1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng nhằm phát triển du lịch xanh tại đảo cát bà, hải phòng

42 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vượt lên các loại hình du lịch khác, du lịch xanh không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một đất nước, mà nó còn góp phần vào sự bảo tồn và

Trang 1

1

MỤC LỤC

KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

DANH MỤC CÁC HÌNH 5

LỜI CẢM ƠN 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Mục đích của đề tài 7

3 Phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8

CHƯƠNG MỘT: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH XANH 9

1.1 Tổng quan về du lịch xanh .9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Ý nghĩa .9

1.1.3 Biểu hiện của du lịch xanh 10

1.2 Tình hình phát triển du lịch xanh 12

1.2.1 Trên thế giới 12

1.2.2 Tại Việt Nam .14

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH XANH

TẠI ĐẢO CÁT BÀ 20

2.1 Tổng quan về Đảo Cát Bà 20

2.1.1 Vị trí địa lý 20

2.1.2 Tài nguyên du lịch 21

2.2 Tình hình phát triển và tiềm năng phát triển du lịch xanh tại đảo Cát Bà 26

2.2.1 Tình hình phát triển chung của du lịch tại đảo Cát Bà 26

2.2.2 Các vấn đề môi trường trong phát triển du lịch tại đảo Cát Bà 28

Trang 2

2

CHƯƠNG BA: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

VÀ TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH XANH

TẠI ĐẢO CÁT BÀ 33

3.1 Công tác giáo dục và tuyên truyền về du lịch xanh 33

3.2 Giao thông tính toán đến bảo vệ môi trường .34

3.3 Tiết kiệm năng lượng tại các công trình du lịch 36

3.4 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm do rác thải 37

3.5 Triển khai thực hiện kế hoạch phát triển du lịch xanh cho đảo Cát Bà 38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 3

3

KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1 EV: Electric Vehicles – xe dùng điện

2 GDP: Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội

3 LED: Light Emitting Diode – điốt phát quang

4 UBND: Uỷ ban Nhân dân

5 UNESCO: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization – Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc

6 UNWTO: United National World Tourist Organization - Tổ chức Du lịch Thế giới

Trang 5

5

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Vườn cây Garden By the Bay của Singapore 14

3.3 Đưa hệ thống phát điện mặt trời vào trường học 36

Trang 6

có những điều kiện tốt nhất để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này

Và hơn hết, em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Trần Anh Tuấn, người đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình chỉ bảo, bổ sung kiến thức cho em và động viên để em hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn!

Hải Phòng, tháng 11 năm 2015

Trang 7

7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhiều năm trở lại đây, du lịch đã và đang trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của con người Là một đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh, du lịch Việt Nam cũng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, dần tạo lập được vị thế trong khu vực cũng như trên toàn thế giới Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội thì du lịch lại đang bộc lộ nhưng mặt trái tác động không nhỏ đến môi trường, cũng như ngược lại, biến đổi khí hậu và sự nóng lên của trái đất cũng đang ảnh hưởng xấu đến sự phát triển du lịch Chính vì thế, nhiều nước trên thế giới đã hướng tới phát triển những hoạt động du lịch mang

tính bền vững hơn hay còn gọi là du lịch xanh và Việt Nam cũng không phải là

một ngoại lệ

Hải Phòng là thành phố cảng biển có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên,

du lịch nhân văn phong phú, đặc sắc cùng các hệ sinh thái, hệ động thực vật đa dạng và điển hình Đặc biệt, quần đảo Cát Bà từ lâu đã được biết đến là khu du lịch nổi tiếng mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế

Không nằm ngoài xu hướng phát triển du lịch của Việt Nam nói riêng và

của thế giới nói chung, du lịch Cát Bà cũng đang hướng tới phát triển du lịch xanh nhằm góp phần vào sự bền vững của thành phố

Là sinh viên ngành môi trường, em thấy mình cần có trách nhiệm tìm hiểu

và nghiên cứu các vấn đề về du lịch xanh, những lợi ích của du lịch xanh để góp phần tìm ra các giải pháp bảo vệ môi trường nhằm phát triển hình thức du lịch

này Đó là lý do em chọn đề tài: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng nhằm phát triển du lịch xanh tại đảo Cát Bà, Hải Phòng”

Trang 8

8

4 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, và các nét đặc trưng của khu di lịch Cát Bà qua sách, báo, internet

- Phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh

- Khảo sát thực địa để nắm vững tình hình thực trạng

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Chính phủ Việt Nam đã đưa ra “Chiến lược tăng trưởng xanh” năm 2012 nhằm đạt được các mục tiêu chung của nhân loại về bảo vệ môi trường Năm

2014, Thủ tướng chính phủ cũng đã đưa ra quyết định về “Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh” để cụ thể hoá chiến lược này Thành phố Hải Phòng là một thành phố lớn, đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ về kinh tế, xã hội cho khu vực Bắc Bộ bao gồm cả thủ đô Hà Nội Đặt biệt, du lịch Hải Phòng cũng rất phát triển với những địa danh nổi tiếng như Đồ Sơn, Cát Bà Do đó, việc tìm hiểu về du lịch xanh cung cấp cho ta những kiến thức cơ bản về một hình thức

du lịch bền vững hơn, vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ môi trường Qua đó đưa

ra được các giải pháp bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng nhằm phát triển du lịch xanh tại đảo Cát Bà

Nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về du lịch xanh

Chương 2: Tình hình phát triển du lịch xanh tại đảo Cát Bà

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng nhằm phát triển du lịch xanh tại đảo Cát Bà

Trang 9

9

CHƯƠNG MỘT: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH XANH

1.1 Tổng quan về du lịch xanh

1.1.1 Khái niệm

Trong một khái niệm rộng, du lịch xanh được định nghĩa là các hoạt động

du lịch thân thiện môi trường hoặc cung cấp dịch vụ du lịch thân thiện với môi trường

“Du lịch xanh” là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên và văn hóa, có giáo dục môi trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương [1]

1.1.2 Ý nghĩa [2]

Du lịch được xem như một ngành kinh tế lớn nhất của thế giới, nó tạo ra khoảng 10% GDP và sử dụng hơn 10% nhân lực toàn cầu và là ngành kinh tế đang trên đà phát triển mạnh mẽ

Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Du lịch Thế giới,viết tắt là UNWTO (United National World Tourist Organization ) thì khả năng phục hồi nhanh của ngành du lịch đã được thừa nhận qua những số liệu tích cực về thu nhập và chi tiêu của ngành du lịch Lượng khách du lịch quốc tế đã tăng 4% tính đến tháng 8/2012 so với cùng kỳ năm 2011, với con số 705 triệu khách du lịch quốc tế tính đến tháng 8/2012, UNWTO tin một cách chắc chắn rằng con số khách di du lịch

sẽ đạt 1 tỷ người vào cuối năm 2012 Số liệu tăng trưởng này rất tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới khó khăn như hiện nay, đăc biệt Đông Nam Á và Nam

Á vẫn tiếp tục dẫn đầu với mức tăng trưởng 8% so với tăng trưởng bình quân của khu vực Châu Á Thái Bình Dương là 7% và của Thế giới là 4%

Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cảnh quan môi trường và văn hóa xã hội Sự gia tăng lượng khách du lịch là một con dao hai lưỡi Đã có đầy đủ chứng cứ để khẳng định rằng ngành giao thông đã tác động mạnh đến biến đổi khí hậu Những xung đột

Trang 10

10

về sử dụng nguồn lực, những tranh chấp về việc sử dụng đất, sự đánh mất tính cách và giá trị bản xứ tại những địa phương là điểm đến du lịch Ô nhiễm, phá rừng, và sự thay đổi của hệ sinh thái là những hậu quả của sự phát triển du lịch với tầm nhìn ngắn hạn Theo ước tính 5% tổng lượng carbon dioxide, là tác nhân làm trái đất nóng lên, do ngành du lịch tạo ra

Vượt lên các loại hình du lịch khác, du lịch xanh không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương, một đất nước,

mà nó còn góp phần vào sự bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, giữ gìn cảnh quan và bảo vệ môi trường Mục đích của du lịch xanh là cho phép phát triển du lịch theo cách thuận lợi và công bằng cho cộng đồng người địa phương, là phải tạo cuộc sống một ổn định dài hạn và không làm tổn hại đến cảnh quan du lịch và môi trường thiên nhiên.Chính vì vậy mà du lịch xanh đang được các nước trên thế giới và các tỉnh thành trong nước xem như một giải pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường sinh thái, bên cạnh các lợi ích kinh tế mà nó mang lại

