1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

www.tinhgiac.com 6017 trau cau trong doi song v

14 93 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và cũng vì sự tích Trầu Cau có ý nghĩa sâu sắc như thế nên tục ăn trầu của dân ta đã được thăng hoa, trở thành một mỹ tục mang tính chất đặc thù của một nền văn minh cổ Ðông Nam Á.. Ngườ

Trang 1

Trầu Cau Trong Ðời Sống Văn Hóa Dân Tộc (phần I)

[07/07/2007 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]

G.S Phạm Thị Nhung

Ngày nay, qua nhiều sách vở và các tài liệu khảo cổ, người ta được biết trầu cau là hai loại cây

đã xuất hiện rất lâu đời ở các vùng Trung Ấn, Ðông Nam Á và ở một số quần đảo trên Thái Bình Dương; như trong di chỉ khảo cổ thuộc văn hóa Hòa Bình, hạt cau đã được tìm thấy trên dưới một vạn năm (1) Tại các nơi đây đã có nhiều dân tộc có tục ăn trầu như các dân tộc thiểu số xưa ở miền nam nước Trung Hoa (kể từ lưu vực sông Dương tử trở xuống), tức người Trung Hoa miền nam ngày nay, các dân tộc Thái Lan, Miến Ðiện, các dân tộc Việt-Mên-Lào,

kể cả các dân tộc thiểu số như người Thái, Tày, Nùng, Mường, Dao, Thượng trên bán đảo Ðông Dương, cùng các dân tộc trên quần đảo Nam Dương, Mã Lai, Phi Luật Tân; và ở Ấn Ịộ cũng có nhiều nơi dân chúng có tục ăn trầu (2)

Có lẽ người xưa, do kinh nghiệm mà có, đã biết sử dụng vôi, trầu, cau, cũng như các loại lá,

rễ, quả của nhiều thứ cây khác tìm được để bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa hay trị bệnh Quả thực, ăn trầu đã giúp cho cơ thể được ấm nóng chống lạnh, chống sơn lam thủy khí; ăn trầu lại sạch miệng, răng lợi và xương cốt được bồi dưỡng, vững mạnh

Sự tích trầu cau - Ý nghĩa

Riêng tại xứ ta, tục ăn trầu tất nhiên đã có rất sớm, ngay tục dùng trầu cau làm sính lễ cưới hỏi thay muối (vì người xưa cho muối là quí nhất) có thể cũng có đã lâu, nhưng chưa biết bắt đầu từ thời điểm nào Phải đợi đến cuối thế kỷ thứ XV, sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp ra đời, nó mới được ghi chép lại thành một truyện tích rõ ràng, có một nguồn gốc mang nhiều ý nghĩa thâm thúy

Theo tài liệu của Bùi Văn Nguyên, dịch giả cuốn Tân Ðính Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh, thì Trần Thế Pháp trong bài đề tựa sách của mình, có cho biết, chính ông là người đã sưu tập được cuốn Lĩnh Nam Chích Quái Lục, bản gốc, của một tác giả khuyến danh, có lẽ khởi thảo vào đời Trần Sách chép những chuyện huyền hoặc, quái dị trong nước từ xưa đến nay, căn cứ vào lời kể của dân gian và chỉ được phổ biến trong từng địa phương

Ðược sách, họ Trần bèn nghiên cứu cho sáng tỏ đầu đuôi sự việc rồi chép lại, có sắp xếp và chỉnh lý về nội dung một số truyện

Sau đó, tác giả Vũ Quỳnh rồi Kiền Phú (đời hậu Lê) cũng dựa vào bản gốc để viết lại

L.N.C.Q theo sự sắp đặt riêng của mình Ịặc biệt trong cuốn Tân Ịính L.N.C.Q., Vũ Quỳnh đã

bổ xung nhiều chi tiết, thêm nhiều truyện mới và viết bằng một hình thức mới mẻ, hấp dẫn hơn

Sự tích Trầu Cau trong L.N.C.Q đã có nội dung như thế nào?

Vào thời xa xưa, có hai anh em nhà họ Cao, một người tên Tân, một người tên Lang (tân lang

có nghĩa là cây cau) rất mực thương yêu nhau Khi cha mẹ qua đời, hai anh em đến trọ học nhà ông thầy họ Lưu

Thấy Tân và Lang vừa học giỏi, vừa đẹp người đẹp nết, ông thầy yêu quí như con Cô con gái của thầy cũng đem lòng quyến luyến, muốn chọn người anh làm chồng

Trang 2

Hai anh em Tân và Lang sát tuổi nhau, dung mạo lại giống nhau như khuôn đúc, cô gái không sao đoán được ai là anh, ai là em Nhân dịp biếu cháo, cô cố ý chỉ đưa tới một bát cháo với một đôi đũa rồi rình xem, thấy Lang cung kính mời Tân ăn trước cô mới biết Tân là anh, và xin cha được gá nghĩa cùng chàng

Vợ chồng Tân và Xuân Phù (tên cô gái, xuân phù có nghĩa là trầu không mùa xuân) sống rất hạnh phúc Hai anh em Tân và Lang vẫn ở bên nhau, nhưng Lang nhận thấy từ ngày anh có

vợ, tình anh đối với mình không còn quyến luyến như xưa, trong khi ấy người anh vô tình không hề hay biết Ðã thế lại xẩy ra chuyện hiểu lầm Một hôm hai anh em đi làm đồng về muộn, Lang về trước, nàng Lưu tưởng chồng, chạy ra vồn vã âu yếm Lang vội lên tiếng, cả hai đều biết là nhầm nên rất ngượng Tân về,biết chuyện để dạ nghi ngờ, từ đó tỏ ra lạnh nhạt với em hơn

Lang buồn tủi âm thầm bỏ nhà ra đi Chàng lang thang trong rừng cho tới khi kiệt sức, chết đi hóa thân thành cây cau bên bờ suối vắng

Thấy em không về, Tân ân hận, xót xa Chàng lặng lẽ lên đường tìm em Tân cũng đã tới bờ suối nọ, ngồi bên cây cau than khóc Khi thân xác rũ liệt, chàng chết hóa thân thành tảng đá vôi, nằm sát bên gốc cau

Nàng Lưu chờ chồng mãi chẳng thấy trở về, quá nhớ thương nên lại đi tìm Một chiều kia nàng cũng tới được bờ suối định mệnh Nàng ngồi trên tảng đá khóc miết đến khi hồn lìa khỏi xác thì hóa thân thành cây trầu không, leo bám trên thân đá

Gia đình họ Lưu đi tìm con, được biết chuyện bèn lập miếu thờ Người đương thời rất cảm kích trước tình anh em khăng khít, tình vợ chồng thắm thiết, thủy chung của anh em vợ chồng

họ Cao nên thường đến đốt nhang, chiêm bái, cầu cúng (3)

Một hôm vua Hùng thứ tư nhân dịp tuần du qua đấy, thấy có miếu thờ, lại được dân sở tại kể cho nghe câu chuyện thương tâm kia thì vô cùng cảm động Ngài bảo lấy trầu cau ăn thử mới khám phá ra một mùi vị thơm cay, nồng ấm, và khi nhổ nước cốt trầu xuống tảng đá vôi lại thấy hiện ra sắc đỏ tươi như máu, nhà vua cho là quý bèn truyền lấy giống về trồng, xa gần bắt chước làm theo Ngài còn xuống lệnh cho thần dân từ nay sẽ nhất thiết dùng trầu cau trong các dịp cưới hỏi, và trong các buổi hội họp lớn, nhỏ Tục ăn trầu ở nước ta có từ đó

Sau khi đọc sự tích Trầu Cau trong Lĩnh Nam Chích Quái, ta nhận thấy, truyện được ghi chép lại không những có kết cấu chặt chẽ, lại phối hợp được cả hai yếu tố hiện thực lẫn huyền hoặc một cách khéo léo Như thế , các tác giả của nó đã khiến một câu chuyện truyền khẩu vụn vặt, còn mờ nhạt trong dân gian trở thành một truyện cổ tích có đầu đuôi, vừa lý thú hấp dẫn, vừa hàm chứa nhiều ý nghĩa thâm thúy

Quả vậy, ở giai đoạn đầu, truyền có tính hiện thực với dấu vết thời đại, với những tên tuổi rõ ràng, có ý nghĩa, với những tình tiết hợp tình, hợp lý, tự nhiên Ở giai đoạn cuối, truyện trở nên huyền hoặc: hai anh em họ Cao và vợ người anh vì không hiểu nhau nên đã tự chia lìa Chỉ đến khi cả ba người cùng chết đi và chết bên nhau, người em hóa cây cau, người anh hóa phiến đá vôi và vợ người anh hóa cây trầu không, họ mới có được sự cảm thông hoàn toàn; từ nay họ sẽ mãi mãi gắn bó bên nhau và kết hợp thành một qua miếng trầu tình nghĩa Ở đó, một dòng nước đỏ tươi như máu được tiết ra, tượng trưng cho tình gia đình muôn đời thiêng liêng, bền chặt

Trần Thế Pháp, cũng như các tác giả đời Lê khác, khi viết lại sự tích Trầu Cau nói riêng, dàn

Trang 3

dựng lại những huyền thoại dân gian trong Lĩnh Nam Chích Quái nói chung, hiển nhiên đã có hậu ý đề cao những giá trị cũ của dân tộc, với mục đích phổ biến để giáo dục con em theo tinh thần 24 điều dụ của vua Lê Thánh Tông (4) Có lẽ bắt đầu từ đấy (cuối thế kỷ XV) các truyện

cổ tích, thần thoại nói chung, truyện Trầu Cau nói riêng mới được truyền bá rộng rãi trong toàn quốc Riêng trong sự tích Trầu Cau, ta thấy các tác giả muốn giải thích cho mọi người hiểu rằng, dân tộc ta đã có một đời sống văn hóa khá cao ngay từ thuở xa xưa, từ thời Hùng Vương kia (theo Ðại Việt Sử Lược, vào khoảng thế kỷ thứ VII trước Tây lịch) (5) Ngay từ thuở đó xã hội Việt Nam đã có truyền thống lấy gia đình làm gốc, anh em biết thương quý nhau, trên kính dưới nhường; vợ chồng lấy nhau vì tình vì nghĩa, và người đàn bà đã biết trọn niềm chung thủy son sắt với chồng Không phải đợi đến khi người Trung Hoa sang đô hộ nước ta, giáo hóa ta, dân ta mới biết thế nào là hiếu đễ, thế nào là tiết nghĩa

Và cũng vì sự tích Trầu Cau có ý nghĩa sâu sắc như thế nên tục ăn trầu của dân ta đã được thăng hoa, trở thành một mỹ tục mang tính chất đặc thù của một nền văn minh cổ Ðông Nam

Á Mỹ tục ăn trầu này đã gắn liền với những sinh hoạt văn hóa, từ đời sống vật chất hằng ngày đến đời sống tinh thần của dân ta trước kia như thế nào?

Ðể tìm hiểu, chúng ta tất phải dựa một phần lớn vào những tài liệu có từ ngàn xưa, đó chính là loại văn chương bình dân truyền khẩu của dân tộc: thành ngữ, tục ngữ, ca dao và dân ca vậy

1 Trầu cau nơi quê hương

Chúng ta đều biết, xưa kia trầu cau là hai loại cây được trồng khắp nơi trên quê hương đất nước để lấy lá, lấy trái dùng hằng ngày Từ vua quan cho chí thứ dân, từ đàn ông cho chí đàn

bà, ai ai cũng thích nhai trầu; nhiều người còn nghiện là đằng khác, nhất là các bà già bình dân, nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày, do đó mới có khẩu ngữ "bà già trầu"

Ðặc biệt cây cau chẳng những được dân gian quí hóa bảo nhau trồng ở sân trước nhà - chuối sau cau trước - mà ngay ở Hoàng thành, vào đời Minh Mạng (1820 - 1840), cây cau còn được chọn khắc trên đỉnh đồng, có tên Anh Ðỉnh, đỉnh thứ tư trong cửu đỉnh, được đặt trước sân Thế Miếu

Với chúng ta, hình ảnh những hàng cau thẳng tắp, cao vút (nhiều khi cao hơn 10 mét), có lá mọc thành chùm ở ngọn cây, thân lá xẻ hình lông chim, lung linh trong nắng sớm, đong đưa trước gió chiều hay in hình trên nền trời xanh thẳm vào những đêm trăng sáng; cùng hình ảnh những giàn trầu không xanh rờn với những chiếc lá to bằng bàn tay, có hình trái tim duyên dáng nơi góc vườn của nội, của ngoại đều là những hình ảnh thân quen đã in sâu vào ký ức của nhiều người Ngày nay chúng đã trở thành những hình ảnh biểu tượng cho quê hương trong nỗi nhớ, niềm thương của bầy con xa xứ

Hoa cau thì mọc thành một chùm lớn, phân nhánh, có mo bọc ngoài Khi hoa kết trái thì buồng cau nở lớn, mo cau khô, rụng xuống Câu ca dao sau đây đã mô tả hình ảnh và giới thiệu thời gian cau đơm hoa kết trái một cách thật lý thú:

- Ðầu rồng đuôi phượng te te

Mùa đông ấp trứng, mùa hè nở con

Riêng loại cau liên phòng, còn gọi là cau tứ quí thì ra trái cả bốn mùa Khi được mùa, mỗi buồng cau có đến trên trăm trái, hình bầu bầu và lớn bằng quả trứng gà

Trầu cau không chỉ được trồng để nhà dùng mà nhiều khi còn là nguồn sống của gia đình và

Trang 4

lập nên cửa nên nhà:

- Anh về cuốc đất trồng cau,

Cho em vun ké dây trầu một bên

Chừng nào trầu nọ bén lên,

Cau kia sai trái lập nên cửa nhà

Chả thế, gia đình nào có cả vườn trồng cau sinh lợi đều được kể là một trong những nhà giầu

có nơi thôn dã:

- Nhà ngói, cây mít

- Ruộng sâu, trâu nái

hay

- Vườn cau, ao cá

Ở nước ta, từ Bắc chí Nam đều có nhiều vùng nổi tiếng trồng trầu cau và sản xuất được nhiều trầu cau ngon, gửi bán đi các nơi hoặc để xuất cảng

Theo tài liệu của Ðỗ Tất Lợi, trước đây (1930) diện tích trồng cau ở ngoài Bắc ước chừng 2.500 hectare, chủ yếu là các vùng Hải Dương, Kiến An, Quảng Ninh, Nam Ðịnh và Thái Bình Ca dao cũng có câu:

- Ðồn rằng kẻ Trọng lắm cau,

Kẻ Cát lắm luá, kẻ Mau lắm tiền

Ở miền Trung, diện tích trồng cau khoảng 1.400 hectare Ịặc biệt trầu Chợ Dinh với cau Nam Phổ đã được ca dao vùng Huế Ợ Thừa Thiên ca tụng hết lời:

- Trầu Chợ Dinh với cau Nam Phổ

Non vôi cũng đỏ, thiếu vỏ cũng ngon

Hạt thơm mà xác lại giòn,

Ịược tiếng khen là phải, dậy tiếng đồn không sai

Chợ Dinh và Nam Phổ là hai đại xã nằm đối diện nhau ở hai bên bờ sông Hương, thuộc ngoại biên thành phố Huế

Trong Nam, cau được trồng nhiều ở Mỹ Tho, Bến Tre, Cần Thơ, nhưng có tiếng hơn cả là trầu cau Bà Ðiểm - Hóc Môn Bà Ðiểm - Hóc Môn, một miệt vườn ngoại thành Sài Gòn , có biệt danh là Mười Tám Thôn Vườn Trầu, chả vì cả mười tám thôn làng nơi đây dân chúng đều trồng trầu làm nghề chính Trầu trồng từ vườn nhà này tiếp nối vườn nhà kia, tạo thành một vùng trầu xanh tươi bát ngát Hiện nay, một phần do chiến tranh tàn phá, một phần do giới trẻ

bỏ hẳn tục ăn trầu nên diện tích trồng trọt tất đã giảm nhiều

2 Công dụng của trầu cau

Trầu cau rất đa dụng, nhất là cau Thân cau được dùng làm cột nhà, làm cầu, người ta bắc thành cầu khỉ hay đóng thành bè thay cầu ván Mo cau để lợp nhà, làm quạt, làm gầu tát nước, đôi khi còn để đựng đồ như gói tiền, gói vàng hay bọc thức ăn Tàu cau thì làm chổi quét sân v.v

Trong Ðông-y, ngành thuốc Nam, trầu cau được dùng làm thuốc chữa bệnh Theo Ðỗ Tất Lợi,

lá trầu giã nhỏ ép lấy nước chữa viêm mủ chân răng hoặc hòa với nước để rửa các vết lở loét,

Trang 5

mụn nhọt hay vết chàm của trẻ sơ sinh Lá trầu giã nhỏ để nguyên chất đắp lên ngực chữa ho hen, đắp lên vú cho sữa ngưng chảy

Còn cau thì vỏ cau chữa bụng đầy trướng, bí tiểu, ốm nghén, nôn mửa

Hạt cau khô giúp sự tiêu hóa, viêm ruột, sốt rét, sán lãi và bệnh chốc đầu trẻ em

Tất nhiên, công dụng chính của trầu cau là để ăn Ăn trầu vừa chắc răng, bổ xương, lại vừa ngon miệng, say sưa vui chuyện; ngoài ra ăn trầu còn để làm đẹp

Một miếng trầu được gọi là khẩu trầu gồm có một lá trầu xanh hay xanh ngả vàng têm sẵn, trong để chút vôi; cộng với một miếng cau, ngoài là vỏ xanh đậm rồi đến cùi có sợi trắng ngà, phía trong, phần trên là thịt trắng phau, dưới là hạt nhờ nhờ lòng tôm; cộng thêm một lát vỏ mỏng chuyển dần từ mầu nâu non đến phớt hồng (thường lấy từ rễ các cây chay, mít chay hay cây đề ) Nhìn mầu sắc đã thấy đẹp mắt, khi ăn vào còn có vị ngọt ngọt của cau, cay cay, thơm thơm của lá trầu (toàn thân cây trầu có tinh dầu thơm), chát chát của hạt và vỏ (có chất tanin), cùng cảm nhận được cơ thể đang nóng nóng vì vôi và đầu óc hơi choáng váng say vì trong hạt cau có chất arécoline làm kích thích thần kinh hệ

Ðã vậy, nếu còn được đệm thêm tí quế, tí hồi hay tí thuốc lào, thuốc lá thì miếng trầu ăn vào càng tăng phần kích thích, làm thêm nóng bừng cơ thể, thêm dậy hồng đôi má và thêm long lanh cặp mắt Sau nữa, nước cốt trầu có sắc màu đỏ tươi làm hồng thắm đôi môi Người phụ

nữ xưa đã biết lợi dụng những ưu điểm này của miếng trầu, nên họ ăn trầu còn để làm đẹp

Làm đẹp cũng phải biết cách và phải có nghệ thuật nữa Ðời nào chả thế, người phụ nữ xưa

"có trầu chẳng để môi thâm" đã đành, mà còn biết cách ăn hai ba miếng trầu liên tiếp nhau, tạo cho được một cặp môi đỏ có đường viền như sợi chỉ, trông thật quyến rũ, được mệnh danh

là "môi ăn trầu cắn chỉ" Khác nào ngày nay chị em bạn gái chúng ta, sau khi đã tô son trên đôi môi rồi còn lấy bút lông vẽ thêm một đường son đỏ đậm thật nhỏ quanh vành môi cho đôi môi thêm nổi

Sau hết, trầu cau được sử dụng làm phương tiện giao tiếp xã hội, biểu lộ tình cảm và được dùng làm lễ vật trong những dịp cưới xin, tang ma, cúng tế gia tiên và thần linh

3 Tục Mời Trầu

Tục mời trầu ở xứ ta cho thấy, trầu cau là phương tiện không thể thiếu trước nhất trong những nghi thức giao tế hằng ngày ngoài xã hội Vì "Miếng trầu là đầu câu chuyện", là "đầu trò tiếp khách", nên chi vừa gặp nhau, sau mấy tiếng chào hỏi, người ta liền mở trầu mời ăn rồi mới nói gì thì nói, bàn gì thì bàn:

- Có trầu thì giở trầu ra

Trước là đãi bạn, sau ta với mình

Người ta còn mời trầu để bắt chuyện làm quen:

- Tiện đây ăn một miếng trầu

Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là?

- Xưa kia ai biết ai đâu,

Chỉ vì điếu thuốc, miếng trầu nên quen

Nhất là khi tới chỗ xa lạ, muốn được đón nhận vui vẻ, người khôn ngoan phải có cơi trầu đem

ra mời chào mọi người để gây thiện cảm Nếu vì một lẽ gì mà thiếu sót thì họ sẽ vô cùng áy náy, băn khoăn:

Trang 6

- Nhẽ thì có khẩu trầu hoa

Hiềm vì chợ vắng, nhà xa thế nào

Nghĩ sao đây, hỡi anh hào

Lấy gì tiếp đãi mà chào chị em?

Lại nữa, người xưa thường cho rằng ăn trầu lúc nào là được hưởng chút hương vị cuộc đời lúc

đó, kẻo thời gian vùn vụt trôi qua, già lúc nào không biết

- Lại đây ăn một miếng trầu

Nữa mai tuyến nhuộm mái đầu huê râm

Trong phạm vi tình yêu và hôn nhân, tục mời trầu đã được người bình dân khai thác triệt để

Vì trầu cau còn là lễ vật cưới xin nên những hình ảnh, màu sắc, hương vị của trầu, cau, vôi luôn luôn gợi ý cho thanh niên nam nữ liên tưởng tới những chuyện tình yêu, chuyện duyên phận lứa đôi:

- Vào vườn hái quả cau non,

Anh thấy em giòn muốn kết nhân duyên

- Phấn trắng hơn vôi, vôi nồng phấn lạt,

Bởi anh thương nàng, mới lạc tới đây

- Vôi nồng, trầu thắm ai ơi,

Gá duyên chồng vợ ở đời trăm năm

- Trầu xanh, cau trắng, chay hồng

Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên

Thế nên việc mời trầu người khác phái nhiều khi phải hiểu là một cách tỏ tình gián tiếp, và đồng thời cũng để ướm thử xem tình cảm của người ấy đối với mình ra sao

Thường thì người con trai chủ động, mời trầu trước:

- Gặp nhau ăn một miếng trầu

Gọi là chút nghĩa về sau mà chào

và họ đã không quên lợi dụng lúc mời trầu để tán tỉnh các nàng:

- Trầu ăn là nghĩa, thuốc xỉa là tình,

Ðội ơn cha mẹ sinh mình dễ thương

- Trầu lên nửa nọc trầu vàng

Khéo khen phụ mẫu sinh nàng dễ thương

Nếu người con gái dứt khoát từ chối không nhận trầu thì dù sự từ chối ấy lịch sự, tế nhị đến đâu cũng phải hiểu đó là sự từ chối tình yêu:

- Thưa rằng bác mẹ tôi răn

Làm thân con gái chớ ăn trầu người

Còn như người con gái chỉ tỏ ý ngần ngại, vì muốn tìm hiểu thêm tình ý của đối phương:

- Miếng trầu ăn nặng bằng chì,

Ăn rồi em biết lấy gì trả ơn ?

Thì người con trai trong trường hợp này phải trấn an liền, và thổ lộ rõ tình ý đứng đắn, xây dựng của mình:

- Miếng trầu ăn nặng là bao,

Muốn cho đông liễu, tây đào là hơn

- Miếng trầu là nghĩa tương giao,

Muốn cho đây đấy duyên vào hợp duyên

Trang 7

Một khi thấy ý hợp, lòng ưa rồi người con gái mới nhận trầu Hành động này hàm ý Ẫchấp thuậnỮ, thật là một cách bầy tỏ tình cảm vừa kín đáo, tế nhị, vừa duyên dáng dễ thương Từ ngày nhận ăn miếng trầu kết nghĩa tương giao, gắn bó trở về, tình yêu của người con gái lớn dậy, làm thăng hoa cuộc sống Nàng trở nên xinh tươi, đằm thắm:

- Từ ngày ăn miếng trầu anh,

Cho nên má đỏ, tóc xanh đến giờ

Và thường để tâm hồn lãng mạn bay xa, mơ tưởng về một ngày mai được sống trong hạnh phúc lứa đôi với chàng, được cùng chàng thân mật dùng chung một hộp trầu, một ống vôi:

- Ước gì chung mẹ chung thầy

Ðể em giữ cái quạt này làm thân

Rồi ra chung gối chung chăn,

Chung quần, chung áo, chung khăn đội đầu

Nằm thì chung cái giường tàu,

Dậy thì chung cả hộp trầu, ống vôi

Trở về hiện tại, giây phút sung sướng nhất hiển nhiên là giây phút nàng được thưởng thức những miếng trầu tình ái do chàng trao tặng:

- Trầu này đủ vỏ, đủ vôi

Ðủ cau, đủ thuốc, đủ mùi xạ hương

Không ăn thì bảo rằng thường

Ăn rồi thì biết người thương thế nào

Nhất là những miếng trầu ấy lại được chàng quí hóa, trân trọng bọc trong chiếc khăn tay trắng, dành riêng cho nàng:

- Trầu bọc khăn trắng cau tươi,

Trầu bọc khăn trắng đãi người xinh xinh

Ăn cho nó thỏa tâm tình,

Ăn cho nó thỏa sự mình sự ta

Phần nàng, nàng cũng không quên sửa soạn sẵn những miếng trầu thật đặc biệt:

- Khẩu trầu chính là khẩu trầu

Ở giữa đệm quế, hai đầu thơm cay

Có ăn mới biết đến cây

Có ăn mới biết trầu cay, trầu nồng

rồi buộc trầu trong dải yếm đào để đem tới tặng lại chàng với tất cả tấm lòng trìu mến:

- Trầu em buộc dải yếm đào

Hỏi người tri kỷ ăn vào có say?

Những kẻ đang yêu ăn trầu dễ say lắm Nhiều khi họ tự hỏi họ say vì trầu hay say vì tình, vì

mê bóng sắc của nhau ?

- Tay ai như ngọc, như ngà

Ðưa trầu ta tưởng đưa ta miếng vàng

Anh say nhan sắc của nàng

Hay say vì miếng trầu vàng, cau tươi ?

Tất nhiên cả hai rồi Họ say vì trầu, vì trong hạt cau có chất arécoline làm kích thích thần kinh, đồng thời họ còn say vì tình; nhưng say vì tình mới là chính, chả thế ca dao còn có câu:

- Yêu nhau trầu vỏ cũng say

Trang 8

Ghét nhau cau đậu (6) đầy khay chẳng màng

- Gặp nhau ăn một khẩu trầu

Không mặn vì thuốc, say nhau vì lời

Như thế đủ thấy, những kẻ đang yêu được ngồi ăn trầu bên nhau thì dù trầu có thiếu vị họ vẫn say như thường, vì họ say tình nhau, say bóng sắc của nhau, say lời yêu đương của nhau chứ nào có xá gì trầu!

Tình yêu khi đã đến lúc đắm say tất xa nhau sẽ nhớ nhung, tương tư sầu khổ:

- Một thương hai nhớ ba sầu,

Cơm ăn chẳng được, ăn trầu cầm hơi

Thương chàng lắm lắm chàng ơi,

Biết đâu thanh vắng mà ngồi thở than ?

Nàng thở than những gì đây ?

- Từ ngày ăn phải miếng trầu,

Miệng ăn môi đỏ dạ sầu đăm chiêu

Biết là thuốc dấu hay bùa yêu

Làm cho thiếp phải nhiều điều xót xa

Làm cho quên mẹ, quên cha

Làm cho quên cử, quên nhà

Làm cho quên cả đường ra, lối vào

Làm cho quên cá dưới ao

Quên sông tắm mát, quên sao trên trời

Trong vấn đề tình yêu và hôn nhân, không phải bao giờ người con gái cũng ở thế thụ động, như ca dao đã chứng tỏ, có nhiều trường hợp nếu người con gái bạo dạn một chút, lanh lợi một chút, và cũng phải biết tế nhị nữa thì có thể lợi dụng tục mời trầu để tự kén chọn cho mình một người bạn tình trăm năm Thật thế, như khi đã gặp được người vừa ý rồi mà đối phương lại quá nhút nhát như anh chàng này chẳng hạn :

- Thương em chẳng dám trao trầu

Ðể trên bó mạ, gió nam lầu thổi qua

Nếu người con gái cũng lại chấp nê, thụ động thì cuộc tình này đành để cho gió bay đi Trái lại, nếu người con gái khôn ngoan, biết mở lời bóng gió đưa duyên thì có thể khích lệ đối phương tiến tới:

- Có trầu mà chả có cau

Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm

Ðúng ra phải nói là:

- Có trầu mà chả có vôi

Làm sao cho đỏ môi tôi thì làm

Chả vì theo lời giải thích của Thúc Nguyên, "vôi phản ứng trên những polyphénols thuộc nhóm flavone của lá trầu và miếng cau bằng cách ô-xít hóa chúng và biến chúng thành orthoquinones Sự việc này làm cho nước bọt người nhai trầu trở thành đỏ" Như thế, có trầu

đã đành, còn phải ăn thêm với vôi mới làm đỏ được môi Cũng như trong tình yêu, một người

đã lên tiếng, kẻ kia phải đáp lời ; tình yêu song phương mới thực sự tạo được hạnh phúc lứa đôi

Lại những khi chưa biết rõ đối phương đối với mình ra sao, người thiếu nữ cũng đã biết mượn miếng trầu để dò ý, ướm tình :

- Trầu đã có đây, cau đã có đây

Trang 9

Nhân duyên chưa định, trầu này ai ăn?

Trầu này trầu túi, trầu khăn,

Trầu này dải yếm, anh ăn trầu nào?

Nếu người con trai nhận ăn "trầu dải yếm" là những miếng trầu thiết thân của nàng thì nàng hiểu ngay là đối phương đã thầm xác nhận có yêu nàng, và những mong cùng nàng kết mối lương duyên; bằng không chỉ là bạn thường, vì bạn thường thì chỉ được phép ăn "trầu khăn",

"trầu túi" của nàng mà thôi

Lại những khi người con gái đã lỡ yêu rồi thì nàng cũng dám tấn công trước qua miếng trầu tỏ tình:

- Vào vườn hái quả cau xanh

Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu

Trầu này têm những vôi tàu (7)

Giữa đệm cát cánh, hai đầu quế cay

Trầu này ăn thật là say

Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng

Dù chẳng nên vợ nên chồng

Xơi dăm ba miếng, kẻo lòng nhớ thương

Miếng trầu đối với nàng lúc này không chỉ là một vật chất đơn thuần mà là một biểu tượng của tình yêu, nói khác đi, nó chính là tình yêu của nàng đã hóa thân:

- Trầu này trầu quế, trầu hồi

Trầu loan, trầu phượng, trầu tôi, trầu mình

Trầu này trầu tính, trầu tình

Trầu nhân, trầu nghĩa, trầu mình, trầu ta

Trầu này têm tối hôm qua

Dấu cha dấu mẹ, đem ra mời chàng

Nhưng không phải hễ người con gái mời trầu là bao giờ cũng được bọn nam nhi đón nhận sốt sắng cả đâu Nhiều chàng trai có tính đa nghi lắm, lại luôn luôn được phụ mẫu nhắc nhở, căn dặn: "Ra đường thấy con gái mời trầu thì chớ có ăn, nó bỏ bùa yêu, thuốc dấu cho là khốn, rồi đến bỏ cả học hành thôi" Thế nên nhiều chàng đã tỏ ra rất dè dặt trước những miếng trầu mời mọc của các nàng, bởi vậy mới có cái cảnh mời trầu nài nỉ:

- Trầu này không phải trầu hàng

Không bùa, không thuốc sao chàng không ăn ?

Hay là chê khó, chê khăn

Xin chàng dừng lại làm ăn miếng trầu

Rất may việc này xẩy ra cũng hi hữu thôi, vì các cụ ta khi xưa đã dạy cho người thiếu nữ biết cách từ chối nhận trầu thì cũng lại dạy cho người thanh niên phải biết nhận trầu, có thế mới ra con người lịch sự:

- Tiện đây đưa một miếng trầu

Không ăn, cầm lấy cho nhau bằng lòng

4 Trầu Cau Trong Nghi Lễ Cưới Hỏi

Trang 10

Người bình dân Việt Nam xưa nhờ vào hoàn cảnh sống gần gũi với thiên nhiên, nhờ điều kiện sinh hoạt tập thể về nông nghiệp, hội hè, hát xướng, lại nhờ vào tục mời trầu của xã hội đã giúp cho tình yêu của họ dễ dàng nẩy nở, cởi mở, hồn nhiên Dù thế nào chăng nữa, tình yêu của họ cũng không cuồng nhiệt, tự do quá trớn đến vượt ra khỏi vòng lễ giáo gia đình và phong tục xã hội

Thực tế, người thiếu nữ vẫn hằng nhủ lòng "áo mặc sao qua khỏi đầu", nên khi vừa bước vào cuộc tình là không quên nhắc nhở bạn về thủ tục đầu tiên:

- Thương tôi rượu chén, trầu cơi

Ðến cùng phụ mẫu, đến nơi sinh thành

Nếu người con trai còn nghi ngại:

- Tốn hao anh chẳng màng chi

Chỉ e lỡ dở uổng thì trầu cau

thì người con gái xin hứa trước một lời để bạn vững dạ về trình cha mẹ, rồi nhờ mai dong đến thưa chuyện cùng song thân nàng:

- Ðợi lệnh song thân em phải vậy

Song em quyết một lời rồi, anh hãy cậy mai dong

Người con trai sau khi đã được lời hứa chắc của bạn lòng , mặt mày hớn hở, đi khoe cùng làng, khắp xóm:

- Tôi về thưa với mẹ cha

Chạy lo sáu lễ đem qua cưới nàng

Nhưng khi vào chuyện rồi người ta mới thấy trong ba việc khó khăn ở đời mà người xưa đã từng xác nhận qua câu tục ngữ:

- Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà

Trong ba việc ấy thật là khó thay!

thì việc cưới xin, việc hệ trọng nhất trong cuộc đời của mỗi con người, là khó khăn nhất, nghi thức cũng nhiêu khê nhất, và tốn kém nhất

Trước hết, nhà trai phải đem phẩm vật đến cầu cạnh người mai mối, nhò họ chuyển lời cầu hôn đến nhà gái, đúng như phong tục đã định:

- Mâm trầu hũ rượu đàng hoàng

Cậy mai đến nói phụ mẫu nàng mới xong

Khi ông mai, bà mối đã trình bầy tự sự, nhà gái thấy xứng đôi (xưa theo tiêu chuẩn môn đăng

hộ đối) thì ưng, liền cho so đôi tuổi cô dâu, chú rể; tuổi tác có hợp rồi mới bắt đầu tính đến chuyện cưới hỏi Ðâu đấy xong xuôi, hai bên gia đình nhà trai, nhà gái cho tiến hành các thủ tục hôn phối

Bắt chước Trung Hoa, tất cả phải trải qua sáu lễ Ịó là:

- Lễ Nạp thái còn gọi là lễ sơ vấn, nhà trai đưa lễ vật để tỏ ý đã kén chọn Lễ này nôm na gọi

là lễ chạm ngõ hay lễ giạm vợ

- Lễ Vấn danh: hỏi tên tuổi và họ người con gái

- Lễ Nạp cát: báo cho nhà gái biết đã bói được điềm tốt

- Lễ Thỉnh kỳ: xin định ngày cưới

- Lễ Nạp tệ: tệ là lụa, nghĩa là đem lụa hay phẩm vật quí đến nhà gái, nói chung là đem đồ sính lễ đến nhà gái trong ngày lễ cưới

- Lễ Thân nghinh: lễ đón dâu

Sáu lễ kể trên về sau ta giảm xuống còn ba là lễ Sơ vấn (chạm ngõ), lễ Vấn danh (ăn hỏi) và lễ Thân nghênh (đón dâu) Nghi thức cũng đã được thay đổi phần nào cho hợp với phong cách

Ngày đăng: 02/12/2017, 12:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w