị trí điểm
Trang 162 Sơ đồ thiết kế lưới trên bản đồ
DCII-9 DCII-10 DCII-11
DCII-12
DCI-4
Hình 2-8 Đồ hình sơ bộ lưới đường chuyền cấp 2
3 Kết quả đo góc,cạnh sơ bộ trên bản đồ
+ Số liệu lưới đường chuyền đo được trên bản đồ
Với đặc điểm địa hình trong khu vực Thạch Thất – Hà Nội ta phải thiết kế lưới đường chuyền cấp 2 Vì vậy khi thiết kế lưới phải thoả mãn các yêu cầu về góc cũng như các yêu cầu về chiều dài cạnh trong lưới và cũng đảm bảo sao cho các hướng ngắm là thông suốt tạo điều kiện cho việc đưa lưới ra thực địa và thuận lợi trong công tác
đo đạc
Bảng 2-6: Số liệu đo góc và đo dài sơ bộ trong lưới đường chuyền cấp 2
Thứ tự góc đo Số liệu đo góc Thứ tự cạnh Chiều dài cạnh (m)
Trang 17Thứ tự góc đo Số liệu đo góc Thứ tự cạnh Chiều dài cạnh (m)
DCII-11 223029’ DCII-10 DCII-11 82.3
DCII-12 165044’ DCII-11 DCII-12 214.1
DCII-13 159047’ DCII-12 DCII-13 212.2
Hình 2-9: Sơ đồ tính toán góc phương vị của đường chuyền phù hợp
Giả sử có đường chuyền nối giữa 2 cạnh đã biết phương vị là đ và c Trong đó đo tất cả n+1 góc ngoặt có cùng độ chính xác trọng số P = 1, với sai số trung phương đo góc là m"
Ta lấy phương vị các cạnh thứ K có thể tính từ phương vị 2 cạnh gốc
đ và c ký hiệu là 2 giá trị góc phương vị của cạnh K tính từ 2 hướng tới là K1 và
K2
0 2
1
K
Các hàm số trên có dạng tuyến tính với hệ số ±1
Vậy sai số trung phương các góc phương vị là:
)1(
K m m
Trang 182 1
2 2 1
P P
2 1
1
n
2 2
1
n
n1, n2- Số góc đo để chuyền phương vị từ điểm đầu và điểm cuối đến điểm K;
Sai số trung phương góc phương vị cạnh K, có thể tính theo công thức:
2 2
2 1
2 2
2 1 2
K K
K K
m.mm
.(
m K m
) K n
( m K m m
2 2
2 (3 - 42)
2 Sai số trung phương vị trí điểm cuối đường chuyền
Khi tính toán các yếu tố của đường chuyền, ta có thể dùng các góc đo trực tiếp để
tính chuyền phương vị rồi dùng góc phương vị này để tính toạ độ Trong thực tế nhiều
khi người ta không dùng góc đo trực tiếp để tính mà dùng góc đã hiệu chỉnh lần một,
đó là góc đã được phân phối sai số khép góc f Tất nhiên các góc đo trực tiếp và góc
đã được hiệu chỉnh sơ bộ sẽ có độ chính xác khác nhau Dùng các góc này để tính các
góc phương vị và toạ độ ta cũng được các giá trị toạ độ có độ chính xác khác nhau Ta
lập công thức tính sai số trung phương vị trí điểm cho cả hai trường hợp trên
a) Đường chuyền chưa hiệu chỉnh sơ bộ góc đo:
x
m
y
m
Hình 2-10: Sơ đồ lưới đường chuyền
Giả sử có đường chuyền phù hợp nối hai điểm cấp cao và hai phương vị cấp cao
Khi dùng góc để đo chuyển toạ độ từ điểm P về điểm Pn+1, nếu kết quả đo có sai số thì
ta được điểm '
n
P 1 cách điểm Pn+1 một khoảng gọi là sai số vị trí điểm M Chiếu sai số
Trang 19M xuống hai trục toạ độ, ta có sai số trung phương toạ độ điểm cuối đường chuyền so với điểm đầu
Khi bình sai đường chuyền này theo phương pháp điều kiện ta lập được ba phương trình điều kiện gồm 1 điều kiện phương vị và 2 điều kiện toạ độ
Dạng của các phương trình điều kiện đó như sau:
1 0
0 1
i
x i i n Si
i
i
f v x x v
sin
f v y y v
xn+1, yn+1- là toạ độ điểm cuối n + 1;