Hơn thế nữa, đến nay, du lịch xanh không còn là một chọn lựa mà là một hướng đi bắt buộc cho mọi quốc gia trong quá trình phát triển ngành du lịch của mình đặc biệt đối với các nước mới phát triển Nó cũng là xu hướng chọn lựa chính hiện nay của những người đi du lịch với một ý thức cao về bảo vệ mội trường và sự tôn trọng sắc thái văn hóa xã hội cũng như cuộc sống của cộng đồng dân cư tại những vùng miền , đất nước họ đến du lịch và tìm hiểu.Trong chương trình “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, Tổng cục Du lịch đã nêu rõ quan điểm phát triển là chú trọng phát triển du lịch theo chiều sâu, phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan và bảo vệ môi trường

1.1.3 Biểu hiện của du lịch xanh

Trang 11

11

Du lịch xanh là khái niệm trung tâm được dùng để mô tả những quy tắc thực hành của ngành du lịch có trách nhiệm đối với kinh tế, văn hóa xã hội, và môi trường bền vững Du lịch xanh là loại hình du lịch mà du khách sẽ chọn lựa những hãng lữ hành, các dịch vụ, và các phương tiện vận chuyển có quan tâm đến việc duy trì và bảo tồn được sự nguyên vẹn về sinh thái của môi trường và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng địa phương; đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến nhu cầu của những thế hệ mai sau

Du lịch xanh bao gồm 6 tiêu chí chính :

1 Cách thức vận chuyển:

Xem xét việc đi lại , vận chuyển theo cách giảm tối đa tác động mội trường như đi bộ, đi xe dạp trong các tour du lịch, dùng phương tiện giao thông công cộng , thuê các loại xe lai diện (hybrid) hoặc di chuyển bằng tàu lữa thay vì bằng máy bay khi nào có thể

2 Sự đền bù carbon và chính sách môi trường :

Xem xét mức độ tạo ra carbon dioxide của chuyến du lịch và mua tour du lịch từ các hãng lữ hành có các chính sách quan tâm đến mội trường, kinh tế, văn hóa xã hội xã hội Tham gia các hoạt động làm sạch mội trường , trồng cây xanh …

3 Chi tiêu cho địa phương:

Đảm bảo rằng người dân địa phương hưởng lợi từ chuyến du lịch qua việc khách du lịch mua sắm và chi tiêu tại địa phương du lịch và ưu tiên sử dụng nhân lực địa phương cho hoạt động dịch vụ du lịch

4 Bảo tồn môi trường:

Chọn những tour du lịch khuyến khích những nổ lực bảo tồn thiên nhiên tại nơi đến du lịch bao gồm cả những khu vực bảo tồn động vật hoang dã

5 Tôn trọng văn hóa địa phương:

Tổ chức các hoạt động , tạo điều kiện để du khách hòa mình cuộc sống của địa phương, chấp nhận những khác biệt văn hóa , tìm hiểu

Trang 12

12

phong tục tập quán của địa phương đến du lịch và nói ngôn ngữ của họ nếu có thể

6 Sử dụng tài nguyên thiên nhiên:

Giảm thiểu, sử dụng lại và tái tạo ( reduce,reuse, recycle) là những tiêu chí quan trọng để bảo vệ môi trường, kiểm soát việc sử dụng hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên như nước, năng lượng, vật liệu xây dựng cách quản lý phân loại rác thãi của công ty lữ hành và khách sạn lưu trú

1.2 Tình hình phát triển du lịch xanh

1.2.1 Trên thế giới

Như đã nói ở trên, du lịch xanh hiện nay đã trở thành hướng đi của nhiều quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt là các quốc gia Châu Á và đáng kể đến là các quốc gia Đông Nam Á

Sự phát triển của du lịch giúp cho một số vùng ở các quốc gia Đông Nam Á thoát nghèo Ngành du lịch cũng giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương, hỗ trợ địa phương trong lĩnh vực giáo dục và giải quyết các vấn đề xã hội Tuy nhiên, sự phát triển nào cũng có hai mặt và du lịch cũng vậy Cùng với dòng tiền chảy vào là những nguy cơ như ô nhiễm, cảnh quan thiên nhiên bị tàn phá và văn hóa bản địa bị biến đổi Các bãi biển hoang sơ, những cánh rừng nguyên thủy, các lưng đèo lộng gió của các quốc gia Đông Nam Á bây giờ đều in dấu chân các nhà đầu tư, các hãng lữ hành và khách du lịch Resort, khách sạn mọc lên từ bãi biển đến lưng đồi, từ thành phố đến rừng núi kéo theo đó là những vấn đề như phá rừng, chất thải, khói bụi Nhiều nhà quản lý du lịch hiện nay của khu vực Đông Nam Á đã nghĩ đến chiến lược ít khách Ở Thái Lan, ông Nalikatibhag Sangsnit, Giám đốc tổ chức Các khu vực

