Thực trạng về vấn đề dạy học theo phương pháp nhóm ở các trường trung học phổ thông hiện nay...25Chương 2: GIÁO ÁN TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ...27
Trang 1TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC
CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
Giảng viên hướng dẫn: Học viên thực hiện: NHÓM2 PGS.TS LÊ VĂN GIÁO NGUYỄN THỊ ÁI DUYÊN NGUYỄN CAO TRÚC GIANG PHẠM MINH HẢI
ĐẶNG QUANG HIỂN
HUỲNH THỊ HIẾU
Lớp: LL&PPDH bộ môn Vật lí
Khóa: 24
Thừa Thiên Huế, tháng 04 năm 2017
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 1
1 Cơ sở lí luận 1
1.1.Tâm lí học và giáo dục học 1
1.2 Lí luận dạy học 5
2 Cơ sở thực tiễn 6
2.1 Yêu cầu đổi mới mục tiêu giáo dục trong thời đại hiện nay 6
2.2 Nhu cầu phát triển và hội nhập của xã hội 7
2.3 Thời đại bùng nổ thông tin 7
2.4 Thực trạng giáo dục hiện nay 8
3 Phương pháp dạy học tích cực 8
3.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 8
3.2 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực 9
4 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực 10
4.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh 10
4.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học 10
4.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác 10
4.4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò 11
5 Một số phương pháp dạy học tích cực 12
5.1 Phương pháp dạy học nêu vấn đề 12
5.2 Phương pháp dạy học theo nhóm 13
5.3 Phương pháp dạy học theo góc 13
5.4 Phương pháp dạy học theo dự án 13
5.5 Phương pháp dạy học theo hợp đồng 14
6 Phương pháp dạy học nhóm 14
6.1 Khái niệm về phương pháp dạy học theo nhóm 14
6.2 Nguồn gốc và bản chất của phương pháp dạy học nhóm 15
6.3 Tổ chức dạy học theo phương pháp nhóm 18
6.4 Quy trình dạy học theo phương pháp nhóm 22
6.5 Các lưu ý khi tổ chức dạy học theo phương pháp nhóm 23
Trang 36.6 Ý nghĩa của việc tổ chức dạy học theo phương pháp nhóm đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông 246.7 Thực trạng về vấn đề dạy học theo phương pháp nhóm ở các trường trung học phổ thông hiện nay 25Chương 2: GIÁO ÁN TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 27TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
1 Cơ sở lí luận
Chủ nghĩa duy vật lịch sử xem tính tích cực là một phẩm chất vốn có của conngười trong đời sống xã hội Sự hình thành và phát triển tính tích cực là một trong cácnhiệm vụ quan trọng của giáo dục nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng
và góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực như là điều kiện, đồng thời
là kết quả của sự phát triển nhân cách học sinh trong quá trình giáo dục
Sự vật phát triển trong sự vận động, học sinh muốn phát triển thì phải vận động tíchcực Muốn vậy, học sinh phải hình thành động cơ, hứng thú, không khí dạy học Trongquá trình học tập, học sinh điều ứng và đồng hóa càng nhanh thì tiếp thu thông tin mớicàng nhanh
Cơ sở của phương pháp luận là lý luận, trong quá trình dạy học cần kích thích sựhứng thú trong học tập cho học sinh, cần phát huy tính tích cực, tính tự lực sáng tạo tronghọc tập của học sinh Để làm điều đó đòi hỏi người thầy giáo phải lựa chọn, tìm tòinhững phương pháp dạy học phù hợp với nội dung bài học, đặc điểm của đối tượng, điềukiện vật chất, và đây là một hoạt động sáng tạo của người thầy trong hoạt động dạy.Phương pháp dạy học theo hướng tích cực cần thể hiện được sự phản ánh quá trình hoạtđộng nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đã đề ra trong đó giáo viên tổ chứccho học sinh hoạt động theo hướng tích cực, giúp học sinh tự giác tiếp nhận kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo nhằm đạt được mục đích đề ra với kết quả cao
1.1.Tâm lí học và giáo dục học
Theo TS giáo dục học Kharlamốp thì tính tích cực của trẻ biểu hiện ở nhữngdạng hoạt động khác nhau: học tập, lao động, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, hoạtđộng xã hội,…Trong đó, học tập là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi đi học Vì vậy khinói đến tính tích cực là nói đến tính tích cực trong hoạt động học tập, hay tổng quát hơn
là tính tích cực trong hoạt động nhận thức
Tâm lý học sư phạm đã khẳng định rằng hoạt động phải có động cơ, không
có hoạt động nào là không có động cơ Cũng như các loại hoạt động khác, hoạtđộng học tập của HS cũng phải có động cơ, người ta gọi đó là động cơ học tập.Không có động cơ học tập HS sẽ thiếu hứng thú trong học tập, kết quả là các em sẽ
Trang 5học theo kiểu chiếu lệ, ép buộc, hình thức, và như vậy, chất lượng dạy học sẽ b ịhạn chế Học sinh có động cơ học tập sẽ biểu hiện ở sự khao khát đối với tri thức, ởnhu cầu và mong muốn ngày càng hiểu biết rộng hơn và muốn tự mình khám phá ranhiều điều mới mẻ đối với bản thân Có động cơ học tập, HS sẽ trở nên năng độnghơn, linh hoạt hơn, tự tin thể hiện những hoạt tính của bản thân hơn, nghĩa là HS sẽtích cực hóa hoạt động nhận thức Động cơ học tập của HS không có sẵn mà nóđược hình thành dần dần trong quá trình học tập dưới sự tổ chức, hướng dẫn vàđiều khiển khéo léo của GV
Khi bàn về vai trò của hứng thú trong hoạt động của cá nhân, J.Piaget đã khẳngđịnh: “Nhu cầu, hứng thú có được từ nhu cầu đó là một yếu tố gây ra một hành độngthực sự từ một phản ứng Như vậy, quy luật của hứng thú là một trục duy nhất mà tất cả
hệ thống phải xoay quanh nó.”
