-Ba là lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững..Để phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của CNH,HĐH cần đặc biết chú ý đến phát tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : Cô Đào Thị Bích Hồng
NHÓM :02
HỌ VÀ TÊN :
Trần Thùy Dung
Chu Thị Kim Ngân
Phạm Thị Thùy An
Lê Đức Đạo
Nguyễn Quang Thảo
Đỗ Doàn Thương Tín
91100546 91102187 91100033 21000598 91103255 91103631
Trang 2Đề tài 4:
Làm rõ những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong quá trình hiện đại hóa hiện nay.
Để kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững cần phải làm gì?
Giải quyết vấn đề giáo dục-đào tạo tại Việt Nam
I) Phân tích mục tiêu quan điểm của đảng về công nghiệp hóa và hiện đại hóa
1.2 Quan điểm CNH,HĐH
Một là CNH gắn với HĐH vàCNH,HĐH gắn với phát triển tri thức.Thế giới đã trải qua 2
cuộc CM kĩ thuật Xét trên khía cạnh lịch sử CNH và HĐH là 2 quá trình tách rời nhau,CNH rồi đến HĐH Tuy nhiên, VN và những quốc gia đi sau như VN chưa có sự kết hợp CNH và HĐH là
do trình độ LLSX trong nước còn thấp kém.Nền kinh tế thế giới đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ chuyển từ nền kinh tế công nghệ sang kinh tế tri thức Để tránh khỏi tình trạng tụt hậu các nước đi sau như VN phải có sự kết hợp CNH với HĐH, đồng thời gắn quá trình CNH,HĐH với kinh tế tri thức.
-Hai là,CNH,HĐH gắn với phát triển kinh tế chính trị thường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế ,CNH HĐH không phải chỉ là việc của nhà nước mà là việc của toàn dân,
của mọi thành phần kinh tế trong đó nhà nước là chủ đạo Phương thức phân bổ nguồn lực để CNH được thực hiện bằng cơ chế thị trường là chủ yếu.Hội nhập kinh tế quốc tế mở rộng quan
hệ quốc tế đối thoại nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài thu hút công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.
-Ba là lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Để phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu của CNH,HĐH cần đặc biết chú ý đến
phát triển giáo dục đào tạo.Nguồn nhân lực cho CNH,HĐH đòi hỏi phải đủ số lượng,cân đối về
cơ cấu và trình độ,có khả năng nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới và có khả năng sáng tạo công nghệ mới
Bốn là,khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của CNH và HĐH.Khoa học và công
nghệ có vai trò quyết định tăng năng suất lao động,giảm chi phí sản xuất,nâng cao lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung Nước ta đi lên CNXH từ 1 nền kinh tế kém phát triển,khoa học công nghệ ở trình độ thấp.Muốn đẩy nhanh quá trình CNH,HĐH gắn với phát
Trang 3triển kinh tế trí thức thì phát triển khoa học và công nghệ là yêu cầu tất yếu và bức xúc Phải đẩy mạnh việc chọn lọc nhập công nghệ,mua sáng chế kết hợp với phát triển công nghệ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ,nhất là công nghệ thông tin,công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới.
-Năm là phát triển nhanh,hiệu quả và bền vững tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,bảo vệ môi trường tự nhiên,bảo tồn đa dạng sinh học Xây
dựng CNXH ở nước ta thực chất là thực hiện mục tiêu dân giàu,nước mạnh,xã hội công bằng,dân chủ văn minh Để thực hiện mục tiêu đó,trước hết kinh tế phải phát triển nhanh,hiệu quả và bền vững Chỉ có như vậy mới có khả năng xóa đói giảm nghèo nâng cao đời song vật chất,tinh thần của nhân dân,phát triển văn hóa giáo dục y tế rút ngắn khoẳng cách chênh lệch giữa các vùng Mục tiêu đó thể hiện sự phát triển vì con người,mọi người đều hưởng thành quả của phát triển
Sự phát triển nahnh, hiệu quả và bền vững có quan hê chặt chẽ với bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học
II) Để thực hiện quan niệm này qua các kỳ đại hội đảng đã ra nhưng chỉ đạo cụ thể sau 2.1 Nghị quyết số 04 - NQ/HNTW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, ngày 14 tháng 01 năm 1993
Những quan điểm chỉ đạo Những chủ trương, chính sách và biện pháp lớn
1 Tập trung phổ cập giáo dục:
• Giáo dục và đào tạo đã được Đại hội VII xem là quốc sách hàng đầu
Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế
tiến bộ của thời đại.
Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời
là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân
• Mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức
Chính sách:
Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước
Củng cố các trường công, chuyển một số trường công sang bán công.
Khuyến khích mở các trường lớp dân lập
Năm 1990, lần đầu tiên (sau năm 1975) một số trường bán công và dân lập mới được cho phép thành lập.
Cho phép mở trường lớp tư thục ở giáo dục mầm non, giáo dục chuyên nghiệp (bao gồm
Trang 4dạy nghề và trung học chuyên nghiệp), giáo dục đại học Không mở trường lớp tư thục ở giáo dục phổ thông
• Đa dạng hoá các hình thức đào tạo Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục:
Người đi học phải đóng học phí, người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học
• Củng cố và phát triển ngành giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và những vùng khó khăn
2- Sắp xếp lại hệ thống các trường nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, sử dụng cơ sở vật chất
và đội ngũ giáo viên
• Thực hiện miễn học phí ở bậc tiểu học.
• Đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục cấp 2, nhất là ở các đô thị.
• Hình thành từng bước các trường lớp trọng điểm có chất lượng
• Giáo dục phổ thông liên kết với giáo dục chuyên nghiệp; hình thành cấp trung học
chuyên ban Đào tạo lực lượng công nhân lành nghề bậc cao.
• Đổi mới giáo dục bổ túc và đào tạo bồi dưỡng tại chức
• Tăng cường công tác thanh tra giáo dục của Nhà nước
tăng cường quyền tự chủ của cơ sở, nhất là các trường đại học, mở rộng dân chủ trong nhà trường
3- Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ, nghiên cứu những vấn đề về khoa học giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển sự nghiệp giáo dục
Nhận xét: Đại hội khóa VII, đã xác định đúng các mặt còn yếu kém trong giáo dục và đào tạo
Xác định nhiệm vụ trọng tâm là phổ cập giáo dục phổ thông vì vậy giáo dục bậc cao (Đại học, Cao học) trong giai đoạn này chưa có sự quản lí, đầu tư cần thiết.
Nhưng đặt mục tiêu quá cao.
2.2 Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và nhiệm vụ đến năm 2000
Nhận định thực trạng giáo dục và đào tạo tài HNBCHTUD VIII
Thành tựu:
Quy mô giáo dục tăng mạnh, số lượng học sinh, sinh viên tăng trên cả nước.
Hạn chế:
Ngoài những vấn đề Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tự kiểm điểm:
Trang 5• Cơ chế quản lý của nghành giáo dục - đào tạo chưa hợp lý, có tình trạng vừa ôm đồm
sự vụ, vừa buông lỏng chức nǎng quản lý nhà nước;
• Giáo dục - đào tạo chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn với gia đình và xã hội.
Quan điểm chỉ đạo mới so với Đại hội VII
Thực sự coi giáo dục - đào tạo, là quốc sách hàng đầu
• Tǎng dần tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo để đạt được 15% tổng chi ngân sách vào nǎm 2000
Các ngân hàng lập quỹ tín dụng đào tạo cho con em các gia đình có thu nhập thấp, trước hết ở nông thôn và các vùng khó khǎn, cho vay với lãi xuất ưu đãi, để có điều kiện học tập ở các trường đạo học chuyên nghiệp dạy nghề.
• Lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp
và có thêm chế độ độ phụ cấp tuỳ theo tính chất công việc, theo vùng do Chính phủ quy định Có chế độ ưu đãi và quy định hợp lý tuổi nghỉ hưu đối với giáo viên cũng như các trí thức khác có trình độ cao
Thay đổi cách quản lí giáo dục – đào tạo
• Cốt lõi là nhà trường công lập
• Nhà nước thống nhất quản lý, từ nội dung chương trình, quy chế học, thi cử, vǎn bằng,
tiêu chuẩn giáo viên, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình.
• Ban hành Luật giáo dục.
Năm 1998, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mới có luật giáo dục (gồm 110 điều khoản) Điểm đặc biệt là cấp tiểu học được coi là nghĩa vụ.
• Định rõ trách nhiệm, tǎng thêm quyền chủ động cho các cơ sở đào tạo, nhất là các
trường đại học.
• Mới : Hợp tác giáo dục nước ngoài
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước giúp đỡ phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam Phần tài trợ cho giáo dục - đào tạo mọi hình thức sẽ được khấu trừ trước khi tính thuế lợi tức, thuế thu nhập
Dành ngân sách nhà nước thoả đáng để cử những người giỏi và có phẩm chất tốt đi đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt ở những nước có nền khoa học, công nghệ phát triển
Khuyến khích đi học nước ngoài bằng con đường tự túc, hướng vào những nghành mà đất nước đang cần, theo quy định của nhà nước
Nhận xét
Hội nghị khóa VIII đưa ra nhận định thực trang, nhận sai lầm, nhưng các chỉ đạo lại chưa giải
Trang 6quyết được
Điểm mới là tăng cường ngân sách mạnh cho giáo dục Khuyến khích học sinh, sinh viên du học.
2.3 Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26 tháng 7 năm 2002 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2005 và đến năm 2010
• Tiếp tục thực hiện nghị quyết từ khóa VIII
• Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD ngày 5/6/2006 của Bộ GD&ĐT về kế hoạch đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
• Ngày 27/6/2005, luật giáo dục thứ hai được ban hành
Điểm mới trong chỉ đạo:
Rất chú trọng về lãnh vực đào tạo khoa học công nghệ
2.4 Thông báo kết luận số 242-TB/TW ngày 15-4-2009 của Bộ Chính trị khóa X về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
2.5 Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 Hội nghị lần thứ sáu khóa XI về Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
Điểm mới trong tập trung chỉ đạo:
• Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề trong cả nước Chỉ đạo chặt chẽ việc cho phép thành lập các trường đại học, cao đẳng mới, bảo đảm yêu cầu về chất lượng theo quy định của Luật Giáo dục đại học và các quy định của pháp luật Đánh giá
và có giải pháp phù hợp để triển khai bảo đảm hiệu quả, khách quan việc xây dựng các đại học trọng điểm, trường đại học và dạy nghề đạt trình độ khu vực và quốc tế Xử lý kiên quyết các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật
• Chuẩn bị đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015
Kết Luận:
Từ sau đại hội VIII, Đảng và nhà nước luôn xác định Giáo dục & Đào tạo là quốc sách.
Tuy nhiên, những vấn đề còn tồn tại từ đại hội VII đến nay vẫn chưa khắc phục được.
III) Thực tiễn trong vấn đề dạy và học ở bậc giáo dục phổ thông
“BỆNH THÀNH TÍCH TRONG HỌC TẬP VÀ THI CỬ”
3.1 Nguyên nhân:
Trang 7Phần lớn giáo viên vẫn còn dạy theo kiểu « đọc chép » ngay cả khi triển khai bài dạy trên trình chiếu « tin học » ; vẫn coi trọng việc truyền thụ kiến thức, xem nhẹ thực hành rèn luyện kỹ năng theo 6 cấp độ phát triển tư duy của Bloom; dạy học chạy theo điểm số, đối phó thi cử
- Không ít giáo viên chưa biết tập trung khai thác trọng tâm bài dạy ; lúng túng trong khâu tổ chức quản lí làm việc nhóm ; vụng về trong lúc giao nhiệm vụ và đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của học sinh
- Hầu hết học sinh làm việc thụ động, thiếu tự giác, sáng tạo trong khám phá, tiếp thu bài mới ; học chạy theo điểm số, đối phó thi cử ; học tủ, học lệch, đầu tư chủ yếu vào kiến thức trong sách giáo khoa ; không có nhu cầu, thói quen và năng lực hợp tác ; còn yếu về kỹ năng sống và thiếu thích nghi vào môi trường & hoàn cảnh mới
- Không khí giờ học còn nặng nề, giáo viên nói và làm việc nhiều, tiến trình bài dạy đơn điệu, thiếu các hoạt động tương tác đa chiều, không hấp dẫn lôi cuốn đa số học sinh tích cực tham gia vào bài dạy đặc biệt là nhóm yếu kém
Nguyên nhân thực trạng trên có thể quy kết từ nhiều lý do :
- Do chưa xác định được cụ thể khung chuẩn kiến thức & năng lực cần hình thành cho học sinh nên chương trình khung & sách giáo khoa cũng như phương thức kiểm tra đánh giá, tuy đã có nhiều đổi mới về nội dung- phương pháp, nhưng vẫn coi trọng vai trò của kiến thức hơn kỹ năng Vì thế dung lượng kiến thức nặng, còn nhiều kiến thức
« kinh điển » thừa so với yêu cầu vận dụng thực hành thực tế ngoài xã hội ; số lượng môn học đưa vào chương trình quá nhiều kiến học sinh không còn đủ thời gian tự học, trau dồi kỹ năng
- Việc kiểm tra đánh giá còn nặng về điểm số, chú trọng chức năng tổng kết hơn là chức năng điều chỉnh, thiếu thông tin phản hồi từ bên ngoài (từ học sinh, đồng nghiệp, phụ huynh, v.v…)
- Thời lượng trên lớp không đủ để học sinh nắm vững kiến thức, thực hành vận dụng, rèn luyện kỹ năng
- Điều kiện dạy học thiếu hoặc không thích ứng với nội dung và nhất là với phương pháp mới (thiếu trang thiết bị, phòng thực hành, lớp quá đông, v.v…)
- Chưa chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học cũng như phát triển năng lực đa ngành, năng lực hợp tác, kỹ năng sống và giải quyết vấn đề nơi đội ngũ giáo viên và cho học sinh (thiếu sự phối hợp giữa các giáo viên bộ môn, giữa các tác nhân chính của quá trình giáo dục để hình thành các năng lực làm việc)
Trang 8- Cơ chế quản lí dạy học thiên về hành chính hơn là chuyên môn (chưa coi trọng đầu
tư các hoạt động chuyên môn từ khâu kế hoạch hoá đến khâu theo dõi, chỉ đạo chuyển biến chuyên môn của đội ngũ và của học sinh, thiếu các giải pháp để kích lệ sự tiến bộ
cá nhân & tập thể, v.v…)
- Thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình-học đường-xã hội để giải quyết vấn đề về nâng cao chất lượng dạy học (sự kết hợp thường chỉ chú trọng đến vấn đề tài chính & điều kiện vật chất)
Bên cạnh các yếu tố khách quan, bản thân giáo viên và học sinh còn có những hạn chế chủ quan về nhận thức và thói quen thực hành phương pháp mới
- Thói quen làm việc thụ động, thái độ « thờ ơ » trước yêu cầu đổi mới tạo ra « sức ì » ngăn cản họ nắm bắt một cách « tự giác, năng động, sáng tạo » các quan điểm, phương pháp, kỹ thuật dạy-học mới để hình thành nhận thức và thói quen tác nghiệp mới Vì vậy họ tiếp thu các nội dung và phương pháp đó một cách máy móc theo hai khuynh hướng : Một là theo lối mòn cũ (phương pháp truyền thống), hai là dạy-học bám vào sách giáo khoa và sách giáo viên (phương pháp mới) nhưng thiếu tư duy sáng tạo và năng lực thích ứng với tình huống mới, trước đối tượng đa dạng
- Để giải quyết mâu thuẫn giữa sự quá tải về nội dung và thời lượng hạn chế trên lớp,
họ phản ứng hoặc bằng cách « cắt xén » nội dung, hoặc chạy đua thời gian bằng cách trung thành với phương pháp « đọc chép » để hoàn thành bài dạy, đảm bảo chương trình, đối phó với điểm số, thi cử thay vì dạy kỹ năng cho học sinh Đây chính là một trong những nguyên nhân làm bài học khó hiểu khiến số học sinh yếu kém chán nản, học chiếu lệ hoặc phải đi học thêm
3.2 Giải pháp:
Để khắc phục tình trạng hiện nay, ngành giáo dục phải tiến hành khảo sát thực trạng, nghiên cứu tìm ra hướng đổi mới chương trình giáo dục:
1 Giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học và nhu cầu phổ cập giáo dục:
Không nên tập trung vào việc dạy thật nhiều, mà nên chú trọng dạy cách đánh giá, nhìn nhận vấn đề, khoa học cơ bản
Chương trình cấp 3 nên có nhiều môn lựa chọn, để thích hợp với sở thích, năng lực từng cá nhân Kết hợp với định hướng nghề nghiệp, tuyên truyền cho gia đình phụ huynh về quan niệm sống có mơ ước, lý tưởng, tiền bạc không phải thước đo giá trị con người
Trang 92 Xây dựng cơ chế quản lí dạy học mới ở cơ sở (Sở/Phòng/Trường), đảm bảo mối
quan hệ tương tác giữa quản lí hành chính (đánh giá theo tiêu chí ISO) và quản lý chất lượng giáo dục (theo các tiêu chí của PISA)
Việc thực hiện chính sách từng bước giao quyền tự chủ cho đơn vị, qui định rõ thẩm quyền, quyền lợi và nghĩa vụ cho từng chức danh cụ thể trong hệ thống cán bộ, công chức, viên chức giáo dục là cơ sở ban đầu đổi mới bộ máy quản lí giáo dục « năng động » theo trào lưu « trường học hiệu quả » đang thịnh hành ở các nước tiên tiến
Bỏ bớt kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông gây tốn kém và lãng phí xã hội: Vì tỉ
lệ đậu tốt nghiệp lúc nào cũng gần như tuyệt đối, nên tham khảo các hình thức đánh giá học sinh ở các nước khác
Ví dụ: tại Mĩ, các môn thi được ra đề bởi một cục khảo sát riêng biệt với hệ thống giảng dạy, đào tạo Các môn thi được tổ chức rải đều trong năm, học sinh có thể đăng kí thi bất kì lúc nào, như vậy sẽ không tạo áp lực thi cử khi thi tập trung và chỉ được tham gia thi một lần
Nên quay lại xét tuyển đại học như hình thức trước đây Việt Nam áp dụng là giao quyền xét tuyển, ra đề thi cho từng trường Đại học, với các môn thi linh động theo từng ngành nghề, như vậy trường Đại học mới tìm được đúng đối tượng để mình đào tạo Tuy nhiên, tăng cường công tác thanh tra, quản lí, để không dẫn đến tình trạng “lót tiền vào cửa”, mua bằng Mà việc này càng khó thực hiện khi trong những năm gần đây, Đại học Việt Nam nở rộ một cách không kiểm soát