Du lịch Bền vững nhận xét: "Thái Lan không nên tập trung vào việc tăng số lượng du khách nữa Thay vào đó, chúng ta nên nghĩ đến việc làm sao để du khách ở lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn Việc tăng số lượng du khách sẽ có một nguy cơ tiềm ẩn, đó là khiến cho môi trường chịu nhiều tác động xấu"

Trang 13

13

Tuy nhiên có một thực tế là nhu cầu đi du lịch sẽ ngày càng tăng chứ không giảm Mức sống được cải thiện dần theo thời gian sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn để ai cũng có thể khám phá thế giới và nâng cao hiểu biết của mình Trước nhu cầu này, theo bà Chutathip Chareonlarp, Giám đốc đại diện của ủy ban Du lịch Thái Lan tại Việt Nam, du lịch xanh là một trong những chìa khóa

để phát triển du lịch một cách bền vững Du lịch xanh, du lịch sinh thái, du lịch bền vững, du lịch có trách nhiệm là những cách gọi khác nhau nhưng có ý nghĩa gần giống nhau trong cách thức tham quan nhưng không gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên và văn hóa địa phương Tận dụng thế mạnh biển và rừng núi của mình, nhiều nước Đông Nam Á đưa ra những sản phẩm du lịch xanh như tham quan các khu bảo tồn, ngắm chim, cùng sống với người dân địa phương, tham quan bằng xe đạp, trồng cây, lặn biển ngắm san hô và cá, thưởng thức cây và hoa, thám hiểm rừng, chinh phục thác nước, Khi tham gia các tour du lịch này, khách du lịch được khuyến khích hòa nhập với thiên nhiên, giúp nâng cao đời sống của người dân địa phương mà không gây bất cứ tác động gì đến môi trường.Singapore là quốc gia tiêu biểu cho khuynh hướng tạo

ra du lịch xanh Đây không phải là một đất nước giàu tài nguyên nhưng họ tạo

ra màu xanh cho mình bằng cách trồng cây xanh khắp nơi, thậm chí trồng cả cây xanh nhân tạo Vườn cây Garden By the Bay của Singapore đã tạo được các "siêu cây" cao từ 22-50 mét, có khả năng tổng hợp năng lượng mặt trời, nhận nước mưa, lọc không khí và có hệ thống quang điện để chuyển ánh sáng mặt trời thành năng lượng điện Vườn cây này vừa khai trương vào tháng 6-

2012 và dự tính có thể đón đến 5 triệu lượt khách tham quan mỗi năm [3]

Trang 14

14

Hình 1.1 Vườn cây Garden By the Bay của Singapore

Ngoài ra, nhằm phát triển du lịch xanh tại các khu du lịch, nhiều nghiên cứu ứng dụng năng lượng xanh cũng đã được quan tâm và sử dụng tại rất nhiều quốc gia như Mỹ, Pháp, Hà Lan, Na Uy, Điển hình có thể kể đến khách sạn Santa Monica ở Los Angeles, khách sạn Calton ở San Fransico – là khách sạn

5 sao đầu tiên trên thế giới sử dụng năng lượng mặt trời trong các dịch vụ của mình và đang hướng tới danh hiệu khách sạn xanh

1.2.2 Tại Việt Nam [4]

Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên

15 độ vĩ tuyến với ¾ là địa hình đồi núi và cao nguyên, hơn 3.200 km đường bờ biển, hàng ngàn hòn đảo Trên lãnh thổ đó là nơi sinh sống của cộng đồng nhiều dân tộc với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và đấu tranh giữ nước, với nhiều truyền thống có những nét đặc trưng riêng, nhiều di tích văn hoá lịch sử nên Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển du lịch xanh

Việt Nam có sự đa dạng sinh học khá cao, cũng như các hệ sinh thái đặc trưng Cùng với các loài động thực vật tự nhiên, Việt Nam còn là một trung tâm của cây trồng nhân tạo