xi, yi - là toạ độ điểm thứ i với i = 1, 2 , n+1;
fx, fy - là sai số khép toạ độ
Trường hợp toạ độ điểm đầu và điểm cuối đã biết chính xác tức là chúng không có sai số, lúc đó sai số khép toạ độ fx, fy hoàn toàn do sai số đo cạnh, đo góc gây ra Ta có thể chuyển phương trình thứ 2 và 3 của hệ trên thành quan hệ giữa sai số thực toạ độ điểm cuối với sai số của cạnh và góc đo trực tiếp:
sin f
d y y ds
cos f
i n y
i n x
2 2 1 2 2 2 2
1 1
sin m
m y y m
cos m
i n s
y
i n s
Trang 20
1 2
2 2
2 2
2 1 2
2 2
2 2
i n i
i y
i n i
i x
x x
m sin
S m
y y
m cos
S m
2 2
2
i n
Dn+1,i - là khoảng cách từ điểm thứ i đến điểm cuối đường chuyền n + 1 được tính
theo công thức:
1
2 1
Hình 2-11: Sơ đồ lưới đường chuyền biểu diễn khoảng cách tới điểm cuối
Các công thức là sai số vị trí điểm cuối đường chuyền trước khi bình sai, trong các
kết quả đo chiều dài cạnh chỉ tồn tại sai số ngẫu nhiên Nếu trong kết quả đo dài có tồn
tại sai số hệ thống thì sai số chiều dài một cạnh Si sẽ là: (mS)ht = .Si Sai số này sẽ gây
ra sai số vị trí điểm Ta sẽ đi phân tích quy luật của nó:
Giả thiết có một đường chuyền ABCD, kết quả đo góc không có sai số, các cạnh đo
Trang 21A
D
C B
B'
C'
L
Hình 2-12: Biểu diễn quan hệ của một đường chuyền ABCD
Do ảnh hưởng của các sai số .AB,.AC,.AD nên các điểm đường chuyền A, B, C,
D bị xê dịch tới các vị trí A’, B’, C’, D’ song song với ABCD Vị trí các điểm B, C và
D bị xê dịch các đoạn: BB'.AB; CC ' AC; DD ' AD
Từ đó ta thấy do ảnh hưởng của sai số hệ thống đo chiều dài cạnh đường chuyền mà điểm cuối D bị xê dịch đi một đoạn .L dọc theo đường chéo L nối liền hai điểm đầu
và cuối của đường chuyền Nếu góc phương vị của đường chéo L là thì hình chiếu
của sai số xuống hai trục toạ độ là .L.cos và .L.sin
Tổng hợp cả ảnh hưởng của sai số đo góc, sai số ngẫu nhiên và sai số hệ thống đo
dài cạnh, ta có sai số vị trí điểm cuối đường chuyền:
, 1 2
2 2
2 2 2
1 2
2 2
2 2 2 2 2
1 2
2 2
2 2 2 2 2
.
sin sin
.
cos cos
.
i n
i n y
i n x
D
m S L
M
x x
m S
L m
y y
m S
L m
2 2 2
2 2 2
S
D m S S
L S
Trang 222 , 1 2
2 2
2 2 2
2 2
, 1 2
2 2
2 2 2 2 2
2 2
, 1 2
2 2
2 2 2 2 2
cos.sin
sin
sin.cos
cos
i n
i n y
i n x
D
m S L
M
D
m S
L m
D
m S
L m
2 2
n S
2 2
2 2
2 2
S
m S S
2
2 2 2 2
2 2
2 2
2 2
S
m S S
M
(3 - 55) b) Đường chuyền hiệu chỉnh sơ bộ về góc:
Hiệu chỉnh sơ bộ góc đường chuyền thực thất là đem đổi dấu sai số khép rồi phân phối đều cho các góc trong đường chuyền:
(3 - 56) Sai số khép góc tính theo công thức:
f = [] - (n+1) 1800 + (C - d) (3 - 57) Các góc đã hiệu chỉnh sơ bộ chính là các góc sau khi bình sai điều kiện phương vị Phương trình điều kiện có dạng:
V1 + V2 + + Vn+1 + f = 0 (3 - 58)
Trang 23Ta viết hàm trong số là toạ độ điểm cuối sau bình sai góc theo phương trình điều
] af [ ] P [
] ff [
P1F (3 - 61) Đạo hàm riêng phần của hàm FX theo i và Si ta có:
2
Si si i
i
mP
;m
2 2
2 2
2 2
2
2 2
1
1
) Y Y (
m cos
m P
ff
) Y Y ( P
m P
af );
n ( m P
aa
i B S
i B
2 2 2
2 2
2 2
2 2 2 2
2 2
2 2
n
] Y [ ] Y [
m cos
m m
n
] Y [ ] Y [
m cos
m P
S x
S x