Động cơ của người học phụ thuộc vào những yếu tố sau:
+ Trình độ hiểu biết và kinh nghiệm đã có
+ Tính liên thông giữa nội dung dạy học mới va kiến thức đã có của người học+ Tình huống dạy học ví dụ như: nội dung dạy học, phương tiện dạy học giáoviên sử dụng
Động cơ học tập xuất phát từ hai đông cơ sau đây:
+ Nội động cơ học tập (người học tự có) đông cơ này luôn gắn với mong muốn
tự có không chịu sự tác động của người khác (ví dụ như có học sinh thì thích môn toáncòn em khác lại thích môn văn)
+ Ngoại động cơ học tập (là chịu sự tác động kích thích từ bên ngoài, ví dụ nhưđược khen thưởng, được quyền lợi nào đó )
Khi thực hiện quá trình dạy học, giáo viên phải chú ý đến các đặc tính và nộidung của từng loại đông cơ để tác động sư phạm tạo đông lực cho người học Đối vớingoại đông cơ học tập, giáo viên cần gây được sự tò mò tìm hiểu nội dung dạy học mới,
Ví dụ:
Khơi dậy tầm quan trọng của nó đối với hoạt động nghề nghiệp sau này, hay mốiliên hệ của chúng đối với nội dung đã học hay sự liên thông với các môn học khác
Tạo ra các tình huống có mâu thuẫn làm tăng nhu cầu
Có những biện pháp kịp thời đúng đắn để tăng động cơ, hứng thú cho người học,
ví dụ như lời khen ngợi, cho điểm khuyến khích
Trang 6Tóm lại, việc hình thành động cơ hứng thú học tập cho HS có ý nghĩa rất quantrọng và không thể thiếu trong tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Có hứngthú học tập thì tư duy HS luôn ở trạng thái hưng phấn, đó là điều kiện tốt để khuyếnkhích HS tự giác hoạt động và phát triển năng lực tư duy, năng lực nhận thức của HS.
Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự cố gắng cao vềnhiều mặt trong học tập (L.V Rebrova, 1975) Học tập là một trường hợp riêng củanhận thức: “Một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sựchỉ đạo của giáo viên” (P.N Erdonive, 1974) Vì vậy, nói tới tích cực học tập thực chất
là nói tới tích cực nhận thức, mà tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhậnthức của học sinh, đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trongquá trình nắm vững kiến thức Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học,quá trình nhận thức học tập không nhằm phát hiện những điều loài người chưa biết vềbản chất, quy luật của các hiện tượng khách quan mà nhằm lĩnh hội những tri thức loàingười đã tích lũy được Tuy nhiên, trong học tập học sinh cũng phải “khám phá” ranhững điều mới đối với bản thân mình, dù đó chỉ là những khám phá lại những điều loàingười đã biết
Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính mình đã giành được bằng hoạtđộng của bản thân Học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì đã trải qua hoạt độngnhận thức tích cực của mình, trong đó các em đã phải có những cố gắng trí tuệ, đó làchưa nói đến tới một trình độ nhất định, thì sự học tập sẽ mang tính nghiên cứu khoahọc và người học cũng có thể tìm ra kiến thức mới cho nhân loại
Để học sinh phát huy được tính tích cực hoạt động đòi hỏi người giáo viên phảibiết cách tích cực hóa quá trình dạy học Nếu tính tích cực là phẩm chất của nhân cách,liên quan đến sự nỗ lực của học sinh thì tích cực hóa là việc làm của người thầy
Theo Vưgôtxki cho rằng vùng phát triển gần là chỗ tốt nhất cho sự phát triểnnhận thức Vùng phát triển gần là khoảng nằm giữa trình độ phát triển hiện tại được xácđịnh bằng trình độ độc lập giải quyết vấn đề và trình độ gần nhất mà các em có thể đạtđược với sự giúp đỡ của người lớn hay bạn bè khi giải quyết vấn đề Lý thuyết này chỉ
ra rằng trẻ em khác nhau có vùng phát triển gần nhất rất khác nhau và nó phụ thuộc rấtnhiều vào năng lực sư phạm và trình độ chuyên môn của thầy giáo, phụ thuộc vào cáchđặt ra nhiệm vụ học tập trước người học thông qua nghệ thuật nêu vấn đề, nghệ thuậttạo tình huống và nghệ thuật đặt câu hỏi Đặc biệt phụ thuộc vào thái độ tích cực tham
Trang 7gia hoạt động nhận thức của HS Việc tích cực hoạt động của HS sẽ làm cho vùng pháttriển gần của chính họ được mở rộng qua đó trình độ của HS được phát triển một cáchtích cực, chủ động Đây chính là cơ sở cho việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của
HS trong quá trình dạy học
Cũng theo Jean Piaget, trí tuệ con người hình thành trong một quá trình lâu dàithông qua những hoạt động của giác quan và vận động, kết hợp với những hoạt độngcủa tư duy Trí óc con người không phải là cái tủ nhiều ngăn, cứ nhét vào nhiều đồ vậtchừng nào hay chừng ấy Lí thuyết của J Piaget đề cao vai trò tích cực của người họctrong việc tạo sự thích nghi và cân bằng trước tự nhiên Theo J.Piaget, mỗi khi có sựmất cân bằng xuất hiện, thì sự cân bằng phải được tạo qua cơ chế đồng hoá và điều ứng
