Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mọi doanh nghiệp đều cần có các yếu tố đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và con người lao động. Trong ba yếu tố trên tư liệu lao động là phương tiện mà con người tác động vào đối tượng lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất trong đó tài sản cố định là bộ phận quan trọng nhất. Do vậy quản lý vốn và tài sản đặc biệt là tài sản cố định trở thành một trong những nội dung quan trọng của quản trị tài chính. Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tài sản cố định(TSCĐ) rất phong phú và có giá trị lớn vì vậy việc sử dụng chúng hiệu quả là nhiệm vụ khó khăn, phản ánh trình độ năng lực khai thác và sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tài sản cố định nếu được sử dụng đúng mục đích và phát huy được năng suất tối đa, kết hợp với việc quản lý chặt chẽ như đầu tư, bảo quản sửa chữa, thay thế, kiểm kê đánh giá… sẽ góp phần tiết kiệm tư liệu sản xuất, nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm đồng thời đẩy nhanh tốc độ thu hồi vốn đầu tư, tái sản suất, trang bị thêm và đổi mới không ngừng nhằm năng cao năng suất từ đó đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Một thực tế hiện nay là hầu hết các doanh nghiệp chưa có kế hoạch và biện pháp quản lý và sử dụng hiệu quả TSCĐ dẫn đến lãng phí vốn đồng thời cho kết quả kinh doanh không tốt. Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản cố định qua thời gian học tập tại trường và được thực tập tại công ty cổ phần thương mại Việt Anh mà em chọn chuyên đề : “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại công ty cổ phần thương mại Việt Anh”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mọi doanh nghiệp đều cần cócác yếu tố đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và con người lao động.Trong ba yếu tố trên tư liệu lao động là phương tiện mà con người tác độngvào đối tượng lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuấttrong đó tài sản cố định là bộ phận quan trọng nhất
Do vậy quản lý vốn và tài sản đặc biệt là tài sản cố định trở thành mộttrong những nội dung quan trọng của quản trị tài chính
Đối với doanh nghiệp sản xuất thì tài sản cố định(TSCĐ) rất phong phú và
có giá trị lớn vì vậy việc sử dụng chúng hiệu quả là nhiệm vụ khó khăn, phảnánh trình độ năng lực khai thác và sử dụng vốn của doanh nghiệp
Tài sản cố định nếu được sử dụng đúng mục đích và phát huy được năngsuất tối đa, kết hợp với việc quản lý chặt chẽ như đầu tư, bảo quản sửa chữa,thay thế, kiểm kê đánh giá… sẽ góp phần tiết kiệm tư liệu sản xuất, nâng cao
số lượng và chất lượng sản phẩm đồng thời đẩy nhanh tốc độ thu hồi vốn đầu
tư, tái sản suất, trang bị thêm và đổi mới không ngừng nhằm năng cao năngsuất từ đó đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Một thực tế hiện nay là hầu hết các doanh nghiệp chưa có kế hoạch vàbiện pháp quản lý và sử dụng hiệu quả TSCĐ dẫn đến lãng phí vốn đồng thờicho kết quả kinh doanh không tốt
Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý và sử dụng hiệu quả tàisản cố định qua thời gian học tập tại trường và được thực tập tại công ty cổphần thương mại Việt Anh mà em chọn chuyên đề :
“Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại công ty cổ phần thương mại Việt Anh”
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo chuyên đềđược chia làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về tài sản cố định trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại công ty cổ phầnthương mại Việt Anh
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định tại công ty cổphần thương mại Việt Anh
Trang 2CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1TÀI SẢN VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Đối với bất cứ một doanh nghiệp nào, khi tiến hành hoạt động kinh doanhmục tiêu duy nhất của họ là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị doanhnghiệp hay mục tiêu tăng trưởng Quá trình hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp thực chất là các hoạt động trao đổi, là quá trình chuyển biến các tài sảntrong doanh nghiệp theo chu trình Tiền – Tài sản – Tiền
Như vậy tài sản ở đây phải hiểu là các yếu tố kinh tế cả hữu hình lẫn vôhình mà doanh nghiệp nắm giữ, quản lý, sử dụng để mang lại lợi ích chodoanh nghiệp trong tương lai
Tài sản trong doanh nghiệp được phân ra làm hai loại là tài sản lưu động(TSLĐ) và tài sản cố định (TSCĐ):
- TSLĐ là những đối tượng lao động, tham gia toàn bộ và luân chuyển giá
trị một lần vào giá trị sản phẩm TSLĐ trong doanh nghiệp thường được chialàm hai loại là TSLĐ sản xuất (nguyên, nhiên, vật liệu…) và TSLĐ lưu thông(Các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền,…) TSLĐ cóđặc điểm là trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSLĐ luôn vận động, thaythế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh đượctiến hành liên tục
- TSCĐ là tư liệu lao động quan trọng trong qúa trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp Tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tạo rasản phẩm sản xuất
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, tài sản đóng vai trò lớn trong việc thực
hiện mục tiêu của doanh nghiệp mà trong đó TSCĐ có ý nghĩa quan trọng,góp phần đáng kể đem lại những lợi ích cho doanh nghiệp
1.2 TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
1.2.1 Khái niệm - đặc điểm tài sản cố định
Lịch sử đã chứng minh lao động giúp con người tồn tại và phát triển Đểtiến hành hoạt động lao động cần thiết phải có sự kết hợp của 3 yếu tố: tư liệu
Trang 3lao động, đối tượng lao động và sức lao động Thông qua tư liệu lao động, sứclao động của con người tác động lên đối tượng lao động tạo thành sản phẩm.Trong đó tư liệu lao động được chia thành 2 nhóm: Tài sản cố định và công
cụ dụng cụ Trong 2 yếu tố này, TSCĐ là bộ phận quan trọng nhất, tham giavào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và chiếm một giá trị lớn trong tổng tàisản của doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm
TSCĐ là những tư liệu lao động có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam ban hành theo Quyết định số BTC ngày 31/12/2001 của Bộ tài chính đưa ra 2 khái niệm sau :
* TSCĐ hữu hình (TSCĐHH): là những tài sản có hình thái vật chất dodoanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, phùhợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình
- Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH: Một tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữuhình phải thoả mãn đồng thời cả 4 tiêu chuẩn :
+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy
+ Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm
+ Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo qui định hiện hành
Theo quy định hiện hành của chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu haoTSCĐ của Bộ trưởng Bộ tài chính thì quy định cụ thể TSCĐ phải có giá trị từ10.000.000 đồng trở lên
* TSCĐ vô hình (TSCĐVH): là những tài sản không có hình thái vật chất
nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong hoạtđộng sản xuất - kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khácthuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình
- Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐVH: Một tài sản vô hình được ghi nhận là
TSCĐ vô hình phải thoả mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn giống như tài sản cố địnhhữu hình và định nghĩa về TSCĐ vô hình
Trang 41.2.1.2 Đặc điểm
Về mặt hiện vật: khác với đối tượng lao động, TSCĐ tham gia vào nhiều
chu kỳ sản xuất kinh doanh và giữ nguyên hình thái ban đầu cho đến lúc hưhỏng
Về mặt giá trị : đặc điểm của TSCĐ là khi tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh, TSCĐ bị hao mòn dần và giá trị của nó được chuyển dịch từngphần vào chi phí giá thành của sản phẩm làm ra và được gọi là chi phí khấuhao Cũng như bao hàng hoá thông thường khác, TSCĐ không chỉ có giá trị
sử dụng mà còn có giá trị, nó cũng được mua bán trao đổi trên thị trường
1.2.2 Phân loại TSCĐ
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả TSCĐ người ta phân loại TSCĐ Việcphân loại TSCĐ được đúng đắn, kịp thời, đầy đủ sẽ tạo tiền đề cho việc hạchtoán kế toán, thống kê và kế hoạch hoá biện pháp kỹ thuật sản xuất trong cácdoanh nghiệp
1.2.2.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo cách phân loại này, TSCĐ trong doanh nghiệp chia làm hai loại:TSCĐ mang hình thái vật chất (TSCĐHH) và TSCĐ không có hình thái vậtchất (TSCĐVH)
- TSCĐHH: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất cụ thể(từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộphận taì sản liên kết với nhau để thực hiện một hoặc một số chức năng nhấtđịnh) có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳsản xuất kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhàxưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải
- TSCĐVH: Là những tài sản không mang tính vật chất, thể hiện một lượnggiá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chi phí sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí lợi thếkinh doanh, chi phí mua bản quyền, phát minh, sáng chế
1.2.2.2 Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế
Theo cách phân loại này, TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm 6 loại:
Trang 5- Nhà cửa, vật kiến trúc: là những TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành
sau quá trình thi công, xây dựng như nhà xưởng, trụ sở làm việc, nhà kho,tháp nước, hàng rào, sân bay, đường xá, cầu cảng
- Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dâychuyền công nghệ, những máy móc khác
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các phương tiện vận tải bao
gồm các phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường ống vàcác thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống dẫnnước, băng tải
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị dùng trong công tác quản lý
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, máy fax,dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm hút bụi
- Vườn cây lâu năm- súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm: là các vườn cây
lâu năm như vườn chè, vườn cây cao su, vườn cà phê, vườn cây ăn quả, thảm
cỏ, thảm cây xanh , xúc vật làm việc, xúc vật cho sản phẩm như đàn ngựa,đàn voi, đàn bò…
- Các loại TSCĐ khác: là toàn bộ các loại TSCĐ chưa liệt kê vào 5 loại trên
như tác phẩm nghệ thuật, tranh ảnh
Cách phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ trongdoanh nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý sử dụng TSCĐ vàtính toán KHTSCĐ chính xác Nó giúp cho viêc tính được tỷ lệ các loạiTSCĐ khác nhau với toàn bộ TSCĐ, kiểm tra mức độ đảm bảo của TSCĐ đốivới nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, biết được trình độ cơ giới hoá về kỹ thuậtsản phẩm của doanh nghiệp
1.2.2.3 Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng
Theo tiêu thức này toàn bộ TSCĐ của DN được chia thành 3 loại:
- TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh : là những TSCĐ dùng trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ củadoanh nghiệp
Trang 6- TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng Đó
là những TSCĐ do DN quản lý và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sựnghiệp (như các công trình phúc lợi)
Các TSCĐ sử dụng cho hoạt động đảm bảo an ninh quốc phòng củadoanh nghiệp
- Các TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ Nhà nước
Đó là những TSCĐ DN bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc choNhà nước theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Cách phân loại này giúp cho DN thấy được cơ cấu TSCĐ của mình theomục đích sử dụng của nó Từ đó có biện pháp quản lý TSCĐ theo mục đích
sử dụng sao cho có hiệu quả nhất
Mỗi cách phân loại trên cho phép doanh nghiệp đánh giá, xem xét TSCĐtheo các tiêu thức khác nhau Tuỳ theo yêu cầu quản lý, các doanh nghiệp tựphân loại sao cho phù hợp
1.2.3 Kết cấu TSCĐ
Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp là tỷ lệ giữa nguyên giá của một loại tàisản cố định nào đó so với nguyên giá TSCĐ của doanh nghiệp tại một thờiđiểm nhất định
Kết cấu TSCĐ giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhauthậm chí trong cùng ngành sản xuất cũng khác nhau Sự khác biệt hay biếnđộng về kết cấu TSCĐ trong các doanh nghiệp trong các thời kỳ phụ thuộcvào các nhân tố sau:
- Tính chất sản xuất và quy trình công nghệ: như trong ngành khai thác, vật
kiến trúc chiếm tỷ lệ lớn nhất trong giá trị TSCĐ, trong ngành chế biến tỷ lệlớn nhất là thiết bị và máy móc sản xuất, trong ngành động lực tỷ lệ lớn nhất
là thiết bị động lực và thiết bị truyền dẫn
- Trình độ kỹ thuật sản xuất: Ở những xí nghiệp nào mà trình độ sản xuất cơ
hoá và tự động hoá tương đối cao thì tỷ lệ của máy móc sản xuất và thiết bịsản xuất chiếm tỷ trọng lớn hơn, nhà cửa và dụng cụ quản lý chiếm tỷ trọngnhỏ hơn
Trang 7- Phương thức tổ chức sản xuất: Nếu áp dụng cách sản xuất dây chuyền thì
tỷ lệ thiết bị truyền dẫn và phương tiện vận tải trong xí nghiệp giảm xuống, sửdụng tốt hơn các địa điểm sản xuất và bố trí hợp lý hơn các thiết bị máy móc
sẽ làm thay đổi quan hệ tỷ lệ giữa các thiết bị và nhà kho do đó nâng cao tỷ lệmáy móc thiết bị trong tổng số TSCĐ của doanh nghiệp
- Quy mô của doanh nghiệp lớn hay nhỏ: Trong các doanh nghiệp lớn, tỷ lệ
máy móc thiết bị thường cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ, tỷ lệ dụng cụ,nhà cửa thường thấp hơn các doanh nghiệp nhỏ, do đó các doanh nghiệp lớnthường có thể tiết kiệm số vốn đầu tư vào nhà cửa và dụng cụ
Ngoài ra kết cấu TSCĐ còn phụ thuộc vào khả năng thu hút vốn đầu tư,khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Trong công tác quản lý sửdụng TSCĐ của doanh nghiệp, phân tích kết cấu TSCĐ giúp ta thấy rõ được
cơ cấu đầu tư, tình hình sử dụng TSCĐ, trình độ trang bị kỹ thuật cho sảnxuất, có ý nghĩa quan trọng trong kiểm tra hiệu quả của việc đầu tư xây dựng
cơ bản và xu thế chung của các ngành Nó giúp doanh nghiệp chủ động điềuchỉnh kết cấu TSCĐ sao cho có lợi nhất cho việc nâng cao hiệu quả sử dụngTSCĐ của doanh nghiệp
1.2.4 Hao mòn- khấu hao TSCĐ
1.2.4.1 Hao mòn
TSCĐ trong quá trình tham gia vào sản xuất, vẫn giữ nguyên hình thái vậtchất ban đầu nhưng trong thực tế do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhânkhác nhau khách quan và chủ quan làm cho TSCĐ của doanh nghiệp bị giảmdần về tính năng, tác dụng, công năng, công suất và do đó giảm dần giá trị củaTSCĐ, đó chính là hao mòn TSCĐ
TSCĐ của doanh nghiệp bị hao mòn dưới hai hình thức: hao mòn hữuhình (HMHH) và hao mòn vô hình (HMVH)
- Hao mòn hữu hình
HMHH của TSCĐ là sự hao mòn về vật chất, về thời gian sử dụng và giátrị của TSCĐ trong quá trình sử dụng Về mặt vật chất đó là sự hao mòn cóthể nhận thấy được từ sự thay đổi trạng thái ban đầu ở các bộ phận, chi tiếtTSCĐ dưới tác dụng của ma sát, tải trọng, nhiệt độ, hoá chất, Về giá trị sử
Trang 8dụng, đó là sự giảm sút về chất lượng, tính năng kỹ thuật ban đầu trong quátrình sản xuất và cuối cùng không còn sử dụng dược nữa.
Về mặt giá trị, đó là sự giảm dần giá trị của TSCĐ cùng với quá trìnhchuyển dịch dần từng phần giá trị hao mòn vào giá trị sản phẩm sản xuất Đốivới các TSCĐ vô hình, HMHH chỉ thể hiện ở mặt giá trị
Tốc độ và mức độ HMHH của TSCĐ trong nhiều giai đoạn khác nhau củaviệc sử dụng chúng cũng tuỳ thuộc vào những điều kiện khác nhau như chấtlượng của việc thiết kế và xây dựng TSCĐ, loại và chất lượng vật liệu dùng
để chế tạo ra TSCĐ đó, chế độ bảo quản, sử dụng TSCĐ, trình độ tay nghềcủa công nhân sử dụng TSCĐ đó, tốc độ và tính chất kịp thời của việc sửachữa TSCĐ, điều kiện bảo quản, diều kiện tự nhiên như nhiệt độ, độ ẩmkhông khí
Việc xác định rõ nguyên nhân của những HMHH TSCĐ sẽ giúp cho cácdoanh nghiệp đưa ra những biện pháp cần thiết, hữu hiệu để hạn chế nó
Thứ hai là, sự mất giá trị của TSCĐ do năng suất thấp hơn và hiệu quả
kinh tế ít hơn so với TSCĐ mới sáng tạo hiện đại hơn về mặt kỹ thuật.Ngoài ra, TSCĐ có thể bị mất giá trị hoàn toàn do chấm dứt chu kỳ sống củasản phẩm, tất yếu dẫn đến những TSCĐ sử dụng để chế tạo cũng bị lạc hậu,mất tác dụng Hoặc trong các trường hợp máy móc thiết bị, quy trình côngnghệ còn nằm trên dự án thiết kế, các bản dự thảo phát minh song đã trở nênlạc hậu vào thời điểm đó Điều này cho thấy HMVH không chỉ xảy ra đối vớiTSCĐ hữu hình mà còn với cả các TSCĐ vô hình
Như vậy không những HMHH của TSCĐ làm cho mức khấu hao và tỷ lệkhấu hao có sự thay đổi mà ngay cả HMVH của TSCĐ cũng làm cho mứckhấu hao và tỷ lệ khấu hao có sự thay đổi
Trang 9Nguyên nhân cơ bản của HMVH là sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹthuật Do đó biện pháp có hiệu quả nhất để khắc phục HMVH là doanhnghiệp phải coi trọng đổi mới khoa học kỹ thuật công nghệ, sản xuất, ứngdụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật Điều này có ý nghĩaquyết định trong việc tạo ra các lợi thế cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thịtrường.
1.2.4.2 Khấu hao TSCĐ
Khấu hao TSCĐ (KHTSCĐ) là việc chuyển dịch dần giá trị hao mòn củaTSCĐ vào chi phí sản xuất trong kỳ theo phương pháp tính toán thích hợp.Nói cách khác, KHTSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thốngnguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh theo thời gian sử dụng củaTSCĐ
Mục đích của KHTSCĐ là thu hồi vốn để thực hiện quá trình tái sản xuấtTSCĐ Vì vậy, việc lập nên quỹ KHTSCĐ là rất ý nghĩa Theo quy định hiệnnay của nhà nước về việc quản lý vốn cố định của các doanh nghiệp thì khichưa có nhu cầu đầu tư, mua sắm, thay thế TSCĐ các doanh nghiệp cũng cóthể sử dụng linh hoạt quỹ khấu hao để đáp ứng các nhu cầu sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp theo nguyên tắc hoàn trả
Thực hiện khấu hao TSCĐ một cách hợp lý có ý nghĩa kinh tế lớn đối vớidoanh nghiệp:
- Khấu hao hợp lý TSCĐ là một biện pháp quan trọng để bảo toàn vốn cốđịnh, qua đó có thể thu hồi vốn cố định khi TSCĐ hết thời gian sử dụng
- Khấu hao hợp lý TSCĐ giúp cho doanh nghiệp có thể tạp trung vốn từ tiềnkhấu hao để có thể kịp thời đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ
- Việc khấu hao hợp lý TSCĐ là nhân tố quan trọng để xác định đúng giáthành sản phẩm, đánh giá kết quả kinh doanh
1.2.4.3 Những quy định về tính khấu hao TSCĐ
* Phạm vi TSCĐ phải tính khấu hao
Theo quy định hiện hành của Bộ trưởng Bộ tài chính thì mọi TSCĐ củadoanh nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải tính khấu hao,mức tính KHTSCĐ được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
Trang 10Những TSCĐ không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì khôngphải tính khấu hao, bao gồm:
- TSCĐ không cần dùng, chưa cần dùng đã có quyết định của cơ quan nhànước có thẩm quyền cho phép doanh nghiệp được đưa vào cất giữ, bảo quản,điều động cho doanh nghiệp khác
- TSCĐ thuộc dự trữ Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, giữ hộ
- TSCĐ phục vụ cho các hoạt động phúc lợi trong doanh nghiệp như nhàtrẻ, câu lạc bộ , những TSCĐ phục vụ nhu cầu chung toàn xã hội, khôngphục vụ cho các hoạt động kinh doanh của riêng doanh nghiệp như đê đập,cầu cống mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý
- TSCĐ khác không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp không được tính khấu hao đối với những TSCĐ đã khấu haohết nhưng vẫn được sử dụng vào mục đích kinh doanh
Đối với những TSCĐ chưa khấu hao hết đã hỏng, doanh nghiệp phải xácđịnh nguyên nhân, quy trách nhiệm đền bù, đòi bồi thường thiệt hại và xử
lý tổn thất theo các quy định hiện hành
Đối với những TSCĐ đang chờ quyết định thanh lý, tính từ thời điểmTSCĐ ngừng tham gia vào hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thôi tínhkhấu hao
* Quy định về thời gian tính, thôi tính khấu hao
Việc tính hoặc thôi tính khấu hao TSCĐ được thực hiện bắt đầu từ ngày(theo số ngày của tháng) mà TSCĐ tăng hoặc giảm Doanh nghiệp thực hiệnhạch toán tăng, giảm TSCĐ theo quy định hiện hành về chế độ kế toán doanhnghiệp
* Căn cứ để tính khấu hao TSCĐ
Theo quy định hiện hành mức tính KHTSCĐ trong doanh nghiệp phải căn
cứ vào thời gian sử dụng và nguyên giá của TSCĐ đó Vì vậy, việc xác địnhthời gian sử dụng và nguyên giá TSCĐ phải tuân thủ các tiêu chuẩn do Nhànước quy định
- Thời gian sử dụng TSCĐ là thời gian doanh nghiệp dự kiến sử dụngTSCĐ vào hoạt động kinh doanh trong điều kiện bình thường phù hợp với các
Trang 11thông số kinh tế – kỹ thuật của TSCĐ và các yếu tố khác có liên quan đến sựhoạt động của TSCĐ Khi xác định thời gian sử dụng của TSCĐ, doanhnghiệp phải căn cứ vào các tiêu chuẩn sau:
+ Tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ theo thiết kế (khoảng thời gian có thể sửdụng TSCĐ được tính toán theo các thông số kỹ thuật khi chế tạo)
+ Hiện trạng của TSCĐ (thời gian TSCĐ đã qua sử dụng, thế hệ TSCĐ,tình trạng thực tế của tài sản )
+ Tuổi thọ kinh tế của TSCĐ
Dựa vào những tiêu chuẩn trên làm căn cứ để doanh nghiệp tính toán, dựkiến thời gian sử dụng của TSCĐ sao cho đạt hiệu quả đồng thời loại trừ đượcnhững ảnh hưởng bất lợi của HMVH
Đối với những TSCĐ còn mới (chưa qua sử dụng), doanh nghiệp cần căn
cứ vào khung thời gian sử dụng TSCĐ do Nhà nước quy định để xây dựngthời gian sử dụng TSCĐ sao cho phù hợp
Đối với TSCĐ đã qua sử dụng, thời gian sử dụng của tài sản cố định đượcxác định như sau:
Giá bán của TSCĐ cùng loại mới 100% (hoặc của TSCĐ tương đương trên thị trường)
Đối với TSCĐ thuê tài chính, thời gian sử dụng chính là thời gian thuêTSCĐ ghi trong hợp đồng thuê
* Xác định nguyên giá TSCĐ
Trang 12+ Đối với TSCĐHH việc xác định nguyên giá phải căn cứ vào từng trườnghợp cụ thể:
TSCĐ loại mua sắm: Nguyên giá TSCĐ loại mua sắm (kể cả mua mới vàcũ) bao gồm: giá thực tế phải trả, lãi tiền vay đầu tư cho TSCĐ khi đưa TSCĐvào sử dụng, các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, các chi phí sửa chữa, tân trangtrước khi đưa TSCĐ vào sử dụng, chi phí lắp đặt, chạy thử, thuế và lệ phítrước bạ (nếu có)
Trường hợp TSCĐ hữu hình mua trả chậm, trả góp, nguyên giá TSCĐ làgiá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua cộng (+) các khoản thuế (không baogồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi
ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng
- TSCĐ loại đầu tư xây dựng: Nguyên giá tài sản loại này (cả tự làm vàthuê ngoài) là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại điều lệquản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, các chi phí khác có liên quan và lệphí trước bạ (nếu có)
- TSCĐ được tài trợ, được biếu, được tặng, do phát hiện thừa
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình được tài trợ, được biếu, được tặng,
do phát hiện thừa là giá trị theo đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhậnhoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp
- Tài sản cố định hữu hình được cấp, được điều chuyển đến
Nguyên giá TSCĐ hữu hình được cấp, được điều chuyển đến bao gồmgiá trị còn lại của TSCĐ trên số kế toán ở đơn vị cấp, đơn vị điều chuyểnhoặc giá trị theo đánh giá thực tế của tổ chức định giá chuyên nghiệp theoquy định của pháp luật, cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp mà bên nhậntài sản phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sửdụng như chi phí thuê tổ chức định giá; chi phí nâng cấp, lắp đặt, chạy thử…
- Tài sản cố định hữu hình nhận góp vốn, nhận lại vốn góp
TSCĐ nhận góp vốn, nhận lại vốn góp là giá trị do các thành viên, cổ đôngsáng lập định giá nhất trí; hoặc doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận;
hoặc do tổ chức chuyên nghiệp định giá theo quy định của pháp luật và được
các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận
Trang 13+ Nguyên giá TSCĐ vô hình
- TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất: Là toàn bộ chi phí thực tế đã chi ra
có liên quan trực tiếp tới đất sử dụng bao gồm: tiền chi ra để có quyền sửdụng đất, chi phí để giải phóng mặt bằng, lệ phí trước bạ (nếu có)
Trường hợp doanh nghiệp trả tiền thuê đất hàng năm hoặc định kỳ thì cácchi phí này được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong các kỳ, khônghạch toán vào nguyên giá TSCĐ
- Nguyên giá của TSCĐ vô hình là quyền tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp, quyền đối với giống cây trồng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ:
là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra để có được quyền tácgiả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng theo quy địnhcủa pháp luật về sở hữu trí tuệ
- Nguyên giá TSCĐ của các chương trình phần mềm được xác định làtoàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có các chương trìnhphần mềm trong trường hợp chương trình phần mềm là một bộ phận có thểtách rời với phần cứng có liên quan, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn theoquy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ
+ Tài sản cố định thuê tài chính
Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê là giá trị của tàisản thuê tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản hoặc giá trị hiện tại của khoảnthanh toán tiền thuê tối thiểu (trường hợp giá trị của tài sản thuê cao hơn giátrị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu) cộng (+) với các chi phítrực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động thuê tài chính
Nguyên giá TSCĐ chỉ được thay đổi trong những trường hợp sau:
1 Đánh giá lại giá trị TSCĐ
2 Nâng cấp TSCĐ
3 Tháo dỡ một hay một số bộ phận của TSCĐ
Khi thay đổi nguyên giá TSCĐ, doanh nghiệp phải lập biên bản ghi rõ cáccăn cứ thay đổi và xác định lại các chỉ tiêu nguyên giá, giá trị còn lại trên sổ
kế toán, số khấu hao luỹ kế của TSCĐ và tiến hành hạch toán theo các quyđịnh hiện hành
Trang 14Việc quản lý, sử dụng và trích KHTSCĐ phải dựa trên nguyên tắc đánh giátheo nguyên giá, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại trên sổ kế toán củaTSCĐ.
Giá trị còn lại trên = Nguyên giá TSCĐ - Số khấu hao
sổ kế toán của TSCĐ luỹ kế của TSCĐ
* Quy định về quản lý số khấu hao luỹ kế của TSCĐ
- Đối với số khấu hao luỹ kế của TSCĐ được mua sắm, đầu tư bằngnguồn vốn ngân sách, coi như ngân sách cấp và bằng nguồn đầu tư phát triểncủa doanh nghiệp, theo quy định hiện hành: Các doanh nghiệp được sử dụngtoàn bộ số khấu hao luỹ kế của TSCĐ để thực hiện tái đầu tư, thay thế, đổimới TSCĐ, mọi hoạt động đầu tư, xây dựng phải thực hiện theo đúng các quyđịnh về quản lý đầu tư xây dựng Khi chưa có nhu cầu tái đầu tư TSCĐ,doanh nghiệp có quyền sử dụng linh hoạt số khấu hao luỹ kế phục vụ nhu cầukinh doanh theo nguyên tắc hoàn trả
- Các Tổng Công ty Nhà nước khi có nhu cầu được quyền huy động sốkhấu hao luỹ kế của TSCĐ của các đơn vị thành viên nhưng phải tuân theocác quy định về chế độ quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước
- Đối với những TSCĐ được đầu tư mua sắm xây dựng bằng nguồn vốnvay, về nguyên tắc doanh nghiệp phải sử dụng số khấu hao thu được để trảvốn và lãi vay Tuy nhiên khi chưa đến thời hạn trả nợ, doanh nghiệp cũng cóthể sử dụng tạm thời vào các mục đích kinh doanh khác để nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn vay của doanh nghiệp
- Riêng đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh doanh khácnhau như công ty cổ phần, công ty TNHH sẽ do chủ tịch hội đồng quản trịhoặc giám đốc căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh để quyết định việc sửdụng quỹ khấu hao đạt hiệu quả cao nhất
* Phương pháp KHTSCĐ trong doanh nghiệp
Có rất nhiều phương pháp khác nhau để tính KHTSCĐ trong các doanhnghiệp Mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm riêng Việc lựa chọn đúngđắn phương pháp KHTSCĐ có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản ý vốn
Trang 15cố định trong các doanh nghiệp Thông thường có các phương pháp khấu hao
MKH : Mức tính khấu hao trung bình hàng năm
TKH : Tỷ lệ khấu hao trung bình hàng năm
NG : Nguyên giá của TSCĐ
T : Thời gian sử dụng của TSCĐ (năm)
Nếu doanh nghiệp trích cho từng tháng thì lấy số khấu hao phải trích cảnăm chia cho 12 tháng
Phương pháp khấu hao bình quân được sử dụng phổ biến là do ưu điểmcủa nó Đây là phương pháp tính toán đơn giản, dễ hiểu Mức khấu hao đượctính vào giá thành sản phẩm sẽ ổn định và như vậy sẽ tạo điều kiện ổn địnhgiá thành sản phẩm Tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, trong doanhnghiệp sử dụng phương pháp khấu hao bình quân tổng hợp cho tất cả các loạiTSCĐ của doanh nghiệp thì sẽ giảm được khối lượng công tác tính toán,thuận lợi cho việc lập kế hoạch KHTSCĐ của doanh nghiệp Tuy nhiên nhượcđiểm của phương pháp này là không phản ánh chính xác mức độ hao mònthực tế của TSCĐ và đồng thời giá thành sản phẩm trong các thời kỳ sử dụng
Trang 16TSCĐ sẽ không giống nhau Hơn nữa, do tính bình quân nên khả năng thu hồivốn đầu tư chậm và như vậy không thể hạn chế ảnh hưởng bất lợi của HMVHđối với TSCĐ trong doanh nghiệp.
+ Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
Phương pháp khấu theo số dư giảm dần khắc phục những nhược điểm củaphương pháp khấu hao bình quân Phương pháp khấu hao này được sử dụngnhằm mục đích đẩy nhanh mức KHTSCĐ trong năm đầu sử dụng và giảmdần mức khấu hao theo thời hạn sử dụng Đây là phương pháp rất thuận lợicho các donh nghiệp mới thành lập vì những năm đầu họ muốn quay vòngvốn nhanh để thực hiện phát triển sản xuất
Theo phương pháp này thì số tiền khấu hao hàng năm được tính bằng cáchlấy giá trị còn lại của TSCĐ theo thời gian sử dụng nhân với tỷ lệ khấu haonhanh Như vậy, mức và tỷ lệ khấu hao theo thời gian sử dụng sẽ giảm dần
Có thể tính mức khấu hao hàng năm theo thời hạn sử dụng như sau:
MKHi = Gcđi x TKHN
Trong đó
MKHi : Mức khấu hao ở năm thứ i
Gcđi : Giá trị còn lại của TSCĐ vào đầu năm thứ i
TKHN : Tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định theo công thức (%)
TKHN = TKH x Hđc
Trong đó Hđc : Hệ số điều chỉnh
TKH : Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng
Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của tài sản cố định quyđịnh tại bảng dưới đây:
Thời gian sử dụng của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh
(lần) Đến 4 năm ( t ≤ 4 năm) 1,5
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t ≤ 6 năm) 2,0
Trên 6 năm (t > 6 năm) 2,5
Phương pháp khấu hao giảm dần có những ưu điểm cơ bản đó là phản ánhchính xác hơn mức hao mòn TSCĐ vào giá trị sản phẩm, nhanh chóng thu hồi
Trang 17những ảnh hưởng bất lợi của HMVH Tuy nhiên phương pháp này cũng cónhược điểm đó là việc tính toán mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm sẽphức tạp hơn, số tiền trích khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng thời hạn sửdụng TSCĐ cũng chưa đủ bù đắp toàn bộ giá trị đầu tư ban đầu vào TSCĐcủa doanh nghiệp.
Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dưgiảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giátrị còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định, thì kể từ năm đó mứckhấu hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia cho số năm sửdụng còn lại của tài sản cố định
Bằng cách trên có thể khắc phục nhược điểm của hai phương pháp khấuhao bình quân và khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh Theo quy định hiện nay của Nhà nước thì TSCĐ trong các doanh nghiệpđược trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng, nội dung như sau:
- Căn cứ vào các quy định sẽ xác định thời gian sử dụng của TSCĐ
- Xác định mức trích khấu hao trung bình hàng năm cho TSCĐ theo côngthức dưới đây:
sử dụng còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã đăng
ký và thời gian đã sử dụng) của TSCĐ
Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ đượcxác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và khấu hao luỹ kế đã thực hiệncủa TSCĐ đó
Như vậy, việc nghiên cứu các phương pháp KHTSCĐ sẽ giúp cho cácdoanh nghiệp lựa chọn phương pháp khấu hao cho phù hợp với chiến lược
Trang 18kinh doanh của doanh nghiệp, để đảm bảo cho việc thu hồi vốn, bảo toàn vànâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp.
1.3 NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SỬ DỤNG TSCĐ
1.3.1 Quản lý đầu tư vào TSCĐ
Việc đầu tư vào TSCĐ bao gồm các quyết định mua sắm, xây dựng, sửachữa nâng cấp… TSCĐ đạt được yêu cầu về thời gian hữu ích của chi phí bỏ
ra (tài sản mua sắm) và giá trị của tài sản mua sắm Khi doanh nghiệp quyếtđịnh đầu tư vào TSCĐ sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh ở hai khía cạnh
là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trước mắt và lợi ích mà doanh nghiệpthu được trong tương lai Chi phí của doanh nghiệp sẽ tăng lên do chi phí đầu
tư phát sinh đồng thời phải phân bổ chi phí khấu hao (tuỳ theo thời gian hữuích) Còn lợi ích đem lại là việc nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra được sảnphẩm mới có sức cạnh tranh cao trên thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay, sản xuất và tiêu thụchịu sự tác động của quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Do vậy, vấn đềđặt ra cho các doanh nghiệp khi tiến hành việc đầu tư TSCĐ là phải tiến hành
tự thẩm định tức là sẽ so sánh giữa chi tiêu và lợi ích, tính toán một số chỉ tiêu
ra quyết định đầu tư như NPV, IRR… để lựa chọn phương án tối ưu
Đây là nội dung quan trọng trong công tác quản lý sử dụng TSCĐ vì nó làcông tác khởi đầu khi TSCĐ được sử dụng tại doanh nghiệp Những quyếtđịnh ban đầu có đúng đắn thì sẽ góp phần bảo toàn vốn cố định Nếu công tácquản lý này không tốt, không có sự phân tích kỹ lưỡng trong việc lựa chọnphương án đầu tư xây dựng mua sắm sẽ làm cho TSCĐ không phát huy đượctác dụng để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả và như vậyviệc thu hồi toàn bộ vốn đầu tư là điều không thể
1.3.2 Quản lý sử dụng, giữ gìn và sửa chữa TSCĐ
Trong quá trình sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp, các bộ phận chi tiết,các phụ tùng bị hư hỏng hoặc hao mòn hoặc xảy ra những tình trạng khôngbình thường như nhờn ốc, vỡ van Ngoài việc phải giữ gìn, lau dầu, doanhnghiệp phải tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa nhằm đảm bảo năng lực sản xuất
Trang 19bình thường của TSCĐ Như vậy, việc giữ gìn và sửa chữa TSCĐ là một biệnpháp quan trọng để sử dụng TSCĐ có hiệu quả.
Giữ gìn và sửa chữa TSCĐ nhất là sửa chữa TSCĐ phải được tiến hành có
kế hoạch Việc sửa chữa TSCĐ nói chung chia ra làm sửa chữa lớn và sửachữa thường xuyên Trong khi sửa chữa phải thay đổi phần lớn phụ tùng củaTSCĐ, thay đổi hoặc sửa chữa bộ phận chủ yếu của TSCĐ như thân máy, giámáy, phụ tùng lớn Việc sửa chữa như vậy đều thuộc phạm vi của sửa chữalớn Sau khi sửa chữa lớn, thiết bị sản xuất có thể khôi phục được mức độchính xác và công suất, có khi còn có thể nâng cao công suất Đặc điểm củacông tác sửa chữa lớn là có phạm vi rộng, thời gian dài, cần phải có thiết bị kỹthuật và tổ chức chuyên môn sửa chữa lớn
Sửa chữa thường xuyên là sửa chữa có tính chất hàng ngày để giữ gìncông suất sử dụng đều đặn của TSCĐ Sửa chữa thường xuyên chỉ có thể giữđược trạng thái sử dụng đều đặn của TSCĐ chứ không thể nâng cao công suấtcủa TSCĐ lên hơn mức chưa sửa chữa được Đặc điểm của sửa chữa thườngxuyên là có phạm vi nhỏ, thời gian ngắn, chi phí ít, tiến hành thường xuyên vàđều đặn
Thực tiễn cho thấy rằng chế độ bảo dưỡng thiết bị máy móc là có nhiều ưuđiểm như khả năng ngăn ngừa trước sự hao mòn quá đáng và tình trạng hưhỏng bất ngờ cũng như chủ động chuẩn bị đầy đủ để tình hình sản xuất không
bị gián đoạn đột ngột Tuỳ theo điều kiện cụ thể mà mỗi doanh nghiệp thựchiện chế độ sửa chữa với các mức độ khác nhau
Thông thường khi tiến hành sửa chữa lớn TSCĐ thường kết hợp với việchiện đại hoá, với việc cải tạo thiết bị máy móc Khi việc sửa chữa lớn, kể cảviệc hiện đại hoá, cải tạo máy móc, thiết bị hoàn thành thì nguồn vốn sửachữa lớn TSCĐ giảm đi, vốn cố định tăng lên vì TSCĐ được sửa chữa lớn đãkhôi phục ở mức nhất định phần giá trị đã hao mòn, từ đó tuổi thọ của TSCĐđược tăng thêm, tức là đã kéo dài thời hạn sử dụng Đây là một nội dung cầnthiết trong quá trình quản lý sử dụng TSCĐ, nếu được tiến hành kịp thời, có
kế hoạch kỹ lưỡng sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
1.3.3 Quản lý KHTSCĐ trong doanh nghiệp
Trang 20Khi sử dụng TSCĐ, doanh nghiệp cần quản lý khấu hao một cách chặt chẽ
vì có như vậy mới có thể thu hồi được vốn đầu tư ban đầu Các doanh nghiệpthường thực hiện việc lập kế hoạch KHTSCĐ hàng năm Thông qua kế hoạchkhấu hao, doanh nghiệp có thể thấy nhu cầu tăng giảm vốn cố định trong năm
kế hoạch, khả năng tài chính để đáp ứng nhu cầu đó Vì kế hoạch khấu hao làmột căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xem xét, lựa chọn quyết định đầu tưđổi mới TSCĐ trong tương lai
Để lập được kế hoạch khấu hao TSCĐ, doanh nghiệp thường tiến hànhtheo trình tự nội dung sau:
+ Xác định phạm vi TSCĐ phải tính khấu hao và tổng nguyên giá TSCĐphải tính khấu hao đầu kỳ kế hoạch
Doanh nghiệp phải dựa vào những quy định hiện hành
Về nguyên tắc KHTSCĐ doanh nghiệp phải tiến hành triển khai từ quý 4năm báo cáo do đó:
Tổng nguyên giá TSCĐ hiện có ở đầu kỳ kế hoạch:
TNGđ = TNG 30/9 + NGt4 – NGg4
Trong đó:
TNGđ : Tổng nguyên giá TSCĐ hiện có đầu kỳ
TNG30/9: Tổng nguyên giá TSCĐ tại thời điểm 30/9 năm báo cáo
NGt4 : Nguyên giá TSCĐ tăng quý 4 năm báo cáo
+ Xác định giá trị TSCĐ bình quân tăng giảm trong kỳ kế hoạch vànguyên giá bình quân TSCĐ phải trích khấu hao trong kỳ
Dựa vào các kế hoạch đầu tư và xây dựng năm kế hoạch để xác địnhnguyên giá TSCĐ bình quân tăng phải tính khấu hao và bình quân giảm thôikhông tính khấu hao Tuy nhiên, việc tính toán phải được thực hiện theophương pháp bình quân gia quyền vì việc tăng giảm TSCĐ thường diễn ra ởnhiều thời điểm khác nhau và thời gian tăng giảm TSCĐ đưa vào tính toánphải được thực hiện theo quy định hiện hành là tính chẵn cả tháng
Nguyên giá bình quân tăng TSCĐ cần trích khấu hao và bình quân giảmthôi không tính khấu hao trong kỳ được xác định theo công thức:
Trang 21( )
1
xTsd NGti
n i
Tsd NGgix
1
) 12 (
NGgt =
12
Trong đó:
NGtk: Nguyên giá bình quân TSCĐ tăng trong kỳ phải tính khấu hao
NGti: Nguyên giá bình quân TSCĐ thứ i tăng trong kỳ phải tính khấu hao
NGgt: Nguyên giá bình quân TSCĐ giảm trong kỳ thôi tính khấu hao
NGgi: Nguyên giá bình quân TSCĐ thứ i giảm trong kỳ thôi tính khấu hao