Trang 15

15

Về hệ sinh thái tự nhiên, Việt Nam có một số hệ sinh thái đặc trưng gồm:

hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái vùng cát ven biển,

hệ sinh thái rừng nhiệt đới

Các tiềm năng nhân văn cho phát triển du lịch xanh ở Việt Nam cũng rất

đa dạng và phong phú Dân tộc Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước

và giữ nước với nền văn hoá đa dạng bản sắn của 54 dân tộc anh em, trong đó có nhiều tài nguyên đặc biệt có giá trị Chỉ tính riêng về các di tích, trong số khoảng 40.000 di tích hiện có thì hơn 2.500 di tích được Nhà nước chính thức xếp hạng Tiêu biểu nhất là cố đô Huế, thành phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, nhã nhạc Cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới

Mặc dù có tiềm năng phát triển song du lịch xanh ở Việt Nam mới ở giai đoạn khởi đầu Cũng giống như một vài nước trên thế giới, du lịch xanh ở Việt Nam còn là loại hình du lịch mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý và khai thác tài nguyên phục vụ cho mục đích du lịch Công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản và quy hoạch phát triển du lịch còn hạn chế Nhiều địa phương, nhiều công

ty lữ hành đã cố gắng xây dựng một số chương trình, tuyến du lịch mang sắc thái của du lịch xanh đã được xây dựng, song quy mô và hình thức còn đơn điệu,

mờ nhạt, sản phẩm và đối tượng thị trường còn chưa rõ nên ít có khả năng thu hút khách Mặt khác, việc đào tạo nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ điều hành quản

lý, hướng dẫn viên du lịch xanh còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển

Tuy là loại hình du lịch khá mới mẻ ở nước ta, nhưng trước nhu cầu của thị trường và khả năng đáp ứng của các tiềm năng du lịch xanh của Việt Nam, tại một số nơi hoạt động du lịch xanh cũng đã hình thành dưới các hình thức khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên khác nhau như du lịch tham quan, nghiên cứu ở một số khu vườn Quốc gia (Cát Bà, Cúc Phương, Ba Bể, Nam Cát Tiên, Tam Nông, U Minh ); du lịch thám hiểm, nghiên cứu vùng núi cao như Phanxipang; du lịch tham quan miệt vườn, sông nước đồng bằng sông

Trang 16

16

Cửu Long; du lịch lặn biển (Hạ Long – Cát Bà, Nha Trang), thám hiểm hang động (Phong Nha)

Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 đã xác định: “Tập trung đầu tư phát các loại hình, sản phẩm du lịch có thể

là thế mạnh về tài nguyên du lịch của đất nước và của từng địa phương Ưu tiên phát loại hình du lịch gắn với biển, hải đảo; nhấn mạnh yếu tố văn hóa và sinh thái đặc sắc trong sản phẩm du lịch.Tập trung phát các khu du lịch biển tầm cỡ, chất lượng cao, tạo thương hiệu và có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới”

Như vậy, việc phát triển du lịch xanh đã là một nội dung chiến lược quan trọng của Du lịch Việt Nam và là một hướng đi đúng đắn cho việc phát triển du lịch bền vững Trong những năm qua, ở các địa phương có hoạt động du lịch, loại hình “du lịch xanh” đã tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho cộng đồng cư dân, nhất là người dân ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa - nơi

có các khu bảo tồn tự nhiên, các di tích, danh lam và các cảnh quan tự nhiên độc đáo, hấp dẫn Ngoài ra, “du lịch xanh” còn góp phần vào việc nâng cao dân trí

và sức khỏe cộng đồng thông qua các hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi giải trí Bên cạnh các lợi ích về kinh tế, “du lịch xanh” còn được xem là một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái thông qua quá trình làm giảm sức ép phải khai thác nguồn lợi tự nhiên (có khi khai thác đến mức cạn kiệt, tận diệt) trong hoạt động du lịch

Tiêu biểu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông, gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung ương, có diện tích

tự nhiên chiếm 12,2% diện tích cả nước; dân số toàn vùng chiếm 19,6% dân số

cả nước, trong đó 75% sống ở khu vực nông thôn Nằm liền kề vùng Đông Nam

Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Nam và Đông Nam là Biển Đông, vùng này còn có các đảo, quần đảo xa bờ của Việt Nam như Phú Quốc, Thổ Chu, Hòn Khoai… Đặc điểm nổi bật của đồng bằng sông Cửu Long là có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt, đan xen, rất thuận lợi

Trang 17

17

cung cấp nước ngọt quanh năm Các vùng đất ngập nước theo mùa hoặc thường xuyên cũng chiếm một diện tích lớn và có chức năng kinh tế, sinh thái quan trọng đối với toàn vùng Các vùng đất ngập nước đã tạo ra ba hệ sinh thái tự

nhiên phong phú cho đồng bằng sông Cửu Long: Một là, hệ sinh thái rừng ngập

mặn nằm ở vùng rìa ven biển trên các bãi lầy mặn Các rừng này đã từng bao phủ hầu hết vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long nhưng nay đang giảm dần diện tích Trong số các rừng ngập mặn còn lại, trên 80% (khoảng 77.000 ha) tập

trung ở tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau Hai là, hệ sinh thái đầm nội địa (rừng tràm)

Trước đây, rừng tràm từng bao phủ một nửa diện tích đất phèn Hiện nay, rừng tràm chỉ còn lại trong khu vực đất than bùn U Minh và một số nơi trong vùng đất phèn ở Đồng Tháp Mười, Hà Tiên Rừng tràm rất quan trọng đối với việc ổn định đất, thủy văn, thích hợp cho việc cải tạo các vùng đất hoang và những vùng đất không phù hợp đối với sản xuất nông nghiệp như vùng đầm lầy than bùn và

đất phèn nặng Ba là, hệ sinh thái cửa sông, nơi nước ngọt từ sông chảy ra gặp

biển Cửa sông duy trì những quá trình quan trọng như vận chuyển chất dinh dưỡng và phù du sinh vật, du đẩy các ấu trùng tôm cá, xác bồi động vật, thực vật

và nó quyết định các dạng trầm tích ven biển Hệ sinh thái cửa sông nằm trong

số các hệ sinh thái phong phú và năng động nhất trên thế giới.Hệ động vật ở đồng bằng sông Cửu Long gồm 23 loài có vú, 386 loài và bộ chim, 6 loài lưỡng

cư và 260 loài cá Số lượng và tính đa dạng của hệ động vật thường lớn nhất trong các khu rừng tràm và rừng ngập mặn còn lại Đây là một vùng trú đông quan trọng đối với các loài chim di trú Trong những năm gần đây, 7 khu vực sinh sản lớn của các loài diệc, cò vằn, cò trắng và vạc đã được phát hiện trong các khu rừng tràm; loài sếu mỏ đỏ Phương Đông đã được phát hiện ở huyện Tam Nông, Đồng Tháp Mười Trong khu bảo tồn Tràm Chim có 92 loài chim đã được xác định Trong vùng rừng U Minh có 81 loài chim đã được ghi nhận Theo Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long còn có trên 250 loài cá nước ngọt, trong đó khoảng 50 loài có giá trị kinh tế cao và khoảng gần 20 loài cá quý hiếm

Trang 18

18

Bên cạnh lợi thế về địa lý - tự nhiên, các tiềm năng nhân văn cho phát triển du lịch xanh ở đồng bằng sông Cửu Long cũng rất đa dạng và phong phú Cộng đồng dân cư ở đây có nền văn hóa phong phú, đa dạng bản sắc của nhiều dân tộc anh em, trong đó có 4 dân tộc chiếm đa số là Kinh, Khmer, Hoa và Chăm Quá trình hình thành và phát triển đã để lại cho đồng bằng sông Cửu Long nhiều di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia; nhiều khu sinh thái tự nhiên có giá trị mang tầm quốc gia và quốc tế (có 2/6 khu Ramsar trên cả nước thuộc đồng bằng sông Cửu Long là Vườn quốc gia Tràm Chim và Vườn quốc gia Mũi

Cà Mau) Bên cạnh các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, vùng đồng bằng sông Cửu Long còn có nhiều nghề thủ công truyền thống (gạch, gốm, rèn, xay xát, nông ngư cụ,…) với kỹ năng độc đáo; nhiều lễ hội gắn liền với các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc của cộng đồng các dân tộc (1.234 lễ hội, trong đó có 856 lễ hội dân gian, 262 lễ hội tôn giáo, 107 lễ hội lịch sử cách mạng và 9 lễ hội khác) Ngoài ra, những nét riêng, tinh tế của nghệ thuật ẩm thực cũng đã tạo nên nét đặc trưng về văn hóa vô cùng hấp dẫn của đồng bằng sông Cửu Long

Vừa qua, từ ngày 27/6 đến ngày 3/7/2015 tại thành phố Cần Thơ đã diễn

ra Tuần lễ Du lịch xanh đồng bằng sông Cửu Long 2015 bao gồm các hoạt động chính như: Hội chợ triển lãm Tuần lễ du lịch xanh Đồng bằng sông Cửu Long

2015 với quy mô từ 1.030 gian hàng, Liên hoan Lễ hội ẩm thực; Lễ hội đường phố, Vòng chung kết Hội thi Hoa khôi đồng bằng; Giờ vàng thương hiệu, Đêm sắc màu du lịch và hội thi văn nghệ dành cho các hướng dẫn viên du lịch tài năng, đêm hội ngộ và giao lưu với nghệ sĩ Ngoài ra, còn có các hội nghị hội thảo quan trọng như: Hội nghị xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực du lịch xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long; Hội nghị kết nối du lịch đồng bằng sông Cửu Long; Hội thảo liên kết phát triển du lịch xanh đồng bằng sông Cửu Long Tuần lễ Du lịch xanh đồng bằng sông Cửu Long 2015 nhằm đẩy mạnh phát triển bền vững ngành du lịch khu vực đồng bằng sông Cửu Long vốn mới phát triển còn non trẻ, góp phần thực hiện chiến lược phát triển du lịch Việt Nam; xúc tiến đầu tư

Trang 19

19

trong lĩnh vực du lịch, đặc biệt là du lịch xanh, đảm bảo trong mối liên kết vùng; thúc đẩy nhu cầu tham quan du lịch đối với du khách trong nước và quốc tế; tìm giải pháp liên kết phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long, kết nối tour, tuyến giữa các địa phương, vùng miền khác trong cả nước và quốc tế đến đồng bằng sông Cửu Long và ngược lại

Tuy nhiên việc phát triển du lịch xanh ở Việt Nam cho đến nay thực sự chưa được quan tâm đầu tư đúng mức cả về phía quản lý nhà nước cũng như các đơn vị tham gia hoạt động du lịch Chúng ta còn rất thiếu những sản phẩm du lịch xanh phong phú hấp dẫn để tạo được sức cạnh tranh của du lịch Việt nam với các quốc gia lân cận : Thái Lan, Malasia… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc phát triển du lịch xanh bị hạn chế và chưa có một bước phát triển tương xứng với trào lưu và yêu cầu của du lịch xanh trên thế giới hiện nay, trong đó nguyên nhân cơ bản chính là nhận thức xã hội, đặc biệt nhận thức của các nhà quản lý, nhà đầu tư về tầm quan trọng chiến lược của phát sản phẩm du lịch xanh Chúng ta chưa có được những cơ quan, tổ chức quản lý chuyên nghiệp về

du lịch xanh, chưa có được những bộ tiêu chí,đánh giá về du lịch xanh làm cơ sở cho việc đánh giá và dán nhãn xanh cho các sản phẩm du lịch tạo nên giá trị và tính cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới

Trang 20

2.1.1 Vị trí địa lý

Toạ độ địa lý: Đảo Cát Bà ở khoảng vĩ độ 20o48’ Bắc, kinh độ 107o

Đông Đảo Cát Bà ở độ cao khoảng 200m so với mực nước biển, cách thành phố Hải Phòng khoảng 60km về phía Đông và cách thủ đô Hà Nội khoảng 150km về phía Đông Vì vậy, Cát Bà nằm ngay phạm vi dải ven bờ biển và là nơi giao lưu của nhiều tuyến giao thông thuỷ quan trọng trong vùng thuỷ nội địa và quốc tế nên điều kiện giao lưu với đất liền rất dễ dàng, thuận lợi cho việc phát triển giao thông vận tải đường biển, thuận tiện cho việc chăm nom, đi lại, kết hợp với các tuyến du lịch của khách tham quan

Đảo Cát Bà nằm trong tổng thể vùng du lịch ven biển Hạ Long – Bái Tử Long, là cửa ngõ tới si sản thiên nhiên thế giới – vịnh Hạ Long và là điểm du lịch bừng sáng nối giữa hai cực của tam giác tăng trưởng kinh tế của miền Bắc –

Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long – hai trung tâm du lịch lớn nhất miền Bắc Việt Nam: Hạ Long – Hải Phòng, tạo thành một tuyến du lịch theo đường biển kết hợp với đường bộ và đường sắt Khách du lịch sẽ có nhiều trải nghiệm thú vị với nhiều loại phương tiện khi đến Cát Bà du lịch Hơn nữa, ngày này, du khách thường đến thăm di sản thế giới Vịnh Hạ Long, sau đó theo đường biển đến Cát

bà Đây cũng là một thuận lợi cho du khách có dịp được chiêm ngưỡng cảnh đẹp của núi non, biển cả Việt Nam, vừa hùng vĩ nhưng cũng rất nên thơ Và nếu loại hình du lịch xanh tại đảo Cát Bà được quan tâm phát triển hơn nữa sẽ đem lại cho du khách ấn tượng đặc biệt không chỉ về cảnh đẹp đất nước mà còn cả sự thân thiện, văn minh trong các dịch vụ du lịch và của con người Việt Nam [5]

Trang 21

Hình thái địa hình của đảo khá phức tạp Đảo Cát Bà là một vùng đồi, núi pha trộn nhiều dạng địa hình Dựa vào các chỉ tiêu về độ cao, độ dốc, mật độ chia cắt, có thể chia thành các dạng địa hình khác nhau:

- Núi thấp, chia cắt mạnh là kiểu địa hình chủ yếu tại Đảo Cát Bà Hầu hết các đỉnh núi có độ cao khoảng 100 – 250m Đỉnh núi cao nhất là ngọn Cao Vọng 331m thuộc phần Tây đảo Cát Bà Đặc điểm nổi bật nhất của núi trên đảo

là đỉnh nhọn, sắc, sườn dạng răng cưa, dốc đứng, hiểm trở, lởm chởm tai mèo và nhiều hang động đẹp không kém vùng Ninh Bình Hầu hết các hang động ở đây đều có độ dài dưới 200m, hang động dài nhất không vượt quá 1.000m vị trí ở cửa hang đều tập trung ở các mức 4-6m; 15 – 20m; 30 – 40m so với mặt đất Tuy về kích thước không lớn nhưng các hang lại có hình thái khá đẹp Vì vậy đây là nguồn tài nguyên có giá trị lớn không những hấp dẫn khách du lịch bốn phương mà còn là tiền đề thuận lợi cho việc phát triển du lịch địa phương trong

thời điểm hiện tại và lâu dài

- Đồng bằng khá bằng phẳng chỉ có ở Phù Long với góc dốc bề mặt thường là 1 – 3o Độ chia cắt sâu trung bình 4-5km, chia cắt dày lớn, trung bình 7-8 km/km2

- Đáy biển nguyên là đồng bằng lục địa lớn bị biển làm ngập trong thời gian biển tiến sau băng hà lần cuối cùng Đáy biển có hình thái đồng bằng Vùng

đáy sâu trung bình 5 – 10m, cực đại là 39m

Trong phạm vi đồng bằng này có một số rạn san hô Sự phức tạp của địa hình đáy biển với nhiều rạn san hô có giá trị ở vùng ven đảo Cát Bà là yếu tố

Ngày đăng: 02/12/2017, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Thanh Hiếu (2015), Phát triển “Du lịch xanh” góp phần xây dựng nông thôn mới ở đồng bằng sông Cửu Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển “Du lịch xanh
Tác giả: Huỳnh Thanh Hiếu
Năm: 2015
2. Lâm Duy Anh Cường (2015), Phát triển du lịch xanh cho Nha Trang Khánh Hoà Khác
3. Thanh Lê (2012), Du lịch xanh: chìa khoá của du lịch bền vững Khác
4. Nguyễn Thị Kim Nhung (2012), Phát triển du lịch xanh Việt Nam Khác
6. Thành Nam (2014), Cát Bà với các siêu dự án xanh Khác
7. UBND Thành phố Hải Phòng (Việt Nam), UBND Thành phố Kitakyusyu (Nhật Bản) (2015), Quy hoạch thúc đẩy tăng trưởng xanh thành phố Hải Phòng Khác
8. Viện Nghiên cứu và Phát triển Ngành nghề nông thôn Việt Nam (2012). Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm