Báo cáo tài chính hàng năm do doanh nghiệp lập được nhiều đối tượng trong và ngoài doanh nghiệp quan tâm. Trong nền kinh tế thị trường với môi trường cạnh tranh gay gắt, thông tin tài chính trở thành một trong những nhân tố quyết định đối với sự thành công của doanh nghiệp cũng như đối với các quyết định của nhà đầu tư. Những thông tin này cần phải đảm bảo phản ánh một cách trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu. Do đó hoạt động kiểm toán ra đời và phát triển với mục đích kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lý và mức độ tin cậy của thông tin tài chính. Thông qua hoạt động kiểm toán, các doanh nghiệp có thể thấy được những sai sót, yếu kém của mình trong chế độ kế toán cũng như cách điều hành quản lý doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, hoạt động kiểm toán còn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, góp phần làm lành mạnh hoá nền kinh tế quốc gia đồng thời giúp các cơ quan hữu quan xác định đúng trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và đưa các chính sách hợp lý nhằm khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp. Trong các thông tin tài chính, thông tin về doanh thu được đặc biệt quan tâm vì doanh thu là một trong khoản mục trọng yếu trên Báo cáo kết quả kinh doanh. Song do tính chất phức tạp trong quản lý doanh thu và ảnh hưởng của chính sách thuế, doanh thu là một trong những khoản mục chứa đựng nhiều khả năng sai phạm. Vì vậy, kiểm toán viên thực hiện kiểm toán khoản mục này có trách nhiệm khẳng định việc ghi nhận và phản ánh các thông tin trên Báo cáo tài chính là trung thực và hợp lý, để đem lại niềm tin cho người sử dụng. Qua đó, các nhà đầu tư và những người đọc báo cáo tài chính có thể đánh giá được khả năng tạo ra doanh thu của doanh nghiệp. Như vậy có thể nói kiểm toán khoản mục doanh thu là một trong những nội dung quan trọng trong kiểm toán Báo cáo tài chính. Chính vì vậy mà em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Vận dụng quy trình kiểm toán vào kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam thực hiện” làm đề tài cho chuyên đề của mình. Chuyên đề của em, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bao gồm những phần chính như sau: Chương 1: Đặc điểm doanh thu ảnh trong kiểm toán tài chính Chương 2: Thực trạng kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty kiểm toán AVA thực hiện Chương 3: Nhận xét và các giải pháp hoàn thiện vận dụng quy trình kiểm toán vào kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán bác cáo tài chính do Công ty kiểm toán AVA thực hiện
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Báo cáo tài chính hàng năm do doanh nghiệp lập được nhiều đối tượng trong
và ngoài doanh nghiệp quan tâm Trong nền kinh tế thị trường với môi trường cạnhtranh gay gắt, thông tin tài chính trở thành một trong những nhân tố quyết định đốivới sự thành công của doanh nghiệp cũng như đối với các quyết định của nhà đầu
tư Những thông tin này cần phải đảm bảo phản ánh một cách trung thực, hợp lýtrên các khía cạnh trọng yếu Do đó hoạt động kiểm toán ra đời và phát triển vớimục đích kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lý và mức độ tin cậy của thôngtin tài chính Thông qua hoạt động kiểm toán, các doanh nghiệp có thể thấy đượcnhững sai sót, yếu kém của mình trong chế độ kế toán cũng như cách điều hànhquản lý doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Ngoài ra, hoạt động kiểm toán còn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bênliên quan, góp phần làm lành mạnh hoá nền kinh tế quốc gia đồng thời giúp các cơquan hữu quan xác định đúng trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc thực hiệnnghĩa vụ với Nhà nước và đưa các chính sách hợp lý nhằm khuyến khích sự pháttriển của doanh nghiệp
Trong các thông tin tài chính, thông tin về doanh thu được đặc biệt quan tâm
vì doanh thu là một trong khoản mục trọng yếu trên Báo cáo kết quả kinh doanh.Song do tính chất phức tạp trong quản lý doanh thu và ảnh hưởng của chính sáchthuế, doanh thu là một trong những khoản mục chứa đựng nhiều khả năng sai phạm
Vì vậy, kiểm toán viên thực hiện kiểm toán khoản mục này có trách nhiệm khẳngđịnh việc ghi nhận và phản ánh các thông tin trên Báo cáo tài chính là trung thực vàhợp lý, để đem lại niềm tin cho người sử dụng Qua đó, các nhà đầu tư và nhữngngười đọc báo cáo tài chính có thể đánh giá được khả năng tạo ra doanh thu củadoanh nghiệp Như vậy có thể nói kiểm toán khoản mục doanh thu là một trongnhững nội dung quan trọng trong kiểm toán Báo cáo tài chính
Chính vì vậy mà em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Vận dụng quy trình kiểmtoán vào kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính do
Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam thực hiện” làm đề tài cho
chuyên đề của mình
Chuyên đề của em, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bao gồm nhữngphần chính như sau:
Chương 1: Đặc điểm doanh thu ảnh trong kiểm toán tài chính
Chương 2: Thực trạng kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báocáo tài chính do công ty kiểm toán AVA thực hiện
Trang 2Chương 3: Nhận xét và các giải pháp hoàn thiện vận dụng quy trình kiểmtoán vào kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán bác cáo tài chính do Công
ty kiểm toán AVA thực hiện
Hoàn thành chuyên đề này, em đã được sự hướng dẫn tận tình của TS.NgôĐức Long Em xin chân thành cảm ơn thầy Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm
ơn các anh chị trong Công ty kiểm toán AVA đã chỉ bảo hướng dẫn em trong thờigian em thực tập tại Công ty
Song do những hạn chế của bản thân em như: hạn chế về trình độ cũng như
về kinh nghiệm thực tế nên trong chuyên đề tốt nghiệp của em còn nhiều hạn chế,thiếu sót, em rất mong nhận được sự phê bình, góp ý của các thầy cô giáo và cácbạn để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Khương Văn Thành
Trang 3CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM DOANH THU TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH 1.1 Đặc điểm kế toán doanh thu
Theo chuẩn mực Kế toán số 14, ban hành và công bố theo Quyết định số49/2001/QĐ/BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Tài chính thì doanh thu làtổng giá các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ cáchoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăngvốn chủ sở hữu
Doanh thu phát sinh từ giao dịch, sự kiện được xác định bởi thoả thuận giữadoanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định giá trị hợp
lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi các khoản chiết khấuthương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại
Phân loại doanh thu
Căn cứ vào tiêu thức phân loại khác nhau mà doanh thu có thể được phânloại như sau:
Theo tiêu thức lĩnh vực hoạt động mà có thể có các loại doanh thu sau:
- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Doanh thu hoạt động tài chính
- Doanh thu khác
Theo tiêu thức doanh thu đã thực hiện và chưa thực hiện có thể phânloại thành:
- Doanh thu thực hiện
- Doanh thu chưa thực hiện
Các quy định trong hạch toán doanh thu
+ Tài khoản sử dụng trong hạch toán doanh thu
Trong quá trình hạch toán doanh thu, các tài khoản thường hay được sử dụngbao gồm có sáu tài khoản, chia thành 3 nhóm:
Nhóm tài khoản 51 – Doanh thu, có 03 tài khoản
- Tài khoản 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ;
- Tài khoản 512 – Doanh thu nội bộ;
- Tài khoản 515 – Doanh thu hoạt động tài chính
Nhóm tài khoản 52 - Có 01 tài khoản
- Tài khoản 521 – Chiết khấu thương mại.
Nhóm tài khoản 53 – Có 02 tài khoản
- Tài khoản 531 – Hàng bán bị trả lại;
Trang 4- Tài khoản 532 – Giảm giá hàng bán.
Tài khoản 3387 – Tài khoản doanh thu chưa thực hiện
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán doanh thu, kế toán còn sử dụng nhữngloại tài khoản khác liên quan như: Tài khoản phản ánh Hàng tồn kho (TK 152, 153,
155, 156, 157), Giá vốn hàng bán, Thuế GTGT được khấu trừ và thuế GTGT phảinộp,…
Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụtương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịchtạo ra doanh thu và không được ghi nhận là doanh thu
Doanh thu kể cả doanh thu nội bộ phải được theo dõi riêng biệt theo từngloại doanh thu: Doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, doanh thu tiền lãi,tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia Trong từng loại doanh thu lại đượcchi tiết theo từng thứ doanh thu, như doanh bán hàng có thể được chi tiết thànhdoanh thu bán sản phẩm, hàng hoá,… nhằm phục vụ cho việc xác định đầy đủ,chính xác kết quả kinh doanh theo yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh
và lập báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Nếu trong kỳ kế toán phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng vàcung cấp dịch vụ, như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lạithì phải được hạch toán riêng biệt Các khoản giảm trừ doanh thu được tính trừ vàodoanh thu ghi nhận ban đầu để xác định doanh thu thuần làm căn cứ xác định kếtquả kinh doanh của kỳ kế toán
Về nguyên tắc, cuối kỳ kế toán, doanh nghiệp phải xác định kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh Toàn bộ doanh thu thuần thực hiện trong kỳ kế toán đượckết chuyển vào Tài khoản 911 – Xác định kết quả kinh doanh Các tài khoản thuộcloại tài khoản doanh thu không có số dư cuối kỳ
Trang 5Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Tài khoản “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” chỉ phản ánh doanhthu của khối lượng sản phẩm hàng hoá đã bán; dịch vụ đã cung cấp được xác định làtiêu thụ trong kỳ, không phân biệt doanh thu đã thu tiền hay sẽ thu tiền
Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp đượcthực hiện theo nguyên tắc sau:
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGTtheo phương pháp khấu trừ, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa
có thuế giá trị gia tăng
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT,hoặc chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cungcấp dịch vụ là tổng giá thanh toán
- Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụđặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giáthanh toán (bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu)
- Những doanh nghiệp nhận gia công vật tư, hàng hoá thì phản ánh vàodoanh thu ban hàng và cung cấp dịch vụ số tiền gia công thực tế được hưởng, khôngbao gồm giá trị vật tư, hàng hoá nhận gia công
- Đối với hàng hoá nhận bán đại lý, ký gửi theo phương thức bán đúng giáhưởng hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phầnhoa hồng bán hàng mà doanh nghiệp được hưởng
- Trường hợp bán hàng theo phương thực trả chậm, trả góp thì doanhnghiệp ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào doanhthu hoạt động tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả nhưng trả chậm phù hợpvới thời điểm ghi nhận doanh thu được xác nhận
- Những sản phẩm, hàng hoá được xác định là tiêu thụ, nhưng vì lý do vềchất lượng, về quy cách kỹ thuật,… người mua từ chối thanh toán, gửi trả lại ngườibán hoặc yêu cầu giảm giá và được doanh nghiệp chấp thuận; hoặc người mua muahàng với khối lượng lớn được chiết khấu thương mại thì các khoản giảm trừ doanhthu bán hàng này được theo dõi riêng biệt trên các Tài khoản 531- hàng bán bị trảlại, hoặc Tài khoản 532 - giảm giá hàng bán, Tài khoản 521 - chiết khấu thươngmại
- Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hoá đơn bán hàng và đã thutiền bán hàng nhưng cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng, thì trị giá sốhàng này không được coi là tiêu thụ và không được ghi nhận vào tài khoản 511-
Trang 6“Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” về giá trị hàng đã giao, đã thu trước tiềnbán hàng, phù hợp với các điều kiện ghi nhận doanh thu.
