Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái tiền tệ giữa doanh nghiệp với môi trường xung quanh nó, những mối quan hệ này sinh ra trong quá trình
Trang 1DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1: Tình hình thực hiện các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ yếu của
công ty cổ phần Bìa Hà Nội-Hải Phòng năm 2015
2 Bảng 2: Phân tích cơ cấu tài sản của công ty cổ phần Bìa Hà Nội-Hải Phòng
Trang 2Lời Mở Đầu
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng vô vàn thách thức cần phải đối mặt và vượt qua Trước bối cảnh đó, để có thể duy trì sự phát triển bền vững với hiệu quả kinh tế cao thì các nhà quản trị của doanh nghiệp cần tự trang bị cho mình những kiến thức về phân tích hiệu quả hoạt động kinh tế, nhắm đánh giá kết quả và hiệu suất hoạt động, phân tích một cách có hệ thống các nhân tố thuận lợi và khó khăn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển những nhân tố tích cực, hạn chế và lọa bỏ các nhân tố ảnh hưởng xấu để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là điều vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp, là cơ
sở để đưa ra quyết định cho các nhà quản trị doanh nghiệp Trên cơ sở nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công việc phân tích và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề bức thiết với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp
Xuất phát từ thực tế cùng với sự chỉ bảo tận tình của cô Lê Trang Nhung
em quyết định chọn đề tài: “ Phân tích thực trạng tài chính và đề xuất một số giải pháp nhắm cải thiện tình hình tài chính của công ty cổ phần Bìa Hà Nội-Hải Phòng” để làm luận văn tốt nghiệp của mình Đề tài gồm 3 phần chính:
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Chương II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HÀ NỘI-HẢI PHÒNG
Chương III: KẾT LUẬN-ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH
Do còn thiếu sót trong kiến thức thực tế nên luận văn của em sẽ không tránh được khỏi các thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Trang 3Chương I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH
NGHIỆP
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái tiền tệ giữa doanh nghiệp với môi trường xung quanh nó, những mối quan hệ này sinh ra trong quá trình đào tạo ra và phân chia các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì nhà kinh doanh cũng đều phải cần có một lượng vốn ban đầu nhất định được huy động từ các nguồn khác nhau như: Tự có, liên doanh liên kết, cấp trên cấp, vay của các ngân hàng hay phát hành chứng khoán… Số vốn ban đầu đó sẽ được đầu tư vào các mục đích khác nhau của doanh nghiệp: Đầu tư mua sắm trang thiết bị máy móc, nhà xưởng, vật tư, nhân công… Nhưu vậy, số vốn ban đầu mang phân phối cho các mục đích khác nhau thì hình thái của chúng cũng sẽ không còn giữ nguyên dưới dạng tiền tệ ban đầu nữa mà biến đổi thành hình thái vật chất khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, đối tượng lao động… Quá trình biến đổi và phân chia hình thái của vốn ban đầu như vậy là quá trình cung cấp hay còn được gọi là quá trình lưu thống thứ nhất của quá trình sản xuất kinh doanh Quá trình tiếp theo là quá trình kết hợp của các yếu tố vật chất nói trên để tạo ra được một dạng vật chất mới gọi là sản phẩm dở dang, khi kết thúc quá trình này thì thành phẩm mới xuất hiện và quá trình đó gọi là quá trình sản xuất sản phẩm Mỗi sản phẩm của doanh nghiệp sẽ trải qua quá trình lưu thông thứ hai được gọi là quá trình tiêu thụ, để vốn dưới dạng thành phẩm trở lại hình thái tiền tệ ban đầu thông qua các
Trang 4khoản thu bán hàng của doanh nghiệp Số tiền mà doanh nghiệp thu về đó lại tiếp tục tham gia vào quá trình vận động biến đổi hình thái như ban đầu và quá trình vận động đó cứ lặp đi lặp lại có tính chu kỳ Chính sự vận động biến đổi như trên của vốn đã tạo ra quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Quá trình vận động của vốn diễn ra được là nhờ hệ thống của các mối quan hệ trong doanh nghiệp với môi trường xung quanh của nó Hệ thống các mối quan hệ đó rất phức tạp và đan xen lẫn nhau, ta có thể tiến hành chia ra thành các nhóm cơ bản sau:
Nhóm 1: Nhóm các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước Đây là mối quan hệ nộp và cấp Nhà nước có thể cấp vốn hoặc góp vốn vào doanh nghiệp còn doanh nghiệp có trách nhiệm nộp các khoản nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước
Nhóm 2: Nhóm các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các tổ chức và các cá nhân khác trong thị trường Đây là các mối quan hệ trong việc mua bán, trao đổi hàng hóa, sản phẩm trên thị trường hoặc là mua bán, trao đổi quyến sử dụng sức lao động trên thị trường lao đồng, trao đổi mua bán quyền sử dụng đất trên thị trường tài chính
Nhóm 3: Nhóm các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ của doanh nghiệp Đây là nhóm các mối quan hệ chuyển giao vốn, quan hệ trong việc thu chi hộ giữa các bộ phận trong một doanh nghiệp với doanh nghiệp Quan hệ giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên như là việc thanh toán lương, thưởng, vay và tiền vốn, tiền lãi Yêu cầu các cá nhân vi phạm hợp đồng và kỷ luật lao động bồi thường thiệt hại hoặc nộp các khoản tiền phạt
Từ những vấn đề trên ta có thể rút ra nhận xét:
- Tài chính của doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Các hoạt động trên thuộc nhóm các hoạt động tài chính
- Các quan hệ kinh tế phát sinh gắn với việc tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hình thành các quan hệ kinh tế tài chính của doanh
Trang 5nghiệp Tiến hành tổ chức tốt các mối quan hệ tài chính trên cũng sẽ giúp đạt tới mục tiêu hoạt động doanh nghiệp đề ra
Tóm lại, tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các mối quan hệ kinh tế
mà biểu hiện dưới hình thái tiền tệ giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh Các mối quan hệ này phát sinh trong quá trình tạo lập và phân chia các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Nếu chỉ một sự mất cân đối hoặc phá vợ của một trong các mối quan hệ trên thì quá trình vận động biến đổi hình thái của vốn có thể sẽ bị trì trệ Quá trình sản xuất kinh doanh vì thế mà bị xáo trộn thậm chí là dẫn đến việc phá sản Hệ thống các mối quan hệ như vậy được gọi là tài chính của doanh nghiệp
2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
a Chức năng phân phối
Chức năng phân phối là một khả năng khách quan vốn có của phạn trù tài chính nói chung và tài chính doanh nghiệp nói riêng Con người nhận thức và vận dụng khả năng này để tiến hành phân phối nguồn tài chính của doanh nghiệp để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp, nhằm thỏa mãn các nhu cầu của doanh nghiệp Đối tượng phân phối của tài chính doanh nghiệp
là các nguồn tài chính của doanh nghiệp, đó là những giá trị của cái mới sáng tạo
ra trong kỳ, những giá trị của cải doanh nghiệp đã tích lũy từ trước… Chủ thể phân phối của tài chính doanh nghiệp là chủ doanh nghiệp và Nhà nước Quá trình phân phối diễn ra trước, trong và sau quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể là phân phối về nguồn huy động vốn cho doanh nghiệp, phân phối số vốn huy động được để đầu tư vào các loại tài sản và phân phối thu nhập sau quá trình kinh doanh Quá trình phân phối của tài chính doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp
Tuy vậy, việc phân phối phải dựa trên các tiêu chuẩn và định mức được tính toán một cách khoa học trên nền tảng là hệ thống các mối quan hệ kinh tế của doanh nghiệp với môi trường xung quanh Phân phối hợp lý là mục đích mà các chủ thể mong muốn Để phân phối, chủ thể phải dựa trên cơ sơ quá trình phân tích , tính toán khoa học Việc phân tích không chi tiết, việc tính toán
