1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu các quy định của pháp luật việt nam về bảo vệ môi trường biển

83 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 545,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài: + Mục đích: Đề tài nhằm giới thiệu và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện nội dung pháp luật về bảo

Trang 1

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

VÕ THANH HIẾU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ

MÔI TRƯỜNG BIỂN

HẢI PHÕNG – 2015

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

Trang 2

VÕ THANH HIẾU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ

MÔI TRƯỜNG BIỂN

NGÀNH: KHOA HỌC HÀNG HẢI; MÃ SỐ: 0840106 CHUYỂN NGÀNH: ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thành Lê

HẢI PHÕNG - 2015

Trang 3

1

NHẬN XÉT TÓM TẮT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

1 Tinh thần thái độ, sự cố gắng của sinh viên trong quá trình thực hiện Đồ án/khóa luận:

2 Đánh giá chất lượng Đồ án/khóa luận tốt nghiệp (so với nội dung yêu cầu đã đề ra trên các mặt: lý luận, thực tiễn, chất lượng thuyết minh và các bản vẽ ):

3 Chấm điểm của giảng viên hướng dẫn

(Điểm ghi bằng số và chữ)

Hải Phòng, ngày…tháng 11 năm 2015

Giảng viên hướng dẫn

Trang 4

2

ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI PHẢN BIỆN

1 Đánh giá chất lượng Đồ án/khóa luận tốt nghiệp về các mặt: thu thập và phân tích số liệu ban đầu, cơ sở lý thuyết, vận dụng vào điều kiện cụ thể, chất lượng thuyết minh và các bản vẽ, mô hình (nếu có)

2 Chấm điểm của người phản biện

(Điểm ghi bằng số và chữ)

Hải Phòng, ngày tháng 11 năm 2015

Người phản biện

Trang 5

3

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Hàng Hải Việt Nam em đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức bổ ích mà các thầy cô giáo trong trường đã truyền đạt cho em, đặc biệt là các thầy giáo trong khoa Hàng Hải đã tận tình giúp đỡ em để em có được vốn kiến thức như ngày hôm nay

Qua đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy TS Nguyễn Thành Lê cùng toàn thể các thầy trong khoa Hàng Hải cũng như các bạn sinh viên đã giúp

em học tập trong suốt 4.5 năm qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Ngày … tháng 11 năm 2015 Sinh viên thực hiện (ký và ghi họ tên)

Trang 7

5

MỤC LỤC

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài: 10

1.1.1 Khái niệm môi trường và chức năng của môi trường 13

1.2 CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG

1.3.2 Khái niệm pháp luật trong việc bảo vệ môi trường 19 1.4 VAI TRÕ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Trang 8

2.1 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ

2.2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM

29 2.2.1 Thực trạng về xây dựng và thực hiện các quy định của pháp luật về

2.2.2 Thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời gian

GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI

3.1 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ BẢO

3.2 HOÀN THIỆN C ÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO

3.2.1 Hoàn thiện các qui định pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các

Trang 9

7

3.2.2 Hoàn thiện các qui định pháp luật đối với các hoạt động giao thông

3.2.3 Hoàn thiện qui định pháp luật về trách nhiệm hành chính trong bảo vệ

3.3 TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT BẢO VỆ

3.3.2 Ở những người dân, các cộng đồng dân cư 54 3.4 THỰC HIỆN NHỮNG CAM KẾT QUỐC TẾ MÀ VIỆT NAM THAM

3.4.1 Vấn đề thực thi các Điều ước quốc tế về phòng chống ô nhiễm dầu

3.4.2 Các giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi những Điều ước và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống ô nhiễm dầu trên biển của

Trang 10

8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

“Biển và đại dương chiếm 71% diện tích bề mặt của trái đất” Loài người chúng ta luôn gắn liền với biển Sự phát triển của con người càng cao, nền kinh

tế càng hiện đại thì giá trị của biển càng được coi trọng Tuy nhiên, cùng với sự phát triển thì nhu cầu ngày càng tăng từ các giá trị của biển của con người đã và đang tạo ra những hậu quả nghiêm trọng khó lường cho biển

“Việt Nam có diện tích 329.314 km² bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.200 km² biển nội thuỷ, với hơn 3.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa khoảng trên 1 triệu km²” (theo số liệu của tác giả Trần Thị Lan Hương cập nhật ngày 04/07/2014 trên trang web: http://www.tinmoitruong.vn/hoi-va-dap/nhung-yeu-to-chu-yeu-gay-o-nhiem-moi-truong-bien_70_29899_1.html) cho thấy nước ta có tiền năng

về biển rất lớn

Theo nhận xét của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam: Nhờ điều kiện khí hậu và tự nhiên thuận lợi, cùng với giao thông và truyền thông dễ dàng của nhiều địa điểm ở vùng bờ, nên đã khuyến khích và hấp dẫn sự định cư của con người ở đây từ lâu đời Đến nay, “khoảng 1/3 dân số nước ta sống ở các huyện ven biển và khoảng trên 50% dân số sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển, với khoảng 50% các đô thị của đất nước tập trung ở vùng này” (theo số liệu của bogiaoduc.edu.vn)

Hơn nữa, theo nhiều số liệu về vùng biển Việt Nam cho thấy, vùng biển nước ta còn án ngữ các tuyến hàng không và hàng hải chiến lượt “giữ Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Á, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực” “Bờ biển Việt Nam bao bọc cả lãnh thổ đất nước Việt Nam cả ba mặt Đông, Nam và Tây Nam, tính trung bình cứ 100km2 đất liền có 1km bờ biển (tỉ lệ này cao gấp 6 lần so với tỉ lệ trung bình của thế giới)” (theo số liệu từ: bogiaoduc.edu.vn) Vì vậy, vùng biển Việt Nam

Trang 11

9

rất thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như: dầu khí, hải sản, vận tải biển, cảng biển, du lịch biển và các ngành dịch vụ khác,…Theo Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X đã đưa ra Nghị quyết về Chiến lược biển đến năm 2020, phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53- 55% GDP và 55- 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước

Từ đó, biển đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đất nước

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích kinh tế thu được về từ việc khai thác nguồn lời từ biển thì vùng biển Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn

đề về ô nhiễm môi trường biển

Do vậy, việc bảo tồn và phát huy nguồn lợi tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng Hiện nay, Việt Nam đã và đang xây dựng, phát triển hệ thống các chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường biển Hệ thống chính sách và pháp luật này có thể khái quát những đặc trưng lớn như sau:

+ Hệ thống chính sách kết hợp bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế -

xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia hướng tới phát triển bền vững, được xây dựng từ cấp trung ương tới địa phương và định hướng chiến lược lâu dài

+ Luật Bảo vệ Môi trường 2005 có những quy định cơ bản quan trọng về bảo vệ môi trường biển cùng với các luật khác có liên quan cũng có các quy định về bảo vệ môi trường biển nên tạo ra một khung pháp lý toàn diện về bảo

vệ môi trường biển

+ Các quy định chính sách và pháp luật trên góp phần nội luật hóa và thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đã tham gia Các đặc trưng trên, sẽ được trình bày, đánh giá lần lượt qua các phần nội dung của luận văn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Môi trường biển luôn là một vấn đề được nhiều người quan tâm bởi những

ưu thế của biển như về kinh tế, chính trị, văn hóa du lịch, an ninh- quốc phòng

Trang 12

10

Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài được công bố có liên quan trong lĩnh vực pháp luật môi trường biển Do sự hiểu biết còn hạn hẹp, ở đây em chỉ nêu một vài công trình tiêu biểu như: Đề tài luận án tiến sĩ của tác giả Lưu Ngọc Tố Tâm về vấn đề Pháp luật Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động Hàng hải được công bố năm 2012; “Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường” của TS Vũ Thu Hạnh - TS Luật học công bố 03/ 2007;

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài:

+ Mục đích: Đề tài nhằm giới thiệu và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện nội dung pháp luật về bảo vệ môi trường biển, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong bảo vệ môi trường biển

- Thứ hai là làm rõ quá trình hình thành và phát triển nội dung, từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam với tính chất là một bộ phận của hệ thống pháp luật môi trường và trong mối quan

hệ tác động qua lại mật thiết cùng với các yêu cầu về phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng các đòi hỏi về an ninh chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng…

- Thứ ba, tìm hiểu các quy định trong pháp luật môi trường của một số quốc gia phát triển trên thế giới để có những kinh nghiệm và có thể đưa vào việc phát triển và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam

+ Phạm vi nghiên cứu: Bảo vệ môi trường thuộc phạm vi nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như khoa học quản lý môi trường biển, kinh tế môi trường biển, xã hội học môi trường biển… Bảo vệ môi trường biển cũng

Trang 13

11

thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau như hệ thống pháp luật quốc tế, các điều ước quốc tế có liên quan và hệ thống pháp luật của những quốc gia có biển nhằm điều chỉnh các hành vi gây hại cho biển

và các tài nguyên của biển

Trong phạm vi luận văn này, em tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển nhằm điều chỉnh các hành vi xâm hại đến biển và tài nguyên của biển, và cũng có đề cập đến các quy định trong các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia với tư cách là thành viên, đồng thời có tham khảo một số quy định pháp luật của một số nước

có điều kiện môi trường tương đồng với Việt Nam về vấn đề này

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: siêu tầm số liệu, tìm hiểu các bài viết, phân tích, thống kê, so sánh, đối chiếu, lịch sử, tổng hợp, quy nạp Trong đó, những phương pháp như: phương pháp phân tích, phương pháp

so sánh, thống kê và tổng hợp được xác định là các phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn Cụ thể như sau:

+ Phương pháp phân tích được dùng ở tấc cả các phần của luận văn để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài

+ Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng ở cả ba chương của luận văn để có thể đưa ra các đánh giá cho những quy định của pháp luật khác nhau của một số quốc gia trên thế giới Hay của các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam tham gia cùng với các quy định pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam

+ Phương pháp tổng hợp và quy nạp được dùng để đưa ra những tiểu kết của từng chương và kết luận của cả luận văn

Trang 14

12

5 Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn:

Luận văn sẽ góp phần vào việc bổ sung và hoàn thiện hơn những vấn đề

lí luận về pháp luật bảo vệ môi trường biển, tạo tiền đề cho những nghiên cứu sâu hơn nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường

Các ý kiến, kết luận được trình bày trong luận văn có thể làm tiền đề cho việc xây dựng chương trình phổ biến, tuyên truyền pháp luật bảo vệ môi trường biển, các “Điều ước quốc tế về biển” mà Việt Nam là thành viên Như vậy, nó

sẽ đảm bảo thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đi đôi với việc bảo vệ môi trường biển và các tài nguyên của biển

6 Bố cục của luận văn:

Luận văn gồm: phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung được bố cục làm ba chương Tên của các chương cụ thể như sau:

Chương 1 Những vấn đề về pháp luật bảo vệ môi trường biển

Chương 2 Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường biển của Việt Nam Chương 3 Giải pháp để nâng cao hiệu quả pháp luật về bảo vệ môi trường biển

ở Việt Nam

Trang 15

13

Chương1

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1 KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN

1.1.1 Khái niệm môi trường và chức năng của môi trường

+ Khái niệm môi trường:

“Môi trường là hệ thống các yếu tố tự nhiên và nhân tạo có tác động đến

sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” (Theo khoản 1, Điều 3 trong luật bảo vệ môi trường năm 2014)

Một cách rõ hơn nữa, “Môi trường” là hợp tất cả các thành phần hay yếu

tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, nó ảnh hưởng tới đời sống con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước,

độ ẩm, sinh vật, xã hội con người và những thể chế

Bên cạnh đó, theo khoản 2, Điều 3 của luật bảo vệ môi trường 2014 thì:

“Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thức sinh thái.”

Như vậy, môi trường nó là một không gian bao quanh mà bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh hay các hoạt động của sự vật, sự việc diễn ra trong nó

Ngoài ra, thuật ngữ “môi trường” có ý nghĩa khác nhau khi nó ở trong ngữ cảnh khác nhau, ví dụ:

- Trong lĩnh vực sinh vật học thì môi trường có thể định nghĩa là một tổ hợp của các yếu tố như khí hậu, sinh thái học, xã hội và thổ nhưỡng tác động lên cơ thể sống và nó xác định các hình thức sinh tồn của chúng Vì thế, môi trường bao gồm tất cả mọi thứ mà có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vi của các cơ thể sống hay các loài, bao gồm ánh sáng, không khí, nước, đất và các cơ thể sống khác

Trang 16

14

- Đối với các nhà kiến trúc thì cho rằng môi trường là toàn bộ các yếu tố trong phòng hay của tòa nhà có ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và hiệu quả làm việc của những người sống trong đó, bao gồm kích thước và sự sắp xếp không gian sống và các vật dụng, ánh sáng, sự thông gió, nhiệt độ, tiếng ồn, v.v Nó cũng có thể nói đến như là tập hợp của kết cấu xây dựng

+ Chức năng của môi trường sống:

- Môi trường là một không gian chứa con người và sinh vật hay chính là không gian sống Trong sự tồn tại và phát triển loài người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, chổ ở Cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác Tất cả những nhu cầu này đều do môi trường cung cấp Do vậy

mà môi trường được gọi là không gian sống, tuy nhiên khả năng cung cấp các nhu cầu đó của con người và cho các sinh vật khác là có giới hạn, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và ở từng thời kì

- Môi trường cũng là nơi cung cấp những nhu cầu về các tài nguyên cho con người như: đất, đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật Tất cả các tài nguyên này đều được môi trường cung cấp và giá trị của những tài nguyên này phụ thuộc vào trình độ của chủ thể sử dụng và mức độ khan hiếm của nó trong xã hội

- Môi trường là nơi chứa đựng, phân hủy các chất thải của con người và các sinh vật khác trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường Các tài nguyên sau khi hết giá trị sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải Các chất thải này bị các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh quay trở lại phục vụ con người Tuy nhiên, chức năng là nơi chứa đựng chất thải của môi trường là có giới hạn Nếu con người và các sinh vật khác thải vượt quá giới hạn có thể chứa đựng này thì

sẽ làm mất cân bằng về hệ sinh thái và ô nhiễm môi trường

1.1.2 Khái niệm môi trường biển

“Môi trường biển” là một thuật ngữ chưa có thời gian dài, nó mới xuất hiện và cũng ít được định nghĩa một cách đầy đủ và toàn diện Thuật ngữ này mới xuất hiện ở nửa cuối thế kỷ XX và được nhận biết như một từ ghép giữa từ

Trang 17

15

“môi trường” và “biển” Quá trình phát triển của con người cho thấy một thời

kỳ người ta chỉ nói đến từ “biển” hoặc “ biển cả” mà chưa đề cập đến từ ngữ “ môi trường biển” Điều này cũng dễ hiểu, bởi từ thời xa xưa người ta chỉ biết đến biển như một món quà được ban tặng bởi thiên nhiên, mà không phải chịu bất cứ một trách nhiệm, một nghĩa vụ nào và coi biển là một nguồn tài nguyên

vô hạn Con người thời đó, coi biển là rất rộng lớn, có thể hấp thụ và chuyển hóa mọi chất thải mà con người đưa đến nên từ ngữ “môi trường biển” chưa được chỉ ra

Sau những năm 1960, với sự quan tâm nhiều hơn của cộng đồng thế giới đến bảo vệ môi trường thì từ ngữ “môi trường biển” cũng dần xuất hiện Ở thời

kỳ này, từ ngữ “môi trường biển” chưa tồn tại một cách độc lập mà chỉ xuất hiện trong những vấn đề liên quan đến bảo tồn tài nguyên biển, bảo vệ ô nhiễm môi trường Đến năm 1982, khi Công ước Luật Biển 1982 ra đời (UNCLOS) thì từ ngữ “môi trường biển” mới được nói đến một cách chính thức, nhưng nó cũng chỉ mới ở dưới dạng liệt kê một số yếu tố tự nhiên của môi trường biển

mà chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về “ môi trường biển” Như ta thấy, ở Điều 1, khoản 4 của “ Công ước Luật Biển 1982” có quy định “môi trường biển” bao gồm “các cửa sông” , “hệ động vật biển và hệ thực vật biển”, “chất lượng nước biển” và “giá trị mỹ cảm của biển” thì như vậy định nghĩa này chưa nói khái quát được về “môi trường biển” và còn nhiều phiến diện vì “môi trường biển không phải chỉ được tạo nên từ các yếu tố trên, mà còn có nước biển, lòng đất dưới đáy biển, không khí và các tài nguyên phi sinh vật biển nữa,…

Năm 1992, tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường họp tại Rio De Janeiro (Brazill), là chương hành động vì sự phát triển bền vững Ở chương 17 trong chương hành động 21 (Agenda 21) định nghĩa “Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các biển và các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu

và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững” Định nghĩa này

Trang 18

16

được coi là định nghĩa chính thức về “môi trường biển” Ta thấy, thành công ở định nghĩa này so với những định nghĩa trước về “môi trường biển” là nói lên được giá trị cơ bản của môi tường biển, đó là “duy trì cuộc sống toàn cầu” và là

“tài sản hữu ích” Với định nghĩa này đã nhấn mạnh đến mục tiêu phát triển bền vững, một khuynh hướng phù hợp với quan điểm bảo vệ môi trường toàn cầu hiện đại Bên cạnh đó, cái định nghĩa này còn được nêu ra trong một văn kiện

có tầm ảnh hưởng lớn, tại Hội nghị quốc tế về môi trường quan trọng và được

kí kết bởi gần như toàn thể cộng đồng quốc tế

1.2 CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG, TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG BIỂN 1.2.1 Yếu tố con người

+ Dân số gia tăng, nghèo đói: Biển và vùng bờ là nơi thường rất giàu có

và đa dạng các loại hình tài nguyên, cũng như ở đây chứa đựng tiềm năng to lớn để phát triển nền kinh tế biển đa dạng Bởi vậy, nơi đây rất sôi động các hoạt động phát triển kinh tế như dịch vụ, thương mại của con người có “trên 50% số đô thị lớn, gần 60% dân số tính theo đơn vị cấp tỉnh, phần lớn các khu công nghiệp và khu chế xuất, các vùng nuôi thuỷ sản, các hoạt động cảng biển – hàng hải và du lịch sẽ được xây dựng ở đây đến năm 2010” (số liệu từ biendoikhihau.gov.vn)

Tỷ lệ gia tăng dân số ở vùng này cũng thường cao đột biến, cao hơn trung bình cả nước Chính vì hoạt động kinh tế phát triển nên sự gia tăng di dân tự

do, tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hình thành thói quen tiêu thụ tài nguyên lãng phí Kết quả, gây sức ép lớn đến môi trường biển, khu dân

cư ven biển, làm suy giảm và suy thoái tài nguyên biển ở những vùng ven bờ Trong khi vùng biển gần bờ nước ta còn rất ít tôm cá, thì cuộc sống của khoảng

“600.000 ngư dân và gia đình” (theo số liệu truy cập ngày 06/11/2015 trên: biendoikhihau.gov.vn) họ vẫn cần có thức ăn hằng ngày và bản năng tồn tại vẫn buộc họ phải khai thác nhiều tôm cá hơn nên nguồn lợi từ biển ngày càng cạn kiệt

Trang 19

17

+ Lối sống và trình độ dân trí còn thấp: Không giống trong đất liền, người dân cư ven biển chủ yếu đến từ nhiều nơi, họ là dân của nhiều vùng miền, thậm trí có cả một bộ phận dân cư được du nhập từ đất nước láng giềng của Việt Nam Họ vốn chỉ là những người có thu nhập cực thấp, bỏ quê hương để đến những vùng đất mới, ven biển hoặc hải đảo nơi mà có thể giúp họ thoát cảnh nghèo để sinh sống Họ sống tập trung thành cum, hình thành những “vạn chài”, cuộc sống hàng ngày thật khó khăn, với bao lo toan, tính toán, phải đối mặt với tính tàn khốc, khó khăn của biển nước Sống trên những con thuyền cá nhỏ bé hoặc căn nhà lá xập xệ, công việc gắn với sông nước và con thuyền cũng được xem là tài sản lớn nhất của họ, nên tư duy của những người dân chài này là hết sức giản đơn, họ chỉ cần ăn no, mặt ấm là được Do vậy, ngoài mục đích kiếm tiền nuôi sống bản than thì những khái niệm về bảo vệ nguồn lợi từ biển và môi trường biển coi như vẫn còn ngoài sự để tâm của họ, còn rất xa vời Tập quán được hình than, cùng với những phong tục sống cổ hủ, lạc hậu, cộng thêm trình độ học thức thấp do những điều kiện học tập không có Cũng chính vì thế, mà nhận thức về môi trường và những tài nguyên biển của đại bộ phận dân cư ở đây vẫn còn rất thấp Do vậy, những việc làm và hành vi ứng xử của họ với công tác bảo vệ môi trường và tài nguyên biển là rất hạn chế, chưa thể thành thói quen tự giác

Ngoài ra, những nhà nghiên cứu cho ta thấy quan hệ qua lại phức tạp giữa các tác động của con người thường làm “nhiễu” khiến cho ta khó phân biệt các tác nhân tác động, ảnh hưởng môi trường biển Hay tác động của con người lên môi trường biển có thể được chia thành các nhóm chính như sau:

+ Các hoạt động ở lục địa: Các hoạt động phát triển trên đất liền, đặc biệt trên các lưu vực sông như đô thị hóa, phát triển các khu công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản nước lợ, các khu dân cư, khai khoáng, Các chất thải không qua xử lý đổ ra sông suối và cuối cùng “trăm sông đều đổ ra biển cả” Lượng thải từ đất liền ra biển ở nước ta chiếm khoảng 50-60% (theo số liệu biendoikhihau.gov.vn)

Trang 20

18

+ Các hoạt động trên biển:

- Các hoạt động trên biển như hàng hải, nuôi trồng và đánh bắt hải sản, phát triển cảng và nạo vét đáy biển, du lịch biển, thăm dò và khai thác khoáng sản biển (chủ yếu dầu, khí), nhận chìm tàu và các sự cố môi trường biển khác (tràn dầu, thải dầu, đổ dầu cặn bất hợp pháp, đổ thải phóng xạ, hóa chất độc hại, )

- Sự phát triển của vận tải biển là một lợi thế lớn về nền kinh tế, nhờ vào lơi thế vượt trội về tiết kiệm thời gian, vận chuyển hàng hóa với khối lượng lớn của nó so với các loại hình vận tải khác, nhưng cũng do vậy đã làm gây hại cho môi trường

- Việc xây dựng nhiều hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, việc nạo vét các luồng lạch, đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, phá hủy hệ sinh thái vùng cửa sông, ven biển ngập mặn và những vùng đất nhiễm phèn, gây ra một sự đảo lộn, cùng với việc các phế thải dầu, mỡ được đổ ra Hệ thống đường thuỷ phát triển dẫn đến ngày càng nhiều các phương tiện vận tải hoạt động, “lượng dầu

mỡ gây ô nhiễm tới 50% nguồn gây ô nhiễm”

1.2.2 Yếu tố tự nhiên

+ Các vi sinh vật gây hại: các loại vi sinh vật biển, vi tảo biển gây hại cho biển gia tăng về số lượng, tham gia vào hiện tượng thuỷ triều đỏ, làm suy giảm

số lượng các sinh vật biển có lợi

+ Các hoạt động địa chất như: núi lửa dưới lòng đất, bão, các cơn địa chấn, song thần… làm chết hàng loạt sinh vật biển, xác của chúng không được

xử lý đã gây ô nhiễm vùng biển đới bờ Bên cạnh đó, sự đứt gãy của vỏ trái đất làm rò rỉ những mỏ dầu ở đáy đại dương cũng đã góp phần gây ra tình trạng ô nhiễm biển

+ Không khí ô nhiễm: Các hoạt động tương tác biển – khí cũng kéo theo hiện tượng lắng đọng các chất gây ô nhiễm xuống biển Loại này khó theo dõi

và quản lý vì thường phát tán trên diện rộng Nồng độ CO2 được hòa tan vào trong nước biển tăng lên nhanh chóng cùng với nhiều chất nguy hại và bụi kim

Trang 21

19

loại nặng được không khí mang ra biển Sự gia tăng nhiệt độ trong khí quyển của trái đất do hiệu ứng nhà kính đã kéo theo sự dâng cao của mực mước biển

và thay đổi môi trường sinh thái biển

1.3 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN 1.3.1 Khái niệm pháp luật

“Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu định hướng cụ thể.”

Do đó, pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách cư xử cho mọi người trong xã hội, giúp cho mọi chủ thể trong xã hội đều có thể tìm được cách cư xử phù hợp với ý chí, mong muốn của nhà nước và giúp nhà nước quản

lý xã hội, thiết lập và giữ gìn trật tư xã hội Các lĩnh vực đời sống xã hội mà pháp luật điều chỉnh bao trùm rộng khắp, trong đó có môi trường biển

1.3.2 Khái niệm pháp luật trong việc bảo vệ môi trường

Pháp luật môi trường: pháp luật môi trường đối với chúng ta còn rất mới

Hệ thống pháp luật môi trường, bao gồm tấc cả các quy định về việc bảo tồn và

sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Điều chỉnh vấn đề này, Nhà nước ban hành pháp luật về quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng, bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học như: bảo vệ nguồn nước, bảo tồn nguồn gen, bảo vệ nguồn thủy sinh, bảo vệ và phát triển rừng, tài nguyên khoáng sản,…Các quy định này, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh theo hướng đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng tài nguyên phục vụ cho hoạt động phát triển, đồng thời cũng gắn chặt trách nhiệm của họ trong việc bảo tồn và sử dụng hợp lý chúng, đảm bảo lợi ích chung lâu dài của cộng đồng

Pháp luật về bảo vệ môi trường biển cơ bản điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể phát sinh trong các lĩnh vực sau:

Trang 22

20

- Thứ nhất, pháp luật bảo vệ môi trường biển điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình các chủ thể tiến hành hoạt động trên biển như hoạt động hàng hải, dầu khí, các hoạt động xây dựng các công trình trên biển… nhằm mục đích bảo vệ môi trường biển

- Thứ hai, pháp luật về bảo vệ môi trường biển được ban hành nhằm mục đích phòng ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực cho môi trường biển, khắc phục và xử lí các hậu quả xảy ra đối với môi trường biển

từ mọi hoạt động

- Thứ ba, pháp luật về bảo vệ môi trường biển qui định về quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể có liên quan

Tóm lại, Pháp luật về bảo vệ môi trường biển là tổng hợp các qui phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ phát sinh và tồn tại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển giữa các chủ thể nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác hại xảy ra cho môi trường biển, khắc phục và xử lý hậu quả nhằm đảm bảo phát triển bền vững, góp phần duy trì và phát triển kinh tế biển Việt Nam

1.4 VAI TRÕ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN

Hệ thống pháp luật đã bảo vệ môi trường biển bằngviệc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường biển và quy định các phương tiện, biện pháp, nhân lực, để đảm bảo thực hiện các chính sách, kế hoạch đó Chính vì thế, pháp luật về bảo vệ môi trường biển

đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường biển Đặc biệt, thời gian qua pháp luật về bảo vệ môi trường biển ở nước ta đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện, góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực môi trường biển

Trang 23

Ví dụ: Luật bảo vệ môi trương năm 2014 quy định về những hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển như: Phá hoại, khai thác, đánh bắt các nguồn tài nguyên biển; đánh bắt các nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp huỷ diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật; Qui trình xử lý chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất gây hại cho biển khác không đúng nơi quy định và quy trình

kỹ thuật về bảo vệ môi trường biển; các chất độc, nguồn nước; Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép;

1.4.2 Pháp luật quy định các chế tài ràng buộc con người thực hiện những đòi hỏi của pháp luật để bảo vệ môi trường biển

Trong thực tế các chủ thể khi tham gia hoạt động kinh tế- xã hội thường chỉ chú ý tới lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích chung của môi trường biển, cộng đồng, bỏ qua nghĩa vụ phải thực hiện với môi trường biển và không tự giác thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường biển Chẳng hạn, khi thực hiện nghĩa vụ đánh giá tác động môi trường, các chủ dự án cảng biển, công trình trên biển thường chỉ thấy trước lợi ích của mình do đó luôn tìm cách lẩn tránh nghĩa vụ pháp lý với môi trường biển Khi đó, chế tài mà pháp luật quy định đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của chính tổ chức, cá nhân và lợi ích chung lâu dài của xã hội Các chế tài đó không chỉ là biện pháp trừng phạt vi phạm pháp luật môi trường biển, ngăn ngừa, giáo dục cải tạo chủ thể vi phạm mà còn răn đe chủ thể khác để họ tự giác tuân theo các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển, qua đó ngăn ngừa và hạn chế tác động xấu do con người gây ra cho môi trường

Trang 24

22

Vì thế, pháp luật quy định các chế tài hành chính, dân sự, hình sự để buộc các tổ chức, cá nhân phải thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật trong việc khai thác và sử dụng các yếu tố môi trường biển

1.4.3 Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

Như ta đã biết, tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đều cần phải có sự quản

lý của nhà nước và môi trường biển cũng không là ngoại lệ Hơn thế, bảo vệ môi trường biển còn là một hoạt động, nhiệm vụ phức tạp bởi môi trường biển

là phạm vi rộng lớn và có kết cấu phức tạp nên rất cần có hệ thống tổ chức quản lý phù hợp, hiệu quả

Pháp luật đã có vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ chức, cơ quan bảo vệ môi trường biển

Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý để các cơ quan này thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình, đảm bảo hoàn thành tốt công tác quản lý Nhà nước đối với môi trường biển Pháp luật cũng phân chia nhiệm vụ giữa các cơ quan, tránh việc quản lý chồng chéo, đồng thời tao ra sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cơ quan, nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước về môi trường biển

Ngoài ra, vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường biển còn thể hiện ở việc ban hành các tiêu chuẩn, chính sách xử phạt về môi trường biển

Trang 25

23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

1 Bảo vệ môi trương biển là toàn bộ hoạt động của nhà nước, các tổ chức và cá nhân có những hoạt động liên quan đến môi trường biển nhằm kiểm tra, xem xét để ngăn ngừa những sai phạm, từ đó ta có thể loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường biển, phòng ngừa ô nhiễm biển, suy thoái tài nguyên biển Đồng thời khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường biển gây ra nên góp phần vào duy trì, cải thiện và phát triển nền kinh tế biển Việt Nam

2 Bảo vệ môi trường biển là một hoạt động trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết của các quốc gia có biển, việc bảo vệ có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau Một trong những phương pháp hữu hiệu được nhiều nước phát triển sử dụng và nó cong phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị cũng như ý thức của người dân Việt Nam ta là bằng Pháp luật

3 Pháp luật về bảo vệ môi trường biển là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm các nguyên tắc điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh và tồn tại giữa các chủ thể có những hoạt động liên quan đến môi trường biển nhằm mục đích hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại cho môi trường biển, khắc phục và xử lí hậu quả nhằm nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững Pháp luật về bảo vệ môi trường biển là một công cụ phòng ngừa ô nhiễm biển, nâng cao ý thức của người dân, góp phần thay đổi nhận thức của người dân về môi trường biển và thúc đẩy phát triển nền kinh tế biển của Việt Nam

Trang 26

24

Chương 2

THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở

VIỆT NAM 2.1 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN CỦA VIỆT NAM

Ở Việt Nam, pháp luật môi trường nói chung phát triển chậm Cho tới thời điểm hiện tại, ngành pháp luật môi trường phát triển chậm nhất trong các ngành luật khác Pháp luật về bảo vệ môi trường biển là một bộ phận của pháp luật môi trường, nên nó cũng hình thành và phát triển muộn Pháp luật về bảo vệ môi trường biển ta có thể chia thành hai thời kì chính như sau:

2.1.1 Thời kì trước năm 1986

Với một quốc gia có biển như Việt Nam, môi trường biển được quan tâm rất sớm, ngay khi đường biển có giá trị giao thông vận tải, thương mại, an ninh quốc phòng,…Chiến lượt tiến ra biển được thể hiện qua các thời kì phát triển, trong xây dựng và giữ nước của Việt Nam Tuy nhiên, trước năm 1986 pháp luật về môi trường biển chưa thật sự được hình thành và phát triển Vì vậy pháp luật về bảo vệ môi trường biển là một lĩnh vực gần như bỏ trắng Pháp luật môi trường và pháp luật liên quan đến biển đều chưa hình thành, các văn bản pháp luật quan trọng như luật bảo vệ môi trường chưa được ban hành Tuy nhiên, do tính tồn tại tất yếu của nó, thậm chí từ trước năm 1945, cũng đã có một số văn bản pháp luật có liên quan đến môi trường biển và các hoạt động trên biển như: Nghị định ngày 22/06/1936 của Bộ trưởng thuộc địa qui định về chiều rộng lãnh hải cho hoạt động đánh cá; Nghị định 104/1306 ngày 14/3/1948 qui định vùng tiếp giáp lãnh hải; Tuyên bố 1965 về các biện pháp bảo vệ lãnh hải trong chiều rộng 03(ba) hải lí; Tuyên bố của Tổng thống Sài Gòn ngày 7/9/ 1967 về quyền kiểm soát trực tiếp trên phần thềm lục địa tiếp giáp lãnh hải; Luật Dầu Lửa năm 1970 của chính quyền Sài Gòn,…Những văn bản pháp luật nêu trên

Trang 27

25

tuy có những văn bản không phải là nguồn gốc từ văn bản pháp luật hiện đại nhưng nó cũng được xem là những văn bản đặt nền móng cho hệ thống pháp luật về biển, bảo vệ môi trường biển

Tình trạng kém phát triển của hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường biển trong thời kì này do các nguyên nhân sau:

- Trong xu thế chung của thế giới, thời kì này, luật pháp quốc tế và pháp luật của các quốc gia về biển và bảo vệ môi trường biển chưa được chú trọng phát triển

Mặc dù, những văn bản phát luật quốc tế và quốc gia đầu tiên đã được ban hành từ giữa thế kỉ XV, nhưng nó chưa hình thành một hệ thống với những nguyên tắc và các chế định rõ ràng Hơn nữa, đó chỉ là những qui ước sơ khai

về việc phân chia ranh giới trên biển, chưa có liên quan đến bảo vệ môi trường của biển Hệ thống pháp luật về biển và môi trường biển chỉ mới chính thức hình thành từ giữa thế kỉ XX, đánh dấu bằng những tuyên bố về biển của các Tổng thống Mỹ 1945, của Santiago 1952, của Lima 1970 Hội Nghị lần thứ nhất về luật biển quốc tế được tổ chức lần một vào năm 1958 tại Giơ-ne-vơ, lần thứ hai năm 1960 Liên quan trực tiếp đến bảo vệ môi trường biển, Hội nghị Hàng hải quốc tế đã họp tại Oashinton năm 1926 giải quyết các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường biển do dầu từ hoạt động tàu thuyền, Tổ chức hàng hải quốc tế được thành lập năm 1948 và được đi vào hoạt động năm 1959, thậm chí Công ước UNLOS 1982 cũng được kí kết,…Mặc dù vậy, tất cả những Hội nghị quốc tế, Điều ước quốc tế nêu trên mới chỉ là tiền đề để hình thành một hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường và môi trường biển quốc tế Vì vậy, trong bối cảnh đó, việc hình thành một hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam là chưa thật sự cấp thiết

- Trước năm 1986, đặc biệt là trước năm 1975, Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, điều kiện kinh tế xã hội còn nghèo nàn Khi đó, toàn xã hội tập trung sức người, sức của cho chiến tranh, nền kinh tế rất khó khăn, đời sống người dân vô cùng bần cùng, trình độ

Trang 28

26

dân trí thấp Vì vậy, việc bảo vệ môi trường nói chung hay bảo vệ môi trường biển nói riêng chưa được dành sự quan tâm nhiều cũng như sự đầu tư từ nhà nước và đây cũng là tình trạng chung của nhiều ngành pháp luật khác ở Việt Nam trong thời kì chiến tranh này

- Hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì trước năm 1986 không phải là một hệ thống pháp luật hoàn thiện Với cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp cùng sự chi phối mạnh mẽ của các chỉ tiêu kinh tế nhà nước đã hạn chế

sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam Trong đó có nhiều ngành luật như: Luật tài chính, Luật thương mại, Luật đất đai…

Do đó, sự kém phát triển của pháp luật về bảo vệ môi trường nó nằm trong

xu thế chung của hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì này

2.1.2 Thời kì từ năm 1986 đến nay

Sau năm 1986, đất nước có những thay đổi mạnh mẽ về các điều kiện kinh

tế xã hội, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường biển cũng được hình thành

và ngày càng phát triển

Giai đoạn này, Việt Nam bước sang thời kì đổi mới, chuyển sang cơ chế thị trường, được đánh dấu bằng sự thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Sauk hi hoàn thành hai cuộc trường kì kháng chiến của dân tộc, Việt Nam bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước và kinh tế xã hội Đại hội Đảng lần thứ VI được coi là cột mốc đánh dấu sự phát triển kinh tế xã hội Bên cạnh đó, việc bình thường hóa quan hệ với Hoa kì và chủ trương hội nhập kinh tế xã hội cũng là tác động tích cực trong giai đoạn này Với chủ trương đổi mới đất nước, với sự chuyển mình của dân tộc, cùng với quá trình gia nhập nhập nhanh, mạnh, tích cực với cộng đồng quốc tế, sự đòi hỏi hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia như một đòi hỏi tất yếu của quá trình toàn cầu hóa

Hệ thống luật môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường biển cũng được hình thành và phát triển trong bối cảnh đó Như vậy, ta có khẳng định rằng chưa bao giờ pháp luật Việt Nam lại có bước tiến vượt bậc việc xây dựng và hoàn thiện như giai đoạn sau năm 1986

Trang 29

Có được sự thay đổi tích cực đó là do hệ thống pháp luật này chụi những ảnh hưởng cơ bản sau:

- Trên thế giới, sự hợp tác quốc tế cũng như hệ thống pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực Sau thập kỉ phi thực dân hóa những năm 1970, nhiều quốc gia độc lập ra đời dẫn tới cuộc đấu tranh của các nước thuộc thế giới thứ ba đòi thay đổi trật tự pháp lí cũ trên biển Hàng loạt các chế định, qui định về biển đã được hình thành Có thể

kể đến Quy tắc về đánh giá tổn thất trong các vụ đâm va hàng hải (Quy tắc Lisbon 1988); Công ước về vận chuyển chất thải xuyên biên giới (Basel 1989); Công ước về sẵn sàng ứng phó và hợp tác phòng chống ô nhiễm dầu (OPRC 1990); Nghị định thư sửa đổi năm 2005; hay Công ước trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm từ dầu nhiên liệu năm 2001,…Bên cạnh đó, nhiều công ước đã được kí kết trong giai đoạn trước thì cũng được sửa đổi bổ sung theo hướng hoàn thiện hơn như Công ước đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu từ CLC

1969 đã được bổ sung năm 1992…Các điều ước nêu trên đã đặt ra trách nhiệm đối với các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam, việc phải hoàn thiện hệ

Trang 30

đi đầu trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật biển Như quốc gia Canada, sau khi gia nhập Công ước Luật biển UNLOS 1982, Canada đã ban hành Luật biển năm 1996; Luật Bảo vệ Môi trường năm 1999; Luật trách nhiệm Hàng hải 2001 và các qui tắc; Luật vận tải Canada 2001,…Cũng với quá trình hoàn thiện không ngừng, Colombia cũng đã ban hành nhiều văn bản có liên quan như Luật số 300 năm 1996 về Du lịch biển, Luật khoán sản năm

2001, Luật số 99 năm 2003 về Xây dựng chính sách quốc gia về Môi trường và tài nguyên biển tái tạo,… Còn ở Hoa Kì, quốc gia này cũng ban hành nhiều văn bản pháp luật cấp liên bang có liên quan đến môi trường và bảo vệ môi trường biển như ngoài Luật biển, còn có Luật quản lí vùng ven biển, Luật quản lí và bảo tồn nghề cá, Luật về các loài sinh vật biển nguy cấp, Luật quản lí và Bảo vệ rạng sang hô, Luật hợp tác về hải dương học quốc gia,…

Trong khi đó, các quốc gia Chân Á dù châm hơn Châu Âu và các quốc gia Nam Mĩ nhưng cũng tích cực ban hành nhiều qui định về biển và bảo vệ môi trường biển Nhật Bản, một nước phát triển của Châu Á, một nước có hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường biển hoàn thiện với nhiều văn bản luật quan trọng như Luật cơ bản về biển ( tháng 5/20010), Luật liên quan đến ô nhiễm biển và phòng chống sự cố trên biển (tháng 8/2010),…

- Trong bối cảnh mà nhiều quốc gia hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, pháp luật bảo vệ môi trường biển, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để học hỏi, tích lũy và kế thừa những kinh nghiệm trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về bảo vệ môi trường Sau năm 1986, Việt Nam đổi mới một

Trang 31

Với sự phát triển không ngừng cả về số lượng lẫn chất lượng của pháp luật môi trường, pháp luật biển và pháp luật bảo vệ môi trường ngày nay cũng đang được thay đổi theo chiều hướng tích cực với các nội dung của nó Nhìn nhận khách quan, sự ghi nhận của pháp luật Việt Nam đối với việc bảo vệ môi trường biển với các nội dung của nó đã đánh dấu một bước ngoặc phát triển của

hệ thống pháp luật môi trường Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế Cụ thể được phân tích

ở phần sau

2.2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM 2.2.1 Thực trạng về xây dựng và thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường biển

+ Bất cập của pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam Hiện nay, có khá nhiều các văn bản liên quan đến môi trường biển trong

hệ thống pháp luật ở nước ta có thể kể đến như: Luật Bảo vệ môi trường, Luật hàng hải, Luật Đa dạng sinh học biển, Luật Tài nguyên nước, Luật Tài nguyên

và Khoáng sản biển, Luật Bảo tồn các vi sinh vật biển… Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tham gia vào nhiều Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển tiêu biểu như Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu, Công ước luật biển UNLOS 1982, Công ước về phòng ngừa ô nhiễm dầu Marpol… Thế nhưng, việc tham gia những Công ước chưa có sự gắn kết với những văn bản, chính sách của Nhà nước, nên đã tạo ra những bất cập và còn nhiều hạn chế

Trang 32

dù luật đã được ban hành từ năm 1994 đến nay đã trải qua hơn 20 năm thi hành

và có bổ sung, sửa đổi, cùng nhiều văn bản hướng dẫn, triển khai, nhưng khi so với các nước phát triển, lĩnh vực bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam còn khá mới và chỉ được quan tâm đặc biệt trong khoảng 6-7 năm trở lại đây do yêu cầu quản lý môi trường biển trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Chính vì vậy, pháp luật về bảo vệ môi trường biển của ta chưa điều chỉnh hết các mối quan hệ trong các hoạt động liên quan đến biển, một số văn bản còn chưa được ban hành hoặc đã ban hành nhưng không sát với thực tế, thiếu tính thực dụng, không thể thi hành được Cụ thể như, việc xử lý hình sự đối với những người phạm tội về pháp luật môi trường biển gặp nhiều trở ngại do Luật hình sự của

ta quy định chỉ xử lý hình sự đối với cá nhân, nhưng trên thực tế ở Việt Nam thì việc các chủ thể gây ô nhiễm môi trường biển lại chủ yếu là do những tổ chức hay các tàu Ví dụ như vụ gây ô nhiễm quan trọng cho nguồn nước là việc

xả thải gây ô nhiễm của Công ty Vedan Việt Nam đã xảy ra một thời gian nhưng đến nay vẫn chưa xác minh xong thiệt hại của vụ việc này Một phần cũng do kinh phí cho ngành bảo vệ môi trường thấp, dẫn đến thiếu trang thiết bị

kỹ thuật để kiểm tra, phân tích ô nhiễm

+ Công tác giáo dục tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường biển chưa sâu rộng, chưa được thực hiện thường xuyên, chưa phổ biến rộng rã, nên

ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường biển của các doanh nghiệp, các ngư dân, cá nhân,…vẫn chưa được tích cực, họ vẫn chưa có sự am hiểu về luật

2.2.2 Thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong thời gian qua Các vi phạm về bảo vệ môi trường trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:

+ Về thủ tục hành chính:

Trang 33

- Không có giấy phép quản lý chất thải nguy hại;

- Không có văn bản báo cáo hoặc báo cáo không đúng thời hạn theo quy định cho cơ quan quản lí nhà nước đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc báo cáo không sự thật về kế hoạch xây lắp các công trình xử lý nước thải môi trường biển kèm theo hồ sơ thiết kế chi tiết của các công trình

xử lý môi trường theo quy định;

- Không báo cáo bằng văn bản gửi cơ quan đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động tới môi trường biển hoặc báo cáo sai sự thật về những điều chỉnh, thay đổi về các nội dung, biện pháp bảo vệ môi trường biển trong báo cáo đánh giá tác động môi trường biển đã được phê duyệt;

- Không gửi kế hoạch vận hành thử nghiệm các công trình xử lý bảo vệ môi trường biển cho cơ quan đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường biển để tổ chức kiểm tra, giám sát theo quy định; không thông báo kế hoạch vận hành thử nghiệm cho Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện và cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án theo quy định;

- Không có giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên biển;

- Không có giấy phép xả thải ra các sông đổ ra biển đối với nước thải; + Các hành vi vi phạm cụ thể:

- Thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường biển đã được phê duyệt và các yêu cầu khác trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường biển;

- Không xây lắp, không vận hành, vận hành không đúng quy trình đối với công trình xử lý nước thải theo nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường biển đã được phê duyệt;

Trang 34

- Không lập những kế hoạch kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường biển đối với chủ xử lý chất thải nguy hại cho nguồn nước và cho biển;

- Không làm đúng theo quy trình kê khai và sử dụng Chứng từ chất thải nguy hại cho biển như quy định;

- Không lưu giữ chất thải nguy hại cho biển trước và sau khi xử lý trong thiết bị chuyên dụng phù hợp với loại hình chất thải nguy hại khi vận chuyển trên biển;

- Có giấy xác nhận không đủ điều kiện để thực hiện việc nhập khẩu phế liệu và vận chuyển phế liệu trên biển;

- Việc xử lý không đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường biển đối với các tạp chất đi cùng phế liệu nhập khẩu hoặc cho, bán tạp chất đó;

- Việc nhập khẩu phế liệu có tồn tại của những tạp chất thải nguy hại cho biển;

- Nhập khẩu, quá cảnh phế liệu có chứa chất phóng xạ; nhập khẩu phế liệu không thuộc Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu;

- Gây những trở ngại cho công tác điều tra, nghiên cứu, kiểm soát, đánh giá hiện trạng môi trường biển hoặc hoạt động công vụ;

- Có vi phạm làm ảnh hưởng xấu đến môi trường tại khu du lịch, điểm du lịch sinh thái trong những khu bảo tồn thiên nhiên, rạng san hô trên biển;

- Có những hoạt động khai thác trái phép khu bảo tồn sinh vật, rạng san hô,

di sản tự nhiên, hoặc có những việc làm sai trái không đúng quy định về bảo vệ môi trường biển;

Trang 35

- Có những vi phạm các quy định trong bảo vệ môi trường biển về những hoạt động nuôi trồng thủy sản như: hệ thống thu gom, xử lý nước thải, mùi hôi thối, mùi khó chịu chưa đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất thải; chất thải rắn trong nuôi trồng không được quản lý theo quy định về quản lý chất thải rắn để phát tán ra ngoài môi trường; xác những vật nuôi bị chết do dịch bệnh không được quản lý theo quy định về quản lý để trôi nổi trên các sông đổ ra biển; không có những hoạt động phục hồi môi trường ngay sau khi ngừng hoạt động nuôi trồng thuỷ sản; chưa bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh thuỷ sản; sử dụng hoá chất độc hại hoặc tích tụ độc hại; xây dựng khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung trên bãi bồi đang hình thành vùng cửa

Trang 36

và các chất độc hại khác được sử dụng trong các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển sau khi sử dụng; đổ các loại chất thải xuống vùng biển thuộc khu bảo tồn thiên nhiên, di sản tự nhiên, vùng có hệ sinh thái tự nhiên mới, khu vực sinh sản thường xuyên hoặc theo mùa của các loài thủy, hải sản

2.3 XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN

2.3.1 Những xử lý vi phạm về môi trường biển của pháp luật nước ta

1 Theo Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường:

Tại Điều 4: Hình thức, mức phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trang 37

35

+ Hình thức xử phạt bổ sung:

- Tước quyền sử dụng có thời hạn đối với: Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường; Giấy phép quản lý chất thải nguy hại; Giấy phép xả nướ thải vào nguồn nước; Giấp chứng nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu; Giấy xác nhận ddue điều kiện vận chuyển hàng hóa nguy hiểm; Giấy chứng nhận túi ni lon( hoặc ni lông) thân thiện với môi trường; Giấy chứng nhận lưu hành sản phẩm sinh học trong xử lí chất thải tại Việt Nam; Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường; Giấy phép khai thác loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ; Giấy phép nuôi trồng các loại nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ; Giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; Giấy phép nuôi trồng, phát triể các loài ngoại lai; Giấy phép tiếp cận nguồn gen; Giấy phép khảo nghiệm sinh vật biến đổi gen; Giấy phép nhập khẩu sinh vật biến đổi gen; Giấy chứng nhận an toàn sinh học; Giấy phép trao đổi mua, bán,tặng, cho, thuê loài thuộc Danh mục Loài nguy cấp quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm; Giấy xác nhận sinh vật biến đổi gen đủ điều kiện làm thức ăn chăn nuôi ( Sau đây gọi là giấy phép môi trường) hoặc đình chỉ hoạt đọng có thời gian theo quy định tại Khoản 2 Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt vi phạ hành chính có hiệu lực thi hành

- Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương được sử dụng để vi phạm hành chính trong những lĩnh vực bảo vệ môi trường( Sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính)

+ Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này

Cá nhân tổ chức vi phạm hành chính về lĩnh vực bảo vệ môi trường còn có hể bị

áp dụng một số hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

- Buộc khôi phục lại tình trạng môi trường ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; buộc trồng lại hoặc chăm sóc bảo vệ diện tích khu bảo tồn đã bị phá hủy, phục hồi sinh cảng bản đầu cho các loại sinh vật, thu hồi nguồn từ hoạt động tiếp cận nguồn gen trái pháp luật;

Trang 38

36

- Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không đúng quy định bảo vệ môi trường; buộc táo dỡ công trình, trại chăn nuôi, khu nuôi trồng thủy sản, nhà ở, lán trại xây dựng trái phép trong khu bảo tồn

- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường

và các biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định cảu pháp luật về bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học;

- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nướcCộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, máy móc, thiết bị, phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, vật iệu phế liệu, vật phẩm chế phẩm sinh học và phương tiện nhập khẩu, đưa vào trong nước không đúng quý định về bảo vệ môi trường hoặc gây ô nhiễm môi trường; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nuốc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm phương tiện có chứa loại ngoại lai xâm hại, sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di chuyền của sinh vật biến đổi gen;

- Buộc tiêu hủy pháo nổ, hàng hóa, máy móc móc thiết bị phương tiện nguyên liệu nhiên liệu, phế liệu vật liệu chế phẩm sinh học và phương tiện vận chuyển đưa vào trong nước không đúng quý cách về bảo vệ môi trường hoặc gây hại cho sức khỏe con người vật nuôi và môi trường; buộc tiêu hủy các loài sinh vật ngoại lai, xâm hại, sinh vật biến đổi gen, mẫu sinh vật di truyền củ sinh vật biến đổi gen chưa có Giấy chứng nhận an toàn sinh học

- Buộc cải chính thông tin sai sự thật gây nhầm lẫn về hiện trạng môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ;

- Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên sản phẩm thiên thiện môi trường;

- Buộc thu hồi, xử lý sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ theo quy định; buộc thu hồi kết quả pháp sinh từ hoạt động tiếp cận nguồn gen trái pháp luật;

- Buộc nộp lại số loại bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật phương tiện vi phạm hành chính đã tiêu thụ, tẩu tán tiêu hủy trái quy định của pháp luật;

Trang 39

37

- Buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu tiếng ồn và nđọ rung, quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, xử lí chất thải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường; buộc lập thực hiện đề án cải tạo, phục hồi môi trường; buộc ký quỹ thực hiện phục hồi môi trường mau bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường, thực hiện các yêu cầu liên quan tới bỏa vệ môi trường;

- Buộc xây lắp lại công trình xử lý môi trường theo quy định buộc vận hành theo quy định đối với quy trình sử lý môi trường theo quy định;

- Buộc di rời ra khỏi khu vực cấm; thực hiện đúng quy định về khoảng cách an toàn về bảo vệ môi trường đối với khu dân cư;

- Truy thu số phí bảo vệ môi trường nộp thiếu, trốn nộp theo quy định; buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, đo đạc phân tích môi trường trong trường hợp có vi phạm về chất thải vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường hoặc ô nhiêm môi trường theo định mức, đơn giá hiện hành

2 Nghị định 62/2006/NĐ-CP ngày 21/06/2006 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hàng hải, có qui định:

Vi phạm quy định về bảo vệ môi trường biển do hoạt động khai thác cảng biển (Điều 12)

+ Phạt tiền từ 200.000 – 1.000.000 đồng đối với hành vi để hoặc đổ nước bẩn chảy ra làm mất vệ sinh cầu cảng, vùng nước cảng

+ Phạt tiền từ 5.000.000 – 20.000.000 đồng đối với những hành vi vi phạm sau đây:

- Xả rác và chất thải khác xuống cầu cảng hoặc vùng nước cảng biển

- Xả nước có cặn bẩn xuống cầu cảng hoặc vùng nước cảng biển

+ Phạt tiền từ 50.000.000 – 100.000.000 đồng đối với hành vi xả nước hoặc chất thải có lẫn dầu hoặc các loại hóa chất độc hại khác xuống cầu cảng hoặc cảng biển

+ Phải khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm tại các khoản 1, 2, 3,

4 Điều này

Trang 40

38

3 Trong Nghị định 137/2004/NĐ-CP ngày 16/06/2004 về xử phạt hành chính trên các vùng biển và thềm lục địa của Nước CHXHCN Việt Nam có quy định:

+ Xử phạt đối với vi phạm của tàu, thuyền nước ngoài (Điều 7)

- Phạt tiền từ 5000.000 – 10.000.000 đồng đối với hành vi dừng lại và neo đậu tàu trái phép trong vùng nội thủy, vùng lãnh hải của Việt Nam

- Phạt tiền 10.000.000 – 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau như: Xả khói mù, bắn các loại sung, phóng các tín hiệu hoặc sử dụng các vật liệu nổ trong vùng nội thủy, vùng lãnh hải Việt Nam

- Phạt tiền từ 20.000.000 – 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi như: gây trở ngại cho hoạt động giao thông hàng hải; hoạt động đánh bắt, nuôi trồng hải sản; hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác các nguồn lợi biển; hoạt động hợp pháp khác trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam

- Phạt từ 50.000.000 – 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: không áp dụng các biện pháp chuyên môn phòng ngừa nguy hiểm và độc hại hoặc không cung cấp cho nhà chức trách Việt Nam các tài liệu kĩ thuật về chất phóng xạ, các chất nguy hiểm hay độc hại có ở trên tàu khi được yêu cầu đối với tàu chạy bằng năng lượng nguyên tử và các tàu, thuyền chở các chất phóng xạ, chuyên chở hoặc sử dụng các chất nguy hiểm hay độc hại khi được phép đi qua vùng nội thủy, vùng lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện bảo vệ môi trường

+ Tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường:

Việc ban hành Luật bảo vệ môi trường năm 2005 là một bước tiến lớn trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nước ta, đáp ứng các yêu cầu mới của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Tuy nhiên, một trong những vấn đề về mặt pháp lý mà Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 chưa giải quyết được chính là việc xác định vị trí của đạo luật

Ngày đăng: 02/12/2017, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường” của TS. Vũ Thu Hạnh - TS Luật học. Đại học Luật Hà Nội đăng trên Tạp chí khoa học pháp lý - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số 3/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường
Tác giả: TS. Vũ Thu Hạnh
Nhà XB: Tạp chí khoa học pháp lý - Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
4. Khoản 1, Điều 3, Bộ luật bảo vệ môi trường năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật bảo vệ môi trường năm 2014
Năm: 2014
16. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 09/NQ-TW của Hội nghị lần thứ Tƣ Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X về Chiến lƣợc biển Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội 9/2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 09/NQ-TW của Hội nghị lần thứ Tƣ Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X về Chiến lƣợc biển Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
17. Lưu Ngọc Tố Tâm (2011), Vấn đề phòng ngừa sự cố hàng hải nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường bằng pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phòng ngừa sự cố hàng hải nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường bằng pháp luật
Tác giả: Lưu Ngọc Tố Tâm
Năm: 2011
22. “Một số văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường biển” Theo Minh Anh, Stinfo số 9/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường biển
42. “những yếu tố chủ yếu gây ô nhiễm môi trường biển”. Truy cập ngày 6/11/2015. http://www.tinmoitruong.vn/hoi-va-dap/nhung-yeu-to-chu-yeu-gay-o-nhiem-moi-truong-bien_70_29899_1.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: những yếu tố chủ yếu gây ô nhiễm môi trường biển
Năm: 2015
46. “Tổng quan về chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường biển” Cập nhật ngày 04/07/2014. http://www.tinmoitruong.vn/hoi-va-dap/nhung-yeu-to-chu-yeu-gay-o-nhiem-moi-truong-bien_70_29899_1.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường biển
47. “Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp khắc phục” Cập nhật ngày 11/07/ 2013. http://www.bienphongvietnam.vn/cong-tac-bien-phong/54-tai-nguyen-moi-trng-/1036-dd.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp khắc phục
50. “Vai trò pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở việt nam hiện nay” cập nhật ngày 04/02/2015. http://readzo.com/posts/6479-vai-tro-phap-luat-trong-viec-bao-ve-moi-truong-o-viet-nam-hien-nay.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò pháp luật trong việc bảo vệ môi trường ở việt nam hiện nay
53. “Chuyên đề thực trạng ô nhiễm dầu trên vùng biển ở Việt Nam” cập nhật ngày 03/07/2003. http://doc.edu.vn/tai-lieu/chuyen-de-thuc-trang-o-nhiem-dau-tren-vung-bien-viet-nam-21324/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề thực trạng ô nhiễm dầu trên vùng biển ở Việt Nam
5. Bộ Giao thông Vận tải (2010), Đề án xây dựng quản lí tổng hợp môi trường biển trong hoạt động Hàng hải ở vùng biển phía Bắc Việt Nam Khác
9. Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra 2001 (BUNKER 2001) Khác
10. Công văn số 2553/CHHVN-PC về việc tổ chức thực hiện Công ƣớc Bunker 2001 Khác
11. Công ƣớc về sẵn sàng ứng phó và hợp tác phòng chống ô nhiễm dầu (OPRC 1990) Khác
13. Điều 13 Quyết định ngày 13/QĐ-BGTVT ngày 26/12/2008 Khác
14. Điều 8 và Luật dầu khí 1993, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2000, 2008 Khác
15. Điều 29 Nghị định 48/2011/NĐ-CP ngày 21/06/2011 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải Khác
18. Lưu Ngọc Tố Tâm (2012), Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hait ở Việt Nam Khác
19. Nghị định qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường, số 80/2006/NĐ-CP Khác
20. Thông tư sửa đổi bổ sung một số điều về Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w