- Đối với trường hợp cho thuê tài sản hoạt động, đã nhận trước tiền chothuê hoạt động nhiều năm thì doanh thu cung cấp dịch vụ ghi nhận của năm tàichính là số tiền cho thuê được xác định theo nguyên tắc đường thẳng tức lấy toàn bộtổng số tiền thu được chia cho số năm cho thuê tài sản
- Đối với các khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh bất động sản, doanhthu được ghi nhận là tổng số tiền thu được do bán bất động sản
- Đối với hoạt động kinh doanh cho thuê cơ sở hạ tầng, doanh thu bán hàngđược ghi nhận khi hoàn tất việc bàn giao đất trên thực địa cho khách hàng theo giátrị của diện tích đất đã chuyển giao theo giá trả ngay
Doanh thu hoạt động tài chính
- Doanh thu hoạt động tài chính được phản ánh trên Tài khoản 515 bao
gồm các khoản doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia vàcác hoạt động tài chính khác được coi là thực hiện trong kỳ, không phân biệt cáckhoản doanh thu đó thực tế đã thu được tiền hay sẽ thu được tiền
- Đối với các khoản thu nhập từ hoạt động mua, bán ngoại tệ, doanh thu
được ghi nhận là số chênh lệch lãi giữa giá bán vào và giá ngoại tệ bán ra
- Đối với các khoản thu nhập từ hoạt động mua, bán chứng khoán, doanh
thu được ghi nhận là số chênh lệch giữa giá lớn hơn giá mua, số lãi về trái phiếu, tínphiếu hoặc cổ phiếu (không phản ánh số tiền thu được từ việc bán chứng khoán)
- Đối với khoản tiền lãi đầu tư nhận từ khoản đầu tư cổ phiếu, trái phiếu thì
chỉ có phần lãi của các kỳ mà doanh nghiệp mua lại khoản đầu tư này mới được ghinhận là doanh thu phát sinh trong kỳ; còn khoản lãi đầu tư nhận được từ các khoảnlãi đầu tư dồn tích trước khi doanh nghiệp mua lại khoản đầu tư đó thì ghi giảm giátrị khoản đầu tư trái phiếu, cổ phiếu đó
Doanh thu chưa thực hiện
- Khi bán hàng, hoặc cung cấp dịch vụ theo phương thức trả chậm, trả góp
thì doanh thu được ghi nhận theo giá bán trả ngay tại thời điểm ghi nhận doanh thu
Giá bán trả ngay được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của cáckhoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thutheo tỷ lệ lãi suất hiện hành Phần lãi bán hàng trả chậm, trả góp là chênh lệch giữagiá bán trả chậm, trả góp với giá bán trả ngay được ghi nhận vào tài khoản “Doanhthu chưa thực hiện” Doanh thu chưa thực hiện sẽ được ghi nhận là doanh thu của
kỳ kế toán theo quy định tại đoạn 25(a) của Chuẩn mực “Doanh thu và thu nhậpkhác”
Trang 7- Khi nhận trước tiền cho thuê tài sản của nhiều năm thì số tiền nhận trước
được ghi nhận là doanh thu chưa thực hiện Trong các năm tài chính tiếp sau sẽ ghinhận doanh thu phù hợp với doanh thu của từng năm tài chính
+ Điều kiện xác định doanh thu
Theo Chuẩn mực Kế toán số 14 quy định các điều kiện để xác định doanhthu như sau:
Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽthu được
Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thoả thuận giữadoanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản Nó được xác định bằng giá trịhợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi các khoản chiếtkhấu thương mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại
Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được ghi nhận ngaythì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽthu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệlãi suất hiện hành Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơngiá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai
Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụkhác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu.Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặcdịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặcdịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trảthêm hoặc thu thêm
+ Sơ đồ tài khoản hạch toán doanh thu
Trang 8Sơ đồ 01: Sơ đồ kế toán tổng quát doanh thu bán hàng trong doanh nghiệp tính
thuế theo phương pháp khấu trừ
Sơ đồ 02: Sơ đồ kế toán tổng quát doanh thu tiêu thụ theo phương thức hàng đổi hàng trong
các doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
TK 911
Kết chuyển các khoản ghi giảm doanh thu
Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch
vụ lao vụ trong kỳ
Kết chuyển doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ lao vụ
Trang 91.2 Đặc điểm của doanh thu trong kiểm toán tài chính
Các chỉ tiêu về doanh thu, doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác
có liên hệ chặt chẽ với các khoản thu bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoảnphải thu…
Chỉ tiêu thu nhập liên quan chặt chẽ với chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối.Các chỉ tiêu doanh thu cũng như các chỉ tiêu chi phí phản ánh trên báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có quan hệ với các chỉ tiêu thu, chi tiền mặt, tiền gửi, nhập, xuất vật tư, hàng hoá,…
Các chỉ tiêu về doanh thu cùng với các chỉ tiêu chi phí là cơ sở để xác địnhcác chỉ tiêu lợi nhuận và các loại thuế khác nên rất nhạy cảm với các gian lận trongviệc xác định mức lợi nhuận, các nghĩa vụ khác của doanh nghiệp Thông qua việckiểm tra đối chiếu và thực hiện các thủ tục kiểm toán đối với các chỉ tiêu doanh thu
có thể phát hiện ra những sai sót, gian lận trong việc xác định và hạch toán các chỉtiêu đó Đồng thời, kết quả kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáotài chính còn là cơ sở, căn cứ để kiểm toán viên thực hiện kiểm toán các khoản mụckhác như chỉ tiêu về thuế giá trị gia tăng phải nộp, thuế giá trị gia tăng được khấutrừ, lợi nhuận chưa phân phối, lợi nhuận sau thuế,…
1.2.1 Đặc điểm của doanh thu ảnh hưởng đến công tác kiểm toán
Với kiểm toán tài chính có hai cách cơ bản để phân chia các bảng khai tàichính thành các phần hành kiểm toán: Phân theo khoản mục hoặc phân theo chutrình Từ đó mà có hai cách tiếp cận kiểm toán: kiểm toán theo khoản mục hoặctheo chu trình
Kiểm toán theo chu trình là cách phân chia máy móc từng khoản mục hoặcnhóm các khoản mục theo thứ tự trong Bảng khai vào một phần hành Cách chianày đơn giản song không hiệu quả do tách biệt những khoản mục ở vị trí khác nhaunhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau như Hàng tồn kho và giá vốn hàng bán, Doanhthu và các khoản phải thu…
Cách tiếp cận kiểm toán theo chu trình là cách chia thông dụng hơn căn cứvào mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành, cácyếu tố trong một chu trình chung của hoạt động tài chính Chẳng hạn các nghiệp vụ
về doanh thu, doanh thu trả lại, các khoản thu tiền bán hàng và số dư các khoản phảithu đều nằm trong chu trình tiêu thụ (bán hàng và thu tiền) Cách phân chia này hiệuquả hơn do xuất phát từ mối liên hệ vốn có của các nghiệp vụ và từ đó thu thập
Trang 10được các đầu mối của các mối liên hệ trong kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứađựng trong Bảng khai tài chính Theo cách phân chia này, kiểm toán Bảng khai tàichính thường bao gồm những phần hành cơ bản sau:
Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền (tiêu thụ)
Kiểm toán tiền mặt (tại két, tại ngân hàng hoặc đang chuyển)
Kiểm toán chu trình mua hàng – trả tiền (cung ứng và thanh toán)
Kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên
Kiểm toán hàng tồn kho
Kiểm toán huy động – hoàn trả vốn
Do doanh thu là khoản mục liên quan đến các khoản mục khác trên báo cáokết quả kinh doanh, chính vì vậy, khi tiến hành kiểm toán phải kết hợp kết quả kiểmtoán các khoản mục liên quan, như vốn bằng tiền, các khoản Phải thu, Nợ phải trả,khoản mục Hàng tồn kho… Và trong hầu hết các cuộc kiểm toán, kiểm toán viênđều thực hiện riêng rẽ khoản mục doanh thu do tính chất quan trọng và phức tạp củakhoản mục doanh thu
Trong quá trình kiểm toán doanh thu, kiểm toán viên phải căn cứ vào lĩnhvực hoạt động kinh doanh của khách hàng, bởi lĩnh vực hoạt động kinh doanh cũngảnh hưởng đến những rủi ro kiểm toán mà kiểm toán viên có thể mắc phải Nhữnglĩnh vực kinh doanh có ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán như: Vận chuyển hànhkhách, vận chuyển hành lý, vận chuyển hàng hoá, thư tín, bán hàng, đồ lưu niệm,…Với những lĩnh vực kinh doanh này, thường có gian lận trong kế toán và thườngtiềm ẩn rủi ro tiềm tàng ảnh hưởng đến công tác kiểm toán
1.2.2 Các sai phạm liên quan đến doanh thu
+ Ghi giảm doanh thu so với thực tế phát sinh
Ghi sổ kế toán thực chất là việc phản ánh, ghi chép lại các nghiệp vụ kinh tếphát sinh Do đó việc hạch toán doanh thu thấp hơn so với thực tế chính là việc kếtoán đã ghi sổ thiếu những nghiệp vụ kinh tế phát sinh Điều này do nhiều nguyênnhân nhưng xét về bản chất có thể chia làm hai loại là gian lận và sai sót
Thứ nhất, xét sai xót do gian lận: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến một
doanh nghiệp cố tình ghi giảm doanh thu:
Cố tình ghi giảm doanh thu để trốn thuế: việc ghi giảm doanh thu sẽ làmcho lợi nhuận trước thuế trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp giảm và do đó thuếphải nộp giảm, tức là dòng tiền ra khỏi doanh nghiệp thấp và lợi nhuận thực tế lớn
Để thực hiện được điều này, kế toán có thể dùng kỹ thuật ghi chép phản ánh sainghiệp vụ kinh tế phát sinh trên chứng từ, hạch toán sai chế độ kế toán Ví dụ một
số trường hợp cụ thể: Phản ánh hoá đơn bán hàng giao cho khách sai lệch với hoá
Trang 11đơn bán hàng của doanh nghiệp cùng một sê ri, chuyển những mặt hàng có thuếsuất thấp thành nhóm mặt hàng có thuế suất cao, không hạch toán doanh thu bánhàng trong các trường hợp hàng đổi hàng, trường hợp bán hàng thu ngoại tệ doanhnghiệp đã sử dụng giá thực tế thấp hơn so với quy định, hạch toán các nghiệp vụbán lẻ theo giá bán buôn, không ghi nhận doanh thu khi bán hàng mà bù trừ thẳngvào giá trị hàng tồn kho hoặc nợi phải trả
Sử dụng sai tài khoản hoặc quy trình hạch toán làm sai lệch doanh thu:Cách làm này làm xuyên tạc tình hình tài chính của doanh nghiệp, vi phạm tính cơ