Trang 6không chính xác có thể gây ra sự mất cân đối các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh làm cho quá trình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thậm chí dẫn đến phá sản Các tiêu chuẩn và định mức phân phối ở mỗi quá trình sản xuất kinh doanh mặc dù được tính toán đầy đủ, chính xác thì
nó cũng không thể là bất di bất dịch mà thường xuyên thay đổi Việc điều chỉnh uốn nắn đó được thực hiện thông qua chức năng thứ hai của tài chính doanh nghiệp đó là chức năng giám đốc
b Chức năng giám đốc
Đây cũng là một khả năng khách quan vốn có của phạm trù tài chính nói chung và tài chính doanh nghiệp nói riêng Giám đốc tài chính doanh nghiệp là việc theo dõi, giám sát Đối tượng của giám đốc tài chính là quá trình phân phối,
cụ thể là quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Chủ thể của giám đốc tài chính doanh nghiệp là chủ thể phân phối tài chính doanh nghiệp, cụ thể là chủ doanh nghiệp và Nhà nước Mục đích của giám đốc tài chính doanh nghiệp là kiểm tra tính hợp lý, tính đúng đắn và hiệu quả của quá trình phân phối tài chính Từ kết quả của việc giám đốc mà chủ thể có phương hướng, biện pháp điều chỉnh quá trình phân phối tài chính doanh nghiệp cho hợp lý hơn và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn Đặc điểm của giám đốc là phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông qua các chỉ tiêu tài chính và bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, ta có thể thấy thực trạng tài chính cũng như tiềm năng kinh tế của doanh nghiệp Dựa vào những kết luận của việc phân tích, chủ doanh nghiệp có thể đưa ra các biện pháp hữu hiệu hơn
Khi nói đến chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính doanh nghiệp, ta
có thể nhầm lẫn với công tác thanh tra, kiểm tra tài chính Thực ra hai khái niệm này khác nhau Công tác kiểm tra, thanh tra là một hoạt động chủ quan của con người trong việc thực hiện chức năng tài chính, nó có thể tồn tại hoặc không tồn tại, có thể đúng đắn hoặc cũng có thể sai lệch Công tác này thường chỉ được thực hiện bởi nhân viên của các cơ quan chức năng quản lý của Nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp vu phậm chế độ quản lý kinh tế, tài chính, ha bị thua lỗ kéo dài hay nợ dây dưa, bị kiện cáo,… Nếu các nhân viên thanh tra có đủ
Trang 7năng lực, trình độ chuyên môn, công minh chính trực thì kết quả thanh tra mới phản ánh đúng tình hình kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, trường hợp ngược lại thì kết quả thanh tra sẽ bị sai lệch Còn chức năng kiểm tra hay giám đốc bằng tiền của tài chính là thuộc tính vốn có của nó Nó luôn luôn tồn tại và luôn luôn đúng bởi vì khi đã có quá trình sản xuất kinh doanh thì nhất định có hệ thống chỉ tiêu tài chính cho dù nhà kinh doanh có ghi chép nó vào sổ sách hay không
Hai chức năng trên của tài chính có mối quan hệ mật thiết với nhau Chức năng phân phối xảy ra trước, trong và sau mỗi quá trình sản xuất kinh doanh, nó
là tiền đề cho quá trình sản xuất kinh doanh, không có nó sẽ không thể có quá trình sản xuất kinh doanh Chức năng giám đốc bằng tiền luôn theo sát quá trình phân phối, có tác dụng điều chính và uốn nắn tiêu chuẩn và định mức phân phối
để đảm bảo cho nó luôn luôn phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế của sản xuất kinh doanh
3 Nhiệm vụ của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính có một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay của doanh nghiệp thì tài chính doanh nghiệp giữ vai trò:
- Huy động để đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường hay nảy sinh các nhu cầu về vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp Tiếp đó phải đề xuất và lựa chọn các phương pháp thích hợp để huy động các nguồn vốn từ bên trong và bên ngoài để đáp ứng được kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngày nay nhờ sự phát triển và hội nhập kinh tế của nước ta đã cho phép các doanh nghiệp huy động được nhiều nguồn vốn từ bên ngoài Do vậy, tài chính doanh nghiệp ngày càng giữ vai trò quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hình thức và phương pháp phát huy vốn để
Trang 8đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động một cách bình thường, nhịp nhàng với chi phí huy động vốn ở mức thấp
- Tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả:
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng vốn Tài chính doanh nghiệp đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn ra dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời, mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần giúp lựa chọn ra
dự án tối ưu nhất Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có một ý nghĩa rất lớn
để giúp doanh nghiệp có thể nắm bắt thời cơ kinh doanh, giảm bớt và tránh được các thiệt hại mà do ứ động vốn mang lại, bên cạnh đó cũng giảm được nhu cầu
về vốn vay từ đó giảm được các khoản chi phí lãi vay Việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp cùng với việc áp dụng một chế độ thưởng phạt hợp lý sẽ góp phần thúc đẩy các cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp nâng cao hiệu quả
- Giám sát và kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Thông qua các hình thức chi tiền hàng ngày, tình hình tài chính và chỉ tiêu tài chính, người lãnh đạo và các nhà quản lý có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp Phát hiện kịp thời được các vướng mắc trong doanh nghiệp để từ đó đưa ra các quyết định phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế của doanh nghiệp
Để thực hiện tốt các chức năng của tài chính thì các bộ phận quản lý có liên quan của doanh nghiệp phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Thiết lập những mối quan hệ khăng khít với thị trường vốn để luôn chủ động về vốn cho sản xuất kinh doanh
Trang 9- Tổ chức công tác theo dõi, ghi chép phản ánh đầy đủ, liên tục, có hệ thống các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp
- Tổ chức công tác phân tích, đánh giá toàn diện tình hình thực hiện các định mức và tiêu chuẩn phân phối, tình hình thực hiện hiện thống các chỉ tiêu tài chính để kịp thời phát hiện những bất hợp lý trong quá trình thực hiện các mối quan hệ của doanh nghiệp với môi trường xunh quanh, từ đó có quyết định điểu chỉnh hợp lý
Cùng với các công tác quản lý bộ phận quản lý trong doanh nghiệp, công tác quản lý tài chính góp phần duy trì và phát triển mối quan hệ với bạn hàng, khách hàng và các mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp đồng thời luôn đảm bảo thực hiện tốt các quy định, chế độ quản lý của Nhà nước
Chức năng của tài chính có thể được thực hiện tốt hay không, hiệu quả công tác quản trị tài chính có cao hay không phụ thuộc vào công sức và trí tuệ của toàn thể cán bộ công nhân viên doanh nghiệp mà quan trọng nhất là kiến thức về quản trị tài chính và năng lực lãnh đạo của người đứng đầu doanh nghiệp
4 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Các bộ phận liên quan trực tiếp đến quản lý tài chính là:
- Hội đồng quản trị, đứng đầu là chủ tịch hội đồng quản trị Có nhiệm vụ
ra các quyết định điều chỉnh có tính chất chiến lược của doanh nghiệp Quyết định mọi chính sách về phân phối, chính sách tích lũy và tiêu dùng cũng như cac quyết định quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ doanh nghiệp
- Tổng giám đốc, người chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp Chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về mọi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính, tình hình thực hiện các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp, điều chỉnh các mối quan hệ trong phạm vi quyền hành cho phép Điều chỉnh các quan hệ tài chính trong phạm vi cho phép, báo cáo tình hình tài chính của doanh nghiệp lên cấp trên và đề xuất các biện pháp điều chỉnh đối với những mối quan hệ vượt quá phạm vi quyền hạn cho phép
Trang 10Giám đốc tài chính chịu trách nhiệm trực tiếp về công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Có trách nhiệm phân tích và điều chỉnh các mối quan hệ tài chính trong phạm vi cho phép, báo cáo tình hình tài chính và đề xuất các biện pháp điều chỉnh các quan hệ tài chính vượt quá khả năng, phạm vi quyền hạn của mình cho cấp trên
Bộ phận kế toán, bao gồm kế toán trưởng và các nhân viên kế toán, thực hiện các nhiệm vụ theo dõi, phản ánh chính xác kịp thời đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý các tài sản, khai thác và sử dụng các nguồn theo đúng chế độ, thể lệ quy định Cung cấp các số liệu liên quan đến các hoạt động kinh tế tài chính, phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính làm cơ sở tham khảo cho cấp trên trong việc ra các quyết định quản lý
Bộ phận kiểm toán nội bộ là bộ phận trực thuộc lãnh đạo cao nhất của đơn
vị có nhiệm vụ trong việc giúp giám đốc doanh nghiệp kiểm tra sự tuân thủ quy chế nội bộ cũng như chế độ quản lý của nhà nước đối với các vấn đề kinh tế, tài chính cũng như hệ thống kế toán của doanh nghiệp
5 Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp
a Mục đích của việc lập báo cáo
Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn, tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ
Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán trong tương lai Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng trong việc đề ra các quyết định quản lý, điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp, chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại, tương lai của doanh nghiệp
b Nội dung cơ bản của hệ thống báo cáo tài chính
Hệ thống báo cáo tài chính theo quy định cho các doanh nghiệp bao gồm:
Trang 11- Bảng cân đối kế toán Mẫu số B01-DN
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02-DN
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B03-DN
- Thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B04-DN
1 Bảng cân đối kế toán
Bản chất của bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm Đây là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp
Thông thường, bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán: một bên phản ánh tài sản va một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp
Kết cấu
Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có tại doanh nghiệp ở
đầu và cuối kỳ hạch toán đang tồn tại dưới các hình thức và trong tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình kinh doanh Tài sản gồm 2 loại:
- Loại A: Tài sản ngắn hạn bao gồm:
I Tiền và các khoản tương đương tiền
II Các khoản phải thu ngắn hạn
III Hàng tồn kho
IV: Tài sản ngắn hạn khác
- Loại B: Tài sản dài hạn
I Các khoản phải thu dài hạn
II Tài sản cố định
1 Tài sản cố định hữu hình
- Nguyên giá
Trang 12- Giá trị hao mòn lũy kế
IV Tài sản dở dang dài hạn
2 Chi phí xây dựng cơ bản dở dang
V Đầu tư tài chính dài hạn
2 Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết
4 Dự phòng đầu tư tài chính dài hạn
VI Tài sản dài hạn khác
1 Chi phí trả trước dài hạn
Xét về mặt kinh tế: Số liệu các chỉ tiêu phản ánh ở phần tài sản thể hiện số vốn của doanh nghiệp hiện có tại 2 thời điểm, đang tồn tại dưới hình thái vật chất, tiền tê, các khoản đầu tư tài chính hoặc dưới hình thức nợ phải thu ở tất cả các khoản, các giai doạn trong quá trình kinh doanh
Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành nên các loại tài sản, các
loại vốn của doanh nghiệp ở 2 thời điểm Các chỉ tiêu được sắp xếp, phân chia theo nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp Nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp bao gồm:
Trang 13Xét về mặt kinh tế: Số liệu của các chỉ tiêu ở phần vốn trong Bảng cân đối
kế toán thể hiện quy mô, nội dung của các nguốn hình thành nên tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng
Xét về mặt pháp lý: Đây là chỉ tiêu phản ánh trách nhiệm pháp lý và vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn cho doanh nghiệp( Cổ đông, Ngân hàng, Người cung cấp…)
Cơ sở để lập bảng cân đối kế toán
- Căn cứ vào sổ kế toán tổng hợp và chi tiết, căn cứ vào số dư của các tài sản phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp
- Căn cứ vào bảng cân đối kế toán kỳ trước
Phương pháp lập bảng cân đối kế toán
- Sử dụng mẫu biểu theo quy định của Bộ tài chính
- Số đầu năm lấy từ sổ cuối kỳ báo cáo năm trước
- Số cuối kỳ phần tài sản lấy dư Nợ cuối kỳ các tài khoản tương ứng Một số khoản mục nắm trong phần tài sản nhưng quy luật vận động của chúng có thể không hoàn toàn giống với các loại tài sản khác Điều này gây ra hiện tượng số dư tài sản phản ánh các khoản mục tài sản đố có thể nằm bên Có, trái ngược với các khoản tài sản khác Với những khoản mục đó ta phải đưa vào bảng cân đối kế toán duới hình thức dấu âm mà thông thường được viết trong ngoặc đơn Những khoản mục này bao gồm: Hao mồn tài sản cố định, các khoản trích lập dự phòng…
Số cuối kỳ phần nguồn vốn lấy số dư có cuối kỳ các khoản tương ứng Đối với các khoản nguồn vốn vận động trai quy luật, khi thì có số dư Có, khi lại
có số dư Nợ trên tài khoản phản ánh chung Khi một khoản nào đó có số dư Nợ thì giá trị đó đưa vào bảng cân đôi kế toán dưới dạng số âm và được ghi trong ngoặc đơn Những khoản này thường là: Lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch
tỷ giá hối đoái…
2 Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 14 Bản chất của báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh và mục đích lập báo cáo
Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ, so sánh doanh thu với số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở doanh thu và chi phí có thể xác định kết quả kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm Như vậy, Báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tin thích hợp về tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấp nhưng thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và hoạt động khác
Thông qua các chỉ tiêu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể kiểm tra phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, thực hiện dự toán chi phí sản xuất, thực hiện kế hoạch thu nhập và kết quả kinh doanh sau một thời kỳ kế toán Thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh mà đánh giá xu hướng của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau
Kết cấu báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Phần này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau một kỳ hoạt động lãi hay lỗ, các chỉ tiêu này liên quan đến doanh thu, chi phí của các hoạt động kinh doanh thông thường và các chỉ tiêu liên quan doanh thu, chi phí của hoạt động tài chính và các nghiệp vụ bất thường Xác định kết quả kinh doanh của từng loại hoạt động cũng như toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tất cả các chỉ tiêu được trình bày theo biểu mẫu sau:
Trang 15Chỉ tiêu Mã số Thuyết minh Năm nay Năm trước
Các chỉ tiêu bao gồm:
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
2 Các khoản giảm trừ doanh thu
3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
4 Giá vốn hàng bán
5 Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
6 Doanh thu hoạt động tài chính
7 Chi phí tài chính
8 Chi phí lãi vay
9 Chi phí bán hàng
10 Chi phí quản lý doanh nghiệp
11 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
12 Thu nhập khác
13 Chi phí khác
14 Lợi nhuận khác
15 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
16 Chi phí thuế TNDN hiện hành
17 Chi phí thuế TNDN hoãn lại
18 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
19 Lãi cơ bản trên cổ phiếu
Cơ sở số liệu để lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh kỳ trước
- Căn cứ vào sổ kế toán: Số phát sinh các tài khoản từ đầu 5 đến đầu 9
Phương pháp lập báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh được lập theo mẫu
quy định của Bộ tài chính
Trang 163 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bản chất và ý nghĩa
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ, người sử dụng có thể đánh giá được khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và dự đoán lượng tiền tiếp theo
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thực chất là một báo cáo cung cấp thông tin về những sự kiện và nghiệp vụ kinh tế phát sinh có ảnh hưởng đến tình hình tiền của doanh nghiệp, cụ thể là những thông tin về các khoản tiền doanh nghiệp nhận được trong kỳ và các khoản tiền doanh nghiệp chỉ ra trong kỳ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhận quỹ, bao gồm: dòng tiền quỹ xuất từ hoạt động kinh doanh, dòng tiện nhập quỹ từ hoạt động đầu tư tài chính, dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động bất thường
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ bao gồm: dòng tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động đầu tư tài chính, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thường
Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và dòng tiền xuất quỹ, nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân sách quỹ cuối kỳ Từ đó, có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằn mục tiêu đảm bảo chi trả
Kết quả của báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần phản ánh dòng tiền vào doanh nghiệp và từ doanh nghiệp ra trên 3 mặt hoạt động chủ yếu:
Hoạt động kinh doanh: Là hoạt động chủ yếu gắn với chức năng của doanh nghiệp, bao gồm các dòng thu và chi liên quan đến quá trình hoạt động kinh doanh trong kỳ hạc toán của doanh nghiệp Gồm:
Trang 172 Điều chỉnh cho các khoản
- Khấu hao TSCĐ
- Các khoản dự phòng
- Lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện
- Lãi, lỗ từ hoạt động đầu tư
- Chi phí lãi vay
3 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước thay đổi vốn lưu động
- Tăng, giảm các khoản phải thu
- Tăng, giảm hàng tồn kho
- Tăng, giảm các khoản phải trả
- Tăng, giảm chi phí trả trước
- Tiền lãi vay đã trả
- Thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp
- Thuế thu khác cho hoạt động kinh doanh
- Tiền thu khác cho hoạt động kinh doanh
- Tiền chi khác cho hoạt động kinh doanh
Hoạt động đầu tư: Bao gồm các nghiệp vụ luên quan đến việc mua sắm và bán tài sản cố định dài hạn Gồm:
1 Tiền chi để mua sắm, xây dựng TSCĐ
2 Tiền thu từ thanh lý, nhượng bán TSCĐ
3 Tiền chi cho vay, mua các công cụ nợ
4 Tiền thu hồi cho vay, bán lại các công cụ nợ
7 Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và lợi nhuận được chia
Hoạt động tài chính: Bao gồm các hoạt động liên quan đến vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Gồm:
3 Tiền thu từ đi vay
4 Tiền trả nợ gốc vay
6 Cổ tức, lợi nhuận đã chi trả cho chủ sở hữu
Trang 18Quá trình lưu chuyển tiền tệ ở một doanh nghiệp có thể tóm lược được qua các công thức:
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh = Tổng dòng tiền vào từ hoạt động sản xuất kinh doanh – Tổng dòng tiền ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư = Tổng dòng tiền vào từ hoạt động đầu tư – Tổng dòng tiền ra cho hoạt động đầu tư
Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính = Tổng dòng tiền vào từ hoạt động tài chính – Tổng dòng tiền ra cho hoạt động tài chính
Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ = Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh + Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư + Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính
Tiền tồn đầu năm + Lưu chuyển tiền thuần trong năm = Tiền tồn cuối kỳ
Cơ sở dữ liệu để báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bảng cân đối kế toán
- Bảng báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
- Các tài liệu khác có liên quan đến tiền ở doanh nghiệp như: Sổ theo dõi thu, chi tiền
Phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Phương pháp trực tiếp: Nhằm xác định trực tiếp dòng thu hoặc chi một cách riêng biệt từng dòng tiền phát sinh của hoạt động sản xuất kinh doanh, sau
đó lấy tổng dòng thu trừ đi tổng dòng chi ta được dòng tiền thuần
Phương pháp gián tiếp: Không cung cấp thông tin trực tiếp của từng dòng tiền riêng biệt cho hoạt động kinh doanh, mà bắt đầu từ thu nhập thuần rồi điều chỉnh các khoản thực chi hoặc thực thu để xác định dòng tiền lưu chuyển từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Hai phương pháp trên được lập chỉ khác nhau ở hoạt động sản xuất kinh doanh, còn hoạt động đầu tư và tài chính giống nhau
4.Thuyết minh báo cáo tài chính
Trang 19 Bản chất và ý nghĩa
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong
kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết được
Kết cấu và nội dung
Thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm những nội dung cơ bản sau:
I Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
II Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán
III Chuẩn mực và Chế độ kế toán áp dụng
IV Các chính sách kế toán
V Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân
đối kế toán
VI Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh VII Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo
lưu chuyển tiền tệ
Cơ sở lập thuyết minh báo cáo tài chính
- Cơ sở kế toán kỳ báo cáo
- Bảng cân đối kế toán kỳ báo cáo
- Báo cáo kết quả kinh doanh kỳ báo cáo
- Thuyết minh báo cáo kỳ trước, năm trước
Ngoài danh mục và mẫu biểu báo cáo tài chính hàng quý doanh nghiệp phải nộp và nộp báo cáo tài chính và sử dụng nội dung giống như báo cáo năm, nhưng có thêm số liệu cộng dồn từ đầu năm đến cuối quý báo cáo
Trang 20II: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP
1 Khái niệm
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức
độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó
ra quyết định bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không
Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng Ví dụ để quyết định cho vay thì một trong những vấn đề đặt ra là người cho vay cần xem xét doanh nghiệp có nhu cầu vay hay không? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào?
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế luật sư… Dù
họ công tác ở lĩnh vực khác nhau, nhưng họ đều muốn hiểu biết về hoạt động của doanh nghiệp để thực hiện tốt hơn công việc của họ
Trang 21Như vậy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá khả năng xảy ra rủi ro phá sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, khả năng cân đối, khả năng hoạt động và khả năng sinh lãi của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai
3 Nguyên tắc phân tích tài chính
Phân tích hoạt động kinh tế dù ở phạm vi nào cũng phải tuân theo những nguyên tắc sau:
- Phân tích bao giờ cũng phải xuất phát từ việc đánh giá chung, sau đó mới phân tích chi tiết từng khía cạnh của hiện tượng kinh tế
- Phân tích phải thực hiện trong mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng kinh tế
- Phân tích phải đảm bảo tính toàn diện, khách quan, triệt để
- Phân tích trong sự vận động của hiện tượng kinh tế
- Phải sử dụng phương pháp phân tích thích hợp để thực hiện các mục đích phân tích
4 Trình tự và các bước tiến hành phân tích
a Xây dựng kế hoạch phân tích
Kế hoạc phân tích tài chính cần nêu những vấn đề:
- Nội dung phân tích: Đó là toàn bộ tình hình tài chính của doanh nghiệp hay chỉ một khía cạnh nào?
- Phạm vi phân tích là của đơn vị nào hay của toàn bộ doanh nghiệp, toàn
bộ ngành?
- Khoảng thời gian cần phân tích Đó là khoảng thời gian mà các chỉ tiêu phát sinh
Trang 22- Thời hạn thực hiện kế hoạch này kể từ thời điểm nào và bao giờ hoàn thành
- Người thực hiện: Nếu là một nhóm người thì cần kèm theo sự phân công công việc cụ thể: Ai thực hiện phần nào? Ai chủ trì?
b Sưu tầm, kiểm tra, xử lý số liệu
Căn cứ vào mục đích, nội dung phân tích để xác định các số liệu, tài liệu cần thiết Từ đó tiến hành thu thập, số liệu phải được thu thập đủ, không nên thừa hoặc thiếu Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin: Từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị Những thông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng
Trong những thông tin bên ngoài, cần lưu ý thu thập những thông tin chung(thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất), thông tin về ngành kinh doanh(thông tin liên quan đến vị trí ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần…) và các thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp(các thông tin mà doanh nghiệp phải báo cáo cho các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp)
Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy
đủ trong các báo cáo tài chính
Tài liệu thu thập từ nhiều nguồn khác nhau cho nên cần phải kiểm tra, xử
lý trước khi sử dụng Cần kiểm tra các tài liệu về tính hợp pháp, tính chính xác
và tính thống nhất Khi kiểm tra tài liệu, cần xử lý ngay: loại bỏ những số liệu không đạt yêu cầu(không hợp pháp, không chính xác hay mâu thuẫn với nhau)
Trang 23Lựa chọn lấy những số liệu cần thiết cho nội dung phân tích và từ những số liệu thu thập được ta tính toán những số liệu theo nội dung của đề tài
Công việc sưu tầm và kiểm tra số liệu, tài liệu rất quan trọng Nó là cơ sở của các bước phân tích tiếp theo Nếu thu thập thừa nhiều tài liệu trước hết lãng phí công sức và tốn kém chi phí, mất nhiều công sức cho xử lý và có thể làm mất phương hướng phân tích Ngược lại, nếu thu thập số liệu không đầy đủ thì không thể tiến hành phân tích hoặc phân tích không toàn diện, triệt để Tài liệu không chính xác dẫn đến kết quả phân tích sai lệch Như vậy, việc phân tích không những không có tác dụng tốt mà lại còn có hại cho những quyết định và hành động của người quản lý
c.Tiến hành phân tích
Căn cứ vào nội dung phân tích đã xác định, tiến hành theo trình tự các nội dung đó Nội dung phân tích được giải quyết theo nguyên tắc: Từ tổng quát đến chi tiết Giữa các vấn đề có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Đó là khâu cơ bản quyết định chất lượng của công tác phân tích Có thể tóm tắ nội dung các bước phân tích một vần đề như sau:
- Đánh giá chung: Khái quát sự biến động của chỉ tiêu phân tích và các nhân tố giữa kỳ nghiên cứu và kỳ gốc bằng trị số biến động, sơ bộ nhận xét chung Qua đó có phương hướng để phân tích chi tiết
Trang 24+ Lập biểu trình bày các số liệu phân tích
+ Phân loại các nhân tố( tích cực, tiêu cực, chủ yếu, thứ yếu) Nghiên cứu từng nhân tố Nên bắt đầu và tập trung phân tích ở những nhân tố trọng điểm( những nhân tố có tỷ trọng lớn, những nhân tố biến động nhiều, những nhân tố có nội dung phức tạp)
Khi nghiên cứu mỗi nhân tố phải tìm ra được các nguyên nhân gây ra sự biến động của các nhân tố đó Bằng cách thu hẹp dần, tìm đến nguyên nhân chính Đánh giá nguyên nhân tìm ra là khách quan hay chủ quan Khả năng xuất hiện và tác động của các nguyên nhân trong tương lai
- Lập báo cáo phân tích
Toàn bộ kết quả phân tích được trình bày bằng một bản thuyết minh và những bảng biểu được trình bày trong hội nghị phân tích để thu thập ý kiến đóng góp Qua đó, bổ sung hoàn chỉnh báo cáo
5 Nội dung và phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
a Nội dung:
Nội dung phân tích tài chính bao gồm các yếu tố kinh tế vĩ mô, đặc điểm của ngành của công ty Trong đó chủ yếu tập trung vào phân tích báo cáo tài chính
Nội dung chủ yếu của phân tích báo cáo tài chính bao gồm:
Trang 25- Đánh giá tính trung thực, chính xác, đầy đủ của thông tin trên báo cáo tài chính Vấn đề này thường được gắn liền với việc xem xét tình hình thực hiện các chính sách, quy định tài chính áp dụng để lập báo cáo tài chính
- Đánh giá thực trạng, xu hướng và năng lực, tiềm năng kinh tế của tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, lợi nhuận
- Đánh giá nội dung, thực trạng, mức độ đặc trưng của một số chỉ tiêu tài chính như cơ cấu nợ, các hệ số thanh toán, các hệ số luân chuyển vốn, các
tỷ suất sinh lời theo số liệu trên báo cáo tài chính
b Phương pháp phân tích
Phân tích so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu(còn gọi là phân tích ngang)
Phương pháp này đơn giản nhưng không thể hiện được mối quan hệ giữa các chỉ tiêu Các ví dụ về phân tích ngang bao gồm:
- So sánh số liệu kỳ này với kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau
- So sánh số liệu thực tế với số liệu trong kế hoạch sản xuất- kỹ thuật- tài chính, trong dự toán chi phí
- So sánh số liệu giữa các đơn vị cùng ngành, cùng loại hình kinh doanh, cùng lãnh thổ và có quy mô tương đương Hoặc so sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị với các chỉ tiêu bình quân trong ngành
Phân tích tỷ suất(còn gọi là phân tích dọc)
Phương pháp này được thực hiện bằng cách so sánh, xác định tỷ lệ tương quan giữa các chỉ tiêu, các khoản mục khác nhau
Trang 26CHƯƠNG II:
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN BIA HÀ NỘI- HẢI PHÒNG I:GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY
1 Sự ra đời, hình thành và phát triển
Tên giao dich: Công ty cổ phần Bia Hà Nội – Hải phòng
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: Mã số doanh nghiệp
0200153370
Đăng ký lần đầu ngày: 20 tháng 09 năm 2004 Đăng ký thay đổi lần thứ 4: ngày 07 thắng 08 năm 2013 Nơi đăng ký kinh doanh: Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng
- Vốn điều lệ: 91.792.900.000 VNĐ
- Vốn đầu tư của chủ sở hữu: 91.792.900.000 VNĐ
- Địa chỉ: Số 16 đường Lạch Tray, P Lạch Tray, Q Ngô Quyền, TP Hải Phòng
Năm 1978 Xí nghiệp Nước đá Việt Hoa được đổi tên thành Xí nghiệp Nước ngọt Hải Phòng
Năm 1990 Xí nghiệp Nước ngọt Hải Phòng được đổi tên thành Nhà máy Bia – Nước ngọt Hải Phòng
Trang 27Năm 1993 UBND thành phố Hải Phòng đã quyết định đổi tên nhà máy Bia – Nước ngọt Hải Phòng thành Nhà máy bia Hải Phòng( Quyết định số
81/QĐ-TCCQ ngày 14/1/1993)
Năm 1995 thực hiện chủ trương về đổi mới doanh nghiệp Nhà nước,
UBND thành phố Hải Phòng đã có quyết định đổi tên Nhà máy bia Hải Phòng thành Công ty bia Hải Phòng( Quyết định số 1655 QĐ/ĐMDN ngày 4/10/1995)
Ngày 23/9/2004 UBND Thành phố Hải Phòng ra quyết định số
2519/QĐUB chuyển đổi Công ty bia Hải Phòng là Doanh nghiệp Nhà nước thánh Công ty Cổ phần bia Hải Phòng Công ty cổ phần bia Hải Phòng được thành lập với số vốn điều lệ là 25.500.200.000 VNĐ, với tỷ lệ vốn của cổ đông nhà nước là 65% vốn của các cổ đông trong doanh nghiệp là 29,5%, vốn của các
cổ đông ngoài doanh nghiệp là 5,5%
Đến tháng 10 năm 2005, được sự đồng ý của UBND Thành phố Hải
Phòng về việc chuyển nhượng phần vốn nhà nước tại Công ty cổ phần bia Hải Phòng cho tổng Công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội và Quyết định của Hội đồng Quản trị Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội về việc nhận chuyển nhượng phần vốn nhà nước tại Công ty cổ phần bia Hải Phòng Công ty cổ phần Bia Hải Phòng đã trở thành thành viên của Tổng Công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Hà Nội với hình thức Công ty mẹ, Công ty con
Theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông bất thường của Công ty cổ phần Bia Hải Phòng họp ngày 23/10/2005: Cụng ty cổ phần Bia Hải Phòng được đổi tên thành Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Phòng, với số vốn điều lệ là 25.500.200.000 VNĐ, trong đó tỷ lệ vốn của cổ đông nhà nước do Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội nắm giữ là 65%, vốn của các cổ đông trong doanh nghiệp là 29,5%, vốn của cỏc cổ đông ngoài doanh nghiệp là 5,5%
* Ngày đăng ký giao dịch đầu tiên trên thị trường UPCOM: ngày 21/01/2013
- Ngành nghề và địa bàn kinh doanh
* Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất nước uống có cồn và không cồn: bia các loại, rượu, nước ngọt;
Trang 28- Nhà hàng, quán ăn, hàng ăn uống
* Địa bàn kinh doanh:
- Các quận, huyện thuộc thành phố Hải Phòng;
- Một số huyện, thị trấn, thị xã thuộc tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Hà Nam
- Thông tin về mô hình quản trị, tổ chức kinh doanh và bộ máy quản lý
- Mô hình quản trị: Quản trị theo phương thức trực tuyến
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BIA HÀ NỘI - HẢI PHÒNG
- Cơ cấu Bộ máy quản lý của Công ty:
Hiện nay cơ cấu bộ máy quản lý Công ty Cổ phần bia Hà Nội - Hải Phòng gồm:
Đại hội đồng cổ đông
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội-Hải Phòng Đại hội cổ đông có quyền và nhiệm vụ thông qua
ĐẠI HỒI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
PHÒNG
TỔNG
HỢP
PHÂN XƯỞNG BIA SỐ 1 (LẠCH TRAY)
PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
ĐỘI KHO
PHÂN XƯỞNG BIA SỐ
II (QUÁN TRỮ)
PHÒNG THỊ TRƯỜNG
Trang 29định hướng phát triển, quyết định các phương án, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; quyết định sửa đổi, bổ sung vốn điều lệ của Công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; và quyết định tổ chức lại, giải thể Công ty và các quyền, nhiệm vụ khác theo quy định của Điều lệ Công ty
Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là tổ chức quản lý cao nhất của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội-Hải Phòng do ĐHĐCĐ bầu ra gồm 01 (một) Chủ tịch Hội đồng quản trị và
04 (bốn) thành viên với nhiệm kỳ là 5 (năm) năm Thành viên Hội đồng quản trị
có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Hội đồng quản trị nhân danh Công ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Hải Phòng bao gồm 03 (ba) thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu ra Nhiệm kỳ của Ban kiểm soát là 05 (năm) năm; thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập BCTC nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của các cổ đông
Ban Giám đốc
Ban Giám đốc của Công ty bao gồm 03 (ba người): 01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc Giám đốc điều hành, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị
về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Các Phó Giám đốc giúp việc Giám đốc trong từng lĩnh vực cụ thể và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về các nội dung công việc được phân công, chủ động giải quyết những công việc được
Giám đốc ủy quyền theo quy định của Pháp luật và Điều lệ Công ty
Phòng Tổng hợp:
Trang 30Đảm nhận và chịu trách nhiệm trước Công ty về việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng tháng, quý, năm Mua sắm, làm thủ tục nhập, xuất vật
tư, nguyên liệu, phụ tùng thay thế, dụng cụ cho sản xuất Tham mưu và làm các thủ tục pháp lý trong việc ký kết, giám sát thực hiện, thanh quyết toán các hợp đồng kinh tế với các nhà cung cấp Đảm nhận và chịu trách nhiệm trong công tác tham mưu xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, quy hoạch cán bộ Lập kế hoạch đào tạo và tuyển dụng lao động, xây dựng định mức lao động và đơn giá tiền lương hàng năm; tham mưu cho Ban giám đốc xây dựng quy chế trả lương, thưởng
Phòng Thị trường:
Chịu trách nhiệm về công tác tiêu thụ sản phẩm, bao gồm: thu thập thông tin, đánh giá tình tình thị trường, xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm Tham mưu cho Giám đốc về giá bán sản phẩm, chính sách quảng cáo, phương thức bán hàng, hỗ trợ khách hàng, lập các hợp đồng đại lý Tư vấn cho khách hàng về
sử dụng thiết bị bảo quản, kỹ thuật bán hàng, thông tin quảng cáo
Phòng kỹ thuật - KCS:
Chịu trách nhiệm trong công tác xây dựng, tiếp nhận chuyển giao và quản
lý các quy trình vận hành thiết bị, công nghệ sản xuất, định mức kinh tế kỹ thuật, kỹ thuật an toàn và vệ sinh an toàn thực phẩm Thực hiện các chương trình nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuấT Kiểm tra chất lượng sản phẩm hàng hóa đầu ra, chất lượng vật tư, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất
Phòng Tài chính - Kế toán:
Đảm nhận và chịu trách nhiệm trước Công ty về lĩnh vực tài chính kế toán Phòng có chức năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính hàng năm Tổ chức công tác hạch toán kế toán, lập báo cáo tài chính theo quy định và các báo cáo quản trị theo yêu cầu của Công ty Thực hiện thu tiền bán hàng, quản lý quỹ Chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc lập hóa đơn chứng từ ban đầu cho công tác hạch toán kế toán; hướng dẫn, tổng hợp báo cáo thống kê
Trang 31 Đội kho:
Quản lý các kho vật tư, nguyên liệu, thành phẩm, bao bì, chai két, công
cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất, bán hàng Thực hiện công tác xuất, nhập vật tư, nguyên liệu, theo dõi, đối chiếu, lập các bảng kê bán hàng, báo cáo nhập xuất tồn hàng ngày, tuần, tháng gửi các phòng Nghiệp vụ của công ty và Tổng Công
ty theo quy định
Phân xưởng Bia số 1 (16 Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng):
Có nhiệm vụ sản xuất sản phẩm bia hơi các loại Thực hiện các công đoạn sản xuất theo đúng quy trình công nghệ từ khâu nghiền nguyên liệu đến nấu bia, bảo quản và xử lý men giống, lên men bia, lọc trong bia và chiết rót phục vụ bán hàng tại 16 Lạch Tray Thực hiện việc ghi chép, lưu trữ và báo cáo số liệu sản xuất hàng ngày, tuần, tháng cho các bộ phận quản lý của Công ty theo quy định
Phân xưởng bia số 2 (số 85 Lê Duẩn, Quán Trữ, Kiến An, Hải Phòng):
Có nhiệm vụ sản xuất sản phẩm bia hơi, bia chai các loại Chiết rót bia hơi thành phẩm nhập kho và giao cho khách hàng Thực hiện các công đoạn trong sản xuất bia chai, chiết rót, hoàn thiện sản phẩm bia chai và nhập kho theo đúng quy trình công nghệ Thực hiện việc ghi chép, lưu trữ và báo cáo số liệu sản xuất hàng ngày, tuần, tháng cho các bộ phận quản lý của Công ty và Tổng Công ty theo quy định
- Các công ty con, công ty liên kết:
Công ty đã góp 22.500.000.000 VND vào công ty liên kết là Công ty
CP HABECO - Hải Phòng, số vốn góp này chiếm 14,06% Vốn điều lệ của Công ty CP HABECO - Hải Phòng tại thời điểm 31/12/2013
+ Tên đầy đủ: Công ty cổ phần HABECO - Hải Phòng
+ Địa chỉ: Thị trấn Trường Sơn, An Lão, Hải Phòng
+ Tel 031.3667163 - Fax: 031.3667189
+ Vốn điều lệ thực góp: 22.500.000.000 VNĐ
Trang 32+ Mã số thuế: 0200761964, ĐKKD số 0203003491 do Sở KHĐT Hải Phòng cấp ngày 24/09/2007
+ Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất đồ uống không cồn, nước khoáng, nước
Trang 332.Tình hình cơ sở vật chất, kỹ thuật tại ngày 31/12/2015
TSCĐ tăng, giảm Tăng(đồng) Giảm(đồng)
II TSCĐ giảm
1 Máy móc thiết bị giảm do thanh lý
- Thanh lý thiết bị NM số 1
- Thanh lý thiết bị dây chuyền chiết
chai năng suất 8000chai/h
22.051.118.281
22.051.118.281 12.051.118.281 10.000.000.000
Tình hình tài chính công ty biến động theo chiều hướng tốt, vốn công ty được bảo toàn và sử dụng có hiệu quả cao Công ty không có nợ phải thu xấu hoặc tài sản xấu ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Năm 2015 đã cơ bản hoàn thành, đưa vào hoạt động Dự án: “Đầu tư và di dời khu vực sản xuất Nhà máy số 1 của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội – Hải Phòng” Hệ thống máy móc thiết bị mới của dự án đã đi vào hoạt động tốt, đạt công suất thiết kế, phát huy có hiệu quả kinh tế trong đầu tư Cùng với việc tăng cường công tác quản lý
SX đã giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh nhằm giữ vững thị trường tiêu thụ, do vậy năm 2015 công ty đã hoàn thành kế hoạch về sản lượng doanh thu và nộp ngân sách
Trang 34Khi thực hiện dự án các máy móc thiết bị cũ đã được phân loại Thiết bị còn sử dụng được di chuyển sang NM số 2 để sửa chữa, bảo dưỡng đưa vào sản xuất tiếp, thiết bị còn lại đã thanh lý thu hồi vốn phục vụ SXKD với số tiền 3.394.868.400 đồng
hộ lao động, an toàn vệ sinh lao động, tuyển dụng, đào tạo, ăn giữa ca, tham quan, nghỉ mát, sử dụng quỹ phúc lợi, quỹ tương trơ, chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần được duy trì thực hiện đầy đủ, đúng quy định giúp người lao động yên tâm, gắn bó với doanh nghiệp, lao động, cộng tác với tinh thần trách nhiệm và hiệu quả
Trang 354.Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN
* Trưởng phòng tài chính kế toán: Chỉ đạo tổ chức điều hành, hướng dẫn, kiểm tra mọi hoạt động liên quan đến công tác hạch toán kế toán trong phòng theo pháp lệnh về kế toán thống kê, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về toàn
bộ công tác tài chính của Công ty
* Bộ phận kế toán tổng hợp: Giúp trưởng phòng kế toán tập hợp toàn bộ các nghiệp vụ kế toán từ các bộ phận kế toán viên, tổng hợp phân tích nhanh hoạt động kinh tế hàng tháng
* Bộ phận kế toán thanh toán và công nợ: Kiểm tra lập các chứng từ thu chi, theo dõi các khoản vay, tạm ứng, thanh toán công nợ
* Bộ phận kế toán tiền lương, bảo hiểm xã hội: Theo dõi thực hiện thanh toán tiền lương cho các đơn vị, kiểm tra đối chiếu các khoản trích nộp Bảo hiểm xã hội
KT thanh toán, công
nợ
Kế toán tiền lương BHX
H
KT doanh thu,chi phí giá thành
Kế toán TSCĐ
Kế toán vật liệu
Trang 36* Bộ phận kế toán doanh thu, chi phí, giá thành: Tổng hợp tính toán doanh thu, chi phí và giá thành
* Bộ phận kế toán tài sản cố định: Theo dõi việc quản lý sử dụng tài sản cố định, công cụ lao vụ và các dịch vụ
* Bộ phận kế toán vật liệu: Theo dõi tính toán tổng hợp việc xuất, nhập, tồn kho nguyên vật liệu
* Bộ phận kế toán thủ quỹ: Thu nhận giao dịch ngân hàng, trả tiền tại quỹ theo các chứng từ thanh toán, chịu trách nhiệm trực tiếp về tính an toàn và đủ của các quỹ
5 Thuận lợi, khó khăn
- Năm 2015 là một năm mà nền kinh tế toàn cầu và kinh tế Việt Nam đã có nhiều dầu hiệu phục hồi khả quan, nhiều doanh nghiệp trong nước đã mạnh dạn đầu
tư xây mới các nhà máy, trang bị thay mới máy móc
Tuy nhiên nền kinh tế thế giới vẫn còn nhiều biến động làm cho tỷ giá đồng USD, đồng EURO, đồng Nhân dân Tệ không ổn định, giá điện, nước, đường kính, gạo tẻ, vận tải tiếp tục biến động tăng ảnh hưởng lớn hiệu quả SXKD của Công ty
Từ năm 2014, Dự án đầu tư và di dời khu vực sản xuất của nhà máy bia số 1 (
số 16 Lạch Tray) sang nhà máy số 2(Quán Trữ) hoàn thành đưa vào hoạt động Chi phí sản xuất, kinh doanh tăng cao do lãi suất tiền vay đầu tư và tăng khấu hao TSCĐ cũng là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD
- Rủi ro về luật pháp:
Là doanh nghiệp hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần đồng thời đăng ký giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (UPCOM), hoạt động của Công ty cổ phần Bia Hà Nội - Hải Phòng chịu ảnh hưởng của các văn bản pháp luật về công ty cổ phần, chứng khoán và thị trường chứng khoán bao gồm Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán, các văn bản dưới luật và các quy định đối với công ty đăng ký giao dịch Luật và các văn bản dưới luật trong lĩnh vực này đang trong quá trình hoàn
Trang 37thiện, sự thay đổi về mặt chính sách luôn có thể xảy ra và khi đó ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động quản trị, kinh doanh của Công ty
- Rủi ro về thị trường: Bia là sản phẩm đồ uống mà sản lượng tiêu thụ phụ thuộc
nhiều vào thu nhập của người dân cũng như sự phát triển của nền kinh tế Sự khủng hoảng của nền kinh tế toàn cầu và sự giảm sút của tốc độ tăng trưởng kinh tế đã ảnh hưởng rất lớn sản lượng tiêu thụ bia do người dân phải thắt chặt chi tiêu Bên cạnh đó, cùng với sự ra đời và phát triển của các công ty ở các tỉnh lân cận và sản xuất cùng dòng sản phẩm bia hơi với sự đầu tư lớn về dây chuyền công nghệ cũng như công tác quảng bá sản phẩm khiến Công ty phải nỗ lực để giữ vững thị phần trong Thành phố Hải Phòng và mở rộng hoạt động kinh doanh sang các địa bàn khác làm cho chi phí bán hàng tăng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả SXKD của Công ty
6 Phương hướng phát triển của công ty giai đoạn đổi mới
- Các mục tiêu chủ yếu của Công ty
Không ngừng đổi mới công nghệ, thiết bị, mở rộng sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm với các mặt hàng: bia hơi, bia tươi, bia chai, bia lon, nước tinh khiết nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng với các sản phẩm bia có chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả cạnh tranh, dịch vụ tốt nhất Tạo đủ việc làm, ổn định thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên Đóng góp ngày càng cao cho ngân sách Nhà nước, góp phần quan trọng vào quá trình
Trang 38công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố Hải Phòng Đảm bảo Công ty tăng trưởng bền vững, phù hợp với quy hoạch phát triển của Thành phố Hải Phòng và quy hoạch phát triển ngành Bia - Rượu - NGK Việt Nam đến năm 2015 và tầm nhìn 2025 của bộ Công thương
- Chiến lược phát triển trung và dài hạn: Nâng sản lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ lên 75 triệu lít bia/năm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân thành phố Hải Phòng, các tỉnh lân cận và xuất khẩu
- Các mục tiêu đối với môi trường, xã hội và cộng đồng của Công ty: Đảm bảo sản xuất an toàn cho cộng đồng dân cư và môi trường Tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội trên cơ sở mở rộng sản xuất, phát triển bán hàng(tuyển dụng thêm lao động được đào tạo phục vụ sản xuất; tạo thêm việc làm cho người dân thông qua màng lưới tiêu thụ sản phẩm trên các kênh phân phối sản phẩm của Công ty
Trang 39CHƯƠNG II TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
I Khái quát chung tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội – Hải Phòng
- Tổng doanh thu:257.309.208.609 VNĐ
- Tổng lợi nhuận sau thuế đạt: 3.746.417.616 VNĐ
- Qua bảng Phân tích cơ cấu tài sản của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội – Hải Phòng năm 2015 cho ta thấy tổng tài sản của Công ty giảm đi so với năm 2014 là 24.901.680.343 đồng tương ứng giảm 7,93% mà nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc giảm này là do Tài sản cố định hữu hình của công ty trong năm 2015 đã giảm so với năm 2014 Bên cạnh đó, một nguyên nhân nữa dẫn tới việc Tổng tài sản của Công ty giảm trong năm 2015 là do Tài sản ngắn hạn khác của công ty đã giảm đi đáng kể, cụ thể là khoản Chi phí trả trước ngắn hạn
- Qua bảng Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty Cổ phần Bia Hà Nội – Hải Phòng trong năm 2015 ta thấy được tổng nguồn vốn đã giảm đi so với năm 2014 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này chủ yếu là do Nợ phải trả của Công ty trong năm
2015 đã giảm đi nhìu so với năm 2014, cụ thể là ở phần Nợ dài hạn của Công ty Bên cạnh nguyên nhân chính đó cũng có một số nguyên nhân khác dẫn đến sự thay đổi về tổng cơ cấu nguồn vốn của Công ty Bia Hà Nội – Hải Phòng trong năm 2015
I Đánh giá chung tình hình tài kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty bia Hà Nội – Hải Phòng
1 Bảng tình hình thực hiện các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công
ty bia Hà Nội – Hải Phòng
a Bảng phân tích:
Trang 40b Nhận xét chung:
Qua bảng tình hình thực hiện các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty Cổ phần bia Hà Nội – Hải Phòng ta thấy được rằng trong năm 2015 Doanh thu của công ty đã tăng lên cho thấy một dấu hiệu khả quan tuy nhiên xét về mục đích lợi nhuận thì công ty lại thực hiện không tốt Tốc độ tăng về Doanh thu năm 2015 của Công ty là 106,96% nhưng tốc độ tăng về chi phí là 109,44% và dẫn đến kết quả là Lợi nhuận của công ty năm 2015 giảm 5.126.958.952 đồng về mặt tuyệt đối, tương ứng về mặt tương đối là 57,78% Nguyên nhân chủ yếu là do giá nguyên vật liệu đầu vào tăng cao bất thường trong năm 2015 Để tìm hiểu rõ hơn ta tiến hành phân tích chi tiết
c Phân tích chi tiết:
Đối với Doanh thu của Công ty bia Hà Nội – Hải Phòng năm 2015 đạt 257.420.201.321 đồng bằng 106,96% so với năm 2014 Năm 2015 doanh thu của công ty đã tăng về mặt tuyệt đối là 16.749.432.394 đồng tương ứng về mặt tương đối
là 6,96% Nguyên nhân của việc tăng doanh thu trong năm 2015 chủ yếu là do việc tăng doanh thu trong bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty, thu nhập khác
Đối với khoản mục Chi phí của Công ty bia Hà Nội – Hải Phòng năm 2015
đã tăng nhiều so với năm 2014 Năm 2015 khoản mục chi phí của công ty là 253.673.783.705 đồng bằng 109,44% so với chi phí năm 2014, tăng về mặt tuyệt đối
là 21.876.391.346 đồng tương ứng về mặt tương đối là 9,44% Nguyên nhân chủ yếu của việc tăng chi phí là do chi phí nguyên vật liệu đầu vào của Công ty tăng so với năm 2014
Đối với khoản mục lợi nhuận của Công ty bia Hà Nội – Hải Phòng năm
2015 là 3.746.417.616 đồng bằng 42,22% so với lợi nhuận năm 2014, giảm về mặt tuyệt đối là 5.126.958.952 đồng về mặt tuyệt đối, tương ứng về mặt tương đối là 57,78% Nguyên nhân là do tốc độ tăng về chi phí lớn hơn tốc độ tăng về doanh thu của công ty trong năm 2015
Đối với khoản mục lao động và tiền lương, năm 2015 số lao động bình quân của công ty đã tăng thêm 8 người từ 296 người lên 306 người và mức lương trung