để thích nghi Trong dạy học, khi người học tiếp nhận thông tin thường đưa đến sự mấtcân bằng về nhận thức Những điều mà họ được tiếp nhận trở nên mới mẻ so với những
gì đã biết, sẽ tạo nên mâu thuẫn về nhận thức trong tư duy người học (hay ta nói có sựmất cân bằng về nhận thức) Thông qua cơ chế đồng hoá và điều ứng (tìm những điểmgiống nhau và thay đổi những cái tương tự, những cái gần giống nhằm tạo ra những cáimới có thể tiếp nhận được sau đó sắp xếp lại theo một trật tự thích hợp với một cấu trúcmới) sẽ làm cho người học có sự thích nghi và đưa đến sự cân bằng trong nhận thức của
họ Muốn quá trình điều ứng và đồng hóa diễn ra một cách nhanh chóng thì nhất địnhbản thân người học phải hoạt động tích cực
Như vậy, xuất phát từ cơ sở triết học, tâm lí học sư phạm, lý thuyết "vùng pháttriển gần nhất" của Vưgôtxki và lý thuyết "cân bằng" của J Piaget cho thấy việc tíchcực hóa hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học là hết sức cần thiết HSthông qua hoạt động của mình mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển nănglực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ của bản thân
- Một số quan niệm của quá trình dạy học (QTDH):
Theo thuyết hệ thống: QTDH với tư cách như một hệ thống, gồm có nhiều thành
tố, trong đó GV và hoạt đông dạy, HS và hoạt đông học là những thành tố cơ bản nhất.Không có hai thành tố đó, đặc biệt không có học sinh và hoạt động học thì không thể cóQTDH Trong mối quan hệ dạy – học trong QTDH, GV đóng vai trò chủ đạo với tưcách là chủ thể tác động sư phạm, HS không chỉ là đối tượng chịu sự tác động sư phạm
đó mà còn là chủ thể nhận thức, chủ thể của hoạt động học tập Chỉ khi nào là thực sự làchủ thể nhận thức thì học sinh mới tiếp thu một cách có ý thức và hiệu quả sự tác động
Trang 8sư phạm Vai trò chủ thể nhận thức đòi hỏ học sinh phải tự giác, tích cực, độc lập tronghoạt động học tập của mình.
Theo quan điểm của điều khiển học, ta có thể coi QTDH là một hệ điều chỉnh.Trong hệ đó GV là bộ phận điều chỉnh, HS là bộ phận bị điều chỉnh nhưng đồng thời tựđiều chỉnh Sự điều chỉnh và sự tự điều chỉnh dựa trên nguyên lý nền tảng của điềukhiển học đó là liên hệ ngược, là sự thu nhận thông tin về mức độ phù hợp của hànhđộng thực hiện so với hành động quy định Có hai loại liên hệ ngược: Liên hệ ngoài từ
HS đến GV chủ yếu giúp cho sự điều chỉnh của GV và liên hệ trong ở bản thân HS chủyếu giúp cho sự điều chỉnh của HS Các mối liên hệ ngược trong được tạo ra không chỉthông qua việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập do GV tiến hành mà còn thông quaviệc tự kiểm tra tự đánh giá của chính bản thân HS Sự điều chỉnh, sự chỉ đạo của GVphải làm sao cho sự tự kiểm tra, tự đánh giá đó hình thành và ngày càng phát triển ở HS
để học tự điều chỉnh và hoc tập một cách tự giác, tích cực và độc lập, tức là làm cho họctập trở thành một hệ kín điều chỉnh với tính chất là một hệ thứ cấp trong hệ dạy học, ở
đó HS vừa là khách thể vừa là chủ thể của QTDH Vì vậy, QTDH dưới góc độ này làquá trình phát triển biện chứng, trong đó có sự thống nhất của sự điều chỉnh (dạy), sựđược điều chỉnh và sự tự điều chỉnh (học)
Theo thuyết thông tin, QTDH bao gồm hai bộ phận là: bộ phận xử lí và truyềnthông tin (GV) và bộ phận thu nhận, xử lí, lưu trữ và vận dụng thông tin (HS) Trongquá trình đó, vấn đề rất cơ bản là làm sao khử được những thông tin, tín hiệu nhiễu khácnhau để đảm bảo cho truyền và nhận thông tin được thông suốt, đạt hiệu suất và hiệuquả cao
Theo tư tưởng công nghệ, đã và đang được vận dụng ngày càng sâu rộng vàolĩnh vực gáo dục Theo đó, QTDH được coi là một quá trình công nghệ đặc biệt
1.2 Lí luận dạy học
Lý luận dạy học chỉ ra rằng hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học
là một hoạt động đặc thù Học sinh là đối tượng dạy học, nhưng cũng là chủ thể củahoạt động dạy học Vì vậy, hoạt động dạy học chỉ đem lại hiệu quả cao khi có sự tíchcực của chính học sinh
Theo lí luận dạy học hiện đại, con đường có hiệu quả nhất để làm cho HS nắmvững kiến thức và phát triển được năng lực sáng tạo là phải đưa HS vào vị trí của chủthể hoạt động nhận thức Học sinh phải tự mình vận dụng trí tuệ của bản thân để nắm
Trang 9và lĩnh hội kiến thức Do đó, giáo viên phải tổ chức cho học sinh tham gia hoạt độngtích cực trong quá trình dạy học để HS tự mình chiếm lĩnh kiến thức và hình thành chomình một phương pháp tự học.
Quan điểm hiện đại về dạy học hiện nay cho rằng: “Dạy học bằng hoạt độngthông qua hoạt động của học sinh để học sinh tự lực, tích cực chiếm lĩnh kiến thức”.Điều đó có nghĩa là: dạy học vật lý không chỉ truyền thụ hệ thống kiến thức cơ bản màđiều quan trọng là xây dựng cho học sinh một tiềm lực, một bản lĩnh thể hiện ở phươngpháp suy nghĩ và làm việc, trong cách tiếp cận, giải quyết các vấn đề thực tiễn đồngthời giúp họ có khả năng phát triển vốn hiểu biết đã có, biết được năng lực sở trườngcủa mình để lựa chọn nghề nghiệp, thích ứng với sự phát triển xã hội
Việc dạy học theo quan điểm trên có tác dụng thiết thực để học sinh chủ độngxây dựng, chiếm lĩnh kiến thức, vận dụng vào thực hành, kiến thức của họ trở nên vữngchắc và sinh động hơn Từ đó, việc phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ nhân tài cho đấtnước trở nên thuận lợi hơn
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Yêu cầu đổi mới mục tiêu giáo dục trong thời đại hiện nay
Sự phát triển KT-XH trong bối cảnh toàn cầu hóa đòi hỏi Ngành giáo dục phảithay đổi một cách toàn diện về mục tiêu, chương trình, nội dung và PPGD cũng nhưPPDH nhằm đáp ứng nhu cầu về nhân lực trong thời đại CNH-HĐH
Nghị quyết lần thứ 4 BCH Trung ương Đảng khóa VII đã chỉ rõ “cần phải đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học …Áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”.
Chỉ thị 15/1999/CT-Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã nêu rõ yêu cầu của dạy học hiện nay là: “Phải đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tính chủ động sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS, sinh viên ”.
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số
16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc trưng của môn học, đặc điểm của đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học Bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”.
Trang 10Luật giáo dục, điều 28 đã qui định “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS phù hợp với đặc điểm của lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS” Chỉ thị 15/1999/ CT-Bộ giáo dục và đào tạo cũng đã nêu rõ yêu cầu của dạy học hiện nay là: “Phải đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tính chủ động sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS, sinh viên ”.
2.2 Nhu cầu phát triển và hội nhập của xã hội
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự thách thức của quá trình hộinhập kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủ phẩm chất vànăng lực đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới Người lao động phải có khảnăng thích ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loạivào điều kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội
Giáo dục không chỉ phục vụ số đông mà còn phục vụ cho nhu cầu của số đông:nhu cầu về các lĩnh vực khác nhau, một người không chỉ giới hạn hiểu biết ở một lĩnhvực mà có nhu cầu hiểu biết nhiều lĩnh vực khác nhau, làm nhiều nghề khác nhau Theo
đó, giáo dục cung cấp cho họ những kiến thức, kỹ năng cần thiết, với những khoảng thờigian linh hoạt, phù hợp, tôn trọng nhu cầu của mọi người Con người vốn có sẵn tiềmnăng, giáo dục cần và có thể khai thác tối đa tiềm năng đó, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo
Vì vậy có thể nói học tập là sáng tạo Giáo dục giúp con người qua học tập trở thành conngười có tri thức và kỹ năng mới, tạo điều kiện cho con người thể hiện mình trên các lĩnhvực, phát triển nhân cách con người Trên cơ sở hiểu biết, con người sống tốt hơn, có íchhơn cho bản thân và cộng đồng
2.3 Thời đại bùng nổ thông tin
Thời đại ngày nay lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hơn gấp nhiều lần vàichục năm trước đây Khoa học phát triển mạnh mẽ kéo theo sự phát triển của nhiềungành mới, cùng với đó là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin Kiến thứckhông còn là tài sản riêng của trường học Trẻ em ngày nay thu lượm kiến thức rất nhanh
và chia sẻ thông tin trong xã hội với tốc độ chóng mặt, mỗi trẻ em có khả năng tìm kiếmthông tin theo các cách khác nhau Việc sử dụng công nghệ mới khiến trẻ có khả nănggiải quyết vấn đề và xử lý nhiều thông tin cùng một lúc Nếu như dạy học không quantâm đến đặc điểm của người học, giáo viên truyền thụ một chiều, dạy kiến thức mang tính
Trang 11thông báo đồng loạt thì sẽ hạn chế khả năng tiếp thu của người học, người học hoàn toànthụ động trong việc lĩnh hội kiến thức đồng thời cũng sẽ thụ động trước những thách thứckhó khăn của cuộc sống.
2.4 Thực trạng giáo dục hiện nay
Hiện tại, giáo dục đã qua một số năm thực hiện đổi mới và đã thu được một số kếtquả khả quan, có mang lại hiệu quả Tuy nhiên, truyền thụ một chiều vẫn là phương phápchủ đạo của nhiều giáo viên Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việcphối hợp các phương pháp dạy học cuãng như sử dụng các phương pháp dạy học pháthuy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của HS còn chưa nhiều Dạy học vẫn nặng nề truyềnthụ kiến thức lý thuyết Mặt khác, việc kiểm tra đánh giá chưa đảm bảo yêu cầu kháchquan, chính xác, công bằng, chưa rèn luyện được năng lực cần thiết cho HS Thực trạngnày dẫn đến hệ quả nhiều HS phổ thông còn thụ động trong việc học tập, khả năng sángtạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sốngcòn hạn chế
Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, ở đócon người có phong cách làm việc chậm rãi, thiếu tính tích cực, chủ động Điều này ănsâu vào tâm lý và ý thức của HS, làm các em có thói quen không tích cực từ nhỏ, từ đóảnh hưởng đến việc học tập trên lớp cũng như tác phong làm việc khi trưởng thành Vậynên, càng cần phải tích cực hóa hoạt động nhận thức của các em để thay đổi căn bản cácthói quen này
Mục đích của giáo dục là làm cho học sinh tự chủ, phát triển tối đa trí thông minh,khả năng phán đoán, khả năng tư duy độc lập và phản biện Đất nước phát triển đòi hỏinhững con người sáng tạo năng động, chúng ta muốn hướn đến điều đó cần phải tích cựchóa hoạt động nhận thức của học sinh và bản thân mỗi học sinh cần phải tích cực hóa.Nếu tích cực hóa được sẽ đem đếm những con người tích cực, những con người tích cựcnày sẽ làm cho xã hội phát triển
3 Phương pháp dạy học tích cực
3.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học nhàm phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp tựhọc, rèn luyện kĩ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn cho học sinh là yêu cầu bắt buộc đối với các nhà trường Việt Namhiện nay, nó cũng là xu thếchung của các nhà trường trên thếgiới Ở Việt Nam định
Trang 12hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương
4 khoá VII (1 - 1993 ), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12- 1996), được thể chế hoátrong Luật giáo dục (2005) và được cụ thể hoá trong nhiều chỉ thị của Bộ Giáo dục vàĐào tạo
Luật Giáo dục, điều 28 khoản 2 đã ghi "phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tựgiác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từnglớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tựhọc, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
Có thể nói điều cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủđộng, chống lại thói quen học tập thụ động
3.2 Khái niệm phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp dạy học (PPDH) tích cực là một thuật ngữ rút gọn , được dùng ởnhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục , dạy học theo hướng phát huy tính tíchcực , chủ động, sáng tạo của người học “Tích cực” trong PPDH – tích cực được dùng với
ý nghĩa là hoạt động, chủ động , trái nghĩa với không hoạt động , thụ động chứ không
dùng theo nghĩa trái với tiêu cực
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa , tích cực hóa hoạt động nhận thứccủa người học , tức là tập kết vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải làtập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy , tuy nhiên để dạy học theo phương pháptích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học , nhưngtrái lại thói thường học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn , cótrường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng thầy giáo chưa đáp ứngđược , hoặc có trường hợp thầy giáo tích cực vận dụng PPDH tích cực nhưng khôngthành công vì học sinh chưa thích nghi , vẫn quen với lối học tập thụ động Vì thế , thầygiáo phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phươngpháp học tập chủ động một cách vừa sức , từ thấp lên cao Trong đổi mới phương phápdạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt độngdạy với hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng thuật ngữ “Dạy và họctích cực” để phân biệt với “Dạy và học thụ động”
4 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
4.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trang 13Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy",đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập dogiáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứkhông phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vàonhững tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thínghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức
kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theonhững khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà cònhướng dẫn hành động Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động
và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng
4.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinhkhông chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩthuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khốilượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay
từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho
người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng
ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lêngấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy
học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề
phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà
tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
4.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệtđối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ,tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗicông tác độc lập
Trang 14Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn.Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu
cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hìnhthành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò,trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nộidung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc
lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài họcvận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớphoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ
4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyếtnhững vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoànthành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại;tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổchức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽlàm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liênquốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phảichuẩn bị cho HS
4.4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thựctrạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thựctrạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tíchcực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnhcách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh đượctham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là nănglực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năngđộng, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở
Trang 15yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thôngminh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế.
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là mộtcông việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linhhoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai
trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội
dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu củachương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưngtrước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với
kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi
nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạmlành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễnbiến ngoài tầm dự kiến của giáo viên
5 Một số phương pháp dạy học tích cực
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề
- Phương pháp dạy học theo nhóm
- Phương pháp dạy học theo góc
- Phương pháp dạy học theo dự án
- Phương pháp dạy học theo hợp đồng,…
5.1 Phương pháp dạy học nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình huống có vấn đề, điềukhiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyếtvấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mụcđích học tập khác
Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợivấn đề" vì "Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" (Rubinstein)
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho HSnhững khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng
Trang 16không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suynghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có.
5.2 Phương pháp dạy học theo nhóm
Dạy học theo nhóm là PPDH trong đó HS được chia thành các nhóm nhỏ, cùngnhau nghiêm cứu và giải quyết vấn đề mà GV đặt ra, từ đó giúp HS tiếp thu được mộtkiến thức nhất định nào đó Nhằm giúp HS phát triển kĩ năng giao tiếp, khả năng nhậnthức và tư duy của HS, từ đó phát triển nhân cách HS
Đặc trưng cơ bản của dạy học theo nhóm là một nhiệm vụ mang tính cộng tác, tức
là nhiệm vụ mà người học không thể giải quyết một mình mà cần thiết phải có sự cộngtác thực sự giữa các thành viên trong nhóm, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo tính độc lập giữacác thành viên
5.3 Phương pháp dạy học theo góc
Dạy học theo góc là một phương pháp dạy học mà học sinh thực hiện các nhiệm
vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng hướng tới chiếmlĩnh một nội dung học tập theo các phong cách học khác nhau, đảm bảo HS học sâu vàthoải mái
Ví dụ: tổ chức không gian lớp học thành 4 góc, cùng thực hiện một nội dung vàmục tiêu học tập nhưng theo các phong cách khác nhau, sử dụng các phương tiện, đồdùng học tập khác nhau: làm thí nghiệm (trải nghiệm), xem băng (quan sát), áp dụng (ápdụng), đọc tào liệu (phân tích)
PPDH theo góc không thể thực hiện thường xuyên mà cần thực hiện ở những nơi
có điều kiện Với HS quá nhỏ thì không nên tổ chức học theo góc vì khả năng tự đọc cácnhiệm vụ, làm việc tự giác, chủ động để xây dựng kiến thức và rèn luyện kỹ năng còn bịhạn chế Không phải mọi nội dung đều có thể áp dụng học theo góc và đối với tất cả cácmôn học mà chỉ một số nội dung phù hợp
5.4 Phương pháp dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực
hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc
thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc
nhóm là hình thức cơ bản của DHDA
Trang 17Các đặc trưng cơ bản của dạy học theo dự án:
- Người học là trung tâm của quá trình dạy học;
- Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn;
- Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình;
- Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên;
- Dự án có tính liên hệ với thực tế;
- Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm và quá trình thựchiện;
- Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học;
- Kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp dạy học dự án
5.5 Phương pháp dạy học theo hợp đồng
Dạy học theo hợp đồng là cách tổ chức học tập, trong đó người học làm việc theomột gói các nhiệm vụ trong một khoảng thời gian nhất định.Trong dạy học theo hợp đồngthì GV là người nghiên cứu thiết kế các nhiệm vụ, bài tập trong hợp đồng, tổ chức hướngdẫn HS nghiên cứu hợp đồng để chọn nhiệm vụ cho phù hợp với năng lực của HS, HS làngười nghiên cứu hợp đồng, kí kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, nhằm đạt được mụctiêu dạy học nội dung cụ thể
Không phải mọi nội dung đều có thể tổ chức học theo hợp đồng Do đặc điểm của
học theo hợp đồng nên chủ yếu nội dung ôn luyện tập, thực hành và một số nội dung líthuyết rất hạn chế Phương pháp này khó thực hiện thường xuyên mà chỉ thực hiện cótính chất thay đổi hình thức tổ chức học tập nhằm phát triển tính chủ động, độc lập, sángtạo của HS Không phải mọi học sinh từ tiểu học đều có thể áp dụng phương pháp dạyhọc này vì yêu cầu học sinh cần đọc hiểu hợp đồng, kí hợp đồng và làm việc độc lập kếthợp làm việc hợp tác với mức độ chủ động tương đối cao Do đó phương pháp này trởnên khó khăn khi áp dụng với học sinh nhỏ tuổi như mẫu giáo, lớp 1, lớp 2 ở Tiểu học
6 Phương pháp dạy học nhóm
6.1 Khái niệm về phương pháp dạy học theo nhóm
Theo lí luận dạy học, có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học theo nhóm như sau:
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: Thảo luận theo nhóm là phương pháp trong đó nhóm lớp (lớp học) được phân chia thành nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một vấn đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình
về vấn đề đó [1].
Trang 18Tác giả Nguyễn Hữu Châu lại cho rằng: Học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ
để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hoá kết quả học tập của bản thân mình cũng như người khác [2].
Hay theo Đoàn Thị Bạch Phương: Hợp tác nhóm (trong quá trình học tập) là một trong những hình thức cộng tác làm việc giữa các thành viên trong nhóm, để cùng nhau giải quyết một vài vấn đề nào đó (do giáo viên nêu ra hoặc do các thành viên trong nhóm đề xuất), từ đó tìm ra được hướng giải quyết của vấn đề đã nêu (dưới sự định hướng của giáo viên) [4].
Từ những nhận định trên, theo quan điểm của chúng tôi, nếu vận dụng vào quitrình dạy học thì dạy học nhóm là một trong những hình thức tổ chức dạy học, trong đóhọc sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giớihạn, để cùng nhau trao đổi, thảo luận về một vấn đề nhận thức trên cơ sở phân công vàhợp tác làm việc Kết quả của từng nhóm sẽ được trình bày để thảo luận chung trướckhi giáo viên đi đến kết luận cuối cùng
Hiện nay, vẫn chứ có sự nhất quán trong việc sử dụng các thuật ngữ liên quanđến dạy học nhóm, chẳng hạn như “dạy học theo nhóm nhỏ”, “phương pháp dạy họcnhóm”, “ hình thức tổ chức dạy học nhóm” hay “dạy học hợp tác”… Tuy nhiên, theochúng tôi những thuật nghữ này không khác nhau về bản chất, nó đều thể hiện cáchthức mà ở đó giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học của học sinhtrên cơ sở phân chia nhiệm cụ nhận thức cho các nhóm học tập; các học sinh ở mỗinhóm học tập cùng nhau hoạt động, giải quyết vấn đề do giáo viên đặt ra, từ đó chiếmlĩnh tri thức mới
6.2 Nguồn gốc và bản chất của phương pháp dạy học nhóm
Một trong những phương pháp dạy học tích cực đang được đa số giáo viên phổthông sử dụng hiện nay là phương pháp dạy học nhóm Đó là vì phương pháp dạy họcnhóm có những lợi ích và phù hợp với lí luận dạy học hiện đại Tuy nhiên, để sử dụngtốt phương pháp dạy học nhóm, cần hiểu rõ nguồn gốc và bản chất của nó dưới cáchnhìn các lí thuyết của khoa học giáo dục, mà trước tiên cần làm sáng tỏ bản chất củahoạt động học, hoạt động dạy
Trong tâm lí học hoạt động, khi nghiên cứu tâm lí người đã chỉ ra rằng tâm líhình thành trong hoạt động Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ củamình với thế giới bên ngoài (tự nhiên và xã hội) Trong quá trình đó con người bộc lộ
Trang 19tâm lí, phát triển nhân cách…Từ đó, Phạm Minh Hạc nhấn mạnh: “Nhà trường hiện đại ngày nay là nhà trường hoạt động, dùng phương pháp hoạt động…cần thu hẹp sự cưỡng bức của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao” “Phương pháp giáo dục bằng hoạt động là dẫn dắt học sinh tự xây dựng công cụ làm trẻ thay đổi từ bên trong…Hoạt động cùng nhau, hoạt động hợp tác giữa thầy- trò, trò- trò có một tác dụng to lớn”.
[9] Qua đó có thể thấy rằng cần kết hợp hoạt động các nhân với hoạt động nhóm; Dạyhọc là tổ chức các dạng hoạt động học tập khác nhau cho học sinh; dạy học cần phảithay đổi phương thức cưỡng bức học sinh học tập bằng phương thức học tập hợp tác,làm việc cùng nhau
Theo quan điểm của tâm lí học lịch sử, L.Vưgôtxki cho rằng các chức năng tâm
lí cấp cao xuất hiện trước hết ở mức độ liên nhân cách giữa các cá nhân, trước khichúng tồn tại ở mức độ tâm lí bên trong [2], [6] Chính vì vậy, theo ông trong một lớphọc, cần coi trọng sự khám phá có trợ giúp hơn là sự tự khám phá Từ đó có thể rút ramột nguyên tắc là dạy học cần tổ chức cho học sinh học tập với sự hỗ trợ của bạn học,việc học tập cùng nhau sẽ giúp trẻ lĩnh hội được kiến thức tốt hơn
Jean Piaget (1896- 1980) với thuyết mâu thuẫn nhận thức xã hội cho rằng: Trongkhi tương tác cùng nhau, mâu thuẫn nhận thức xã hội đã tạo ra sự mất cân bằng về nhậnthức giữa mọi người Các cuộc tranh luận diễn ra liên tục và được giải quyết tạo điềukiện cho các lí lẽ, lập luận chưa đầy đủ được bổ sung và điều chỉnh [2], [6] Như vậy
có thể thấy, học là một quá trình xã hội, trong quá trình đó, con người liên tục đấu tranh
để giải quyết các mâu thuẫn nhận thức, từ đó chiếm lĩnh được tri thức
Lí thuyết kiến tạo ra đời trong những năm 80 của thế kỉ XX cũng là một cơ sởcủa lí luận dạy học hiện đại Nội dung của lí thuyết này đề cập đến một số điểm nhưsau:
Thứ nhất, hoạt động học là một quá trình người học tự kiến tạo và xây dựng kiếnthức cho bản thân mình, một cách tích cực
Thứ hai, hoạt động nhận thức diễn ra trong thế giới hiện thực, gắn với từng hoàncảnh và cá nhân cụ thể, vì vậy khi nghiên cứu hoạt động học, cần gắn với một hoàncảnh cụ thể Thứ ba, học là một quá trình mang tính xã hội, văn hóa và liên nhân cách,
do vậy học không chỉ chịu tác động của các tác nhân nhận thức mà còn chịu ảnh hưởngcủa các yếu tố xã hội và sự tương tác giữa các cá nhân Học là quá trình người học thểhiện ra bên ngoài những đặc điểm tâm lí bên trong của mình, do vậy, nghiên cứu hoạt
Trang 20động học phải đặt trong mối quan hệ với các yếu tố xã hội và sự hợp tác giữa các cánhân [14] Khái quát lại, học là quá trình cá nhân tự kiến tạo kiến thức cho mình thôngqua sự tương tác với các cá nhân khác, với xã hội, với thực tiễn mà có.
Hoạt động dạy được xem là hoạt động của giáo viên nhằm tổ chức và hướng dẫnhoạt động học của người học, để họ tự khám phá và thực hiện nhiệm vụ học tập, theoquan niệm về hoạt động học Học tập chịu sự tác động của các tác nhân nhận thức, xãhội, văn hóa, liên nhân cách do vậy dạy học phải tổ chức các dạng hoạt động đa dạngcho học sinh tham gia; Phải tạo ra các tác động dạy học đa dạng như tác động nhận thức
cá nhân (tự phát hiện, tìm tòi, lĩnh hội) ; tác động xã hội, văn hóa (như gắn việc học vớihoàn cảnh cụ thể) ; tác động tâm lí (sự hợp tác, gắn kết, chia sẽ trách nhiệm và lợi ích)
…
Phương pháp dạy học nhóm hình thành dựa trên yêu cầu về hoạt động dạy học
mà các lí thuyết trên đã nêu ra [10], [11], [12], [13]
Việc sử dụng các mối quan hệ xã hội mang tính trực tiếp, đa chiều và ở nhiềucấp độ giữa các chủ thể học để tổ chức dạy học chính là bản chất của phương phápdạy học nhóm Mối quan hệ này thể hiện ở hai mặt: mặt nội dung nói lên tính chất cácmối quan hệ xã hội trong học đường, đó là tính hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; mặthình thức bao gồm tổng thể các mối quan hệ xã hội phong phú, đa dạng giữa các chủthể trong học đường
Nội dung của phương pháp dạy học nhóm đề cập đến việc huy động sự phối hợp,hợp tác giữa các chủ thể học, sự cộng hưởng giữa các ý tưởng để tạo nên sự nhân thức
cá nhân Chính từ những sự cọ xát đó tạo nên động lực cho người học Tuy nhiên, bêncạnh việc đề cao sự hợp tác trong học tập, phương pháp dạy học nhóm lại nhấn mạnh
về thực chất, học tập là một hoạt động mang tính cá nhân tích cực cao Việc học củamỗi người không chỉ là việc thu nhận kiến thức cho cá nhân mà thể hiện tính chủ thểcủa bản thân người học trong mối quan hệ với chủ thể khác và với xã hội Việc thunhận kiến thức thể hiệ rõ tính chủ thể và bản sắc của mỗi người Nó đòi hỏi con ngườiphải nỗ lực đấu tranh để vươn lên Như vậy, phương pháp dạy học nhóm một mặt pháthuy tính tích cực, chủ thể của người học, mặt khác lại chú trọng sự phối hợp của cácchủ thể đó
Về mặt hình thức, tổng thể các mối quan hệ xã hội đa dạng trong học đườngchính là phương tiện tác động đặc trưng của phương pháp dạy học nhóm Những kết
Trang 21quả nghiên cứu của tâm lí học xã hội- lịch sử ngay từ thời Vưgôtxki đã chứng minh vaitrò của xã hội mà thực chất là các mối quan hệ xã hội trong việc hình thành tâm língười Mối quan hệ xã hội giữa các chủ thể học vừa tạo ra những yếu tố kích thích, làđộng lực thúc đẩy động cơ học tập của mối cá nhân, vừa tạo ra môi trường học tập tíchcực, hỗ trợ cá nhân học tập Như vậy phương pháp dạy học nhóm tạo ra các mối quan
hệ tương tác đa chiều đối với người học, đồng thời sử dụng các mối quan hệ tương tác
ấy như một công cụ dạy học hiệu quả
Mặt nội dung và hình thức có mối quan hệ tác động qua lại và hợp tác chặt chẽ vớinhau, cùng nhau tạo nên một PPDH nhóm đặc thù có nhiều giá trị
6.3 Tổ chức dạy học theo phương pháp nhóm
6.3.1 Mô hình lí thuyết của phương pháp dạy học nhóm
Từ bản chất của phương pháp dạy học nhóm có thể đưa ra mô hình đơn giản củaphương pháp dạy học nhóm như sau [2]:
Hình 1.1 Mô hình lí thuyết của PPDH nhóm
Trong sơ đồ 1.1: ta thấy trong nhóm học tập các thành viên trong nhóm tương tácvới nhau, giữa các nhóm có sự hợp tác chặc chẽ với nhau dưới sự hướng dẫn của giáoviên Giáo viên điều hành hoạt động nhóm trong toàn thể lớp học, các nhóm hình thành
và hoạt động dựa vào các đối tượng học tập cụ thể
Ở đây, các nhóm học tập không chỉ là “nhân vật trung tâm” mà còn là chủ thể, đốitượng và là môi trường học tập Nhóm học tập mang đầy đủ các đặc tính của nhóm xã