sở dẫn liệu về tính đúng kỳ của doanh thu và làm thiếu sự nhất quán giữa các kỳ kếtoán Sau đây là một số trường hợp thường gặp: kế toán chỉ ghi nhận doanh thu khi
đã thu tiền hàng, hàng hoá bán ra nhưng không hạch toán xuất kho
Thứ hai, xét về lỗi do sai sót: Sai sót là lỗi không do cố ý Lỗi này có thể do:
Trình độ yếu kém của kế toán viên, không nắm bắt được các chuẩn mực kếtoán và các quy định của chế độ kế toán hiện hành; do đó dẫn đến các trường hợp
bỏ sót nghiệp vụ, hạch toán sai các quy định của chế độ kế toán
Do sức ép công việc, kế toán viên phải hoàn thành một khối lượng lớn côngviệc trong một khoảng thời gian ngắn Hay do môi trường làm việc không thoảimái, mức độ cạnh tranh lớn
Kể cả gian lận và sai sót đều làm doanh thu bị sai lệch cũng như tình hình tàichính của doanh nghiệp bị xuyên tạc Tuy nhiên, xét về bản chất và mức độ nghiêmtrọng thì gian lận ở mức độ nghiêm trọng hơn và khó phát hiện hơn vì gian lận baogiờ cũng được che đậy cẩn thận bởi những kỹ thuật tinh vi Do đó, trong kiểm toáncác KTV đều phải xem xét kỹ và phân biệt đâu là gian lận và sai sót trong các saiphạm
+ Ghi tăng doanh thu so với thực tế phát sinh
Trường hợp này cũng xảy ra với hai khả năng là do gian lận hoặc do sai sót
Thứ nhất, do gian lận: Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không tốt,
thường xuyên thua lỗ và để tránh bị giải thể hay phá sản các doanh nghiệp này đãdùng hình thức ghi tăng doanh thu để làm cho có lãi Với loại này, kế toán có thểdùng kỹ thuật ghi chép hay hạch toán sai chế độ kế toán hiện hành tương tự nhưtrường hợp ghi giảm doanh thu
Thứ hai, do sai sót: Cũng giống như trường hợp ghi giảm doanh thu, trường
hợp này thường xảy ra với trình độ yếu kém của bộ máy kế toán trong doanhnghiệp, môi trường làm việc nhiều không tốt, tạo sức ép tâm lý đối với kế toánviên
Trang 12Trên đây là một số trường hợp cụ thể về các sai phạm thường gặp khi hạch toándoanh thu song các sai phạm thường rất đa dạng và luôn thay đổi khó lường do đótrong kiểm toán khoản mục doanh thu cũng như các khoản mục khác, các KTV cần
có thái độ thận trọng nghề nghiệp đúng mức để có được những cuộc kiểm toán hiệuquả
1.3 Mục tiêu kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Để có hiệu quả trong hoạt động kiểm toán, mỗi cuộc kiểm toán đều có nhữngmục tiêu cụ thể Như kiểm toán các khoản mục khác trong kiểm toán báo cáo tàichính, kiểm toán khoản mục doanh thu đều tuân theo các chuẩn mực kiểm toánchung và mục tiêu kiểm toán đặc thù
1.3.1 Mục tiêu kiểm toán chung
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơbản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính” xác định: “ Mục tiêu của kiểm toán báocáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xácnhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toánhiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật có liên quan và có phản ánh
trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?” Mục tiêu kiểm toán
báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót đểkhắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị
Với mỗi một khoản mục trên báo cáo tài chính có các mục tiêu kiểm toán riêng phù hợp với mỗi khoản mục đó
Cụ thể các mục tiêu chung của kiểm toán khoản mục doanh thu có thể tóm tắt như sau:
Trang 13Biểu 01: Các mục tiêu chung của kiểm toán khoản mục doanh thu
Tính hiện hữu Doanh thu bán hàng đã ghi sổ là có căn cứ hợp lý
Tính đầy đủ Doanh thu bán hàng được ghi chép đầy đủ
Tính được phép Doanh thu được phê chuẩn đúng với chính sách bán
hàng của doanh nghiệpTính định giá Doanh thu bán hàng được đánh giá đúng đắn
Tính phân loại Việc ghi sổ và kết chuyển số liệu kế toán phải được thực
hiện phù hợp với nguyên tắc kế toán hiện hành
Tính đúng kỳ Doanh thu bán hàng được ghi sổ đúng kỳ
Tính chính xác
cơ học
Việc ghi nhận doanh thu phải được phản ánh chính xác,
cơ sở ghi nhận doanh thu phải phù hợp với chế độ và chuẩn mực kế toán hiện hành
1.3.2 Mục tiêu kiểm toán cụ thể
Doanh thu bán hàng ghi sổ có căn cứ hợp lý: Với mục tiêu này, KTV quantâm đến khả năng của hai sai số, đó là: doanh thu đang phản ánh trên các sổ nhật ký
mà không thực hiện gửi hàng và hàng được gửi cho khách hàng không có thật màvẫn ghi nhận doanh thu Các sai số này ít xảy ra song hậu quả tiềm tàng của chúng
là rất lớn vì nó làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới độ tin cậy của các thông tin trongbáo cáo tài chính
Doanh thu bán hàng được phê chuẩn đúng đắn: Xem xét các chế độ tín dụng,định giá và giao hàng của công ty có tuân theo đúng các hoạt động hàng ngày haykhông Xem xét này cần đặc biệt chú ý đến việc định giá, bằng cách so sánh giáthực tế được tính cho các sản phẩm khác nhau, kể cả cước phí vận chuyển và cácphương thức thanh toán với danh sách giá đã được ban quản trị phê chuẩn
Doanh thu bán hàng được ghi nhận đầy đủ: Xem xét các nghiệp vụ bán hànghiện hữu đều được ghi sổ
Doanh thu bán hàng được ghi sổ được đánh giá một cách đúng đắn: Tínhtoán lại các thông tin trên sổ sách kế toán xem số liệu có chính xác không
Doanh thu bán hàng được phân loại đúng đắn: Phân chia các khoản doanhthu đã thu tiền và doanh thu bán chịu phải được phân biệt rõ ràng Ngoài ra cầnphân chia và ghi chép các loại doanh thu một cách chính xác Với mục tiêu này,KTV xem xét các chứng từ chứng minh để xác định cách phân loại đúng đắn củamột nghiệp vụ nhất định và so sánh nó với tài khoản thực tế mà nó được phân bổvào đó
Trang 14Doanh thu bán hàng được ghi sổ đúng lúc: Doanh thu phải được tính và ghi
sổ ngay sau khi gửi hàng tránh tình trạng bỏ sót, khônh ghi nghiệp vụ kinh tế vào sổsách, để đảm bảo doanh thu được ghi sổ đúng kỳ
Doanh thu được phản ánh vào sổ sách phải chính xác: Độ chính xác của cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh trong sổ sách là rất quan trọng vì nó ảnhhưởng tới các khoản phải thu
1.4 Quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Các cuộc kiểm toán khác nhau có thể có nhiều cách tiếp cận và thực hiệnkhác nhau song trình tự kiểm toán đều phải tuân theo những nguyên tắc nhất định
Do đó, trình tự kiểm toán khoản mục doanh thu cũng được khái quát thành ba giaiđoạn như sau:
Sơ đồ 03: Quy trình kiểm toán:
1.4.1 Chuẩn bị kiểm toán
Việc lập kế hoạch kiểm toán doanh thu trong cuộc kiểm toán được tiến hànhđồng thời với trình tự lập kế hoạch toàn diện cuộc kiểm toán Để có thể lập kếhoạch toàn diện cho cả cuộc kiểm toán, và kế hoạch kiểm toán cho khoản mụcdoanh thu, kiểm toán viên phải thực hiện những công việc sau:
Tiếp cận khách hàng
Đây là giai đoạn đầu tiên trong qui trình kiểm toán Qui trình kiểm toán thực
sự bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán tiếp nhận một khách hàng Tiếpnhận khách hàng có hai giai đoạn:
Liên lạc với các công ty khách hàng tiềm năng
Khi khách hàng có yêu cầu kiểm toán, khi đó kiểm toán viên phải đánhgiá khả năng chấp nhận kiểm toán hay không
Giai đoạn I Chuẩn bị kiểm toán Giai đoạn II Thực hiện kiểm toán Giai đoạn III Kết thúc kiểm toán
Trang 15Trên cơ sở thư mời kiểm toán, kiểm toán viên xác định đối tượng sẽ phục vụ trong tương lai và tiến hành các công việc sau:
Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng
Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán
Hợp đồng kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch
kiểm toán tổng quát Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thu thập hiểu biết về ngành nghề, công việc kinh doanh
của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ và các bên liên quan để đánhgiá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán
Trong giai đoạn này, kiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sóttrọng yếu, đưa ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phântích để xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủtục kiểm toán khác
Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng
Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải tìm hiểu về ngànhnghề hoạt động kinh doanh của khách hàng, từ đó có những phương pháp kiểm toánthích hợp, đồng thời đạt hiệu quả cao trong cuộc kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán số 300, Kế hoạch kiểm toán quy định kiểm toán viên
phải tìm hiểu ngành nghề hoạt động kinh doanh của khách hàng, và trong Đoạn 2của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam 310, Hiểu biết về tình hình kinh doanh đã
hướng dẫn: “ Để thực hiện được kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có
hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ để nhận thức và xác định các dữ kiện, nghiệp
vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo đánh giá của kiểmtoán viên, chúng có thể ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính, đến việc kiểm
tra của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán
Điều này rất cần thiết khi kiểm toán viên thực hiện kiểm toán với tính thậntrọng nghề nghiệp đúng mức Mỗi ngành nghề sản xuất kinh doanh có những hệthống kế toán riêng và áp dụng những nguyên tắc kế toán đặc thù Thêm vào đó tầmquan trọng của mỗi nguyên tắc kế toán cũng thay đổi theo ngành kinh doanh củakhách hàng
Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh bao gồm những hiểu biết chung
về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị và sự hiểu biết cụ thể hơn về tổ chức
và hoạt động của đơn vị kiểm toán Ngoài ra, kiểm toán viên còn phải hiểu cả
Trang 16những khía cạnh đặc thù của một tổ chức cụ thể như: Cơ cấu tổ chức, dây chuyền vàcác dịch vụ sản xuất, cơ cấu vốn, chức năng và vị trí của kiểm toán viên nội bộ… đểhiểu rõ các sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt động có thể tác động đến báo cáo tàichính và để thực hiện quá trình so sánh khách hàng này với các đơn vị khác trongngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh đó Bởi những hiểu biết về ngành nghềkinh doanh của khách hàng ảnh hưởng lớn đến công việc và kết quả kiểm toán cáckhoản mục và toàn bộ cuộc kiểm toán.