(3 - 65)
Chứng minh theo phương pháp tương tự ta có sai số trung phương toạ độ y của
điểm cuối đường chuyền sau khi hiệu chỉnh sai số khép góc:
2 2
2 2
n
xx
msin
.m
2 2 2
n
yxyx
mm
Trang 24Nếu chọn điểm gốc tọa độ là trọng tâm đường chuyền, toạ độ gốc O sẽ là:
O i i
x x
x x
Sau khi biến đổi các công thức (3 - 65), (3 - 66) và (3 - 67) sẽ có dạng sau:
, 2
2 2
2
2 2
2 2
2
2
2 2
2 2
M
m m
m
m m
Hình 2-13: Sơ đồ biểu diễn trọng tâm của đường chuyền phù hợp
Trong hình (3-25) thì điểm O là trọng tâm
Nếu kết quả đo cạnh có cả sai số hệ thống và sai số ngẫu nhiên thì sai số trung phương vị trí điểm cuối đường chuyền đã hiệu chỉnh sơ bộ sẽ là:
2
, 2
2 2
2 2 2
2 2
2 2
2 2 2 2 2
2 2
2 2
2 2 2 2 2
sin.sin
cos.cos
i O y
x
D
m S L
M
m S
L m
m S
L m
Trang 25
, 2
2 2
2 2 2
2 2 , 2
2 2
2 2
2 2 2
2 2 , 2
2 2
2 2
2 2 2
cossin
sin
sincos
cos
i O
i O y
i O x
D
m S L
M
D
m S
L m
D
m S
L m
2 2
2 2
2
S
m S S
2 2 2
2 2
2
S
m S S
M
(3 - 72) Sai số trung phương tương đối của đường chuyền:
12
3
2
2 2 2 2
M
(3 - 73) Khi toạ độ điểm đầu có sai số là mxy, góc phương vị d và C có sai số là m thì sai
số vị trí điểm là:
m s D O i D O D O n m m xy
1 ,
2 1 ,
2 ,
(3 - 74)
3 Sai số khép đường chuyền:
Qua nghiên cứu sai số vị trí điểm cuối đường chuyền ta thấy rõ sai số này sinh ra do tác dụng đồng thời của sai số đo dài và đo góc Sai số đo dài làm vị trí điểm xê dịch theo hướng dọc còn sai số đo góc gây sai xê dịch vị trí theo hướng ngang
Trang 26x
Hình 2-14: Sai số vị trí điểm cuối đường chuyền
Xuất phát từ điểm đầu P1 ta chuyển toạ độ về điểm cuối Pn+1 Do kết quả đo có sai
yyyf
xxxf
2 2 2
y x
f (3 - 76) Chiếu sai số khép fs xuống hướng đường chéo L ta được dịch vị dọc (t), chiếu xuống hướng vuông góc với L ta được dịch vị ngang (u) chúng có quan hệ:
2 2 2
ut
fs (3 - 77) Nếu góc định hướng của đường chéo là ta lập được quan hệ dịch vị dọc, ngang với sai số khép toạ độ:
u
sinfcosf
t
y x
y x
L
x cos ; 2 2 2
yx
L (3 - 79) Thay vào công thức trên ta có:
L
y fx x fy u
; L
y fy x
fx
t (3 - 80)
Trang 27
4 Sai số hướng dọc và hướng ngang của đường chuyền:
Ước tính được sai số hướng dọc và hướng ngang của đường chuyền sẽ cho ta nhận biết được tác động của sai số đo dài và đo góc trong đường chuyền đến độ chính xác của nó Sau đây ta lập công thức ước tính sai số hướng dọc và hướng ngang theo sai số
f trong hệ toạ độ mới chính là sai số khép hướng dọc và hướng ngang của đường chuyền Từ công thức (3-71) ta có:
2
2 2
2 2 2
2 2
2 2
2 2 2 2 2
'
m ' sin S m
m
'
m ' cos S L
m m
' y u
' x t
2 2
2 2 2 2
'
m m
S L
Trang 28Nếu đường chuyền duỗi thẳng, cạnh đều nhau, thì sai số hướng ngang có thể tính theo công thức:
n
n n S m
mu
12
2 4
2 2
12
3
2 2
3
5,1
2 2
5 Quan hệ sai số điểm cuối và điểm giữa của đường chuyền:
Có đường chuyền phù hợp nối giữa hai điểm và hai phương vị gốc như hình vẽ Khi chưa bình sai các góc và cạnh, ta dùng các kết quả đo để tính chuyền toạ độ từ điểm đầu về điểm cuối, sai số toạ độ sẽ rất lớn Kết quả tính theo các công thức (3-47) và (3-53) được sai số vị trí điểm cuối đường chuyền trước khi bình sai
L/2=n.S/2 L/2=n.S/2 c
®
Hình 2-16: Sơ đồ biểu diễn quan hệ điểm cuối và điểm đầu
Sau khi bình sai đường chuyền thì điểm xa điểm gốc nhất sẽ là điểm có độ chính xác thấp nhất thường gọi là điểm yếu nhất Với đường chuyền phù hợp thì điểm yếu
nhất là điểm giữa C cách A và B một khoảng L n S
2
2 Toạ độ điểm giữa C có thể lấy bằng trị số trung bình cộng có mang trọng số của hai giá trị toạ độ được tính từ hai điểm gốc A và B tới
Trong phần này ta lập các mối quan hệ giữa sai số điểm cuối đường chuyền trước bình sai và sai số điểm giữa đường chuyền sau bình sai
Trang 29a) Quan hệ sai số dịch vị dọc điểm cuối và điểm giữa:
Theo (3-47) dịch vị dọc điểm cuối đường chuyền trước bình sai là:
m t2 B 2L2 2L với trọng số là P t B m t B L
11
Điểm giữa tuyến sau khi bình sai được xác định như trị trung bình cộng mang trọng
số của hai kết quả tính từ hai đầu tới:
22
2
2 2 2
P
2/
1
Trọng số tổng hợp của điểm C là:
L P
P
P t C t C A t C B 4
Suy ra: P t C 4 P t B 4 P t A hay m t B 2 m t C, nghĩa là sai số dịch vị dọc điểm cuối đường chuyền trước bình sai lớn gấp hai lần sai số dịch vị dọc điểm yếu ở giữa đường chuyền sau bình sai
b) Quan hệ sai số dịch vị ngang điểm cuối và điểm giữa:
Theo (3-86) ta có dịch vị ngang điểm cuối đường chuyền trước bình sai là:
3
5,1
2 2
Tính từ hai điểm đầu và cuối tới điểm C sẽ được hai giá trị sai số trung phương dịch
vị ngang của điểm C là:
3
5,12/2
2 2
2 2
5,12/22
1
2
2 2
2
2 2
2
2 2
m m
C u
A C u
B C u
A C u C
m
C
u
B u
Trang 30Khi n khá lớn (n 15) thì:
B u
m
m
Ta thấy rằng sai số trung phương dịch vị ngang điểm cuối đường chuyền trước bình sai lớn gấp bốn lần sai số trung phương dịch vị ngang điểm giữa đường chuyền sau bình sai
c) Quan hệ sai số vị trí điểm cuối và điểm giữa:
Sai số trung phương vị trí điểm giữa của đường chuyền có thể tính theo công thức:
m m
m m
u
M m
Thay vào công thức trên ta có:
5 , 2 2 4 2
2
2 2
B B
B C
M M
Sai số trung phương vị trí điểm cuối đường chuyền trước bình sai lớn gấp 2,5 lần sai
số trung phương vị trí điểm giữa đường chuyền sau bình sai
2.3 Công tác xây dựng mốc và tiêu
Căn cứ vào địa hình tuyến đường ta tiến hành thiết kế hệ thống tiêu và mốc như sau:
2.3.1 Thiết kế hệ thống mốc cho từng cấp
Sau khi thiết kế ta tiến hành ra thực địa khảo sát lại vị trí đã thiết kế để điều chỉnh cho hợp lý rồi quyết định chọn điểm đường chuyền Sau khi chọn điểm xong ta chôn mốc
để đánh dấu vị trí điểm
Quy cách mốc và nguyên tắc xây mốc như sau:
Xung quanh mốc phải đào rãnh hình vuông với kích thước (1.50.50.4)m trên mặt mốc đắp đất dày 0.2m Sau khi chôn mốc phải vẽ sơ đồ vị trí điểm tương đối chính xác Từ điểm này phải nối với ít nhất hai địa vật cố định Trường hợp trong khu chưa xây dựng phải chôn cọc đánh dấu cách mốc khoảng 1m về phía bắc và mặt viết số quay về hướng đi của đường chuyền Tuỳ theo tình hình thực tế và yêu cầu sử dụng
Trang 31nhưng phải tạo thành chùm điểm từ 3 mốc trở lên Mốc tạm thời của lưới đo vẽ có thể
sử dụng gốc cây cọc gỗ có đường kính từ 5 đến 8cm có đóng đinh mũ tròn trên bề mặt hoặc những ống sắt đóng sâu xuống đất từ 0.4 - 0.6m Xung quanh mốc tạm thời phải đào rãnh nhỏ có đường kính khoảng 0.8m
Mốc khống chế toạ độ và độ cao phải được đánh số thứ tự để tránh nhầm lẫn Nếu trong lưới có điểm cũ thì không được thay đổi số liệu của điểm đó Các điểm cố định
và tạm thời phải dùng sơn ghi tên mốc, năm chôn và tên cơ quan Sau khi vẽ sơ đồ ghi chú điểm phải lập văn bản bàn giao cho chính quyền địa phương quản lý ( nếu là điểm khống chế toạ độ hoặc điểm thuỷ chuẩn hạng IV )
Khi đổ mốc ta chọn nơi bằng phẳng, tránh gió, râm mát và gần nguồn nước Sau đó phải làm sạch cỏ và san phẳng đất ở đó rồi phủ lên một lớp đất cát Khuôn mốc làm bằng những tấm ván dày 2.5 – 3cm hoặc bằng những lá sắt gắn với gỗ Cấu trúc của khuôn phải đảm bảo sử dụng được lâu dài Kích thước và hình dạng bên trong phải phù hợp với kích thước của các khối bê tông được thiết kế Xi măng dùng để đổ mốc phải là loại xi măng mác 300 trở lên Dùng đá sỏi hoặc đá dăm đường kính từ 2 – 8cm, cát có đường kính từ 1 – 5mm và nước sạch Khi trộn bê tông phải rửa sạch đá và cát, phải trộn đều theo tỷ lệ trọng lượng nước, xi măng, cát, đá dăm hoặc sỏi là: 0.7:1:2:4 Những nơi có độ ẩm cao phải phủ lên khối bê tông một lớp cát, mùn cưa hoặc lấy bao tải đậy lên Phải đặt các khối bê tông vào chỗ râm, không có gió và tránh không để rung động mạnh Thời gian từ khi đổ khuôn mốc đến khi tháo khuôn tuỳ thuộc vào thời tiết và chất lượng xi măng nhưng ít nhất cũng phải sau 24 giờ mới được tháo
- Hệ thống mốc của lưới đường chuyền cấp 2
Mốc đường chuyền cấp 2 làm 1 tầng, các mốc thường đổ bê tông, trên đỉnh mốc có gắn dấu bằng sứ tráng men, trên mặt mốc có khắc dấu chữ thập thể hiện vị trí tâm mốc
Để bảo vệ mốc khi chôn mốc ta phải đậy nắp bê tông Sau đó lấp đất, đắp ụ chôn cọc làm dấu để dễ tìm Xung quanh đào rãnh thoát nước Sau khi chôn mốc phải có sơ đồ ghi chú điểm theo hướng dẫn của quy phạm và có biên bản bàn giao mốc cho địa phương quản lý
Trang 32Bảng 2-7 Các chỉ tiêu kỹ thuật của các loại máy đo góc
TT Tên máy Độ chính
xác đo góc
Độ chính xác đo cạnh
Khoảng cách tối
đa
Hãng sản xuất 1gương 3gương
2,4 km 2,2 km 1,2 km 2,4 km 0,7 km 1,3 km
3,1 km 3,0 km 2,2 km 3,1 km 1,1 km 2,0 km
Sokkia Sokkia Sokkia Topcon Wild Wild
20cm
30cm 10
20cm
Mốc bê tông Dấu s ứ
Rãnh nước Nắp bê
tông
Trang 332,0 km 2,5 km 2,0 km
2,8 km 3,5 km 3,2km
Wild Wild Wild Trong công tác đo góc trong lưới đường chuyền trên khu vực Thạch Thất – Hà Nội để tiện lợi về kinh tế kỹ thuật và yêu cầu của lưới đường chuyền cấp 2 điều chỉnh
đo góc 3” nên ta chọn máy móc đo góc và đo dài là máy toàn đạc điện tử Topcon GTS 255 ( độ chính xác đo góc 2” )
Để đạt được độ chính xác và kết quả như mong muốn thì các loại máy móc thiết bị điện tử trước khi đo đều phải kiểm tra và kiểm nghiệm theo định kỳ đặc biệt là phải kiểm tra kỹ lưỡng trước khi đo đạc Và đối với người kỹ sư đứng máy đòi hỏi phải hiểu rõ được nguyên lý cách sử dụng của từng loại máy và thường xuyên học hỏi tìm hiểu thêm các máy móc mới hiện đại xuất hiện trên hiện trường Công tác lắp đặt và điều chỉnh máy được thực hiện theo trình tự sau:
+ Lắp máy lên giá ba chân và vặn chặt ốc hãm máy lại
+ Ngắm vào ống kính dọi tâm quang học điều chỉnh ống kính để nhìn rõ giây chữ thập + Điều chỉnh ống kính của dọi tâm quang học để nhìn thấy ảnh rõ nét
+ Điều chỉnh ba ốc cân của máy để quả dọi vào đúng tâm điểm đo
+ Điều chỉnh độ dài chân máy và các ốc cân để đưa bọt nước thuỷ tròn vào đúng tâm + Quay máy để đưa bọt nước thuỷ dài nằm song song với hai ốc cân
+ Dùng hai ốc cân này để đưa bọt nước thuỷ dài nằm đúng tâm (A, B)
Trang 34+ Sau đó quay máy đi 900 điều chỉnh ốc cân còn lại đưa bọt nước thuỷ dài vào đúng tâm, nếu chưa đạt thì điều chỉnh ốc cân còn lại (ốc cân C) một khoảng bằng độ lệch bọt nước ống thuỷ dài nằm song song với các ốc cân A, B và tiếp tục quay máy đi 1800
để kiểm tra lại
+ Nhìn vào ống kính dọi tâm quang học để kiểm tra xem lưới chỉ của dọi tâm quang học có nằm trùng với tâm của điểm đo hay không, nếu bị lệch thì nới lỏng ốc hãm máy
và dịch chuyển giá đỡ máy để lưới chỉ của dọi tâm quang học trùng với tâm điểm đo + Cuối cùng vặn chặt ốc hãm máy lại và kiểm tra hiệu chỉnh lại bọt nước dài như ở phần trên cho đến khi bọt nước ống thuỷ dài nằm ở đúng tâm và lưới chỉ dọi tâm quang học chỉ đúng tâm điểm đo
Kiểm tra độ chính xác của máy:
+ Kiểm tra sai số chỉ tiêu:
Chọn một mục tiêu nhỏ và sắc cét ở khoảng cách 30m, ngắm bằng lưới chỉ ngang tới mục tiêu ở mặt trái và đọc trị số đứng (ZA1), ngắm mục tiêu thử mặt phải và đọc tri
số góc đứng (ZA2) Tính tổng góc đứng (ZA1 + ZA2) theo lý thuyết thì tổng góc này bằng 3600 nhưng trên thực tế thì chúng lệch đi một góc thì giá trị góc này gọi là sai
số Đối với máy toàn đạc điện tử Set Topcon GTS 255 thì sai số này 5”
+ Kiểm tra sai số trục ngang vuông góc với trục ngắm:
Ta cũng đo và điều chỉnh như trên, nhưng trong trường hợp này ta không dùng lưới chỉ ngang mà dùng lưới chỉ đứng để đọc giá trị góc đứng Sai số trục ngang vuông góc với trục ngắm đối với máy toàn đạc điện tử Topcon GTS 255 là 2”
Các sai số chỉ tiêu và sai số trục ngang vuông góc với trục ngắm còn có thể điều chỉnh bằng ốc hãm kính chỉ với sai số 30”, còn trong các trường hợp sai số đó 30” thì phải đưa tới trung tâm bảo hành và sửa chữa máy để hiệu chỉnh
+ Kiểm tra hệ thống bù nghiêng trục:
Trang 35Trước tiên ta phải cân bằng máy sao cho thật chính xác trong khoảng 5” và từ chế độ
đo góc ta quay ống kính nằm song song với hai ốc cân sau đó cân lại máy và vặn chặt
ốc vi động ngang
Tiếp tục ấn phím (ENT ShFT) và ấn phím số 3 sai lần thì giá trị X, Y (góc nghiêng trục) sẽ được hiển thị với:
X: là góc nghiêng theo hướng trục ngắm
Y: là góc nghiêng theo hướng trục ngang
Điều chỉnh giá trị X, Y bằng ốc cân sao cho X, Y = 0 với giới hạn góc nghiêng trục là
3, nếu quá giá trị giới hạn này thì máy sẽ báo lỗi
Ngắm máy tới hướng ở mặt trái và đọc giá trị X1, Y1
Đảo ống kính và tiếp tục ngắm tới hướng ở mặt phải và đọc giá trị X1 , Y1 Tính giá trị
X1 – X2 và giá trị Y1 – Y2 để kiểm tra giá trị này phải nằm trong khoảng 5 Nếu giá trị này lớn hơn thì ta phải gọi người có chuyên môn hay mang đến trung tâm bảo hành
để hiệu chỉnh lại
+ Khởi động bàn độ đứng bằng cách đo góc đứng ở hai mặt:
Cũng như các loại máy kinh vĩ, máy toàn đạc điện tử cũng có sai số về trục đứng Trong điều cần đo góc với độ chính xác cao ta cần phải hiệu chỉnh máy về góc đứng trước khi đo, khi khởi động bằng các thao tác sau:
Đặt lại tham số (Vindexing) về chế độ đo (Manual) Từ màn hình ấn phím số 3 để chọn góc ngang phải/ trái/ đo góc ngang lặp khi đó màn hình sẽ hiện ra góc đứng và góc ngang
Từ mặt trái ngắm tới mục tiêu thật chính xác ở khoảng cách 30m, khi đã nhìn rõ mục tiêu thì ấn phím ENT SHFT sau đó tiếp tục ấn phím (0 Set 2Rec) thì màn hình hiện ra góc đứng mặt hai (ZA face 2) và góc ngang Đảo ống kính sang mặt phải và cũng ngắm tới mục tiêu trên sau đó ến phím (ENT SHFT) và (0 Set 2Rec) khi đó ta thấy bàn
độ đứng được khởi động và trở về trạng thái đo góc thông thường
Trang 36Do độ chính xác đo góc phụ thuộc vào độ chính xác đo ngắm để khởi động máy nên mỗi lần tắt máy và mở máy ta phải đo và khởi động máy như trên
2.4.2.Nội dung công tác đo
1, Chỉ tiêu kỹ thuật đo lưới đường chuyền cấp 2:
- Đo góc trong lưới khống chế mặt bằng phải thỏa mãn yêu cầu kỹ thuật quy phạm 96-TCN như bảng sau:
Bảng 2-8 Đặc trưng kỹ thuật đo góc lưới đường chuyền
1 Số lần đo góc đường truyền cấp 2 2
2 Chênh góc giữa 2 nửa lần đo 8 "
3 Chênh lệch giữa các giá trị của 2 lần
5 Sai số trung phương đo góc 10 "
6 Sai số giới hạn khép góc đường
+ Đo góc kẹp giữa hai điểm
Trang 37Ngắm tới điểm khởi đầu
Từ màn hình cơ bản ấn phím số 3 để vào chế độ đo góc sau đó ấn phím (ENT SHFT)
và ấn phím (0 Set 2Rec) để đặt góc ngang là 00000’00”
Ngắm tới hướng thứ hai và đọc giá trị góc đứng, góc bằng
Trường hợp lấy giá trị hướng ban đầu là một giá trị bất kỳ:Mở máy khởi động bàn độ đứng và bàn độ ngang, ngắm tới một điểm đầu
Từ màn hình cơ bản ấn phím (ENT SHFT) và ấn phím Menu thì màn hình hỏi góc nhập vào
Dùng các phím số để nhập vào giá trị góc ngang tuỳ ý và ấn phím (ENT SHFT)
Ngắm sang hướng thứ hai và đọc giá trị góc đo như phương pháp trên
Trường hợp đặt góc ngang bất kỳ bằng cách khoá mở bàn độ ngang:
Đầu tiên ta phải khoá bàn độ ngang
Từ chế độ đo góc ta quay vòng bàn độ ngang để góc ngang tuỳ ý
Sau đó ấn phím (ENT2 PROG) để khoá bàn độ ngang và ta thấy giá trị góc ngang hiển thị trên màn hình sẽ không thay đổi khi ta quay máy đi hướng khác
Ngắm tới hướng thứ nhất và mở bàn độ ngang bằng cách ấn phím (ENT
SHFT-2PROG), như vậy hướng khởi đầu đã được đặt một góc
Ngắm tới hướng tiếp theo và đọc giá trị góc như phương pháp trên thì ta đo được góc kẹp giữa hai điểm
Trường hợp đo góc ngang phải, góc ngang trái:
Từ chế độ đo góc ngang phải ta ấn phím (ENT SHFT và ấn phím số 3) sẽ đọc được giá trị góc ngang trái màn hình hiện ra HAL
Ta ấn phím (ENT SHFT và phím số 3) chuyển về chế độ góc lặp HARP
Ta ấn phím (ENT SHFT-3) màn hình quay lại góc như ban đầu
Trang 38Đo góc ngang lặp:
Đo lặp là phương pháp đo có độ chính xác cao vì vậy ta dùng phương pháp đo lặp trong những trường hợp yêu cầu về độ chính xác cao, giả thiết ta đo góc giữa hai mục tiêu theo phương pháp đo lặp thì trình tự đo như sau:
Từ chế độ đo góc (góc ngang phải HAR) ta ấn phím (ENT SHFT-3) hai lần để chuyển
về chế độ đo lặp thì màn hình hiện ra HARP
Ngắm máy tới hướng thứ nhất sau đó ấn phím (ENT SHFT) và ấn phím (0 REC) để đặt góc ngang bằng 0
Ngắm máy tới hướng thứ hai và đọc giá trị góc ngang giữa hai hướng
Sau đó ấn phím (ENT SHFT) và phím (2 PROG) để khoá bàn độ ngang
Ngắm lại máy về hướng thứ nhất sau đó ấn phím (ENT SHFT) và phím(2 PROG) để
mở bàn độ ngang
Ngắm máy tới hướng thứ hai
Lại ngắm máy về hướng thứ nhất và hướng thứ hai tiến hành đo lặp đến khi đủ số lần theo yêu cầu
Phương pháp đo dài
Trang 39Trước khi đo khoảng cách ta phải cài đặt chế độ đo:
+ Sau khi khởi động máy từ màn hình ta ấn phím (ENT SHFT và phím EDM RCL) thì màn hình sẽ hiện các chế độ đo với 3 lựa chọn tương ứng với các phím số bên cạnh: Meas mode: chọn chế độ đo cạnh, đo thô, đo tinh và đo nhanh
Prism const: Đặt hằng số gương
PPm: Vào giá trị nhiệt độ áp xuất hoặc số cải chính khí quyển
+ (2 Prog): Để chọn chế độ đo thô
+(3): Để chọn chế độ đo nhanh
Trong màn hình nếu ta chọn chế độ đo tính và đo thô còn hai lựa chọn nữa là:
1 Single meas
2 Repeat meas + Nếu ta ấn phím (1 Menu): Để chọn chế độ đo đơn
+ Nếu ta ấn phím (2 Prog): Để chọn chế độ đo lặp (số lần đo lặp tuỳ theo yêu cầu của công tác đo vẽ)
b) Cách đặt hằng số gương
Từ màn hình cơ bản ta ấn phím (ENT SHFT và phím EDM RCL) như phần trên thì màn hình hiện ra như sau:
Trang 40Prism constant
Pc 0
Ta ấn phím (2 Prog) để vào màn hình đặt hằng số gương: Vào giá trị hằng số gương thích hợp rồi ấn phím (ENT SHFT) thì khi đó hằng số gương luôn luôn được hiển thị ở dòng thứ hai của màn hình phụ
Cách vào số cải chính khí quyển: Từ màn hình cơ bản hoặc màn hình đo góc ta ấn phím (ENT SHFT và phím EDM RCL) sau đó ấn phím số 3 để vào màn hình cải chính khí quyển:
1 O Set
2 Temp & Press 3.PPm value Trong màn hình trên có 3 lựa chọn:
+ Ta ấn phím (1 Menu): để đặt giá trị ppm = 0 Nếu ấn phím này thì số cải chính sẽ đặt là 0
+ Ta ấn phím (2 Prog): để vào giá trị nhiệt độ, áp suất Nếu ấn phím này thì màn hình
sẽ hiển thị giá trị nhiệt độ t0 và p được ghi từ trước Để vào giá trị nhiệt độ và áp suất mới ta ấn phím (ENT SHFT), khi đó màn hình sẽ quay về màn hình cơ bản với chú ý
là dòng đầu tiên của màn hình phụ báo giá trị số cải chính ppm tương ứng với nhiệt độ
và áp suất đưa vào
+ Ta ấn phím số 3: để vào giá trị ppm (tra từ bảng kèm theo)
c) Kiểm tra tín hiệu thu
Khi đo khoảng cách lớn thì việc kiểm tra xem máy có bắt được tín hiệu thu vào máy hay không là việc rất cần thiết và được thực hiện theo các thao tác sau:
Khi đo khoảng cách lớn thì việc kiểm tra xem máy có bắt được tín hiệu thu vào hay không là việc rất cần thiết và được thực hiện theo các thao tác sau: