LỜI CẢM ƠN Được sự phân công của Viện Môi Trường, trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam, sự đồng ý của thầy giáo chủ nhiệm Th.s Trần Anh Tuấn và sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn Th.
Trang 1MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined
i Tính cấp thiết của đề tài Error! Bookmark not defined
ii Mục tiêu của đề tài Error! Bookmark not defined
iii Phạm vi nghiên cứu……….2
iiii Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined iiiii Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH BIẾN ĐỐI KHÍ HẬU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚCError! Bookmark not defined 1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh PhúcError! Bookmark not defined 1.2 Tổng quan về tình hình biến đổi khí hậu Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐỐI VỚI TỈNH VĨNH PHÚC 21
2.1 Tác động của BĐKH đến điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 21
2.2 Tác động của BĐKH đến các lĩnh vực kinh tế - xã hội 32
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM NHẸ TÁC ĐỘNG TỪ BĐKH VÀ GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BĐKH 37
3.1 Giải pháp chiến lược giảm nhẹ BĐKH trong các lĩnh vực … 37
3.2 Giải pháp chiến lược thích ứng với BĐKH trong các lĩnh vực 38
KẾT LUẬN 42
KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Viện Môi Trường, trường Đại Học Hàng Hải Việt
Nam, sự đồng ý của thầy giáo chủ nhiệm Th.s Trần Anh Tuấn và sự giúp đỡ tận
tình của cô giáo hướng dẫn Th.s Nguyễn Thị Như Ngọc tôi đã thực hiện đề tài
“Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất một số
biện pháp giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu”
Tôi xin gửi lời tri ân tới các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn và giảng dạy
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đại Học Hàng Hải
Việt Nam
Xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn Th.s Nguyễn Thị Như Ngọc đã tận
tình chu đáo hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và
thực hiện luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất,
song do còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những
thiếu sót mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy,
Cô giáo và các bạn để bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hải Phòng, ngày 01 tháng 12 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Nga
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
VQG Vườn Quốc Gia
Trang 4DANH MỤC HÌNH
1.2 Sự phân bố nhiệt độ theo không gian của tỉnh Vĩnh Phúc 11
1.3 Sự phân bố lƣợng mƣa theo không gian của tỉnh Vĩnh
Trang 5DANH MỤC BẢNG
1.1 Nhiệt độ không khí trung bình tháng giai đoạn 1970-2010 10 1.2 Độ ẩm tương đối của không khí giai đoạn 1970 – 2010 12 1.3 Tổng lượng bốc hơi trung bình tháng và năm giai đoạn 1962-
2010
13
1.4 Tốc độ gió trung bình tháng và năm 1962 – 2010 14 1.5 Lượng mưa trung bình tháng và năm giai đoạn 1962-2010 16 1.6 Phát triển dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008 – 2013 29
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
i Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu, trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng tăng nhanh chưa từng có đang là mối quan ngại, là một trong những khó khăn lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan khác như bão lụt, hạn hán, động đất, sóng thần, núi lửa,… đang gia tăng ở khắp nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam [8]
BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới, đến 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2 - 4%, giá sẽ tăng