Đối với khoản mục doanh thu, kiểm toán viên phải tìm hiểu về quy trìnhhạch toán doanh thu và quá trình luân chuyển chứng từ và ghi sổ kế toán với doanhthu Đồng thời trong quá trình tìm hiểu về ngành nghề hoạt động kinh doanh củakhách hàng, kiểm toán viên cũng cần tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quảkinh doanh của khách hàng, yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan có thể làm chodoanh thu trong kỳ tăng lên hay giảm đi
Xem xét lại kết quả kiểm toán doanh thu lần trước
Các hồ sơ kiểm toán năm trước thường chứa đựng nhiều thông tin về kháchhàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác.Ngoài ra, nhiều công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối vớimỗi khách hàng Hồ sơ này có các bản sao của các tài liệu như: Sơ đồ tổ chức bộmáy, điều lệ công ty, chính sách tài chính, kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìmthấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng Việc cậpnhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết và qua đó kiểm toán viênkhông chỉ xác định được các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật phápcủa Nhà nước, với các chính sách hiện hành và của công ty hay không mà còn giúpkiểm toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúngtrên các báo cáo tài chính được kiểm toán
Trong quá trình xem xét lại đó, kiểm toán viên cũng tiến hành xem xét lại kếtquả kiểm toán doanh thu lần trước, vì thông qua đó, kiểm toán viên có thể nhậnthức, hiểu sâu hơn những sai sót mà kế toán khách hàng được kiểm toán thườngmắc phải và có hướng kiểm toán thích hợp
Thực hiện tham quan nhà xưởng
Việc tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanhcủa khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy tai nghe vềquy trình sản xuất kinh doanh, một cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh củakhách hàng, đặc biệt là công tác bảo vệ tài sản Điều này tạo điều kiện cho việcthuyết minh số liệu kế toán, phát hiện những vấn đề cần quan tâm như sản xuất trìtrệ, sản phẩm ứ đọng, máy móc lạc hậu, hay không được phát huy hết công suất…
Trang 17Ngoài ra, kiểm toán viên cũng có được những nhận định ban đầu về phong cáchquản lý của Ban Giám đốc, tính hệ thống trong việc tổ chức, sắp đặt công việc,…
Ngoài ra, việc tham quan nhà xưởng sẽ giúp cho kiểm toán viên quan sátđược tình hình hàng hoá tồn kho, tình hình bảo quản vật tư, sản phẩm hàng hoá,…
từ đó đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với khoản mục doanh thu có thực sựhiệu quả hay không
Nhận diện các bên hữu quan
Các bên hữu quan, theo Chuẩn mực kiểm toán số 550, Các bên hữu quan,
được hiểu là các bộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty kháchhàng hay bất kỳ công ty chi nhánh, một cá nhân hay tổ chức nào mà công ty kháchhàng có quan hệ và các cá nhân tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc
có ảnh hưởng đáng kể tới các chính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị củacông ty khách hàng
Thông qua các bên hữu quan, kiểm toán viên có thể hiểu rõ hơn tình hìnhhoạt động kinh doanh của khách hàng và uy tín của khách hàng trên thị trường kinhdoanh Trong quá trình kiểm toán khoản mục doanh thu, kiểm toán viên tiến hànhnhận diện các bên hữu quan chủ yếu là những khách hàng của công ty được kiểmtoán Chủ yếu, kiểm toán viên tìm hiểu sự tồn tại, hiện hữu của những khách hàng là
có thật và đặc biệt là những khách hàng có số dư nợ lớn, hoặc những khách hàng cótình hình hoạt động kinh doanh không tốt Kiểm toán viên có thể nhận diện các bênhữu quan thông qua việc phỏng vấn nhân viên trong công ty hoặc qua lấy xác nhậnhoặc qua các kênh thông tin khác
Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 620, Sử dụng tư liệu của một chuyên gia,
hướng dẫn khi sử dụng chuyên gia, kiểm toán viên phải đánh giá khả năng chuyênmôn, hiểu mục đích và phạm vi công việc của họ cũng như sự phù hợp của việc sửdụng tư liệu đó cho các mục tiêu dự định Kiểm toán viên cũng nên xem xét mốiquan hệ giữa chuyên gia với khách hàng, những yếu tố có thể ảnh hưởng tới tínhkhách quan của chuyên gia đó
Trong kiểm toán khoản mục doanh thu, kiểm toán viên cũng có thể cần đếnnhu cầu chuyên gia bên ngoài, đó là trong trường hợp kiểm toán doanh thu củanhững loại hàng hoá đặc biệt và kiến thức của kiểm toán viên là không đủ để tiếnhành kiểm tra và đưa ra ý kiến
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho kiểm toán viên hiểuđược về các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng, thì việc thu thập các thông
Trang 18tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên nắm bắt đượccác quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanhnày, những thông tin này được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban Giám đốccông ty khách hàng bao gồm các loại sau:
- Giấy phép thành lập và điều lệ công ty
- Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của nămhiện hành hay trong vài năm trước
- Biên bản các cuộc họp hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, các cuộc họp cổđông
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng
Riêng trong quá trình kiểm toán doanh thu, kiểm toán viên cần thu thập tìnhhình pháp lý của công ty có liên quan đến hạch toán doanh thu
Thu thập các Quy định của Nhà nước và của doanh nghiệp về bán hàng
và cung cấp dịch vụ, về doanh thu và ghi nhận doanh thu
Thu thập các Quy định của Nhà nước về nhóm hàng, mặt hàng chịu thuếsuất khác nhau
Thực hiện các thủ tục phân tích doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, Quy trình phân tích thì quy trình phân tích “là việc phân tích các số liệu, các thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với các giá trị
đã dự kiến”
Ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, sau khi đã thu thập được các thông tin
cơ sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toán viên tiến hànhthực hiện các thủ tục phân tích đối với các thông tin đã thu thập để hỗ trợ cho việclập kế hoạch về bản chất, thời gian và nội dung các thủ tục kiểm toán sẽ được sửdụng cho việc lập kế hoạch kiểm toán nhằm vào các mục tiêu sau đây:
Thu thập hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và những biến đổiquan trọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra kể
từ lần kiểm toán trước
Tăng cường sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh củakhách hàng và giúp kiểm toán viên xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạtđộng liên tục của công ty khách hàng
Đánh giá sự hiện diện các sai số có thể có trên báo cáo tài chính doanh nghiệp
Trang 19Như vậy qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán, kiểm toán viên có thể xác định nội dung cơ bản của cuộc kiểmtoán báo cáo tài chính Mức độ, phạm vi và thời gian áp dụng các thủ tục phân tíchthay đổi tuỳ thuộc vào quy mô và tính phức tạp trong hoạt động kinh doanh củakhách hàng.
Việc xây dựng các thủ tục phân tích bao hàm một số bước đặc thù như xácđịnh mục tiêu, thiết kế các cuộc khảo sát, tiến hành khảo sát, phân tích kết quả vàđưa ra kết luận
Đối với kiểm toán doanh thu, các thủ tục phân tích được kiểm toán viên sửdụng gồm hai loại cơ bản:
Phân tích ngang (phân tích xu hướng) là việc phân tích dựa trên cơ sở sosánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài chính Các chỉ tiêu phân tíchđược sử dụng ngang bao gồm:
- So sánh số liệu của doanh thu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc giữa các
kỳ với nhau và qua đó kiểm toán viên thấy được những biến động bất thường củadoanh thu và xác định được những điểm cần quan tâm Chẳng hạn, doanh thu kỳnày đột ngột cao hơn so với kỳ trước trong khi tình hình kinh doanh không được cảithiện thông qua các tỉ suất thanh toán hay số lượng hàng xuất bán,…
- So sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán hoặc số liệu ước tính của kiểm toánviên
- So sánh doanh thu của công ty khách hàng với doanh thu của công tykhác cùng quy mô, cùng hoạt động trong ngành…
- Phân tích dọc (phân tích tỷ suất): Là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánhcác tỷ lệ liên quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính,như doanh thu hoạt động tài chính trong tổng doanh thu, doanh thu bán hàng trongtổng doanh thu,…
Các tỷ suất tài chính thường dùng trong phân tích dọc có thể là các tỷ suất vềkhả năng thanh toán nhanh, tỷ suất thanh toán hiện hành, các tỷ suất về khả năngsinh lời, tỷ lệ doanh thu trên tổng nguồn vốn kinh doanh, tỷ lệ doanh thu trên tổngnguồn vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận gộp, tỷ suất hiệu quả kinh doanh bằng tỷ lệgiữa lợi nhuận trước thuế với tổng doanh thu bán hàng…
Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro trong kiểm toán doanh thu
Trong bất kỳ một cuộc kiểm toán nào, trong giai đoạn lập kế hoạch kiểmtoán, kiểm toán viên cũng cần phải tiến hành đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểmtoán đối với mỗi khách hàng cụ thể Tuỳ theo tình hình kinh doanh của mỗi khách
Trang 20hàng mà tính trọng yếu và rủi ro là khác nhau, và phân bổ cho mỗi khoản mục cụthể là khác nhau.
Ngoài ra, tính trọng yếu và rủi ro rất quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán vì đánh giá tính trọng yếu và rủi ro hỗ trợ việc thiết kế phương pháp kiểmtoán, kế hoạch kiểm toán phù hợp, góp phần vào sự thành công của cuộc kiểm toán
Đánh giá rủi ro kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán số 400, Đánh giá rủi ro kiểm toán và rủi ro kiểm soát nội bộ, “rủi ro kiểm toán là rủi ro do Công ty kiểm toán và kiểm toán viên đưa
ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu”.
Rủi ro cố hữu là khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài
chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có haykhông có hệ thống kiểm soát nội bộ Trong kiểm toán doanh thu, rủi ro cố hữuthường xảy ra trong trường hợp xảy ra các sai sót trên các hoá đơn bán hàng, trongghi chép sổ sách kế toán như ghi sổ sai, tính toán sai…
Rủi ro kiểm soát là loại rủi ro có liên quan đến sự yếu kém của hệ thống kiểm
soát nội bộ Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ thốngkiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động khônghiệu quả do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này Đối với doanhthu, rủi ro kiểm soát có thể xảy ra nhiều hơn với những khách hàng có hệ thốngkiểm soát nội bộ hoạt động kém hiệu quả, do vậy không kiểm soát được với hoạtđộng bán hàng, thu tiền và ghi sổ bán hàng cũng như sổ kế toán
Rủi ro phát hiện là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trên báo cáo tài
chính mà không được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ vàcũng không được kiểm toán viên phát hiện trong quá trình kiểm toán Trong kiểmtoán các khoản mục trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, thường có nhiều rủi
ro phát hiện, do hoạt động kinh doanh của khách hàng còn có nhiều gian lận vànhững vấn đề mà kiểm toán viên chưa hiểu hết
Trong kiểm toán, giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ vớinhau, nếu mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại
Đánh giá tính trọng yếu
Theo chuẩn mực kiểm toán số 320, Tính trọng yếu trong kiểm toán, đã nêu khái niệm trọng yếu như sau: “Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong báo cáo tài chính Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài
Trang 21chính Mức trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin, hay sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Mức trọng yếu là một ngưỡng, một điểm chia cắt chứ không phải là nội dung của thông tin cần phải có Tính trọng yếu của thông tin phải xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính”.
Các yếu tố chất lượng cũng ảnh hưởng đến tính trọng yếu Một số sai phạmnhất định có khả năng quan trọng hơn đối với người sử dụng này so với nhữngngười sử dụng khác, cho dù số tiền như nhau
Các bước để thực hiện ước lượng về mức trọng yếu với doanh thu như sau:
Biểu 03: Các bước thực hiện ước lượng về mức trọng yếu
Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu: Mức ước lượng ban đầu về tính trọng
yếu là
lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ở mức đó các báo cáo tài chính có thể bị sailệch nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đáng kể đến các quyết định của người sử dụngthông tin tài chính Nói cách khác, đó chính là những sai sót có thể chấp nhận đượcđối với toàn bộ báo cáo tài chính
Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kếhoạch thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp Cụ thể, nếu các kiểm toán viên ướclượng mức trọng yếu càng thấp, nghĩa là độ chính xác của các số liệu trên báo cáotài chính càng cao, thì số lượng bằng chứng kiểm toán càng nhiều và ngược lại
Sau khi kiểm toán viên đã có được mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếucho toàn bộ báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần phân bổ mức ước lượng này cho
Bước 1 Ước lượng sơ bộ về tính trọng yếu cho các
khoản mục
Bước 2 Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
trong bộ phận cho doanh thu
Bước 3 Ước tính tổng số sai của khoản mục doanh
Đánh giá các kết quả
Trang 22từng khoản mục trên báo cáo tài chính Đó cũng chính là sai số có thể chấp nhậnđược đối với từng khoản mục Mục đích của sự phân bổ này nhằm giúp kiểm toánviên xác định bằng chứng thích hợp với từng tài khoản để thu thập, nhằm tối thiểuhoá các chi phí kiểm toán.
Đối với khoản mục doanh thu cũng được thực hiện phân bổ ước lượng banđầu về tính trọng yếu như những khoản mục khác Để có thể thực hiện phân bổ ướclượng ban đầu về tính trọng yếu, kiểm toán viên tiến hành ước lượng ban đầu vềmức độ trọng yếu cho tất cả các khoản mục, sau đó tiến hành phân bổ cho cáckhoản mục theo một hệ số tuỳ thuộc vào từng công ty kiểm toán khác nhau
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ đối với doanh thu và đánh giá rủi ro kiểm soát
Trong mọi hoạt động của doanh nghiệp, chức năng kiểm tra kiểm soát luôngiữ vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệthống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát nội bộ là một
hệ thống chính sách và thủ tục nhằm bốn mục tiêu sau:
Bảo vệ tài sản của đơn vị
Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin
Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý
Bảo đảm hiệu quả hoạt động của hoạt động
Theo đó, kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các đơn vị, tổchức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm rabiện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị
Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với doanh thu
Đối với doanh thu, trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên cần phải đánhgiá rủi ro kiểm soát đối với doanh thu, thông qua đó kiểm toán viên có thể tiến hànhlập kế hoạch kiểm toán, đồng thời có phương hướng để thực hiện các thủ tục kiểmtoán thích hợp
Đối với mỗi phần hành, khoản mục trên báo cáo tài chính, kiểm toán viênđều phải đánh giá sự hoạt động hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ, và đối vớidoanh thu cũng được tiến hành tương tự
Để có thể tiến hành đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ đối với doanh thu,kiểm toán viên có thể tiến hành bằng nhiều cách, trong đó có thể sử bảng câu hỏi đểđánh giá, có thể thực hiện phỏng vấn nhân viên công ty khách hàng, Ban Giám đốc,hoặc có thể quan sát
Cụ thể, quá trình kiểm soát nội bộ đối với doanh thu như sau:
Trang 23 Quá trình vào sổ doanh thu được chứng minh bằng các chứng từ vận chuyển
đã được phép và các đơn đặt hàng đã được phê chuẩn của khách hàng
Các hoá đơn bán hàng được đánh số thứ tự trước và được theo dõi, ghi chépđúng đắn
Các báo cáo hàng tháng được gửi cho khách hàng
Sự phê chuẩn cụ thể hoặc phê chuẩn chung phải có ở ba điểm chính, thôngqua các thể thức đúng đắn
Chuẩn y bán chịu trước khi gửi hàng
Xác định giá và phương thức, cước phí vận chuyển và các khoản chiết khấu
Các chứng từ vận chuyển được đánh số trước và ghi chép
Sử dụng một sơ đồ tài khoản đầy đủ
Các thủ tục quy định việc tính tiền và vào sổ doanh thu theo căn cứ hàngngày và càng gần ngày phát sinh càng tốt
Cách ly trách nhiệm ghi sổ nhật ký bán hàng với ghi sổ phụ các khoản phải thu
Gửi đều đặn các báo cáo hàng tháng cho khách hàng
Kiểm tra nội bộ quá trình lập hoá đơn và quá trình chuyển sổ, quá trình kiểmtra này được thực hiện bởi một người độc lập
Căn cứ vào những yếu tố trên mà kiểm toán viên đánh giá hệ thống kiểm soátnội bộ hoạt động hữu hiệu hay không
Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế chương trình kiểm toán doanh thu
Trong giai đoạn này, kiểm toán viên đưa ra lời giải đáp cho câu hỏi: kiểmtoán cái gì, ai thực hiện kiểm toán và khi nào tiến hành kiểm toán
Theo Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế số 310, chương trình kiểm toán là tậphợp những hướng dẫn cho các thành viên tham gia kiểm toán, là phương tiện đểkiểm tra việc thực hiện công việc kiểm toán Chương trình kiểm toán có thể baogồm các mục tiêu kiểm toán cho từng khoản mục, các ước tính thời gian cần thiết đểkiểm tra từng khoản mục hoặc để thực hiện từng thủ tục kiểm toán
Trọng tâm của các chương trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thựchiện với từng khoản mục hoặc bộ phận được kiểm toán Một chương trình kiểmtoán thích hợp sẽ đem lại nhiều lợi ích trong quá trình kiểm toán, thể hiện ở bađiểm:
Chương trình kiểm toán thích hợp sẽ sắp xếp một cách có kế hoạch công việc
và nhân lực, sẽ đảm bảo sự phối hợp giữa các kiểm toán viên, kể cả việc hướng dẫncho các kiểm toán viên mới hành nghề kiểm toán
Đây là phương tiện để chủ nhiệm kiểm toán quản lý, giám sát cuộc kiểmtoán, xác định các công việc còn phải thực hiện tiếp
Trang 24 Đây là một bằng chứng chứng minh các thủ tục kiểm toán đã thực hiện(thông thường sau khi hoàn thành cuộc kiểm toán, kiểm toán viên thường kýtắt lên chương trình kiểm toán đã thực hiện liền ngay với thủ tục kiểm toánvừa hoàn thành).
Lập kế hoạch chiến lược
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, “kế hoạch chiến lược phảiđược lập cho các cuộc kiểm toán lớn về quy mô, tính chất phức tạp, địa bàn rộnghoặc kiểm toán báo cáo tài chính của nhiều năm
Những thông tin chung về khách hàng: Như tên công ty khách hàng, loạihình, trụ sở chính, địa chỉ, công ty thành lập theo giấy phép, tổng số vốn đầu tư,ngành nghề kinh doanh, doanh thu trong ba năm gần đây, thời hạn hoạt động, cácnghĩa vụ về thuế
Đánh giá rủi ro ban đầu: Tuỳ vào từng ngành nghề hoạt động kinh doanh củatừng khách hàng mà kiểm toán viên đánh giá mức rủi ro kiểm toán ban đầu là ởmức độ cao hay thấp
Phương pháp kiểm toán doanh thu: Trong từng công việc cụ thể mà kiểmtoán viên có phương pháp kiểm toán thích hợp Cụ thể:
Với kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: kiểm toán viên sửdụng phương pháp chọn mẫu Ngoài chọn mẫu các khoản doanh thu lớn đủ để đạidiện cho tổng thể, kiểm toán viên phải xem xét bản chất của sự việc Trường hợp cónghi vấn phải lấy xác nhận của các đơn vị mua sản phẩm, hàng hoá của doanhnghiệp một cách độc lập để có bằng chứng xác đáng Việc đánh giá kết quả củaphương pháp chọn mẫu có thể chấp nhận hoàn toàn nếu không có một sai sót nàođược tìm ra trong bước chọn mẫu thì kiểm toán viên nhất thiết phải đánh giá xem
có cần phải mở rộng phạm vi kiểm toán không bằng cách chọn một mẫu kiểm toán
bổ sung hoặc áp dụng việc kiểm tra thay thế
Với kiểm toán doanh thu hoạt động tài chính: kiểm toán viên so sánh báo cáotài chính của năm trước (đã được kiểm toán nếu có hoặc được các cơ quan có thẩmquyền phê duyệt) và tìm ra những lời giải thích cho những thay đổi quan trọng
Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể
Mục đích của việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể là để đưa ra sự xácnhận về doanh thu trong năm báo cáo của doanh nghiệp có được trình bầy một cáchđầy đủ, hợp lý và trung thực trên báo cáo tài chính không
Nội dung kiểm toán:
- Xác định doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá trị hàng hoá,dịch vụ được thoả thuận ghi trong hợp đồng kinh tế về mua bán và cung cấp dịch vụ
Trang 25và được ghi trong hoá đơn bán hàng hoặc ghi trên chứng từ và có liên quan tới việcbán hàng, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có thể thu được tiền ngay hoặcchưa thu được tiền sau khi doanh nghiệp đã cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho kháchhàng.
- Khi thực hiện kiểm toán doanh thu, cần kiểm tra những yếu tố sau:
Mọi nghiệp vụ bán hàng đã được ghi sổ
Các nghiệp vụ bán hàng đã được phê chuẩn đúng đắn
Các khoản bán hàng đã ghi sổ đúng số lượng, chủng loạihàng hoá đã vận chuyển và hoá đơn bán hàng đã lập đúng
Các nghiệp vụ bán hàng được ghi đúng thời gian phátsinh (sát với ngày xảy ra các nghiệp vụ)
Các nghiệp vụ bán hàng được đưa vào sổ thu tiền vàcộng lại đúng
Riêng đối với doanh thu hoạt động tài chính, mục đích của việc kiểm toándoanh thu hoạt động tài chính là kiểm tra xem việc phản ánh có đầy đủ, trung thựckhông, có được phân loại mô tả chính xác không Nội dung kiểm toán: kiểm toánviên thực hiện kiểm toán về hoạt động góp vốn liên doanh, đầu tư, mua bán chứngkhoán ngắn hạn, dài hạn, cho thuê tài sản, hoạt động đầu tư khác, kiểm toán thu lãitiền gửi, thu lãi cho vay vốn và thu lãi về mua bán ngoại tệ Những hoạt động nàyảnh hưởng nhiều đến công việc kiểm toán của kiểm toán viên do những khoảnmục này dễ xảy ra những sai sót và gian lận hơn so với những khoản mục doanhthu khác
Lập chương trình kiểm toán
+ Đối với doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Kiểm toán viên rà soát nhanh các chứng từ sổ sách kế toán, cân nhắc lựachọn mục tiêu kiểm toán để thiết kế chương trình kiểm toán cho phù hợp Cụ thể:
- Doanh thu ghi sổ thực tế là có thật: kiểm toán viên có thể xem xét lại cácbản sao hoá đơn bán hàng, đơn đặt hàng, xem xét lại tính hiệu lực của dãy hoá đơnđược đánh số trước, xác minh việc thực hiện độc lập quá trình gửi bảng cân đối hàng– tiền và tiếp nhận các xác nhận hoặc khiếu nại của người mua, xem xét lại sổ cái, sổphụ về các khoản phải thu với những khoản mục lớn hoặc bất thường, đối chiếu vàxác nhận các bút toán bán hàng với hoá đơn, vận đơn, đối chiếu chứng từ với sổ theodõi hàng tồn kho, đối chiếu bút toán bán hàng với lệnh bán chịu và lệnh vận chuyển
Trang 26- Mọi khoản doanh thu bán hàng đã được ghi sổ: Đối chiếu vận đơn vớihoá đơn, hoá đơn với các bút toán bán hàng trong nhật ký tiêu thụ và sổ thu tiền đểxác minh mọi chứng từ đều đã ghi sổ.
- Các nghiệp vụ bán hàng đều đã được phê chuẩn đúng đắn, bằng cáchkiểm tra các chứng từ, hoá đơn đã đầy đủ các chữ ký phê duyệt hay chưa
- Doanh thu ghi sổ được xác định đúng với chủng loại hàng hoá, số lượnghàng hoá dịch vụ cung cấp
- Các khoản doanh thu được phân loại đúng đắn, thích hợp: Xem xét cácchứng từ quan hệ giữa nội dung kinh tế cụ thể của nghiệp vụ bán hàng với xử lýphân loại các định khoản tương ứng
- Các nghiệp vụ bán hàng được đưa vào sổ thu tiền và cộng dồn lại đúng:đối chiếu các bút toán vào sổ cái và sổ theo dõi các khoản phải thu, cộng các Nhật
ký, sổ chi tiết các khoản phải thu và đối chiếu với sổ tổng cộng có liên quan
+ Đối với các khoản giảm trừ doanh thu, có thể kiểm tra toàn bộ dựa trên
về chất lượng của hàng bán so với hợp đồng đã ký kết
- Xem xét lại nội dung các khoản chiết khấu thương mại, kiểm tra xem cáckhoản này có đúng với quy định của đơn vị không
+ Đối với doanh thu hoạt động tài chính
Lập chương trình kiểm toán đối với doanh thu hoạt động tài chính là nhằmđảm bảo các cơ sở dữ liệu liên quan đến tính đầy đủ, hiện hữu, tính sở hữu và tínhtrình bầy
- Xác định xem các khoản doanh thu hoạt động tài chính có được ghi chépđầy đủ, đúng kỳ và thuộc sở hữu của doanh nghiệp không?
- Xác định xem việc trình bầy các khoản doanh thu hoạt động tài chính cótheo đúng luật định và các chuẩn mực kế toán không?
- Kiểm tra chính sách quản lý chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ kinh doanh
- Xác định tỷ trọng của khoản doanh thu hoạt động tài chính so với tổng doanhthu
Trang 27- Kiểm tra các khoản thu từ lãi tiền gửi ngân hàng, đầu tư, số liệu tính toáncác khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ, chênh lệch tỷ giá đánh giá lại cuốinăm tài chính.
1.4.2 Thực hiện kiểm toán
Sau khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành thực hiện công việckiểm toán theo kế hoạch đã định Đối với kiểm toán doanh thu, kiểm toán viên cầnyêu cầu khách hàng chuẩn bị những chứng từ, sổ sách kế toán như sau:
- Đơn đặt hàng của khách hàng của công ty được kiểm toán
- Báo cáo hàng tháng gửi cho khách hàng thông báo về số dư nợ, số đã thu, số còn nợ
Thực hiện các thủ tục kiểm soát đối với doanh thu
Đối với doanh thu, mỗi một công ty cần phải kiểm soát chặt chẽ, ngoài ra khi tiếnhành các thủ tục kiểm soát, kiểm toán viên cần xem xét kết hợp để đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầu có hợp lý hay không Các thủ tục kiểm soát bao gồm:
- Xem xét các bản sao hoá đơn bán hàng minh chứng cho vận đơn và đơn đặthàng
- Xem xét tính hiệu lực của dãy hoá đơn được đánh số trước
- Xác minh việc thực hiện độc lập quá trình gửi bảng cân đối số tiền và tiếpnhận các xác nhận khiếu nại của người mua
- Xem xét tính liên tục của dãy các chứng từ hoá đơn bán hàng để xác minhviệc thực hiện đánh số thứ tự trước
- Xem xét quá trình xét duyệt các thể thức phê duyệt và quyền hạn, chứctrách của người thực hiện các thể thức đó trên cả ba mặt cần xét duyệt đã nêu
- Phát hiện và xác minh thủ tục lập các chứng từ chưa được kiểm tra nội bộ
- Kiểm tra việc xử lý các nghiệp vụ bán hàng qua sơ đồ tài khoản
- Xem xét các chứng từ vận chuyển, các hoá đơn và các nghiệp vụ bán hàngđúng thời gian
Thông qua các thủ tục kiểm soát với doanh thu, kiểm toán viên quay lại đánhgiá hệ thống kiểm soát nội bộ Đánh giá này có thể thống nhất với đánh giá ban đầuhoặc cũng có thể cao hơn, thấp hơn Từ đó, kiểm toán viên có hướng để thực hiệncác công việc về sau
Trang 28Thực hiện các thủ tục phân tích đối với doanh thu
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 “ Quy trình phân tích” xác
định: “Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị
số lượng sản phẩm và đơn giá tiền lương hoặc tỷ lệ tiền lương và tổng chi phí…
Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ: Bởi tínhđộc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ sử dụng trong mô hình có ảnhhưởng trực tiếp đến tính chính xác của dự đoán và tới bằng chứng kiểm toán thuđược từ thủ tục phân tích Để đánh giá tính tin cậy của dữ liệu cần xem xét trênnhiều mặt như:
- Nguồn của dữ liệu: Dữ liệu có nguồn độc lập từ bên ngoài có độ tin cậy caohơn nguồn này từ bên trong, với nguồn dữ liệu từ bên trong thì độ tin cậy sẽ caohơn nếu chúng độc lập với người chịu trách nhiệm cho giá trị được kiểm toán,những dữ liệu được kiểm toán có độ tin cậy cao hơn so với dữ liệu chưa được kiểmtoán
- Tính kế thừa và phát triển của thủ tục kiểm toán dữ liệu từ những năm trước
Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ: Dựa theo mô hình và trên cơ
sở dữ liệu độc lập và tin cậy có thể so sánh ước tính này với giá trị ghi sổ Phép sosánh này cần chú ý tới những xu hướng như: Tính thường xuyên của việc đánh giámối quan hệ đang được nghiên cứu mối quan hệ đang được nghiên cứu; tính biếnđộng tất yếu và biến động bất thường
Phân tích nguyên nhân chênh lệch: Chênh lệch phát sinh có thể do số dưtài khoản hay loại nghiệp vụ được kiểm toán chứa đựng sai sót nhưng cũng có thểchênh lệch được hình thành từ chính những ước tính trong phân tích Do đó, lời giảithích cần được tìm hiểu từ những nhân viên của khách thể kiểm toán, ít nhất lànhững minh chứng cho những vấn đề quan trọng Nếu qua tiếp xúc vẫn không cóđược lời giải thích hợp lý thì cần xem xét quá trình triển khai thủ tục phân tích thìlời giải và bằng chứng cần được giải quyết qua các thủ tục kiểm tra chi tiết số liệu
Trang 29 Xem xét những phát hiện qua kiểm toán: Bằng chứng kiểm toán thu nhậnđược từ thủ tục phân tích cần được đánh giá do phát hiện qua kiểm toán không chỉbao gồm những sai sót trong tài khoản mà cả những quan sát hệ thống kiểm soát nội
bộ, hệ thống thông tin và những vấn đề khác Do vậy mọi chênh lệch được phát hiệntrong kiểm toán cần được điều tra về tính chất và nguyên nhân cả về cơ sở dẫn liệu,
cả về mục tiêu kiểm toán và cả tình hình kinh doanh của khách hàng Chuẩn mựcKiểm toán Việt Nam số 520 quy định: “Trường hợp quy trình phân tích phát hiệnđược những chênh lệch trọng yếu hoặc mối liên hệ không hợp lý giữa các thông tintương ứng hoặc có chênh lệch lớn so với dự tính, kiểm toán viên phải thực hiện cácthủ tục điều tra để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp”
Trong giai đoạn tìm hiểu về ngành nghề, hoạt động kinh doanh của kháchhàng, kiểm toán viên đã thực hiện các thủ tục phân tích tổng quát với các chỉ tiêukhác nhau, tuy nhiên trong giai đoạn này, kiểm toán viên cần tập trung vào phântích sâu hơn các chỉ tiêu về doanh thu, từ đó hiểu rõ hơn về việc hạch toán doanhthu của khách hàng
Lập bảng phân tích doanh thu theo từng tháng, từng quý, từng đơn vị trựcthuộc, từng cửa hàng, để xem xét sự biến động tăng giảm doanh thu, trong đó cótính đến yếu tố thời gian và ngành nghề sản xuất kinh doanh của khách hàng
Phân tích các chỉ tiêu doanh thu giữa các tháng, quý, năm để tìm ra những sựthay đổi, có lưu ý đến thời điểm ghi nhận doanh thu và sự thay đổi trong lĩnh vực hoạtđộng kinh doanh của khách hàng
So sánh giá trị doanh thu của kỳ này với doanh thu của cùng kỳ năm trước hoặcvới số liệu của năm này với năm trước, tìm ra những thay đổi bất thường nếu có
So sánh tỉ suất lợi nhuận gộp giữa kỳ này với kỳ trước hoặc giữa các năm vớinhau của những mặt hàng chủ yếu
Trong trường hợp khách hàng có nhiều loại hàng hoá, sản phẩm khác nhau, kiểmtoán viên có thể tiến hành phân tích với doanh thu của từng loại mặt hàng với nhau, kếthợp với những tìm hiểu khác để đánh giá khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu
Qua các thủ tục kiểm toán trên, kiểm toán viên có thể phát hiện và giải trình các thay đổi quan trọng của việc thực hiện chỉ tiêu doanh thu bán hàng, lợi tức bán hàng, thuế phải nộp
Ngoài ra, kiểm toán viên có thể áp dụng các tỷ suất tài chính sau:
Tỷ suất lợi
Lợi nhuận gộpDoanh thu bán hàngDoanh thu bán hàng
Trang 30Tỷ suất này phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuậngộp càng cao thì khả năng sinh lời càng lớn Kiểm toán viên có thể so sánh tỷ suấtnày của doanh nghiệp qua các năm hoặc với các doanh nghiệp khác cùng một ngànhnghề kinh doanh.
