Trong tiến trình hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp không ít những thách thức và cả những cơ hội mới. Bên cạnh những cơ hội mới với khả năng tiếp cận thị trường, khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ rộng lớn hơn, thì doanh nghiệp Việt Nam cũng phải chịu những áp lực cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp. Vì thế hoạt động sản xuất kinh doanh được coi trọng và là vấn đề quan tâm của các doanh nghiệp. Một yếu tố tất yếu cần phải có uy tín với nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng… Đó là những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên mục đích quan tâm khác nhau với từng đối tượng: đối với chủ doanh nghiệp thì mục đích quan tâm đến tình hình tài chính, để biết chính xác thực trạng tài chính của doanh nghiệp mình, từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh, đối với các chủ đầu tư là để có thể đưa ra các quyết định đầu tư, đối với đối tác là có nên hợp tác hay không,… Phân tích tài chính nhằm mục đích cung cấp quan trọng trong quản lý kinh tế. Phân tích tài chính cung cấp cho nhà quản lý cái nhìn tổng thể về thực trạng của doanh nghiệp hiện tai, dự báo các vấn đề tài chính trong tương lai, giúp cho các nhà đầu tư tình hình phát triển và hiệu quả hoạt động, giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra biện pháp quản lý hữu hiệu. Hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chúng và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng là nội dung quan trọng trong phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong điều kiện nền kinh tế mở, muốn khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, muốn chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh phần lớn phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả đó sẽ được đánh giá qua phân tích tài chính. Các chỉ tiêu phân tích sẽ cho biết bức tranh về hoạt động của doanh nghiệp giúp tìm ra hướng đi đúng đắn, có các chiến lược quyết định kịp thời nhằm đạt được kết quả kinh doanh cao nhât. Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông là một công ty điển hình đi tiên phong trong cơ chế thị trường, chính sự năng động, dám nói, dám làm của ban lãnh đạo cùng sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên đã thúc đấy công ty phát triển không ngừng, sản phẩm của công ty ngày càng được nâng cao Từ những vấn đề trên em đã đi sâu vào nghiên cứu về ‘ Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ Phần Bóng Đèn Phích nước Rạng Đông’ và chọn đây là đề tài trong luận văn báo cáo tốt nghiệp của mình. Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung bài còn được chia làm ba chương: Chương I: Lý luận chung về phân tích tài chính của doanh nghiệp Chương II: Thực trạng phân tích tài chính tại công ty Cổ Phần bong đèn Phích nước Rạng Đông Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích và cải thiện tình hình tài chính của công ty. Trong quá trình nghiên cứu và viết bài tuy đã có cố gắng song sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong thấy cô góp ý để bài viết của em được hoàn thiện và đạt kết quả cao hơn. Em xin chân thành cảm ơn!!
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong tiến trình hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam đang gặpkhông ít những thách thức và cả những cơ hội mới Bên cạnh những cơ hội mớivới khả năng tiếp cận thị trường, khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài và chuyển giao công nghệ rộng lớn hơn, thì doanh nghiệp Việt Nam cũngphải chịu những áp lực cạnh tranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp Vì thế hoạtđộng sản xuất kinh doanh được coi trọng và là vấn đề quan tâm của các doanhnghiệp Một yếu tố tất yếu cần phải có uy tín với nhà đầu tư, nhà cung cấp,khách hàng… Đó là những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanhnghiệp, tuy nhiên mục đích quan tâm khác nhau với từng đối tượng: đối với chủdoanh nghiệp thì mục đích quan tâm đến tình hình tài chính, để biết chính xácthực trạng tài chính của doanh nghiệp mình, từ đó đưa ra các quyết định kinhdoanh, đối với các chủ đầu tư là để có thể đưa ra các quyết định đầu tư, đối vớiđối tác là có nên hợp tác hay không,…
Phân tích tài chính nhằm mục đích cung cấp quan trọng trong quản lý kinh
tế Phân tích tài chính cung cấp cho nhà quản lý cái nhìn tổng thể về thực trạngcủa doanh nghiệp hiện tai, dự báo các vấn đề tài chính trong tương lai, giúp chocác nhà đầu tư tình hình phát triển và hiệu quả hoạt động, giúp các nhà hoạchđịnh chính sách đưa ra biện pháp quản lý hữu hiệu
Hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chúng và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng
là nội dung quan trọng trong phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Trong điều kiện nền kinh tế mở, muốn khẳng định được vị thế của mình trên thịtrường, muốn chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh phần lớn phụ thuộc vàohiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả đó sẽ được đánh giá qua phân tích tàichính Các chỉ tiêu phân tích sẽ cho biết bức tranh về hoạt động của doanhnghiệp giúp tìm ra hướng đi đúng đắn, có các chiến lược quyết định kịp thờinhằm đạt được kết quả kinh doanh cao nhât
Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông là một công ty điển hình
đi tiên phong trong cơ chế thị trường, chính sự năng động, dám nói, dám làmcủa ban lãnh đạo cùng sự nỗ lực của cán bộ công nhân viên đã thúc đấy công typhát triển không ngừng, sản phẩm của công ty ngày càng được nâng cao
Trang 2Từ những vấn đề trên em đã đi sâu vào nghiên cứu về ‘ Phân tích tình hìnhtài chính của Công ty Cổ Phần Bóng Đèn Phích nước Rạng Đông’ và chọn đây
là đề tài trong luận văn báo cáo tốt nghiệp của mình
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung bài còn được chia làm bachương:
Chương I: Lý luận chung về phân tích tài chính của doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng phân tích tài chính tại công ty Cổ Phần bong đèn
Phích nước Rạng Đông
Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích và cải
thiện tình hình tài chính của công ty
Trong quá trình nghiên cứu và viết bài tuy đã có cố gắng song sẽ không thểtránh khỏi những thiếu sót, rất mong thấy cô góp ý để bài viết của em được hoànthiện và đạt kết quả cao hơn
Em xin chân thành cảm ơn!!
Trang 3CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH
NGHIỆP.
1.1 Khái niệm và đối tượng phân tích tài chính.
1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính
- Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh
nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế trong quá trình phân phối các nguồn tàichính gắn liền với việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp
+ Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước
+ Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
+ Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường khác
+ Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Bất kỳ một doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải chútrọng đến hoạt động tài chính doanh nghiệp Hoạt động này dựa trên mối quan
hệ giữa dòng tài chính và dự trữ tài chính nhằm thực hiện những mục tiêu màdoanh nghiệp hướng tới
- Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp, công cụ
theo một hệ thống nhất định cho phéo thu thập và xử lý các thông tin kế toáncũng như các thông tin khác trong quản lý doanh nghiệp nhằm đưa ra nhữngđánh giá chính xác, đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp nhà quản lý kiểm soát tình hình kinh doanh của các doanhnghiệp, nâng cáo hiệu quả sử dụng vốn cũng như dự đoán trước rủi ro có thể xảy
ra trong tương lai để đưa các quyết định xử lý phù hợp tùy theo mục tiêu theođuổi
1.1.2 Đối tượng của phân tích tài chính.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có các hoạtđộng trao đổi điều kiện và kết quả sản xuất thông qua những công cụ tài chính
và vật chất Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào cácmối quan hệ tài chính đa dạng và phức tạp Các quan hệ tài chính đó có thể chiathành các nhóm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và Nhà nước Quan hệ nàybiểu hiện trong quá trình phần phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu thập quốcdân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp thông qua các hình thức:
Trang 4- Doanh nghiệp nộp lại thuế vào ngân sách theo luật định.
- Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho doanh nghiệp (DNNN) hoặc tham giavới tư cách người góp vốn
Thứ hai: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và các
tổ chức tài chính Thể hiện cụ thể trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn vàngắn hạn cho nhu cầu kinh doanh:
- Trên thị trường tiền tệ đề cập đến việc doanh nghiệp quan hệ với các ngânhàng, vay các khoản ngắn hạn, trả lãi và gốc khi đến hạn
- Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài hạnbằng cách phát hành các loại chứng khoán cũng như việc trả các khoản lãi, hoặcdoanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗi vào ngân hàng hay mua chứng khoáncủa các doanh nghiệp khác
Thứ ba: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường khác huy độngcác yếu tố đầu vào và các quan hệ thực hiện tiêu thụ sản phẩm ở thị trường đầura
Thứ tư: Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp Đó là cáckhía cạnh tài chính liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách tàichính của doanh nghiệp như vấn đề cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chínhsách lợi tức cổ phần, sử dụng ngân quỹ nội bộ doanh nghiệp Trong mối quan hệquản lý hiện nay, hoạt động tài chính của các DNNN có quan hệ chặt chẽ vớihoạt động tài chính của cơ quan chủ quản là Tổng Công Ty Mối quan hệ đóđược thể hiện trong các quy định về tài chính:
- Doanh nghiệp nhận và có trách nhiệm bảo toàn vốn của Nhà nước do TổngCông Ty giao
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng góp một phần quỹ khấu hao cơ bản và
trích một phần lợi nhuận sau thuế vào quỹ tập trung của Tổng Công Ty theo quychế tài chính của Tổng Công Ty và với những điều kiện nhất định
- Doanh nghiệp cho Tổng Công Ty vay quỹ khấu hao cơ bản và chịu sự điềuhòa vốn trong Tổng Công Ty theo những điều kiện ghi trong điều lệ của TổngCông Ty
Như vậy, đối tượng phân tích tài chính là các mối quan hệ kinh tế phát sinhtrong mối quan hệ hình thành, phát triển và biến đổi vốn dưới mọi hình thức cóliên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 51.2 Mục đích, ý nghĩa của phân tích tài chính trong doanh nghiệp
Có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
như: các chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng,… Mỗi đốitượng quan tâm tới các mục đích khác nhau nhưng thường liên quan đến nhau.Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp thì mối quan tâmcủa họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Ngoài ra họ còn quan tâm đếnmục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăngdoanh thu, giảm chi phí Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện các mụctiêu này nếu họ kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của
họ chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy họ đặc biệt chú
ý đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó
so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanhnghiệp Bên cạnh đó họ cũng quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu vì đó làkhoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro
Đối với các nhà đầu tư thì họ lại quan tâm đến lợi nhuận bình quan vốn củaCông ty vòng quay vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp… Từ đó ảnhhưởng tới các quyết định tiếp tục đầu tư và Công ty tròn tương lai
Ngoài ra các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, nhà cung cấp, người laođộng…cũng rất qyan tâm đến bức tranh tài chính của doanh nghiệp với nhữngmục tiêu cơ bản giống nhảu chủ ngân hàng, chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư Tất
cả những cá nhân, tổ chứ quan tâm trên đều có thể tìm thấy và thỏa mãn nhu cầu
về thông tin của mình thông qua hệ thống chỉ tiêu do phân tích váo cáo tài chínhcung cấp
1.3 Nhiệm vụ và mục tiêu của phân tích tài chính
Với những ý nghĩa trên thì nhiệm vụ của phân tích tài chính gồm:
- Đánh giá tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn như: xem xét việc phân bổvốn, nguồn vốn có hợp lý không? Xem xét mức độ đảm bảo vốn cho nhiệm vụsản xuất kinh doanh, phát hiện những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa,thiếu vốn
- Đánh giá tình hình thanh toán, khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tìnhhình chấp hành các chế độ, chính sách tài chính, tín dụng của Nhà nước
- Đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn
Trang 6Phát hiện khả năng tiềm tang, đề ra biện pháp để khai thác khả năng tiềmtang nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Mục tiêu: Phân tích tài chính có thể được hiểu như quá trình kiểm tra, xem
xét các số liệu tài chính hiện hành và quá khứ, nhằm mục đích đánh giá, dự tínhcác rủi ro tiềm ẩn trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính củadoanh nghiệp Mặt khác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là để đápứng nhu cầu sử dụng thông tin của nhiều đối tượng quan tâm đến những khíacạnh khác nhau về tài chính của doanh nghiệp để thực hiện cho những mục đíchcủa mình
- Tạo thành các chu kỳ đáng giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh quákhứ, tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ,rủi ro của doanh nghiệp
- Định hướng các quyết định của ban giám đốc
- Là cơ sở cho các dự báo tài chính
- là công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý
1.4 Tài liệu, phương pháp và nội dung của phân tích tài chính
1.4.1 Tổ chức công tác phân tích tài chính.
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tùy theo loạihình tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứngnhu cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết định.Công tác tổ chức phân tích tài chính phải làm sao thỏa mãn cao nhất nhu cầuthông tin của từng loại hình quản trị khác nhau
- Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dướiquyền kiểm soát trực tiếp của giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc Theohình thức này thì quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nội dung của hoạtđộng sản xuất kinh doanh Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin thườngxuyên cho lãnh đạo trong doanh nghiệp Trên cơ sở này các thông tin qua phântích được chuyển từ trên xuống dưới theo chức năng quản lý và quá trình giámsát, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộ phận của doanhnghiệp theo cơ cấu từ ban giám đốc đến các phòng ban
- Công tác phân tích tài chính được thể hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt theocác chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thỏa mãn thông tin chocác bộ phận của quản lý được phân quyền:
Trang 7+ Đối với bộ phận được phân quyền giám sát và ra quyết định về chi phí, bộphận này sẽ tổ chức thực hiện thu nhập thông tih và tiến hành phân tích tình hìnhbiến động chi phí, giữa thực hiện so với định mức nhằm phát hiện chênh lệchchi phí cả về hai mặt động lượng và giá để từ đó tìm ra nguyên nhân và đề ragiải pháp.
+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu
là bộ phận kinh doanh riêng biệt theo địa điểm hoặc một số sản phẩm nhómhàng riêng biệt, do đó họ có quyền với bộ phận cấp dưới là bộ phận chi phí Ứngdụng với bộ phận này thường là trưởng phòng kinh doanh, hoặc giám đốc kinhdoanh tùy theo doanh nghiệp Bộ phận này sẽ tiến hành thu nhập thông tih, tiếnhành phân tích báo cáo thu nhập, đánh giá mối quan hệ chi phí- khối lượng- lợinhuận làm cơ sở để đánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phân tích báo cáonội bộ
1.4.2 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính.
Phân tích tài chính có mục tiêu đưa ra những dự báo tài chính giúp cho việc
ra quyết định về mặt tàu chính và giúp cho việc dự kiến kết quả tương lai củadoanh nghiệp nên thông tin sử dụng để phân tích tài chính không chỉ giới hạntrong phạm vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải mở rộng sang các lĩnhvực:
- Các thông tin chung về kinh tế, thuế, tiền tệ
- Các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.2.1 Thông tin chung.
Đây là các thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp trong năm Sự suy thoái hoặc tăng trưởng củanền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động củagiá cả các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra, từ đó tác độngđến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi các tác động diễn ra theo chiềuhướng có lợi hoạt động sản xuất kinh doanh cuat doanh nghiệp được mở rộng,lợi nhuận tăng và nhờ đó kết quả kinh doanh trong năm là khả quan Tuy nhiênkhi những biến động của tình hình kinh tế bất lợi, nó sẽ ảnh huownge xấu đếnkết quả kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy để có được sự đánh giákhách quan và chính xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
Trang 81.4.2.2 Thông tin theo ngành kinh tế
Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành kinh tế là việc đặt sự phát triểncủa doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chúng của ngành kinhdoanh
Việc kết hợp các thông tin theo ngành kinh tế cùng với thông tin chung vàcác thông tin liên quan khác sẽ đem lại một cái nhìn tổng quát và chính xác nhất
về tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là
hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để người phân tích có thểđánh giá, kết luận chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp
1.4.2.3 Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mụctiêu của dự đoán tài chính Từ những thông tin nội bộ đến những thông tin bênngoài, thông tin số lượng đến thông tin giá trị đều giúp cho nhà phân tích có thểđưa ra nhận xét sát thực tuy nhiên, thồn rin kế toán là nguồn thông tin đặc biệtcần thiết Nó được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo kế toán của doanh nghiệp.Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở báo cáo tài chính được hình thànhthông qua việc xử lý các báo báo kế toán
Các báo cáo tài chính gồm có:
- Bảng cân đối kế toán
Tác dụng: + Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệpthông qua các chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn
+ Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp
+ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu và cáckhoản phải trả
+ Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
1.4.3 Các loại hình phân tích tài chính
1.4.3.1 Căn cứ theo thời điểm kinh doanh:
Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích tài chính được chia làm 3
hình thức:
a Phân tích trước khi kinh doanh: Phân tích trước khi kinh doanh còn gọi
là phân tích tương lai nhằm dự báo, dự toán cho các mục tiêu trong tương lai
Trang 9b Phân tích trong quá trình kinh doanh.
Phân tích trong quá trình kinh doanh còn gọi là phân tích hiện tại (Hay tácnghiệp) là quá trình phân tích diễn ra cùng quá trình kinh doanh Hình thức nàyrất thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh, chấn chỉnhnhững sai lệch lớn giữa kết quả thực hiện với mục tiêu để ra
c Phân tích sau kinh doanh
Là phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh (Hay phân tích quá khứ).Quá trình này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so với kế hoạchhoặc định mức đề ra Từ kết quả phân tích cho ta nhận rõ tình hình thực hiện kếhoạch của các chỉ tiêu đề ra và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo
1.4.3.2 Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo.
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia làm phân tíchthường xuyên và phân tích định kỳ
a Phân tích thường xuyên
Phân tích thường xuyên được đặt ra ngay trong quá trình kinh doanh Kếtquả phân tích giúp phát hiện ngay ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa ra đượccác điều chỉnh kịp thời và thường xuyên trong quá trình hoạt động kinh doanh.Tuy nhiên biện pháp này thường công phu và tốn kém
b Phân tích định kỳ
Được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi các báo cáo đã được thành lập.Phân tích định kỳ là phân tích sau quá trình kinh doanh, vì vậy kết quả phân tíchnhằm đánh giá tình hình thực hiện, kết quả hoạt động kinh doanh của từng kỳ và
là cơ sở cho xuây dựng kế hoạch kinh doanh kuyf sau
1.4.3.3 Căn cứ theo nội dung phân tích.
a.Phân tích chỉ tiêu tổng hợp: là việc tổng kết tất cả các kết quả phân tích đểđưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuất kinhdoanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của cácyếu tố môi trường
- Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả doanh thu và lợi nhuận
b Phân tích chuyên đề
Còn được gọi là phân tích bộ phận là việc tập trung vào một số nhân tố của quátrình kinh doanh tác động, ảnh hưởng đến những chỉ tiêu tổng hợp
Trang 101.4.4 Phương pháp phân tích tài chính.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm hệ thống các công cụ và biện phápnhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong
và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chínhtổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Trên lý thuyết thì có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp,nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
- Khi so sánh giữa số thực hiện kỳ này với với số thực hiện kỳ trước để thấy
rõ được xu hướng phát triển tài chính của doanh nghiệp Nhằm đánh giá chínhxác sự tăng, giảm về tài chính của doanh nghiệp là cao hay thấp để kịp thời đưa
- So sánh chỉ tiêu dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể,
so sách theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy đựoc sự biến đổi cả về số tươngđối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua niên độ kế toán liên tiếp
Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Điều kiện một: Phải xác định rõ ‘gốc so sánh’ và ‘kỳ phân tích’
- Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (Hoặc các trị số của các chỉ tiêu sosánh) phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau.Muốn vậy, chúngphải thống nhất thời gian tính toán
Trang 11* Phương pháp tỷ lệ:
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tàichính Về nguyên tắc thì phương pháp tỷ lệ đòi hỏi phải xác định được cácngưỡng, các định mức để nhận xét, để đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp, trên cơ sở so sách các tỷ lệ của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính của doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phânthành các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồnvốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinhlời Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều nhóm tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng hoạtđộng của bộ phân tài chính, trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độphân tích, người phân tích sử dụng những nhóm chỉ tiêu khác nhau Để phục vụcho việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn người ta thường sử dụng một số chỉtiêu thường được các doanh nghiệp sử dụng
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện ssuowcj ápdụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn.Vì:
- Nguồn tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ
sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của mộtdoanh nghiệp
- Việc áp dụng tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trìnhtính toán hàng loạt các tỷ lệ
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác co hiệu quả những sốliệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tụchoặc theo từng giai đoạn
* Phương pháp Dupont.
Dupont là tên một nhà quản trị người pháp tham gia kinh doanh ở Mỹ.Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trênphương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn
Phương pháp Dupont là một phương pháp phân tích tài hcinhs mới và được
áp dụng rất hiệu quả trong phân tích tài chính doanh nghiệp hiện nay Thực chấtphương pháp phân tích tài chính này cũng phải dựa trên cơ sở các tỷ lệ được tínhtoán theo phương pháp tỷ lệ Phương pháp này giúp nhà phân tích đánh giá tácđộng vòng quay toàn bộ vốn, doanh lợi tiêu thụ đến doanh lợi vồn chủ sở hữu.Phương pháp Dupont có ưu điểm lớn giúp cho nhà phân tích phát hiện và tập
Trang 12trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp Nếu doanh lợi vồn CSH của doanhnghiệp thấp hơn các doanh nghiệp khác trong cùng ngành chỉ dựa vào hệ thốngcác chỉ tiêu theo phương pháp Dupont nhà phân tích có thể tìm ra nguyên nhân.Dùng phương pháp phân tích tài chính Dupont còn có thể giúp cho doanhnghiệp xác định xu hướng hoạt động trong một thời kỳ để có thể phát hiện ranhững khó khăn và thuận lợi mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong tương lai.
1.4.5 Nội dung phân tích tài chính
1.4.5.1 Phân tích các nhóm chỉ tiêu chủ yếu
Phân tích các nhóm chỉ tiêu giúp cho việc đánh giá tình hình hoạt độngdoanh nghiệp được rõ ràng hơn, cụ thể hơn do các chỉ tiêu được tính toán thôngqua các tỷ số, số phần trăm và so sánh giữa năm này so với năm trước đó và cácnăm kế tiếp, so với chỉ tiêu trung bình của ngành kinh doanh Có nhyuwngx chỉtiêu chính xác làm gốc so sánh là điều khó khăn đòi các doanh nghiệp phải tùytheo tình hình doanh nghiệp mà đưa ra những căn cứ để tiến hành tính toán vàphân tích các chỉ tiêu
a Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Một doanh nghiệp được coi là làm ăn có hiệu quả không chỉ thể hiện thôngqua mức lợi nhuận cao mà còn thể hiện ở khả năng thanh toán Nhìn vào mộtdoanh nghiệp làm ăn có lãi nhưng việc có lãi đó chủ yếu là mua bán chịu và đivay nợ thì không thể coi là một doanh nghiệp có tình hình tài chính vững mạnh.Đối với những nhà đầu tư và những nhà tài trợ, những chỉ tiêu phản ánh khảnăng thanh toán được coi là vôn cùng quan trọng, nó quyết định đên khả năngđược tài trợ và được các nhà đầu tư chú ý đến Nhóm chỉ tiêu này gôm các chỉtiêu sau:
Trang 13Hệ số càng cao thì khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanhnghiệp càng lớn Tuy nhiwwn, nếu hệ số cao quá thì cũng không tốt.
Để đo lường khả năng thanh toán người ta tính chỉ tiêu:
Khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp, từ những chỉ tiêu tínhđược, cần chú ý đến khả năng tạo tiền, sự tăng trưởng và những nguyên nhânảnh hưởng đến sự gia tăng các khoản phải thu và hàng tồn kho Đây là nguồngốc của những khó khăn về khả năng thanh toán
b Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng cân đối cơ cấu vôn
Nhóm chỉ tiêu này dung để đo lường phần vồn góp của chủ sở hữu củadoanh nghiệp sơ với phần tài trợ của của các chủ nợ đối với các doanh nghiệp,phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vaycủa doanh nghiệp Trên cơ sở phân tích kết cấu nguồn vốn doanh nghiệp sẽ nắmđược khả năng tự tài trợ về mặt tài chính, mức độ chủ động trong sản xuất kinhdoanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong việc khai thácnguồn vốn
Hệ số trên tổng tài
Nợ phải trảTổng tài sản
Tỷ số này được sử dụng để xác định vụ của doanh nghiệp đối với các chủ nợtrong việc góp vốn Thông thường, các chủ nợ thích tỷ số này vừa phải vì tỷ số
Trang 14này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệplại muốn tỷ số này cao vì họ muốn nắm quyền điều hành và kiểm soát, muốn lợinhuận gia tăng nhanh Tỷ số này quá cao doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạngmất khả năng thanh toán.
Hệ số nợ trên vốn cổ
Nợ phải trảVốn chủ sở hữu
Hệ số này cho biết vốn chủ sở hữu có đủ khả năng trả nợ cho các chủ nợ không, hệ số này cao hay thấy phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, loại hình doanh nghiệp.
Hệ số khả năng
thanh toán lãi =
Lợi nhuận trước thuế + lãivay
Lãi vay
Hệ số này cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo cho khả năng trả lãi hằng nămnhư thế nào Đây cũng là chỉ tieu mà doanh nghiệp quan tâm phân tích vì nó thể hiện khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp
Hệ số cơ cấu tài sản =
Tài sản cố định hoặc tài sản lưuđộng
Tổng tài sản
Hệ số này phản ánh tỷ trọng của TSCĐ hoặc TSLĐ chiếm trong tổng tài sảncủa doanh nghiệp hệ số này cho biết tính hợp lý trong việc đầu tư để từ đó có kếhoạch điều chỉnh và cần đối các khoản mục cho phù hợp với mục tiêu kinhdoanh của doanh nghiệp Nếu đầu tư vào tài sản cố định ở mức độ vừa phải,doanh nghiệp có thể tận dụng được đòn bẩy hoạt động, tăng lợi nhuận trướcthuế, nếu đầu tư quá ít thì cũng không tốt vì không đáp ứng được cơ sở trangthiết bị cho sản xuất kinh doanh, nếu đầu tư quá nhiều thì sẽ không tốt sẽ khiếncho doanh nghiệp không có lợi nhuận, thậm chí thua lỗ do khả năng thu hồi vốnchậm, nhất là đối với những tài sản cố định vô hình mức độ khấu hao nhanh
Hệ số cơ cấu vốn = Vốn chủ sở hữuTổng nguồn vốn
Hệ số này phản ánh tỷ trọng vốn tự có của chủ doanh nghiệp trong tổngnguồn vốn bao gồm cả việc đi vay Hệ số này càng lớn, khả năng chi trả, tínhchủ động của doanh nghiệp cao với chủ nợ Trong bất kỳ trường hợp rủi ri xảy
ra chủ doanh nghiệp đều có khả năng thanh toán Trách nhiệm của các chủ sở
Trang 15hữu doanh nghiệp với việc tăng nhanh tốc độ vòng quay vốn sẽ tăng lên vàngược lại.
c Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Khả năng hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá thông qua hiệu quảkinh doanh, nó phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp vềlao động, vật tư, tiền vốn để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất Các chỉtiêu về khả năng hoạt động đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn nói chung, chútrọng đến từng bộ phận cẫu thành nên nguồn vốn của doanh nghiệp
Vòng quay hàng
Giá vốn hàng bánHàng tồn khoĐây là chỉ tiêu quan trọng không chỉ nhà quản trị quan tâm mà các nhà đầu tư, chủ nợ cũng rất coi trọng Vì chỉ tiêu này đo lường khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Bình quân một đơn vị sản phẩm hàng hóa
dự trữ tham gia vào quá trình kinh doanh thì mua được bao nhiêu đồng giá vốn hệ số này càng cao phản ánh hoạt động kinh doanh càng tốt và ngược lại có ý nghĩa là có sự bất hợp lý trong khâu dự trữ, sản xuất hàng hóa kém chất lượng hay yếu kém trong khâu tiêu thụ
Vòng quay vốn
Doanh thu thuầnTài sản lưu độngChỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh vốn lưu động quay được baonhiêu vòng Số vòng quay lớn càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao vàngược lại
Hiệu suất sử dụngtài sản cố định =
Doanh thu thuầnTài sản cố địnhChỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng tài sản cố định tham gia vào quátrình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Tài snar cố định ởđây được tính theo giá trị còn lại đến thời điểm lập báo cáo Doanh nghiệp chú ýđến chỉ tiêu này để đánh giá mức độ cần thiết cho việc đầu tư vào tài sản cố định
có tạo ra doanh thu lớn hay không để có xu hướng nâng cấp hay mua sắm mới
Trang 16Hiệu suất sử dụngtổng tài sản =
Doanh thu thuầnTổng tài sảnChỉ tiêu này phản ánh một yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh sinh rabao nhiêu kết quả đầu ra Nhìn vào chỉ tiêu này, các đối tượng quan tâm có thểnhìn thấy tổng quát về năng lực hoạt động của doanh nghiệp từ đó hỗ trợ choviệc ra quyết định
d Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là điều kiện duy trì sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Chu kỳ sống của doanh nghiệp dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn ở khảnăng sinh lời Nhưng nếu chỉ thông qua một số lợi nhuận mà doanh nghiệp thuđược trong kỳ kinh doanh cao hay thấp để đánh giá chất lượng kinh doanh tốthay xấu thì có thể đưa ra kết luận không chính xác Bởi vì số lợi nhuận này cóthể không tương xứng với chi phí bỏ ra, với khối lượng tài sản mà doanh nghiệp
sử dụng hay mức độ đầu tư mạo hiểm độ rủi ro cao Do đó, khả năng sinh lờicủa doanh nghiệp được xem xét qua nhóm các chỉ tiêu sau:
Hệ số sinh lời doanh
Lợi nhuận sau thuếDoanh thu thuầnĐây là chỉ tiêu phản ánh trong một đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợinhuận sau thuế Chỉ tiêu này có thể thay đổi do chi phía hoặc giá bán sản phẩmthay đổi Không phải lúc nào giá trị của nó cũng cao là tốt Nếu nó cao do chiphí (giá thành phẩm) giảm thì tốt Nhưng nếu cao tăng giá bán trong trường hợpcạnh tranh thì chưa phải tốt, ảnh hưởng đến lợi nhuận trong tương lai
Hệ số sinh lời của
Lợi nhuận sau thuế + lãi phải
trảTổng tài sảnĐây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dung để đánh giá khả năng sinh lời củamột đồng vốn đầu tư Chỉ tiêu này được coi là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư ROL tùythuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp và phạm vi so sánh với tổng tài sản
Hệ số sinh lời vốnchủ sở hữu =
Lợi nhuận sau thuếVốn chủ sở hữu Những nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ tiêu này vì họ quan tâm đếnkhả năng thu được lợi nhuận so với vốn họ bỏ ra để đầu tư Cứ mợt đồng vốn lợi
Trang 17nhuận tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ lệ càng lớn biểu hiện xua hướngtích cực, doanh nghiệp có thể tìm vốn mới trên thị trường để tài trợ cho tăngtrưởng của mình Ngược lại nếu nhỏ và dưới mức của tỷ lệ thị trường thì doanhnghiệp sẽ khó khăn trong việc thu hút vốn Tuy nhiện, tỷ lệ sinh lwoif vốn chủ
sở hữu cao không phải lúc nào cũng thuận lợi bởi lẽ có thể do vốn chủ sở hữunhở, điều này thể hiện mức độ mạo hiểm càng lớn;
1.4.5.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp
a Các loại nguồn huy động cho sản xuất kinh doanh
Chiếm dụng vốn kinh doanh
Là những khoản tiền phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doang nghiệp
- Nợ lương công nhân:
- Phải trả người bán
- Thuế trả chậm:
Huy động vốn bằng con đường đi vay
Bên cạnh nguồn vốn chiếm dụng trong kinh doanh thì doanh nghiệp có thểhuy động thêm vốn bằng cách vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, cán bộ côngnhân viên hoặc phát hành trái phiếu
Khi phân tích về tình hình quản lý và sử dụng vốn chủ sở hữu các nhà phântích còn sử dụng bảng nguồn vốn và sử dụng vốn
Bảng phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn mô tả diễn biến của các nguồnvốn và sử dụng chúng vào các công việc cụ thể Sự thay đổi của các khoản mụctrên bảng CĐKT từ kỳ trước tới kỳ này cho chúng ta biết nguồn vốn được sử
Trang 18dụng vào mục đích gì Mỗi sự thay đổi các tài khoản trên bảng CĐKT có thểđược xếp vào cột nguồn vốn hay sử dụng vốn theo quy luật.
b Nguyên tắc khai thác, huy động vốn
- Tiết kiệm: chỉ huy động với lượng vừa đủ cần thiết cho doanh nghiệp
- Hiệu quả: chỉ sử dụng nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất, quay vòngquanh
- Nguồn tài trợ dài hạn đầu tư cho TSCĐ, nguồn tài trợ ngắn hạn đầu tư chotài sản lưu động
Nếu vốn ngắn hạn được tài trợ dài hạn sẽ tại thêm yếu tố rủi ro vì khảnăng cung cấp tài chính cho đầu tư của doanh nghiệp sẽ dựa vào khả năng thuhút các khoản nợ ngắn hạn được gia hạn thường xuyên Với những thời điểmphải đương đầu với khó kahwn, doanh nghiệp có thể phải chấp nhận đối mặt vớimột sự gia tăng đột ngột các chi phí tín dụng nagwns hạn hay thậm chí một sự từchối gia hạn toàn bộ nợ ngắn hạn, như vậy doanh nghiệp sẽ không trả nợ được
c Nghiêm cứu phương pháp xây dựng nhu cầu vốn lưu động cho doanhnghiệp
Để hình thành TSCĐ và TSLĐ cần phải có nguồn vốn ngắn hạn và nguồnvốn dài hạn Để xây dựng nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp ta cần phântích hai chỉ tiêu
Vốn lưu động thường xuyên:
Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản cố định hay giữa tài sản lưuđộng và nguồn vốn ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên Có 3trường hợp xảy ra khi so sánh nguồn vốn và tài sản:
Khi nguồn vốn dài hạn < tài sản cố định hoặc tài sản lưu động < nguồn vốnngắn hạn có nghĩa là vốn lưu động thường xuyên <0 Nguồn vốn dài hạn không
đủ đầu tư cho tài sản cố định, doanh nghiệp phải đầu tư TSCĐ bằng nguồn vốnngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp bị mất cân bằng, doanh nghiệpphải dụng một phần tài sản cố định để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả
Khi nguồn vốn dài hạn > TSCĐ hoặc TSLĐ > Nguồn vốn ngắn hạn nghĩa làvốn lưu động thường xuyên >0 Nguồn vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào
Trang 19TSCĐ, phần thừa đó đầu tư vào TSLĐ, khả năng thanh toán của doanh nghiệptốt.
Vốn lưu động thường xuyên =0 nghĩa là nguồn vốn tài trợ cho tài sản cốđịnh và tài sản lưu động đủ để doanh nghiệp trả nợ ngắn hạn Tình hình tài chínhdoanh nghiệp như vậy là lành mạnh
Nhu cầu lưu động vốn thường xuyên:
Nhu cầu lưu động
vốn thường xuyên =
Tồn kho và cáckhoản phải thu -
Nợ ngắnhạnNhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệpcần để tài trợ một phâng TSLĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản phải thu
Mối quan hệ giữa vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưuđộng thường xuyên:
Vốn bằng tiền= Vốn lưu động thường xuyên – Nhu cầu vốn lưu động thườngxuyên
1.4.5.3 Phân tích các chỉ tiêu trung gian và cuối cùng trong báo cáo kết quả kinh doanh.
Mục tiêu của phương pháp này là xác định, phân tích mối liên hệ và đặcđiểm các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh, đồng thoài so sánh chúngqua một số niên độ kế toán liên tiếp và với số liệu trung bình của ngành để cóthể đánh giá xu hướng thay đổi từng chỉ tiêu và kết quả của doanh nghiệp so vớicác doanh nghiệp khác
1.5 Chất lượng và những nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp
1.5.1 Chất lượng phân tích
1.5.1.1 Quan điểm về chất lượng phân tích:
Là mục tiêu mà các nhà phân tích tài chính muốn hướng đến Phân tích tàichính bao gồm rất nhiều đối tượng quan tâm từ vĩ mô đến vi mô, thông tin vôcùng đa dạng, nhiều phương pháp phân tích, nội dung phân tích đề cập đếnnhiều vấn đề Do vậy, để phân tiochs tài chính có chất lượng thì việc phaant íchtrước hết phải được quan tâm một cách đồng bộ ở tất cả các doanh nghiệp, phântích tài chính cần được coi là một công việc nghiêm túc quyết định trực tiếp đếnhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bên cạnh mở rộng thị trường, nâng cao
Trang 20chất lượng sản phẩm, thu hút đầu tư Phân tích tài chính không chỉ đơn thuần làviệc khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp cùng với việc tính toán đơnthuần một vài chỉ tiêu mang tính dập khuôn, máy móc, theo mẫu quy định sẵn
mà cần tìm tòi, nghiên cứu những chỉ tiêu mới sau đó kết hợp các chỉ tiêu đặttrong mối quan hệ hữu cơ để so dánh Các con số được tính toán mang tính địnhlượng cần phải kết hợp với việc phân tích khoa học, logic để đưa ra những quyếtđịnh tài chính phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.5.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng phân tích tài chính
a Cung cấp đầy đủ thông tin:
Phân tích tài chính rất cần đến yếu tố thông tin, chất lượng phân tích tốt haykhông phụ thuộc rất lớn vào lượng thông tin được cung cấp ở mức độ nào Cácnguồn thông tin ở đây được hiểu không chỉ là nguồn thồn tin bên trong và bênngoài do doanh nghiệp thu thập được mà còn là những nguồn thông tin quantrọng được cung cấp đầy đủ bởi các nhà cung cấp thông tin liên quan đến phântích tài chính doanh nghiệp Chất lượng phân tích tài chính phụ thuộc rất lớn vàonguồn thông tin nhưng là nguồn thông tin có chọn lọc và có chất lượng, bởicũng là thông tin nhưng nó có đầy đủ và trung thực không mới là điều quantrọng, điều này bản thân doanh nghiệp không tự làm được mà tùy thuộc vàonhững nhà cung cấp thông tin
b Độ chính xác của các chỉ tiêu và các nhân tố tác động.
Chất lượng phân tích tài chính còn phụ thuộc rất lớn vào độ chính xác củacác chỉ tiêu tính được khả năng thanh toán, cơ cấu tài chính, khả năng sinhlời và các nhân tốt tác động như quan điểm của lãnh đạo về phân tích tàichính Nói như vậy có nghĩa là yếu tố chính xác được quan tâm hàng đầu, bởi
vì phân tích tài chính dựa trên các con số tính toán được và chọn ra chỉ tiêu nàocần thiết phục vụ cho mục tiêu phân tích, dựa trên các con số này mà các nhàphân tích đưa ra những quyết định tài chính và những giải pháp do vậy chỉ cầnmột sự sai sót nhỏ có thể dẫn đến những sai phạm lớn cho những kết luận tàichính Bên cạnh đó, chất lượng phân tích phân tích có tốt cũng do các nhân tốtác động được xác định chính xác như thế nào, ở từng nhân tố xem xét đượcmức độ ảnh hưởng của nó đến công việc phân tích tài chính để từ đó có thể nângcao chất lượng phân tích
c Tính kịp thời của thông tin
Trang 21Là yếu tố không thể thiếu phục vụ cho phân tích tài chính doanh nghiệp haynói cách khác là làm cho chất lượng phân tích tài chính được tốt hơn Thông tinmang tính động rất cai, một thông tin có thể có giá trị hôm nay nhưng đến hômsau nó lại bị lạc hậu do vậy để tạo nên các báo cáo có chất lượng cần thiết chophân tích tài chính thông tin kế toán cân phải được cập nhật cao độ đến từng chitiết, theo từng ngày để đảm bảo tính kịp thời
1.5.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính
1.5.2.1 Công tác tổ chức hoạt động phân tích tài chính
Để thực hiện công việc phân tích tài chính cần phải bao gồm các công việc từkhâu chuẩn bị kế hoạch, thực hiện, kiểm tra giám sát và đánh giá kết quả Cáccông việc này muốn thực hiện tốt phải cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cácphòng ban trong doanh nghiệp Mỗi phòng ban với chức năng nhiệm vụ củamình dưới sự phân công của trưởng phòng mỗi người đều có phần việc của mình
để hướng tới mục tiêu chung là tổ chức tốt công tác phân tích tài chính Nguồnthông tin được thu thập từ các phòng ban là kết quả nội bộ quan trọng trên cơ sởđược xử lý, chọn lọc bởi các nhà quản lý cấp cao được cung cấp cho quá trìnhphân tích tài chính và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phân tích tài chính
1.5.2.2 Người thực hiện phân tích tài chính
Là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng phân tích tài chính Trước hếtmục đích của nhà phân tích tài chính khi tiến hành phân tích sẽ định hướng cho
cả quá trình phân tích tài chính khi tiến hành phân tích sẽ định hướng cho cả quátrình phân tích, quyết định quy mô phạm vi các kỹ thuật tài liệu sử dụng cũngnhư chi phí cho việc phân tích Khả năng của nhà phân tích sẽ lựa chọn thông tin
và tiến hành thu thập nguồn thông tin có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phântích tài chính vì phân tích tài chính muốn hiệu quả phải dựa trên những thông tinđầy đủ chính xác kịp thời và chi phí cho việc thu thập là nhỏ nhất Việc lựa chọncông cụ phân tích cũng phụ thuộc vào người phân tích Kết quae phân tích tàichính luôn mang dấu sấn cá nhân do vậy nhà phân tích có những đánh giá nhậnxét riêng của mình về tình hình tài chính doanh nghiệp là điề không thể tránhkhỏi
Nhà phân tích phải trung thực ý thức được tầm quan trọng và nhiệm vụ củamình thì việc phân tích tài chính mới có hiệu quả cao
1.5.2.3 Chất lượng thông tin sử dụng phân tích tài chính
Trang 22Thông tin là một vấn đề hết sức cần thiết trong tất cả các lĩnh vực nói chung vàtrong phân tích tài chính nói riêng Thông tin là vô cùng quan trọng và máy tính
là bắt buộc Có thể khẳng định rằng nếu không có thông tin hoặc thiếu thông tinthì việc phân tích tài chính không thể thực hiện được hoặc nếu phân tích trongđiều kiện thông tin không đầy đủ chính xác thì chất lượng phân tích sẽ thấp
Do vậy làm thế nào để có một hệ thống thông tin đầy đủ và chính xác phục vụtốt cho công tác phân tích tài chính đó là yêu cầu các nhà quản lý phải hết sứcquan tâm
1.5.2.4 Việc lựa chọn phương pháp tài chính
Trên cơ sở nguồn thông tin có được các cán bộ phân tích sẽ phải làm gì? Ápdụng phương pháp phân tích tài chính nào để đánh giá thực trạng tài chính cuatdoanh nghiệp là một điều quan trọng
Trong điều kiện hiện nay, phải kết hợp các phương pháp phân tích tài chính tùytheo từng mục tiêu cụ thể của nhà quản lý quan tâm thì việc phân tích mới manglại hiệu quả như ý muốn của doanh nghiệp
1.5.2.5 Hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành
Việc phân tích tài chính của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa hơn khi có sự tồn tạicác chỉ tiêu trung bình ngành đây là cơ sở tham chiếu quan trọng trong khi tiếnhành phân tích Người ta có thể nói các tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp là caohay thấp, tốt hay xấu khi đem so sánh với tỷ lệ trung bình ngành Nhà quản lýdoanh nghiệp đánh giá được thực trạng tài chính của mình mà từ đó có nhữnggiải pháp khắc phục
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
BÓNG ĐÈN PHÍCH NƯỚC RẠNG ĐÔNG.
2.1 Tổng quan về Công Ty Cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông 2.1.1 Giới thiệu chung về Công Ty Cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông
Tên công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN BÓNG ĐÈN PHÍCH NƯỚC RẠNG ĐÔNG
Tên giao dịch: Rang Dong light sources and vacuum flask joint stock
company
Địa chỉ: - Cơ sở 1: 87-89 Hạ Đình, Thanh Xuân, Hà Nội
Trang 23- Cơ sở 2: Khu công nghiệp Quế Võ, Bắc Ninh
Điện thoại: (04) 3858 4310/3858 4576 Fax: (04) 3858 5038
Website: www.rangdongvn.com Email: ralaco@hn.vnn.vn
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đoàn Thăng
Giấy CNĐKKD số: 0103004893 Cấp ngày: 15/7/2004 Nơi cấp: Hà Nội
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích
nước Rạng Đông
2.1.2.1 Quá trình hình thành
Công ty CP Bóng đèn Phích nước Rạng Đông tiền thân là nhà máy Bóng đènPhích nước Rạng Đông, được khởi công xây dựng năm 1958 Là một trong 13 nhàmáy đầu tiên của đất nước được thành lập theo quyết định của Chính phủ, đặt nềnmóng cho nền công nghiệp Việt Nam thời kỳ đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa
Năm 1961, Nhà máy Bóng đèn phích nước Rạng Đông được chính thức thành lậptheo quyết định 003 BCNN/TC ngày 24/02/1961
Năm 1963, Nhà máy được cắt băng khánh thành Sản phẩm ban đầu chủ yếu làPhích nước, bóng đèn tròn, bóng đèn huỳnh quang, đèn pha ô tô phục vụ cho khángchiến
Ngày 28/04/1964, Nhà máy vinh dự được đón Bác Hồ về thăm Bác căn dặn: ‘…
Tổ chức thật tốt bộ máy quản lý và đội ngũ những người làm công tác khoa học kỹthuật nhằm nâng cao năng suất, trú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giáthành, thực hành tiết kiệm Đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân, đó
là ý thức giai cấp, là lương tâm trách nhiệm của các cô chú…’;
Ngày này hàng năm trở thành ngày hội lễ, ngày truyền thống của Công ty RạngĐông và là một nét đặc trưng với truyền thống Rạng Đông anh hùng
Thời kỳ đầu trước đổi mới (1958- 1988)
Đây là thời kỳ vừa sản xuất vừa chiến đấu Ngay từ đầu sản phẩm của RạngĐông đã có chất lượng tốt Các sản phaamt như phích nước, bóng đèn tròn rất đượcnhân dân ưa chuộng Rạng Đông tự haog đã cung cấp các sản phẩm đèn pha ô tô
Trang 24phục vụ cho cuộc kháng chiến cứu nước
Thời kỳ đổi mới (1988- 1998): Được đánh dấu bởi thời kỳ cuối những năm 80làn song hàng ngoại nhập ồ ạt vào Việt nam cho các doanh nghiệp Việt nam bên bờvực phá sản, đặc biệt là làn song hàng Trung Quốc giá rẻ Rạng Đông cũng khôngtrành khỏi được tình trạng ấy Trong bối cảnh đó công ty đã tiến hành tổ chức lại sảnxuât, sắp xếp lại lao động, đổi mới cơ chế điều hành, thực hiện hạch toán nội bộ rộngkhắp , đáp ứng theo cơ chế thị trường
Năm 2001, Công ty áp dụng hệ thống quản lú chất lượng ISO 9001:2000 vàotrong quản lý và sản xuất (nay là ISO 9001:2008)
Ngày 15/7/2004, Công ty chuyển đổi thành Công ty cổ phần Bóng đèn Phíchnước Rạng Đông theo quyết định số 21/2004/QĐ – BCN
Quá trình cổ phần hóa và quá trình tái cấu trúc toàn diện công ty (2006- 2010)Năm 2006, Công ty mở rộng sản xuất, xây dựng cơ sở 2 tại khu công nghiệp Quế
Võ Bắc Ninh với diện tích 62.000m2
Năm 2007, Công ty chính thức niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh- trở thành một công ty đại chúng
2.1.2.2 Quá trình phát triển
Quá trình phát triển của công ty được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thểhiện từng phát triển lớn mạnh của công ty:
*Giai đoạn từ 1963 đến 1975
Giữa năm 1967 nhà máy phải tháo dỡ, sơ tán thành 3 nơi để duy trì sản xuất Đây
là thời kỳ khó khăn của nhà máy vì phải hoạt động trong điều kiện bị chiến tranh pháhoại, vừa phải sản xuất, vừa phải di chuyển máy móc thiết bị Mặc dù công nhân đã
Trang 25lao động với tinh thần nhiệt tình hăng say nhưng vẫn không khai thác hết công suấtthiết kế ban đầu Trong suốt 12 năm tốc độ tăng trưởng của nhà máy còn hạn chế.Năm 1975 sản lượng cao nhất là: 1.750.000 sản phẩm /năm, phích nước 200.000 sảnphẩm /năm Trong giai đoạn này nhà máy phải hoạt động dưới sự giúp đỡ kỹ thuậtcủa các chuyên gia Trung Quốc và các vật tư chính cũng do trung Quốc cung cấp
*Giai đoạn từ 1975 đến 1987
Đến năm 1975, Trung Quốc đưa hết các chuyên gia về nước và không cung cấpvật tư cho nhà máy nữa Rạng Đông không trông chờ vào Nhà nước mà nêu cao ýthức tự lực, tự cường vươn lên tồn tại, nhà máy tự trang, tự chế khắc phục khó khăn,đổi mới kỹ thuật Đến năm 1977, các dây chuyền được đổi mới căn bản, công suấtgiai đoạn này khoảng 4-4.5 triệu bóng đèn trong và 400.000 phích /năm
Giai đoạn này là giai đoạn đánh dấu công ty thoát khỏi sự phụ thuộc của TrungQuốc về vật tư và kỹ thuật
*Giai đoạn từ 1988 đến 1993
Trong giai đoạn này công ty cũng gặp phải không ít khó khăn có lúc phải nghỉsản xuất liền 6 tháng, khoảng 1650 công nhân viên không có việc làm, hàng tồnđọng, kinh doanh thua lỗ, tài khoản tại nhân hàng bị phong tỏa… Nhưng ban giámđốc đã tổ chứa lại sản xuất, sắp xếp lại lao động thực hiện hạch toán kế toán nội bộtriệt để, tăng cường quyền chủ động của các đơn vị và đối tượng mới trong cơ chếđiều hành Tạo nên bước đột phá đầu tiên, với nhà xưởng và thiết bị máy móc như cũ
mà chỉ bằng việc tổ chức lại và phát huy nhân tố con người, sau 4 năm từ 1990 đếnnăm 1993, giá trị tổng sản lượng đã tăng 2,27 lần, doanh thu tăng 5,5 lần, sản lượngcác bong đèn tăng từ 4 triệu lên 10,5 triệu, sản phẩm phích từ 306 ngàn sản phẩmtăng lên 862 ngàn sản phẩm Nộp ngân sách tăng 24,25 lần vốn kinh doanh tăng 2,34lần
Năm 1993, sản phẩm Rạng Đông lần đầu tiên được lựa chọn ’10 mặt hàng tiêudùng Việt Nam được ưa thích nhất’
Năm 1994, chủ tịch nước quyết định trao tặng huân chương lao động hạng nhất,đây chính là giai đoạn đánh dấu thành tích mới của công ty
*Giai đoạn từ 1994 đến 1997
Sau khi huy động cường độ lao động cao, khai thác hết năng lực từng khâu, phảiđầu tư vào ‘khâu căng’ của dây chuyền mới khai thác tiềm năng của toàn bộ hệ thốngtiếp tục đưa công ty phát triển Toàn bộ vốn đầu tư chiều sâu giai đoạn này là 8,4 tỷ
Trang 26là tiền thưởng của cán bộ công nhân viên cho công ty vay.
Năm 1997 tổng sản lượng tăng lên 2,35 lần; doanh thu tăng 2,42 lần tương ứngvới 100 tỷ so với năm 1993 Các sản phẩm chủ yếu là bong đèn từ 10,5 triệu tăng lên22,27 triệu sản phẩm, phích nước từ 862 ngàn sản phẩm tăng lên 2 triệu sản phẩm.+ Năm 1995, thay thế thổi vỏ bóng thủ công bằng máy thổi BB18
+ Năm 1996, toàn bộ bóng đèn tròn được lắp đầu đèn hợp kim nhôm B22, E27đạt tiêu chuẩn quốc tế
+ Năm 1997, đầu tư lò phích và băng hấp số 2 cải tạo lò phích số 1 từ nhiên liệuthan sang đốt dầu
Năm 1998, công ty được chủ tịch nước tặng huân chương độc lập đầu tiên
Trong giai đoạn này tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty còn được tặnghuân chương lao động hạng 3 Về công tác đền ơn đáp nghĩa và cứu trợ xã hội, huânchương chiến công hạng 3 về công tác bảo vệ an ninh
*Giai đoạn từ 1998 đến 2004
Sau vài năm ngừng sản xuất đèn huỳnh quang trên dây chuyền thủ công Ngày25/6/1998, đèn huỳnh quang đầu tiên sản xuất trên dây chuyền hiện đại tốc độ 2,2đến 2,3 giây 1 sản phẩm cung cấp cho thị trường
Tháng 8/1998, công ty phối hợp với DETCH hoàn thành việc phục hồi dâychuyền lắp ghép bóng đèn 2600/giờ số 1 Chương trình hiện đại hóa công ty giaiđoạn 1998-2001 hoàn thành trước 2 tháng
Đến năm 2001, giá trị sản xuất công nghiệp của công ty đạt 310.803 triệu đồngvượt 142,62% so với năm 2000 và năm 1990 giá trị này mới có 18,832 triệu đồng.Thu nhập bình quân của công nhân viên đạt 2,292 triệu đồng/tháng, vượt 117,41 sovới năm 2000, và năm 1990 lương của công nhân viên chỉ đạt 188.000 đồng/tháng.Sản phẩm của công ty được người tiêu dùng cả nước bình chọn là ‘sản phẩm uytín nhất năm 2000’ và ‘hàng Việt Nam chất lượng cao’
Ngày 18/4/2000 chủ tịch nước ký quyết định số 159/KINH TE-CTN phong tặngtập thể cán bộ công nhân viên công ty danh hiệu ‘ đơn vị anh hùng lao động’
Ngày 8/12/2001, sản phẩm được trung tâm kiểm tra chứng nhận quốc giaQUACERT và tổ chức AJA chứng nhận đạt tiêu chuẩn
Giá trị tổng sản lượng năm 2002 là 355,662 tỷ đồng, năm 2003 là 470 tỷ đồngdoanh thu số tiêu thụ tăng 297,882 tỷ đồng (2002) và 345,03 tỷ đồng (2003)
*Giai đoạn từ 2005 đến 2006
Trang 27Mặc dù mới khi chuyển đổi, công ty gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động sảnxuất kinh doanh, nhưng bằng sự nỗ lực phấn đấu hết mình của Ban lãnh đạo và độingũ nhân viên, công ty đã từng bước khắc phục khó khăn, đưa công ty cổ phần Bóngđèn Phích nước Rạng Đông tiếp tục khẳng định hình ảnh và vị trí của mình trong lĩnhvực sản xuất kinh doanh bóng đèn, phích nước.
Bảng 1: Một số chỉ tiêu trài chính của công ty cổ phần bóng đèn phích
(Nguồn: Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông)
Từ bảng số liệu trên ta thấy các chỉ tiêu tài chính năm 2010 so với năm 2011 nhìnđều tăng: Giá trị tổng sản lượng năm 2010 là 605,297 tỷ đồng đến năm 2011 tăng lên809,500 tỷ đồng Doanh số tiêu thụ tăng lên từ 471,205 tỷ đồng đến 609,6 tỷ đồng….Chênh lệch xuất khẩu năm 2011 so với năm 2010 là 3237 (1000USD) Thu nhập bìnhquân đầu người/tháng cũng năm lên năm 2010 là 2.450.000đ, đến năm 2011 tăng lên100.000đ là 2.550.000đ Lợi nhuận thực hiện của năm 2010 là 40 tỷ đồng nhưng đếnnăm 2011 đã tăng lên 5,5 tỷ đồng
*Giai đoạn từ 2008 đến nay
Năm 2008 cả thế giới chao đảo trong suy thoái kinh tế, khủng hoảng tài chính,biến động giá cả Không nằm ngoài vòng xoáy, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu tácđộng của suy thoái kinh tế, Chính phủ vừa đưa ra 8 giải pháp chống lạm phát thì 4tháng cuối năm phải đưa ra 5 giải pháp chống thiểu phát Theo Hiệp hội DN nhỏ vàvừa Việt Nam, 80% số DN nhỏ và vừa gặp khó khăn Trong số đó, 60% DN làm ănkém và khoảng 20% DN đang ngừng trệ, đóng cửa hoặc đã phá sản Đến cuối tháng12/2008, nhiều DN đã phải thu hẹp hoặc tạm ngừng sản xuất do đơn đặt hàng ngày
Trong bối cảnh đó, vượt qua vô vàn biến động, khó khăn thách thức, năm 2008,
Trang 28Công ty Bóng đèn Phích nước Rạng Đông vẫn tiếp tục đà tăng trưởng có chất lượng,hiệu quả và bền vững liên tục 19 năm, công ăn việc làm và thu nhập của cán bộ côngnhân viên được đảm bảo, cổ tức giữ được 20%, đóng góp Ngân sách Nhà nước tăng39%:
Năm 2008, với việc đầu tư lắp đặt lò thủy tinh SODALIme công nghệ hiện đạicủa Nhật Bản công suất 30 tấn/ ngày và lò thủy tinh không chì hiện đại nhất ViệtNam công suất 19 tấn/ngày đã giúp Rạng Đông không những chủ động cung cấpthành phẩm thủy tinh cho sản xuất bóng đèn các loại, sản phẩm phích nước nóng cácloại, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, hạn chế khí thải, bảo vệ môi trường mà cònđưa Rạng Đông dần mở rộng việc xuất khẩu sản phẩm thủy tinh ra thị trường thếgiới
Năm 2009, tiếp tục đầu tư thiết bị để nâng cao năng lực sản xuất ống đèn huỳnhquang Compact 2U, 3U, xoắn T3 và T4 với các dây chuyền thiết bị đồng bộ và thiết
bị lẻ, nhằm nâng cao sản lượng bóng đèn compact từ 1trieeuj ống lên 1.7 triệuống/tháng
Năm 2010, Rạng Động phối hợp với trường Đại học Bách Khoa hà Nội thành lậphongf thí nghiệm chung HUT – RALACO chuyên nghiên cứu áp dụng các công nghệmới, vật liệu mới vào sản xuấ.Hợp tác nghiên cứu và sản phẩm nguồn sáng LED tiếtkiệm năng lượng, thân thiện với môi trường trung tâm hỗ trợ phát triển công nghệ vàdịch vụ, Viện khoa học Việt Nam Trong chiến lược phát triển các sản phẩm chấtlượng cao, hiệu suất cao, tiết kiệm điện, thân thiện với môi trường Rạng Đông chủtrương phát triển các nguồn sang mới như bóng đèn cao áp, bóng đèn ứng dụng côngnghệ LED
Tháng 4/2011, Rạng Đông đã thành lập Trung tâm nghiên cứu và phát triển, tiếp tục nghiên cứu và phát triển các dòng sản phẩm mới cũng như nâng cao trình độ khohọc công nghệ công ty
Rạng Đông hiện nay là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực sản xuất nguồn sang vàthiết bị chiếu sang Chất lượng cao – Hiệu suất cao – Tiết kiệm điện – Thân thiện vớimôi trường tại Việt nam
Trải qua 50 năm hình thành và phát triển công ty Rạng Đông đã lớn mạnh khôngngừng với hai cơ sở sản xuất lớn:
Trụ sở chính tại Hà Nội, được xây dựng năm 1958 với tổng diện tích trên
Trang 2957000m², toàn công ty bao gồm 13 phòng ban trực thuộc, Công ty có 04 xưởng sảnxuất chia làm 15 ngành, gần 3000 cán bộ công nhân viên chức,14 dây chuyền sảnxuất bóng đèn huỳnh quang compact, 04 dây chuyền sản xuất bóng đèn Huỳnhquang, 03 dây chuyền sản xuất thiết bị chiếu sáng, 01 dây chuyền sản xuất đèn bàn.
Cơ sở 2 tại Khu Công nghiệp Quế Võ Bắc Ninh, được xây dựng năm 2006 vớitổng diện tích trên 62000m², bao gồm 02 lò thuỷ tinh hiện đại, 04 dây chuyền sảnxuất phích nước, 02 dây chuyền kéo ống huỳnh quang, 02 dây chuyền kéo ống thuỷtinh không chì, 03 dây chuyền thổi vỏ bóng các loại
Ngày nay năng lực sản xuất trong 1 năm của Rạng Đông đạt tới 80 triệu sảnphẩm bóng đèn, sản lượng phích đạt trên 7 triệu, 3 triệu sản phẩm thiết bị chiếu sáng,hơn 1 triệu sản phẩm đèn bàn các loại Phát triển bền vững, đầu tư chiều sâu vào thếmạnh của mình, Rạng Đông đã chủ động đầu tư nghiên cứu áp dụng KHCN Xâydựng phòng thí nghiệm hợp chuẩn quốc gia, xưởng thực nghiệm điện tử, thành lậpTrung tâm Nghiên cứu và Phát triển; đầu tư chiến lược vào đội ngũ con người, độingũ KHKT, giúp chủ động trong sản xuất, kiểm soát tốt được chất lượng từ đó nângcao chất lượng sản phẩm
Công ty có hệ thống thương mại rộng khắp cả nước, bao gồm 05 Văn phòng đạidiện tại miền Bắc, 06 Chi nhánh tại miền Trung và miền Nam, Ban doanh nghiệpdịch vụ và tư vấn, Ban kỹ thuật & Marketing, hơn 500 nhà phân phối, hơn 6000 cửahàng đại lý bán lẻ
Hiện nay ngoài 2 trụ sở chính tại Hà Nội Và Bắc Ninh thì công ty còn có các chinhánh sau:
Chi nhánh TP Hồ Chí Minh
Chi nhánh Cần Thơ
Chi nhánh Khánh Hòa
Chi nhánh Đà Nẵng
Chi nhánh Biên Hòa
Chi nhánh Tiền Giang
Trung tâm kinh doanh dịch vụ chiếu sang TP Hồ Chí Minh
Công trình mở rộng nhà máy phích nước Rạng Đông
2.1.3 Các ngành nghề kinh doanh của công ty
Trải qua 50 năm phát triển, hiện nay công ty có các ngành nghề kinh doanhchính sau:
Trang 30+ Sản xuất kinh doanh các sản phẩm Bóng đèn, vật tư thiết bị điện, dụng cụchiếu sáng, sản phẩm thủy tinh và các loại phích nước;
+ Dịch vụ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ;
+ Xuất nhập khẩu trực tiếp;
+ Tư vấn và thiết kế chiếu sáng trong dân dụng, công nghiệp (không bao gồmdịch vụ thiết kế công trình);
+ Sửa chữa và lắp đặt thiết bị chiếu sáng trong dân dụng, công nghiệp;
+ Dịch vụ quảng cáo thương mại
+ Dịch vụ vận chuyển hàng hoá
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông.
Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty là tổng hợp các bộ phận lao động quản lýkhác nhau, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hóa và có nhữngquyền hạn trách nhiệm nhất định được bố trí thành những khâu, những cấp khác nhaunhằm đảm bảo chức năng quản lý và phục vụ mục đích chung của công ty
Hiện nay, bộ máy của công ty bao gồm: Hội đồng quản trị, tổng giám đốc, 3 phótổng giám đốc, 8 phòng ban, 7 phân xưởng Các phòng ban có chức năng và nhiệm
vụ khác nhau nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau
Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty:
Chủ tịch HĐQT
Tổng Giám đốcHội đồng Quản trị
Trang 31(Nguồn: Công ty CP bóng đèn phích nước Rạng Đông)
Các thành viên của Hội đồng quản trị gồm:
Bà: Ngô Ngọc Thanh Chủ tịch
Ông: Nguyễn Đoàn Thăng Phó Chủ tịch
Ông: Vương Bích Sơn Ủy Viên
Ông: Lê quốc Khánh Ủy viên
Ông: Lê Đăng Doanh Ủy viên
Các thành viên của ban Tổng Giám đốc gồm:
Ông: Nguyễn Đoàn Thăng Tổng Giám Đốc
Bà: Ngô Ngọc Thanh Phó Tổng Giám Đốc
Ông: Vương Bích Sơn Phó Tổng Giám Đốc
Ông: Lê Quốc Khánh Phó Tổng Giám đốc
Các thành viên của Ban kiểm soát gồm:
Bà: Đỗ Thị Hồng Liên Trưởng Ban
PHÓ GIÁM
ĐỐC KỸTHUẬT
PHÓ GIÁMĐỐC SẢNXUẤT
Phòngkỹthuật
Phòngquản
lý kho
PhòngThịtrường
Phòng tổchức điềuhành sảnxuất
Phòngkếhoạch
Trang 32Bà: Đỗ Thị Huệ Thành viên
Ông: Bùi Xuân Hĩnh Thành viên
Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp của công ty, có quyền nhândanh công ty để giả quyết mọi vấn đề liên quan đến việc xác định mục tiêu,nhiệm vụ và quyền lợi của công ty Quyết định hoặc phân cấp cho tổng giámđốc các dự án đầu tư, góp vốn, mua cổ phần của công ty khác, bán tài sản củacông ty có giá trị đến 50% tổng giá trị còn lại trên sổ kế toán của công ty
Chủ tich hội đồng quản trị (kiêm phó tổng giám đốc) thay mặt hội đồngquản trị ký xác nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác tổ chứcngiên cứu chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn, phương án tổ chức đổi mớinhân sự của công ty
Tổng giám đốc là người điều hành hoạt động của công ty theo mục tiêu, kếhoạch phù hợp điều lệ công ty và các nghị quyết , quyết định của hội đồng quảntrị, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ được giao
- Phó tổng giám đốc điều hành hoạt động của công ty
- Phó tổng giám đốc sản xuất: điều hành sản xuất kinh doanh và nội chính
- Phó tổng giám đốc kỹ thuật: phụ trách kỹ thuật và đầu tư phát triển
- Phòng tổ chức điều hành sản xuất được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp củaphó giám đốc tổ chức và điều hành sản xuất
- Phòng quản lý kho quản lý luân chuyển vật tư sắp xếp bảo quản vật tư,thông báo tình hình luân chuyển vật tư lên các phòng ban
- Phòng bảo vệ: bảo vệ sản xuất, bảo vệ tài sản chung, bảo vệ trật tự chocông ty
- Phòng dịch vụ đời sống: Chăm lo khám chữa bệnh và dịch vụ ăn uống chocông nhân viên
- Phòng thị trường phụ trách việc bán hàng, nghiên cứu tìm hiểu thị trường,
đề xuất các phương án mở rộng thị trường quảng cáo sản phẩm
- Phòng kế toán tài chính tổ chức hạch toán các chế độ của nhà nước theoquy định và tập hợp số liệu, cung cấp thông tin cho nhu cầu quản lý Hàng nămxây dựng kế hoạch tài chính cân đối nguồn vối để đảm bảo hoạt động của côngty
- Văn phòng giám đốc và đầu tư phát triển gồm 2 bộ phận:
Trang 33+ Văn thư: chăm lo công việc như đón khách, hội họp, công tác văn thư lưutrữ
+ Tư vấn đầu tư: thẩm định các dự án đầu tư, xây dựng các dự án đầu tưmới
Phòng KCS kiểm tra giám sát các công đoạn sản xuất và chất lượng là chính,ngoài ra kiểm tra chất lượng dây chuyền công nghệ mua về
2.2 Thực trạng phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông
2.2.1 Tình hình thông tin sử dụng trong quá trình phân tích tài chính
2.2.1.1 Thông tin bên ngoài:
Công ty Cổ phần BĐPNRĐ là một đơn vị thuộc Tổng Công ty Sành sứ thủytinh thuộc Bộ công nghiệp nhẹ với đặc trưng chủ yếu là sản xuấ ra các loại bóngđèn, phích nước Để tồn tại và phát triển, trong quá trình sản xuất kinh doanhcông ty luôn phải thích nghi với những thay đổi của tình hình trong và ngoàinước, do vậy thông tin bên ngoài mà công ty quan tâm phục vụ cho công tácohaant ích tài chính là các thông tin liên qua đến sự tăng trưởng và suy thoái củakinh tế thế giới, tình hình chính trị thế giới; các thông tin về các chính sách, luậttrong nước cũng như trong khu vực Ngoai ra, công ty còn quan tâm đến sự pháttriển của khoa học công nghệ, đối thủ cạnh tranh, giá cả thị trường đối với đầuvào và đầu ra…
2.2.1.2 Thông tin nội bộ
Nguồn thông tin chủ yếu là các báo cáo tài chính của công ty lập vào cuốimỗi năm theo mẫu của Bộ Tài Chính quy định gồm Bảng cân đối kế toán, Báocáo kết quá kinh doanh, thuyế minh báo cáo tài chính Trên báo báo tài chínhnày đã thể hiện một cách tổng quát toàn diện tình hình tài chính của công ty
a Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán tại ngày 30/6/2011
Chỉ tiêu Thuyết 30/6/2011 (VNĐ)
01/01/2011 (VNĐ) TÀI SẢN
Trang 34-III Các khoản phải thu 139.784.444.295 103.489.059.182
1 Phải thu của khách hàng 58.352.716.674 78.497.309.138
2 Trả trước cho người bán 83.625.774.743 27.039.034.127
5 Các khoản phải thu khác V.2 3.731.039.262 3.877.802.301
-2 Thuế GTGT được khấu trừ 8.373.438.161 1.587.751.736
3 Thuế và các khoản khác phải thu Nhà
5 Tài sản ngắn hạn khác V.5 8.212.343.922 6.879.313.506
B Tài sản dài hạn 347.774.750.061 355.140.774.382
I Các khoản phải thu dài hạn 53.705.769.263 72.388.667.930
1 Phải thu dài hạn của khách hàng 53.705.769.264 72.388.667.931
4 Chi phí xây dựng cơ bản dở dang V.8 33.614.581.620 14.737.259.144
-IV Các khoản đầu tư tài chính dài hạn -
2 Phải trả cho người bán 32.069.532.314 30.997.357.945
3 Người mua trả tiền trước 5.315.178.499 10.263.405.549
4 Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước V.12 3.814.140.960 4.486.045.333
5 Phải trả người lao động 36.817.403.112 28.433.456.817
9 Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn V.14 7.772.301.716 13.738.664.667
11 Quỹ khen thưởng và phúc lợi 5.690.600.691 16.608.760.691