13 - 45%, tỷ lệ dân số bị ảnh hưởng của nạn đói chiếm 36-50%; mực nước biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, và gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống KT-XH trong tương lai Các công trình hạ tầng được thiết kế theo các tiêu chuẩn hiện tại sẽ khó an toàn và cung cấp đầy đủ các dịch vụ trong tương lai [8]
Ở Việt Nam, BĐKH đang diễn ra khá phức tạp Trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng lên 0,7oC, mực nước biển đã dâng lên khoảng 20
cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina đã và đang tác động mạnh mẽ đến Việt Nam Biểu hiện cụ thể của BĐKH mà ta dễ thấy nhất đó là các hiện tượng khí hậu cực đoan như bão, mưa lớn, lũ lụt, hạn hán….ngày càng ác liệt Theo tính toán của các nhà khoa học, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3oC và mực nước biển có thể dâng 1 m vào năm 2100 Và nếu như mực nước biển dâng 1 m, khoảng 40.000 km2 đồng bằng ven biển ở Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm, trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long hầu như bị nhấn chìm [2]
Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là vô cùng nghiêm trọng và là một rào cản lớn cho công cuộc xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước ta
Vĩnh Phúc là một trong 7 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Với nhiều đặc điểm thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tuy nhiên hàng năm Vĩnh Phúc chịu ảnh hưởng bởi nhiều thiên tai khắc nghiệt, nhất là khi các tác động của BĐKH ngày càng trở nên mạnh mẽ như hiện nay
Để hiểu thêm về tình hình BĐKH diễn ra tại đây, em xin lựa chọn đề tài
“Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất một số biện pháp giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu” để nhận thức rõ hơn những
ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên các lĩnh vực như thế nào
ii Mục tiêu của đề tài
- Phân tích tình hình BĐKH diễn ra tại tỉnh Vĩnh Phúc, đánh giá tác động và hậu quả của BĐKH với tình hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, du lịch, sức khỏe con người của tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 7- Thu thập cơ sở dữ liệu liên quan đến tình hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu và phòng chống những tác động của BĐKH và giải pháp để tăng cường khả năng ứng phó với BĐKH của tỉnh Vĩnh Phúc
iii Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Toàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Phạm vi khoa học: Nghiên cứu những thiệt hại trực tiếp và gián tiếp tới tỉnh Vĩnh Phúc
iiii Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp phân tích trên cơ sở kế thừa và chọn lọc các số liệu và tài liệu nghiên cứu có liên quan
- Phương pháp tổng hợp số liệu: Phương pháp này nhằm thu thập và xử lý số liệu một cách tổng quan về tình hình biến đổi khí hậu tại tỉnh Vĩnh Phúc So sánh, xác định độ tin cậy của số liệu, xử lý và tổng hợp số liệu
- Khảo sát thực địa: Khảo sát, thu thập các số liệu liên quan đến tình hình BĐKH tại tỉnh Vĩnh Phúc
- Khảo cứu tài liệu
iiiii Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Biến đổi khí hậu hiện nay đã và đang là một vấn đề mang tính cấp thiết đối với thế giới nói chung và Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng
Vĩnh Phúc là cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, thuộc vùng Châu thổ sông Hồng, là một trong 7 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Phía Tây Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Đông Nam giáp thành phố Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 3 sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và một sông nội tỉnh là sông Cà Lồ Tuy nhiên cùng với những thuận lợi, hàng năm Vĩnh Phúc chịu ảnh hưởng nhiều thiên tai khắc nghiệt, nhất là khi các tác động của BĐKH ngày càng trở nên mạnh mẽ như hiện nay
Trong những năm qua, ở Vĩnh Phúc đã có những biểu hiện của BĐKH như nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng lên, lượng mưa trung bình năm đều có
xu hướng tăng lên, tuy nhiên, lượng mưa không tăng đều ở tất cả các tháng mà có
xu hướng tăng lên rất mạnh vào mùa mưa và giảm vào mùa khô Các hiện tượng khác như hạn hán ngày càng trầm trọng hơn, tần suất và quy luật bão lũ có sự thay đổi khó lường
Nhận thức rõ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, việc đánh giá tác động của BĐKH lên các lĩnh vực, ngành, địa phương như: tài nguyên nước, nông nghiệp và
an ninh lương thực, sức khoẻ, là việc hết sức quan trọng và cần thiết
Trang 8Do đó, việc đánh giá những tác động do BĐKH gây ra đối với tài nguyên thiên nhiên và các lĩnh vực kinh tế - xã hội sẽ có căn cứ khoa học vững chắc để đưa
ra các biện pháp giảm nhẹ tác động của BĐKH và tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế- xã hội của Thành phố
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH BIẾN ĐỐI KHÍ HẬU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC
Chương 2: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐỐI VỚI TỈNH VĨNH PHÚC Chương 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM NHẸ TÁC ĐỘNG TỪ BĐKH VÀ GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BĐKH
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH BIẾN ĐỐI KHÍ HẬU VÀ ĐIỀU
KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC
1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Vĩnh Phúc có vị trí địa lý giáp với 5 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung Ương Phía Bắc giáp hai tỉnh là tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Thái Nguyên với đường ranh giới tự nhiên là dãy núi Tam Đảo Phía Nam giáp thủ đô Hà Nội với đường ranh giới tự nhiên là sông Hồng Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ với ranh giới tự nhiên
là sông Lô Phía Đông tiếp giáp hai huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội là huyện
Trang 10Sóc Sơn và huyện Đông Anh Có thể thấy, Vĩnh Phúc không chỉ là trung tâm của Bắc bộ Việt Nam mà còn đóng vai trò cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội b) Đặc điểm địa hình [6]
Địa hình Vĩnh Phúc có sự phân hoá theo độ cao và độ cao trung bình giảm dần
từ Tây sang Đông Dựa vào sự phân hoá theo độ cao này ta có thể chia địa hình
Vĩnh Phúc thành 3 loại địa hình chính là: địa hình miền núi; địa hình vùng đồi và địa hình đồng bằng
- Địa hình miền núi:
Từ nguồn gốc, quá trình hình thành và căn cứ vào độ cao của địa hình, có thể chia địa hình miền núi Vĩnh Phúc làm ba loại như sau:
+ Địa hình núi cao:
Điển hình là dãy núi Tam Đảo với chiều dài hơn 50 km, với nhiều đỉnh cao trên 1000 m (cao nhất là đỉnh núi Giữa 1592m, đỉnh Thạch Bàn 1388m, đỉnh Thiên
Thị 1376m, đỉnh Phù Nghĩa 1300 m so với mực nước biển)
+ Địa hình núi thấp:
Ta có thể gặp loại địa hình núi thấp trên những vùng của huyện Lập Thạch, điển hình là núi Sáng Sơn cao 633m.Trải qua thời gian cùng với những tác động của yếu tố ngoại lực nên những núi này bị xâm thực, bào mòn hình thành nên địa hình núi có đỉnh tròn, sườn thoải
+ Địa hình núi sót:
Gồm núi Đinh, núi Trống, núi Thanh Tước nằm theo một trục trên địa bàn thị xã Vĩnh Yên, huyện Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên Loại địa hình núi này thường có độ cao trung bình khoảng 100 m đến 300m
- Địa hình vùng đồi:
Dựa vào cơ chế thành tạo ta có thể chia đồi ở Vĩnh Phúc ra làm 3 loại:
+ Đồi xâm thực bóc mòn:
Hình thành do các vận động kiến tạo địa chất nhưng trải qua thời gian chịu
sự tác động của các yếu tố ngoại lực (mưa, gió, băng tan…) cùng với sự phong hoá của các lớp đất đá đã làm cho bề mặt bị bóc mòn Địa hình loại này phân bố chủ yếu ở khu vực Vĩnh Yên, Tam Dương, và Phúc Yên
+ Đồi tích tụ:
Được hình thành do quá trình tích tụ và xâm thực, phân bố ở các cửa suối lớn trong chân núi Tam Đảo như các suối ở Đạo Trù (Tam Đảo), Tam Quan, Hợp Châu (Tam Dương), Minh Quang, Thanh Lanh (Bình Xuyên)…
+ Đồi tích tụ bóc mòn:
Trang 11Là những đồi được hình thành trong quá trình tích tụ nhưng đã bị bóc mòn Dạng đồi này phổ biến ở ven sông Lô từ Đồng Thịnh, Cao Phong đến Văn Quán, Xuân Lôi, Triệu Đề (Lập Thạch) Đồi có dạng bát úp hoặc kéo dài cấu tạo bởi các
đá cát kết, sỏi kết, cuội, sỏi, sét…
- Địa hình đồng bằng:
Địa hình đồng bằng có bề mặt tương đối bằng phẳng, chiếm diện tích đáng kể (khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh) Căn cứ vào độ cao tuyệt đối, hình thái, điều kiện hình thành có thể chia đồng bằng Vĩnh Phúc làm ba loại: Đồng bằng châu thổ, đồng bằng trước núi và các thung lũng, bãi bồi, đầm
+ Đồng bằng châu thổ:
Là loại đồng bằng tích tụ liên quan đến quá trình lắng đọng trầm tích tại các cửa sông lớn Đồng bằng châu thổ Vĩnh Phúc phát triển từ sự bồi tụ của các dòng sông Lô, sông Hồng, sông Phó Đáy và của hệ thống sông suối ngắn từ dãy núi Tam Đảo chảy ra
+ Đồng bằng trước núi (đồng bằng giới hạn):
Được hình thành do sự phá huỷ lâu dài của vùng núi, do sự bóc mòn, xâm thực của nước mặt, nước ngầm và nước sông băng (thời kỳ băng hà) Chính những yếu tố ngoại lực này đã biến vùng núi cao thành vùng núi thấp, dần dần thành vùng đồi và sau đó thành vùng đồng bằng có giới hạn (do bao quanh nó vẫn là đồi núi)
+ Các thung lũng, bãi bồi sông:
Bãi bồi sông:
Chủ yếu hình thành và phân bố nhiều ở các sông lớn như sông Hồng, sông
Lô, sông Phó Đáy Bãi bồi sông rộng, hẹp phụ thuộc vào các yếu tố như: dòng chảy, lưu lượng nước, hàm lượng phù sa… Dọc các thung lũng của ba con sông chính của tỉnh có tới vài chục bãi bồi lớn nhỏ
1.1.1.2 Điều kiện khí hậu – thủy văn
a) Đặc điểm khí hậu Vĩnh Phúc [5]
Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm Trong năm
có 2 mùa rõ rệt: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 6; mùa khô lạnh diễn ra
từ tháng 7 đến tháng 3 năm sau
Trang 12- Nhiệt độ:
Theo số liệu thống kê giai đoạn 1993-2013, nhiệt độ trung bình hàng năm trạm Vĩnh Yên 23,90C, nhiệt độ tháng cao nhất đạt 29,20C, thấp nhất là 16,80
C Riêng vùng Tam Đảo ở độ cao 900 m nên có sự khác biệt, nhiệt độ trung bình khoảng 18,20C, nhiệt độ tháng cao nhất đạt 23,10C, thấp nhất là 11,50
Trang 13Về phân bố theo không gian, nhiệt độ miền núi có xu hướng thấp hơn đồng bằng và trung du từ 4oC đến 6o
20 19
Th¸i Nguyªn
105°50'0"E 105°50'0"E
105°40'0"E 105°40'0"E
105°30'0"E 105°30'0"E
Trang 14- Độ ẩm không khí:
Độ ẩm không khí trung bình nhiều năm (1993-2013) dao động từ 78 - 91%, ở các vùng núi có nhiều cây rừng, mưa nhiều thì độ ẩm cao hơn, nơi có độ ẩm cao nhất là vùng núi Tam Đảo (90,7%) độ ẩm cao nhất tại trạm Vĩnh Yên gần 85%, độ
ẩm thấp nhất tại trạm Vĩnh Yên 78,5%, trạm Tam Đảo xấp xỉ 82% (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Độ ẩm tương đối của không khí giai đoạn 1993 – 2013
Trang 15- Bốc hơi:
Tổng lƣợng bốc hơi trung bình nhiều năm 1993-2013 dao động trong khoảng 500-1.000mm (lƣợng bốc hơi lớn nhất vào tháng 5, 6 và nhỏ nhất vào tháng 1, 2) (Bảng 1.3)
Bảng 1.3 Tổng lƣợng bốc hơi trung bình tháng và năm giai đoạn 1993-2013
Trang 162013, tốc độ gió cao nhất Trạm Vĩnh Yên vào tháng 5, trạm Tam Đảo vào tháng 10
và tốc độ gió thấp nhất trạm Vĩnh Yên vào tháng 6,7 và trạm Tam Đảo vào tháng 8 (Bảng 1.4)
Bảng 1.4 Tốc độ gió trung bình tháng và năm 1993 – 2013
Trang 17Hình 1.3 Sự phân bố lƣợng mƣa theo không gian của tỉnh Vĩnh Phúc
Th¸i Nguyªn
105°50'0"E 105°50'0"E
105°40'0"E 105°40'0"E
105°30'0"E 105°30'0"E
105°20'0"E
105°20'0"E 21°30'0"N 21°30'0"N
Trang 18Bảng 1.5 Tổng lƣợng mƣa trung bình tháng và năm giai đoạn 1993-2013
Trang 19Vĩnh Phúc có mạng lưới sông khá dày đặc (mật độ lưới sông trung bình 0,5 - 1km/km2) với các sông chính là sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy, và hệ thống sông Cà Lồ
- Sông Hồng: Chảy vào địa phận tỉnh Vĩnh Phúc tại ngã ba Bạch Hạc đến xã
Nguyệt Đức (huyện Yên Lạc) dài khoảng 41 km Sông Hồng có lưu lượng dòng chảy trung bình trong cả năm khoảng 3.860m3/s Lưu lượng dòng chảy thấp nhất về mùa cạn khoảng 1.870m3/s Lưu lượng dòng chảy trung bình trong mùa mưa lũ khoảng 8.000m3/s Lưu lượng lớn nhất là 18.000m3/giây, mực nước cao trung bình
là 9,75m Hàng năm lên xuống thất thường, nhất là về mùa mưa
- Sông Lô: Chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Yên (huyện Sông Lô)
qua xã Việt Xuân (Vĩnh Tường) đến ngã ba Bạch Hạc thì đổ vào sông Hồng, có chiều dài 34km Sông Lô có lưu lượng dòng chảy bình quân (năm 1996) 1.213m3
/s;
về mùa mưa lên tới 3.230m3/s; cao nhất năm 1966 là 6.560m3
/s
- Sông Phó Đáy: Sông Phó Đáy chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang
Sơn (Lập Thạch) Trên địa bàn tỉnh sông chảy giữa huyện Lập Thạch (bên phải) và hai huyện Tam Dương, Vĩnh Tường (bên trái) với chiều dài 41,5km, rồi đổ vào sông Lô, tại xã Việt Xuân (huyện Vĩnh Tường) Sông Phó Đáy có lưu lượng trung bình khoảng 23 m3/giây; lưu lượng cao nhất là 833m3
/giây; mùa khô kiệt, lưu lượng chỉ 4m3
/giây
- Hệ thống sông Cà Lồ: Chảy trong nội tỉnh, hệ thống sông Cà Lồ gồm sông
Cà Lồ và nhiều nhánh nhỏ, đáng kể nhất là sông Phan, sông Cầu Bòn, sông Bá Hạ, suối Cheo Meo Nguồn nước sông Cà Lồ ngày nay chủ yếu là nước các sông bắt nguồn từ núi Tam Đảo, núi Sóc Sơn, lưu lượng trung bình 30m3
/giây
- Ngoài ra trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có một số sông nhỏ bắt nguồn từ Tam Đảo như: Sông Tranh, Sông Cầu Tôn, Sông Bá Hanh,…
- Vĩnh Phúc còn có hệ thống đầm hồ khá phong phú, điển hình là: Đầm Vạc, Đầm Rưng, Hồ Thanh Lanh, Hồ Đại Lải…
- Và còn một số hồ trung bình và nhỏ khác nhưng cũng góp phần làm phong phú cho nguồn nước mặt của tỉnh là Hồ Bản Long, Hồ Làng Hà 1, Hồ Làng Hà 2,
- Nước khe nứt:
Trang 20Nước khe nứt lộ ra với diện tích khoảng 600km2, chiếm khoảng 43% diện tích tự nhiên của tỉnh Các tầng chứa khe nứt chủ yếu phân bố ở phía Bắc và Tây bắc của tỉnh, chủ yếu ở các huyện Lập Thạch, Tam Đảo
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Dân cư [4]
Dân số của tỉnh Vĩnh Phúc theo điều tra tháng 4 năm 2012 vào khoảng 1012 nghìn người Trong đó dân số nam khoảng 495 nghìn người chiếm khoảng 48,9%, dân số nữ khoảng 517 nghìn người chiếm 51,1% Theo dự tính thì dân số của tỉnh
sẽ là 1032 nghìn người vào năm 2016, nam khoảng 515 nghìn người và nữ khoảng
517 nghìn người Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên trong những năm gần đây của tỉnh Vĩnh Phúc tương đối ổn định trong khoảng 11,4-11,8%o, ngoại trừ năm 2013 thấp hơn 11%o
Bảng 1.6 Phát triển dân số tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2008 – 2013
1.1.2.2 Sản xuất nông nghiệp
a) Trồng trọt
Trồng trọt là ngành chiếm tỷ trọng chính trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Mặc dù tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng của trồng trọt giảm dần, nhưng quy mô
ngành trồng trọt vẫn không ngừng tăng, và có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng sản
xuất hàng hoá và từng bước nâng cao chất lượng nông sản Tốc độ gia tăng giá trị sản xuất trung bình ngành trồng trọt trong những năm 2003 – 2008 đạt 3,25%/năm
và từ 2008 – 2013 đạt 2,52% [7]
Trang 21Cơ cấu ngành trồng trọt có sự chuyển dịch dần theo xu hướng là tăng dần diện tích các loại cây có giá trị kinh tế, hàng hoá cao (như rau, đậu tương, hoa, cây cảnh, cây thức ăn gia súc, cây dược liệu, một số loại cây ăn quả) và giảm dần diện tích các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp (như khoai lang, sắn)
Để thúc đẩy nâng cao năng suất các loại cây trồng, các biện pháp kỹ thuật tiến bộ được áp dụng rộng rãi trong sản xuất như biện pháp thâm canh, kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ nông sản, các giống mới có năng suất cao, có khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi được đưa vào trong sản xuất b) Chăn nuôi
Trong giai đoạn từ năm 2003-2008, tốc độ tăng trưởng trong ngành chăn nuôi
khá cao đạt 12,25%, giai đoạn từ năm 2008-2013 tốc độ này là 15,21% Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tính theo giá thực tế của thị trường năm 2010 đạt tới 3.485,7
tỷ VNĐ và chiếm tới 58,22% trong tỷ trọng cơ cấu nành nông nghiệp [7]
Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới trong công tác giống, sản xuất thức ăn, thú y và các phương thức tổ chức sản xuất chăn nuôi mới được ứng dụng vào sản xuất Phương thức nuôi công nghiệp và bán công nghiệp đang dần từng bước thay thế phương thức chăn nuôi truyền thống, vừa giải quyết việc làm, tăng thu nhập, vừa tích cực chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp
Để bảo đảm vệ sinh môi trường trong chăn nuôi, trong những năm qua tỉnh đã ban hành các chính sách hỗ trợ nông dân xây dựng thí điểm các mô hình chăn nuôi tập trung, trong đó ngân sách tỉnh hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng như điện, đường,
cấp thoát nước, tường rào bảo vệ
1.1.2.3 Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp tăng từ 5.652,3 tỷ đồng năm 2009 lên 41.923 tỷ đồng năm 2013, đạt tốc độ tăng bình quân 21.35%/năm (vượt mục tiêu kế hoạch 2008-2013 đề ra là 19,5-21%/năm) [7]
Phát triển công nghiệp Vĩnh Phúc trong những năm qua được xem là điểm sáng về phát triển công nghiệp trên toàn quốc Theo đánh giá của Bộ Công nghiệp, năm 2013, giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc xếp thứ 41/61 tỉnh thành, thì
từ năm 2011 đến nay, Vĩnh Phúc đã vươn lên đứng ở vị trí thứ 7 trên cả nước và đứng thứ 3 ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
1.1.2.4 Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản là lĩnh vực được xem là khâu đột phá nhất trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ngành nông nghiệp Trong giai đoạn từ năm 2004 – 2013, tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực thuỷ sản đạt giá trị cao nhất trong ngành, giá trị sản xuất thủy sản tăng trung bình 15,43%/năm Năm 2008, giá trị sản xuất ngành thuỷ sản đạt 40,08 tỷ đồng thì năm 2013 đạt 133,03 tỷ đồng [7]
Trang 221.1.2.5 Hoạt động dịch vụ du lịch
Trong những năm gần đây, tình hình hoạt động của dịch vụ - du lịch, nhà hàng - khách sản nhìn chung phát triển khá Hệ thống các nhà hàng khách sạn các khu du lịch được chú trọng đầu tư, nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng ngày càng hiện đại và tiện nghi để đáp ứng được nhu cầu của cả khách du lịch trong nước và khách quốc tế
Với lợi thế về địa hình, Vĩnh Phúc có tiềm năng về du lịch núi cao và du lịch sinh thái với nhiều dự án được đầu tư và triển khai xây dựng như dự án khu du lịch Bắc Đầm Vạc, dự án khu du lịch Đại Lải, dự án khu lịch Trại Ổi, dự án Sân Golf Tam Đảo
Số lượng khách du lịch đến với Vĩnh Phúc tăng trung bình 12,2%/ năm
trong giai đoạn 2004 - 2013 Tổng doanh thu từ du lịch tăng mạnh trong những năm gần đây, năm 2004 đạt 200 tỷ đồng thì năm 2013 đạt tới hơn 743 tỷ
đồng(doanh thu chủ yếu là từ kinh doanh khách sạn - nhà hàng, dịch vụ ăn uống) Trong thời kỳ 2004 – 2013 doanh thu bình quân ngành du lịch tăng 16,8%/năm [7]
1.1.2.6 Hoạt động lâm nghiệp [7]
Giai đoạn 2004 - 2013, tỷ trọng của ngành lâm nghiệp tiếp tục giảm trong cơ cấu giá trị sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp Năm 2004 tỷ trọng của ngành lâm nghiệp chiếm 2,47% nhưng đến năm 2013 giá trị này chỉ còn 1,1% trong giá trị sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp Tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh là 32.199,13ha,
độ che phủ tự nhiên khoảng 26%, thấp hơn mức bình quân chung của cả nước Trong đó, đất có rừng chiếm 28.178,76ha và đất chưa có rừng chiếm 5.020,57ha
Trong giai đoạn năm 2008-2013, thực hiện theo dự án phủ xanh đất trống đồi chọc của Nhà nước và của Tỉnh đã trồng được 1000ha rừng tập trung và 90ha rừng phân tán Giống cây rừng chủ yếu là cây keo, cây bạch đàn, thông, lim…với nguồn vốn đầu tư từ chương trình 327, chương trình 661 và huy động bằng vốn vay 264
và nguồn vốn trong dân
1.2 Tổng quan về tình hình biến đổi khí hậu
1.2.1 Khái niệm về Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây
ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi và sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống kinh
tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người (Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu)
Biểu hiện của sự nóng lên của trái đất là sự tăng nhiệt khí quyển và đại dương, sự băng tan hai cực của địa cầu, từ đó dẫn đến mực nước biển trên toàn trái đất dâng cao
Trang 23Các quan trắc cho thấy rằng nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các vĩ độ cực Bắc Trong 100 năm qua (1906 – 2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu
đã tăng khoảng 0,74O
C, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi
so với 50 năm trước đó [3]
Lượng mưa toàn cầu có xu thế tăng dần lên ở khu vực phía Bắc (tại vĩ độ
30OB) thời kỳ 1901–2005 và giảm đi ở các khu vực vĩ độ nhiệt đới kể từ giữa những năm 1970 Ở khu vực nhiệt đới, mưa giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số
xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901–2005 Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, lượng mưa tăng lên rõ rệt ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á [3]
Trong vòng 200 năm trở lại đây, thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với đó là việc thải một lượng lớn các khí nhà kính
CO2, CFCs, NO2 vào bầu khí quyển gây hiện tượng tăng cường hiệu ứng nhà kính, làm cho nhiệt độ của Trái đất tăng lên Sự nóng lên của hệ thống khí hậu đã
rõ ràng được minh chứng thông qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt
độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp tuyết phủ và băng, làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu [2]
Theo các nhà khoa học về biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng cho thấy, đại dương đã nóng lên đáng kể từ cuối thập kỷ 1950 Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời
kỳ 1961 - 2003 đã dâng với tốc độ 1,8 0,5 mm/năm, trong đó, đóng góp do giãn
nở nhiệt khoảng 0,42 0,12 mm/năm và tan băng khoảng 0,700,50 Nghiên cứu cập nhật năm 2009 cho rằng tốc độ mực nước biển trung bình toàn cầu dâng khoảng 1,8 mm/năm [2]
Trong những năm qua, số lượng các trận bão không thay đổi nhưng số trận bão cường độ mạnh với sức tàn phá lớn đã tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là khu vực Bắc Mỹ, phía Tây Nam của Thái Bình Dương, khu vực Ấn Độ Dương, bắc Đại Tây Dương Ngoài ra, số các trận bão lớn, lốc xoáy có cường độ mạnh tăng gấp đôi, xu thế này trùng hợp với tình hình nhiệt độ bề mặt đại dương tăng lên Minh chứng điển hình là trận sóng thần ở Ấn Độ Dương (2004) cướp đi sinh mạng 225.000 người thuộc 11 quốc gia, hay cơn bão Katrina đổ bộ vào nước Mỹ (2005) gây thương vong lên đến hàng ngàn người và thiệt hại kinh tế ước tính 25 tỷ USD Gần đây nhất “siêu bão” Nargis tại Myanmar (2008) là thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất năm qua tính theo số lượng người thiệt mạng Một nghiên cứu với xác suất lên tới 90% cho thấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm 2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất [2]
1.2.2 Tình hình BĐKH tại Việt Nam nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng
1.2.2.1.Tình hình BĐKH tại Việt Nam nói chung
Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam có những điểm nổi bật sau sau:
Trang 24- Về nhiệt độ: Trong khoảng từ 1951 - 2000 nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,7o
C Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với nhiệt độ vào mùa hè, nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn so với nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là các vùng như Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1,3 – 1,5oC/50 năm) Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ có nhiệt độ tháng 1 tăng chậm hơn
so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0,6-0,9oC/50 năm) Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5 – 0,6oC/50 năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0,3oC/50 năm [3]
- Về lượng mưa: Xu thế biến đổi của lượng mưa trong những năm từ 1911 đến 2000 không mấy rõ rệt cả về không gian và thời gian, có giai đoạn tang nhưng cũng có những giai đoạn giảm [1]
- Về mực nước biển: Theo số liệu quan trắc ở các trạm Cửa Ông và trạm Hòn Dấu trong khoảng 50 năm qua, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20 cm [1]
- Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam: số đợt không khí lạnh giảm
đi rõ rệt trong hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI) Năm 1994 và năm 2007 chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm
2008 gây thiệt hại lớn cho nền nông nghiệp [1]
- Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn [1]
- Số ngày mưa phùn: Số ngày mưa phùn trung bình năm (ở Hà Nội) giảm dần trong khoảng những năm 1981 đến 1990 và số ngày mưa phùn chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong khoảng 10 năm trở lại đây [1]
1.2.2.2 Tại Vĩnh Phúc [5]
Theo các kết quả thu được tại các trạm thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, các yếu tố khí
hậu có sự thay đổi biểu hiện như sau:
Nhiệt độ:
+ Nhiệt độ ở trạm Vĩnh Yên ở cả mùa mưa, mùa khô và trung bình cả năm cóa
xu thế tăng dần, đặc biệt nhiệt độ tăng mạnh nhất vào mùa khô
+ Trong giai đoạn từ 1973 đến 2013 nhiệt độ trung bình cả năm tăng khoảng 0,7oC, nhiệt độ trung bình mùa mưa tăng 0,35oC, đặc biệt là vào mùa khô nhiệt độ trung bình tăng 1,05o
C
Lượng mưa:
Trang 25+ Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.400 đến 1.600 mm, phân bố không đồng đều theo không gian và thời gian Về thời gian, mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80 % tổng lượng mưa của cả năm Lượng mưa ở miền núi thường lớn hơn ở đồng bằng và trung du, tại trạm Vĩnh Yên (địa hình đồng bằng và trung du) lượng mưa trung bình cả năm ở là 1.574,8mm, trong khi đó tại trạm Tam Đảo ( địa hình đồi núi) có lượng mưa là 2.838,2 mm
+ Lượng mưa trung bình năm tỉnh Vĩnh Phúc có xu hướng giảm Tuy nhiên, lượng mưa không giảm đều ở tất cả các tháng mà có xu hướng giảm mạnh vào mùa mưa (khoảng 20-40mm) và tăng nhẹ vào tháng 1,2,3 trong mùa khô (khoảng 5-10mm)
Độ ẩm:
Độ ẩm tương đối trung bình năm của thời kỳ gần đây (1991 - 2010) có xu hướng cao hơn thời kỳ 1971 - 1990 rõ rệt, khoảng 3 - 4% Mức tăng độ ẩm tương đối trong mùa hè lớn hơn so với các mùa còn lại Độ ẩm tương đối trung bình mùa
hè thời kỳ 1991 - 2010 cao hơn so với thời kỳ 1971 - 1990 là 4 - 7%, trong khi mùa đông là 2 - 4%, mùa xuân là 2 - 4%, mùa thu 2 - 5%
Bốc hơi
Trong thời kỳ 1993 - 2013, lượng bốc hơi trung bình năm giảm với tốc độ
2 - 4mm/năm so với thời kỳ 1973 - 1993 Mức chênh lệch về trị số lượng bốc hơi trung bình năm giữa hai giai đoạn là 17 - 162mm