(Nguồn: Phân tích hoạt động kinh doanh - ĐH KTQD)
Tỷ suất cao hay thấp tuỳ thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh, từng đơn vị trong ngành Cùng với tỷ suất lợi nhuận gộp, kiểm toán viên có thể đánh giá mức lợi nhuận của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau
Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết đối với doanh thu
Thực hiện các thủ tục khảo sát và kiểm tra chi tiết doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản
Thực hiện kiểm tra việc lập, luân chuyển sử dụng hoá đơn bán hàng đượclập, ghi chép đầy đủ chính xác các yếu tố cần thiết, luân chuyển và sử dụng theoquy định Thông thường nội dung kiểm tra bao gồm:
- Đối chiếu với bảng giá xét duyệt với hợp đồng để xác định đơn giá bán ghitrên hoá đơn
- Đối chiếu với lệnh bán hàng, đơn đặt hàng để xác định chủng loại, số lượnghàng bán ghi trên hoá đơn
- Đối chiếu tỉ suất thuế quy định cho nhóm hàng, mặt hàng để xác định tỷsuất thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn
Trường hợp giá bán được xác định và thanh toán bằng ngoại tệ, cần kiểm traviệc quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam tại thời điểm bán hàng có đúng với quyđịnh tỷ giá tại thời điểm phát sinh không
Thực hiện các thủ tục kiểm tra việc ghi sổ kế toán:
- Thử nghiệm kiểm tra việc ghi chép các nghiệp vụ bán hàng vào sổ kế toánnhằm đảm bảo việc hạch toán đầy đủ các nghiệp vụ bán hàng, cung cấp dịch vụ đãphát sinh và hoàn thành đều được ghi vào sổ và mọi nghiệp vụ ghi sổ đều là chínhxác và có thực
- Việc kiểm tra được thực hiện bằng cách xuất phát từ các chứng từ bán hàng đểđối chiếu xem xét việc có ghi chép đầy đủ các chứng từ này vào sổ Nhật ký bán hànghoặc ngược lại; xuất phát từ các nghiệp vụ bán hàng đã được ghi chép trên nhật ký bánhàng để đối chiếu xem xét có đầy đủ chứng từ làm căn cứ ghi vào sổ hay không
Tỷ suất hiệu quả
Lợi nhuận trước thuếDoanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng
Trang 31Ngoài ra, còn có thể thử nghiệm kiểm tra bằng cách đối chiếu chứng từ bán hàng,nhật ký bán hàng với các tài liệu kế toán khác có liên quan như: đối chiếu với hợp đồng kinh tế, đối chiếu với sổ theo dõi thanh toán, với chứng từ xuất kho hàng hoá…
Kiểm tra chi tiết các khoản giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại:Kiểm tra các nghiệp vụ phát sinh về giảm giá bán hàng, hàng bán bị trả lại đểhạch toán các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng và xác định đúng doanh thu bánhàng thuần, yêu cầu kiểm tra phải cụ thể từng trường hợp phát sinh, đối chiếu vớiviệc thanh toán để đảm bảo sự phù hợp giữa doanh số tiêu thụ với thu tiền bán hàng
Đối với các khoản giảm giá hàng bán và hàng trả lại trước hết kiểm toán viên cầnnghiên cứu kỹ các quy định về bán hàng và quản lý hàng bán, các thủ tục bán hàng, giaohàng, tiếp đó phải xem xét việc thực hiện các quy định đó có đúng không
Kiểm tra việc khoá sổ bán hàng:
Việc ghi sổ các nghiệp vụ bán hàng phải đảm bảo đúng niên độ theo quyđịnh của chế độ kế toán mới đảm bảo phản ánh đúng doanh thu và lợi tức của niên
độ quyết toán Do đó cần kiểm tra cụ thể các nghiệp vụ bán hàng gần thời điểm cuốiniên độ và đầu niên độ để phát hiện các nghiệp vụ bán hàng của niên độ này hạchtoán vào niên độ sau và ngược lại Kiểm toán viên sẽ lựa chọn một số nghiệp vụbán hàng xảy ra trước và sau thời điểm khoá sổ bán hàng để kiểm tra, so sánh ngàytháng ghi trên hoá đơn với ngày tháng ghi trên sổ sách kế toán
Thử nghiệm kiểm tra việc phân loại doanh thu bán hàng:
Mục đích của thử nghiệm này là nhằm tránh việc phân loại doanh thu bán hàng không đúng dẫn đến không đảm bảo việc cung cấp thông tin chính xác phục vụ cho công tác quản lý doanh thu, tính thuế, tính lợi tức Cụ thể cần xem xét việc phân tích để:
- Phân biệt rõ doanh thu bán hàng trong nội bộ đơn vị hạch toán với doanhthu bán hàng ra ngoài, doanh thu bán hàng với doanh thu hoạt động tài chính, vớithu nhập bất thường
- Phân biệt giữa doanh thu bán hàng mà khách hàng chưa thanh toán ngay,phải theo dõi công nợ thanh toán với doanh thu bán hàng thu tiền ngay
- Phân biệt giữa doanh thu gia công với doanh thu bán hàng do đơn vị sảnxuất với doanh thu bán hàng do đơn vị mua về để bán…
- Phân biệt giữa doanh thu bán hàng của đơn vị với doanh thu bán hàng đại
Trang 32Mục đích của việc kiểm tra các khoản thu nhập hoạt động tài chính là nhằmxem xét các nghiệp vụ này có thực sự làm phát sinh thu nhập tài chính đúng như sốliệu hạch toán hay không
Đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán và kinh doanh bất động sản, chỉkhi phát sinh chênh lệch giữa giá bán và giá gốc của các loại chứng khoán, phát sinhchênh lệch giữa giá bán và giá chuyển nhượng bất động sản với giá đầu tư vào cácbất động sản đó mới được hạch toán vào thu nhập hoạt động tài chính, tuyệt đốikhông được tự đánh giá, so sánh với giá gốc để hạch toán vào thu nhập hoạt động tàichính
Đối với hoạt động liên doanh, hợp tác liên doanh chỉ được hạch toán vào thunhập hoạt động tài chính các khoản được chia vào lợi nhuận kinh doanh, còn cáckhoản thu hồi về vốn góp, chênh lệch đánh giá tài sản vốn góp thì không được hạchtoán vào thu nhập hoạt động tài chính
Kiểm toán thu nhập khác
Mục đích của kiểm tra các khoản thu nhập bất khác là nhằm xem xét các nghiệp vụ này có thực sự làm phát sinh thu nhập bất thường và đúng với số liệu đã hạch toán hay không
Để kiểm tra các khoản thu nhập bất thường khác chưa được ghi chép phản ánh kiểm toán viên có thể thực hiện xem xét các nghiệp vụ có liên quan, như xem xét các nghiệp vụ phát sinh giảm chi phí trong kỳ: Trong nhiều trường hợp, các đơn vị thường không hạch toán các khoản thu nhập khác mà hạch toán để giảm chi phí phát sinh trong
kỳ (đặc biệt là giảm chi phí quản lý) Sai sót này tuy không làm ảnh hưởng đến tổng thu nhập, tổng lợi tức nhưng lại ảnh hưởng đến kết quả của từng hoạt động Do vậy, cần kiểm tra và phát hiện và đề nghị hạch toán cho đúng
Để phát hiện các khoản thu tiền bất thường hoặc có nội dung không rõ ràng,những khoản thu này có liên quan đến những khoản thu bất thường mà đơn vị đã vôtình hay cố ý không hạch toán vào thu nhập bất thường trong kỳ hạch toán
Xem xét các nghiệp vụ phải trả (đặc biệt là khoản phải trả khác): Để pháthiện những khoản tiền mà đơn vị đã vô tình hay cố ý tạm hạch toán treo vào cáckhoản phải trả (nhưng thực tế không phải trả cho ai) Những khoản tạm treo này rất
có thể bị chiếm đoạt trong quá trình xử lý hạch toán sau này
1.4.3 Kết thúc kiểm toán
Kết thúc kiểm toán là giai đoạn cuối cùng của kiểm toán khoản mục doanh thu.
Sau khi hoàn thành các công việc kiểm toán trong từng phần hành, KTV phải tổnghợp, đánh giá các thông tin đã thu được nhằm soát xét được toàn bộ quá trình kiểm
Trang 33toán, cụ thể ở đây là kiểm toán doanh thu Để đạt được mục đích này thông thườngKTV phải làm các thủ tục sau đây:
Áp dụng các thủ tục phân tích để đánh giá tính đồng bộ và sát thực của cácthông tin thu thập được đối với từng phần hành trên BCTC
Đánh giá sự đầy đủ của bằng chứng nhằm xem xét bằng chứng thu thậpđược đã đầy đủ cho việc ra quyết định KTV hay chưa
Đánh giá tổng hợp các sai sót phát hiện được nhằm nhận biết tổng số sai sótcủa tất cả các khoản mục trên BCTC phục vụ cho mục đích đưa ra ý kiến
Rà soát lại hồ sơ kiểm toán để đánh giá công việc của KTV trong nhóm Bêncạnh đó còn nhằm xem xét các chuẩn mực kiểm toán đã được tuân thủ trong quá trìnhthực hiện như thế nào, khắc phục những xét đoán thiên lệch của KTV
Yêu cầu đơn vị cung cấp thư giải trình của các nhà quản lý để giải đápnhững thiếu sót và tồn tại của đơn vị phục vụ cho mục đích đưa ra ý định
Kiểm tra lại các khai báo trên BCTC có đúng đắn và tuân theo chuẩn mực kếtoán hiện hành hay không
Xem xét các thông tin khác trên báo cáo của đơn vị để phát hiện những bấthợp lý trên báo cáo này và các quyết định tài chính hiện hành
Ngoài ra, các KTV còn thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung như xem xétcác sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ, xem xét các giả thuyết kinh doanh củađơn vị
Công việc cuối cùng để kết thúc cuộc kiểm toán là KTV căn cứ vào bằngchứng thu thập được và các phát hiện trong quá trình kiểm toán tiến hành phát hànhbáo cáo kiểm toán Báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối cùng của cuộc kiểm toán cóvai trò hết sức quan trọng nhằm bày tỏ ý kiến của KTV về BCTC đồng thời kiến nghị
giúp cho khách hàng có cơ sở đưa ra các quyết định đúng trong điều hành và quản lý
doanh nghiệp
Trang 34CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH TƯ
VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM THỰC HIỆN
2.1 Chuẩn bị kiểm toán
2.1.1 Tiếp cận khách hàng, ký kết hợp đồng kiểm toán và lập kế hoạch kiểm toán
Đối với khách hàng cũ, kiểm toán viên không cần phải gửi thư mời, song vớikhách hàng mới, kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần thiết phải có cách thức tiếpthị để khách hàng có thể chấp nhận vào kiểm toán Công ty kiểm toán tiến hành tìmhiểu tổng quan về công ty khách hàng như về ngành nghề mà khách hàng đang hoạtđộng và sản phẩm mà công ty khách hàng cung cấp ra bên ngoài thị trường, các yếu
tố của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh củakhách hàng, và đó chính là căn cứ để kiểm toán viên và công ty kiểm toán xác địnhphí của cuộc kiểm toán, đồng thời giới thiệu khái quát về tình hình hoạt động kinhdoanh của công ty mình, thành phần ban giám đốc và các thành viên trong phòngkiểm toán nghiệp vụ sẽ tiến hành kiểm toán trong thời gian tới Khi khách hàng chấpnhận kiểm toán, Công ty kiểm toán sẽ soạn thảo hợp đồng và hai bên cùng ký kết.Lấy minh họa hai công ty khách hàng là công ty ABC và công ty XYZ
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên và nhóm kiểm toán sẽtiến hành lập kế hoạch kiểm toán Trong kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên đã chỉ
ra những công việc cần thiết thực hiện trong suốt cuộc kiểm toán
Trang 35Biểu 08: Trích giấy tờ làm việc của kiểm toán viên
Công ty Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam
Tên khách hàng: Công ty ABC Người soát xét:
Niên độ kế toán: 31/12/2010 Người phê duyệt:
Người lập: Nguyễn Anh Tuấn
1 Thông tin chung về khách hàng: Là khách hàng thường xuyên
ra các ý kiến nhận xét về công tác tài chính kế toán nhằm giúp các đơn vị hoàn thiệnhơn nữa công tác kế toán, quản lý tài chính, cung cấp được các thông tin tin cậy,đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý của Tổng công ty Cuộc kiểm toán phải tuân thủtheo các Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam, các Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế đượcchấp nhận tại Việt Nam và các Quy định hiện hành về tài chính, kế toán của Nhànước Việt Nam có liên quan
3 Phạm vi công việc kiểm toán
Phạm vi kiểm toán sẽ bao gồm các thủ tục kiểm toán cần thiết để kiểm toán viên vàCông ty kiểm toán có thể đưa ra ý kiến nhận xét về tính trung thực và hợp lý của cácbáo cáo tài chính năm 2010 của công ty ABC
Các công việc kiểm toán được thực hiện đối với những báo cáo tài chính nêu trênnhằm đảm bảo rằng :
- Hệ thống kế toán đã được xây dựng phù hợp với các tiêu chuẩn kế toán đượcchấp nhận tại Việt Nam hoặc các tiêu chuẩn kiểm toán Quốc tế được áp dụng nhấtquán, phản ánh trung thực và đúng đắn tình hình tài chính của đơn vị tại thời điểmkết thúc năm tài chính 2010
Trang 36- Việc quản lý và sử dụng tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu, công nợ phải thu, phảitrả phù hợp với chế độ quy định của Nhà nước.
Các báo cáo tài chính đã được phản ánh trung thực hợp lý về tình hình tài chính tạithời điểm 31 tháng 12 năm 2010 cũng như về tình hình sản xuất kinh doanh năm
2010 của doanh nghiệp
4 Nội dung thực hiện cuộc kiểm toán
Cuộc kiểm toán phải thực hiện được các nội dung sau:
- Việc quản lý, sử dụng tài sản, nguồn vốn của Nhà nước
- Xác định thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
- Xác định nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước
- Việc chấp hành các chế độ quản lý kinh tế tài chính kế toán thống kê của Nhànước
Cuộc kiểm toán phải làm rõ được các vấn đề sau:
- Các Thông tư tài chính có được lập trên cơ sở các Chế độ Tài chính, Kế toánhiện hành của Nhà nước Việt Nam hay không? Các Chế độ này có được áp dụngmột cách nhất quán và kịp thời không?
- Các thông tin trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính của doanhnghiệp tại thời điểm kết thúc niên độ kế toán, về tình hình hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp trong niên độ kế toán
- Mức độ tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nước về chế độ tài chính kếtoán, thống kê đối với doanh nghiệp Nhà nước
Cuộc kiểm toán cũng đòi hỏi phải đưa ra ý kiến nhận xét về hệ thống kiểmsoát nội bộ, hệ thống kế toán của doanh nghiệp, bao gồm các nhận xét về:
- Công tác ghi chép chứng từ kế toán, luân chuyển chứng từ kế toán, ghi sổ kếtoán và công tác quản lý lưu trữ các chứng từ kế toán
- Phương pháp lập báo cáo tài chính và các báo cáo quản trị, các tài liệu kếtoán có liên quan
- Nhận xét, đánh giá về công tác hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nộibộ
Trang 375 Địa điểm thực hiện
Công việc kiểm toán sẽ được thực hiện tại văn phòng Công ty ABC và các đơn
vị phụ thuộc
6 Báo cáo kiểm toán
Kết thúc cuộc kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán sẽ phải lập vàphát hành các báo cáo sau:
Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính cho năm tài chính kết thúc ngày31/12/2010 cho Công ty ABC Báo cáo kiểm toán cần nêu rõ ý kiến của kiểm toánviên về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vịtrong năm tài chính 2010 Các báo cáo kiểm toán được lập bằng tiếng Việt và đượcphát hành thành 06 bản
Thư quản lý đề cập đến tất cả các phát hiện quan trọng của kiểm toán viên thu đượctrong quá trình kiểm toán (ngoài những vấn đề nêu trong báo cáo kiểm toán), nhữngvấn đề kiểm toán viên lưu ý đối với các đơn vị thành viên nhằm giúp các đơn vịhoàn thiện hơn nữa công tác kế toán và quản lý tài chính
Nhân sự tham gia kiểm toán
Công ty dự kiến sẽ bố trí một nhóm kiểm toán bao gồm các kiểm toán viên cao cấpcủa Công ty AVA Nhóm kiểm toán mà chúng tôi đề xuất có rất nhiều kiến thức vàkinh nghiệm mà chúng tôi tin rằng rất quan trọng cho sự thành công của công việc.Thành phần của nhóm kiểm toán sẽ thực hiện tại Công ty bao gồm:
- Kiểm toán viên chính:
- Các trợ lý kiểm toán viên:
Đối với khoản mục doanh thu, kiểm toán viên cũng phải lập kế hoạch kiểmtoán trên cơ sở các mục tiêu kiểm toán với khoản mục doanh thu
Trang 38 Doanh thu bán hàng ghi sổ là có căn cứ hợp lý: Đối với mục tiêu này,
kiểm toán viên quan tâm đến khả năng của hai loại sai số: doanh thu đang phản ánhtrên các sổ nhật ký mà không thực hiện gửi hàng và loại kia là hàng được gửi chokhách hàng không có thật mà được ghi sổ như doanh thu
Doanh thu bán hàng được phê chuẩn đúng đắn: Các khảo sát chính
thức của việc định giá được thực hiện bằng cách so sánh giá thực tế được tính chocác sản phẩm khác nhau, kể cả cước phí vận chuyển và các thương lượng theo từngthương vụ
Các nghiệp vụ bán hàng hiện hữu đều được ghi sổ.
Doanh thu bán hàng ghi sổ được đánh giá đúng đắn.
Doanh thu bán hàng được phân loại đúng đắn.
Nghiệp vụ tiêu thụ được phản ánh đúng đắn vào các sổ phụ và được tổng hợp chính xác
2.1.2 Thu thập thông tin cơ sở về tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng
Để có thể thực hiện kiểm toán đối với mỗi khách hàng, Công ty Kiểm toánAVA tiến hành tìm hiểu hoạt động của khách hàng Cụ thể, với những khách hànglần đầu kiểm toán, kiểm toán viên có thể tìm hiểu hoạt động của khách hàng thôngqua sách báo, tạp chí, các kênh thông tin liên lạc, Internet,… Đối với khách hàngquen thuộc, kiểm toán viên cũng cần thu thập các thông tin khác như các quy địnhmới của Nhà nước về ngành nghề hoạt động kinh doanh của khách hàng, đồng thờitìm hiểu những thay đổi trong lĩnh vực kinh doanh của khách hàng
Thông qua quá trình tìm hiểu tình hình hoạt động kinh doanh của kháchhàng, thư mời kiểm toán, kiểm toán viên phụ trách cuộc kiểm toán sẽ xác định phíkiểm toán cho phù hợp với cuộc kiểm toán
Khi khách hàng đã chấp nhận mời Công ty đến kiểm toán, kiểm toán viêntiến hành thu thập các thông tin cần thiết về tình hình hoạt động kinh doanh củakhách hàng và kết quả hoạt động kinh doanh trong năm tài chính được kiểm toán
Kiểm toán viên yêu cầu khách hàng chuẩn bị những tài liệu cần thiết chocuộc kiểm toán và thực hiện các công việc cần thiết để hiểu rõ hơn về tình hình hoạtđộng kinh doanh của khách hàng Các phương pháp kiểm toán mà kiểm toán viêntiến hành để thu thập bằng chứng kiểm toán cũng được áp dụng như phỏng vấn,quan sát, kiểm tra tài liệu…
Tài liệu mà kiểm toán viên yêu cầu khách hàng chuẩn bị như: Báo cáo kiểmtoán của năm trước, các biên bản hội đồng quản trị, báo cáo tài chính của khách
Trang 39hàng… Thông qua các tài liệu này, kiểm toán viên thực hiện phân tích các chỉ tiêutrên báo cáo tài chính để từ đó có phương hướng thực hiện cuộc kiểm toán.
Với công ty XYZ, kiểm toán viên tìm hiểu hoạt động kinh doanh của công ty
và thấy công ty XYZ tiến hành hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, cụ thể
là hoạt động in ấn các ấn phẩm sách báo, tạp chí, nhãn hàng hoá, sản xuất các loạigiấy tiêu dùng, kinh doanh vật tư thiết bị ngành in kinh doanh xuất nhập khẩu, nhận
uỷ thác nhập khẩu, cung cấp các dịch vụ khác như cho thuê nhà, điện,… Sản phẩmcủa công ty XYZ chỉ chủ yếu phục vụ cho nội bộ ngành theo yêu cầu của Tổngcông ty Ngoài ra còn cung cấp dịch vụ in ấn ra các đơn vị ngoài ngành
Trên thị trường, hoạt động kinh doanh của công ty cũng gặp phải những khókhăn nhất định như: các ấn phẩm in chui, trốn thuế bán tràn lan trên thị trường và dovậy ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh của công ty Ngoài ra trong năm
2004, giá cả thị trường đều tăng lên làm cho hoạt động kinh doanh của Công tycũng gặp không ít khó khăn do các chi phí phát sinh trong sản xuất tăng lên, đồngthời các chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng lên
Đối với công ty ABC, Công ty Tư vấn kế toán và kiểm toán AVA cũng tiếnhành thực hiện tương tự như đối với Công ty XYZ Công ty ABC tiến hành hoạtđộng kinh doanh trong một lĩnh vực khác so với Công ty XYZ, cung cấp dịch vụbưu chính viễn thông, và cung cấp các sản phẩm trong ngành bưu chính viễn thông.Khách hàng của Công ty ABC chủ yếu là các bưu điện, các đơn vị kinh doanh liênquan đến ngành bưu chính viễn thông và một số khách hàng là các công ty nằmtrong khu chế xuất của Việt Nam
Trên thị trường hiện nay, cũng có một số các nhà sản xuất và cung cấp cácsản phẩm cùng loại, đặc biệt là các loại hàng nhái rẻ tiền của Trung Quốc đã làmảnh hưởng không nhỏ đến việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty Nhìn chung, thịtrường hoạt động của công ty là ổn định, thị phần của Công ty là đáng kể và có khảnăng duy trì sản xuất và cung cấp ra thị trường ở mức độ cao
Với hai khách hàng khác nhau hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, kiểmtoán viên sẽ có cách thức khác nhau để thu thập bằng chứng kiểm toán
2.1.3 Thực hiện các thủ tục phân tích doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính của khách hàng
Với công ty XYZ, thấy trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình,doanh thu năm 20010 đã tăng hơn 35% so với năm 2009 Qua tìm hiểu ông Hoàng –Phó Giám đốc, thấy sở dĩ doanh thu tăng lên như vậy không phải là do giá bán tănglên mà là do chất lượng sản phẩm tăng lên, lượng khách hàng tăng lên nên số lượngsản phẩm cung cấp ra thị trường nhiều hơn so với năm trước Ngoài ra, trong năm
Trang 402010 Công ty còn mở thêm chi nhánh của mình ở miền Trung, nên tất yếu doanhthu của Công ty trong năm 2010 tăng lên.
Trích giấy tờ làm việc của kiểm toán viên thực hiện các thủ tục phân tích cácchỉ tiêu trên báo cáo tài chính của khách hàng:
Biểu 09: Trích giấy tờ làm việc của kiểm toán viên
Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam
Tên khách hàng: Công ty XYZ
Bước công việc: Thủ tục phân tích Tham chiếu:
2 Tỷ suất lợi nhuận