1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

www.tinhgiac.com dan so va su gia tang dan so 1692

14 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 208,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

www.tinhgiac.com dan so va su gia tang dan so 1692 tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn...

Trang 1

DÂN SỐ VÀ SỰ GIA TĂNG DÂN SỐ 1

1 SỰ TĂNG TRƯỞNG DÂN SỐ THẾ GIỚI 1

2 GIA TĂNG DÂN SỐ VÀ NHU CẦU CỦA CON NGƯỜI 4

2.1 N HU CẦU DINH DƯỠNG 4

2.2 THIẾU DINH DƯỠNG, SUY DINH DƯỠNG, BỘI DINH DƯỠNG VÀ NẠN ĐÓI 5

2.3 NHU CẦU NHÀ Ở VÀ QUẦN ÁO 6

2.4 N HU CẦU ĐI LẠI 6

2.5 NHU CẦU VĂN HÓA 7

2.6 NHU CẦU DU LỊCH, GIẢI TRÍ, THỂ THAO 7

3 M ỐI TƯƠNG QUAN GIỮA DÂN SỐ , SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 8

3.1 HỌC THUYẾT MALTHUS 8

3.2 DÂN SỐ VÀ CÂN BẰNG SINH THÁI 8

3.3 Á P LỰC CỦA SỰ TĂNG DÂN SỐ QUÁ MỨC 9

3.4 DÂN SỐ LÊN MÔI TRƯỜNG 9

3.5 DÂN SỐ LÊN Ô NHIỄM 10

3.6 T ÀI NGUYÊN LÊN DÂN SỐ 10

3.7 TÀI NGUYÊN LÊN Ô NHIỄM 10

3.8 Ô NHIỄM LÊN DÂN SỐ 10

3.9 Ô NHIỄM LÊN TÀI NGUYÊN 10

4 Tình hình dân số Việt Nam 11

Dân số và sự gia tăng dân số

1 Sự tăng trưởng dân số thế giới

Sự gia tăng không mong đợi của loài người tạo nên một nhân tố hàng đầu cuả sự huỷ hoại sinh quyển Dù rằng sự đông dân đã xảy ra từ nhiều thế kỷ ở vài vùng như châu Á, nhưng

sự tăng trưởng gia tốc cuả dân số thế giới vốn đã quá đông đúc tạo nên một sự kiện cơ yếu, đặc sắc cuả con người, gọi là sự bùng nổ dân số ở thế kỷ 20

Việc quan trọng hơn không chỉ là số lượng vốn đã quá lớn, mà còn là dân số tăng với tốc

độ lũy tiến (vitesse exponentielle) Không một chuyên gia nào có thể dự kiến chính xác khi nào thì dân số ổn định Do đó Dorst (1965) xem sự bùng nổ dân số ở thế kỷ 20 là một hiện tượng có qui mô sánh với thảm họa điạ chất đã làm đảo lộn hành tinh

Sự tăng trưởng dân số trên trái đất hiện nay đặt sinh quyển vào tình trạng khủng hoảng

Ở giai đoạn từ khi con người xuất hiện đến cuộc cách mạng nông nghiệp, dân số thế giới còn thưa thớt, khoảng 125.000 người, chủ yếu sống tập trung ở châu Phi Nhờ sự phát triển của bộ não, tổ tiên chúng ta đã có một nền văn hóa nguyên sơ được gọi là “Cách mạng văn hóa” mà đặc trưng của nó là những quy ước của xã hội, kinh nghiệm trong sản xuất (cách chế tác công cụ, thức ăn, phân biệt những động thực vật có hại hay ăn được…) được lưu giữ và truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng miệng Nhờ đó, đời sống của các quần cư được cải thiện dần, tốc độ gia tăng dân số đạt đến 0,002% ở cuối thời kỳ với dân số tăng lên đến khoảng 5 triệu vào năm 8000 trước CN Trong thời kỳ đó, con người đã phân bố rộng rãi trên toàn lục địa Âu-Á và xâm nhập sang Tây Bán Cầu vào khoảng 30.000 năm trước CN

Vào cuối cách mạng nông nghiệp, sự gia tăng dân số không liên tục, khi tăng, khi giảm nhưng nhìn chung vẫn tăng Nền văn minh nhân loại lúc tiến triển, lúc suy thoái, thời tiết thuận lợi, lúc khó khăn; mất mùa rồi bệnh dịch, chiến tranh Tất cả đều là những yếu tố

Trang 2

tác động trực tiếp hay gián tiếp đến kích thước dân số Chẳng hạn, trong những năm 1348 -1350 bệnh dịch hạch đã làm cho dân số châu Âu giảm đi 25% riêng ở Anh từ năm

1348-1379 còn giảm mạnh hơn, tới gần 50% Từ năm 1648, thế giới bước vào thời kỳ ổn định, sản phẩm nông nghiệp gia tăng, mở đầu cho sự ra đời của thương mại; quyền lực tập trung của thời phong kiến bị tan rã từng mảng lớn, thay vào đó nền kinh tế công nghiệp, trước hết là tiểu thủ công nghiệp ra đời và phát triển tạo nên bước ngoặt cho sự phát triển dân số

Từ 1650-1850, cùng với cách mạng nông nghiệp ở châu Âu, thương mại trở thành động lực chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trồng trọt, chăn nuôi phát triển dự trữ lương thực tăng, hàng hóa được trao đổi gữa các vùng nhiều hơn, nạn đói và dịch bệnh đẩy lùi Kết quả tất yếu dẫn đến là dân số thế giới, đặc biệt ở châu Âu, tăng vọt, từ 103 lên 144

định cư ở Tân Thế Giới làm cho dân số ở đây tăng từ 4 triệu (1790) lên 23 triệu (1850) Dân số Châu Phi (1650-1850) ước tính có khoảng 100 triệu Tỷ lệ tăng dân số thế giới diễn ra như sau: 0,3% giữa 1650-1750 và khoảng 0,5% giữa 1750-1850

Giai doạn 1850-1930 được gọi là “giai đoạn chuyển tiếp dân số” Lúc này ở Châu Âu và Bắc Mỹ, tỷ lệ tử vong giảm thấp, từ 22-24‰ xuống 18-20 ‰ do điều kiện sinh hoạt được cải thiện, y tế và vệ sinh phòng dịch tiến bộ Đến cuối thế kỷ XIX, giai đoạn dân số thực

sự bắt đầu ở các nước phương Tây với sự giảm cả tỷ tệ sinh và tỷ lệ tử, cả ở nông thôn và thành thị

Sang thế kỷ XX, dân số thế giới tăng nhanh, mặc dầu quá trình chuyển tiếp dân số ở các nước phương Tây vẫn còn tiếp tục Nhịp độ tăng dân số trung bình toàn thế giới trong khoảng thời gian 1850-1950 là 0,8% Dân số tăng từ trên 1000 triệu người lên gần 2500 triệu người Trong đó dân Châu Á tăng chưa đến 2 lần; Châu Âu và Châu Phi tăng 2 lần; Bắc Mỹ tăng 6 lần và Nam Mỹ tăng 5 lần (bao gồm cả sự nhập cư) Đến những năm

1930, ở một số nước Châu Âu tỷ lệ sinh giảm nhanh hơn cả tỷ lệ tử khiến cho sự gia tăng dân số chững lại Sau đại chiến thứ 2, điều kiện sống được cải thiện, tỷ lệ sinh lại tăng cao và kéo dài cho đến những năm 1960 Ở đây cần nói thêm rằng, những yếu tố để tạo nên sự chuyển tiếp dân số ở các nước phát triển lại hầu như không có được ý nghĩa như vậy đối với các nước kém phát triển Ở các nước này tỷ lệ sinh vẫn cao Do đó, từ những năm 1940, nhất là khi con người đã chế ra nhiều loại thuốc công hiệu để loại trừ một số dịch bệnh nguy hiểm, dân số thế giới bước vào một giai đoạn bùng nổ thực sự với đặc trung tỷ lệ sinh cao, còn tỷ lệ tử thấp Tỷ lệ tăng trưởng dân số trung bình toàn cầu từ 0,9% (năm 1950) lên đến 1,8% (1950-1980)

Vào đầu Công nguyên toàn thế giới chỉ có 136 triệu người Từ đó tăng lên 0,5 tỷ vào giữa thế kỷ XVII Phải đến năm 1850 dân số thế giới mới đạt đến 1 tỉ người rồi 80 năm sau (1930) đạt 2 tỉ; năm 1960 đạt 3 tỉ, năm 1975 đạt 4 tỉ và đến 11/07/1987 thế giới đã có 5 tỉ người Tháng 07/1994, thế giới đã có 5,63 tỉ người, năm 1997, dân số thế giới là 5,8 tỉ người và gia tăng hàng năm là 1,7% Các nhà khoa học dự kiến đến năm 2000 sẽ có khoảng 6, 1 tỉ người Thực tế, dân số thế giới tròn 6 tỉ người tăng gấp 4 lần so với đầu thế

kỷ 20 vào ngày 12/10/99 Khoảng 40 năm nữa, dân số có thể tăng gấp đôi nếu không có

Trang 3

những biện pháp ngăn chặn đà gia tăng này Sự bùng nổ dân số gây áp lực lên tài nguyên

và môi trường

Từ số liệu trên, nếu dân số nhân loại là và đạt đến 500 triệu vào năm 1650 thì trong khoảng thời gian đó dân số có 6-7 lần thời gian tăng gấp đôi Như vậy, trong thời kỳ đó,

để tăng gấp đôi dân số cần một thời gian trung bình là 1500 năm Tiếp theo, thời gian này ngày một rút ngắn Số dân 4 tỷ trên Trái Đất được ghi nhận vào năm 1975 Tính theo “chỉ

số gia tăng dân số” vào năm 1970, thời gian tăng gấp đôi dân số lúc đó được tính là 36 năm Ba giai đoạn đặc trưng của lịch sử dân số nhân loại: Cách mạng văn hóa, Cách mạng nông nghiệp và Cách mạng công nghiệp Cho đến giữa thiên niên kỷ thứ 2 dân số ít

và tăng trưởng chậm Từ sau Cách mạng công nghiệp, dân số mới tăng nhanh và sự

“bùng nổ dân số” mới xuất hiện 1-2 thế kỷ vừa qua

Nếu như trong những năm đầu của thế kỷ XIX, để tăng thêm 1 tỷ người cần khoảng thời gian 100 năm, thì từ năm 1975 đến 1987 để tăng thêm 1 tỷ người chỉ cần 12 năm và trong tương lai mức tăng sẽ còn nhanh hơn nữa

Trước nguy cơ về dân số bùng nổ, nhiều nước đã thực hiện quốc sách "kế hoạch hóa gia đình" nên đã hạn chế một phần tốc độ phát triển của dân số Trong thập niên 80, mỗi năm thế giới có 130 triệu trẻ em mới sinh thì đến nay con số đó chỉ còn 86 triệu người, như vậy mỗi ngày thế giới vẫn còn tăng khoảng 238.000 người

Mức độ tăng dân số không đều: cao nhất là ở Trung Mỹ (3,4%), Mỹ La Tinh (3%), Châu Phi (2,5%), Châu Á (2,3%), Bắc Mỹ (1,3%), Châu Âu (0,8%) Trước đây 20 năm, tốc

độ phát triển của dân số thế giới là 2% thì đến năm 1994 đã giảm xuống còn 1, 57%

Một đặc điểm cần lưu ý là theo sự ước tính, trung bình cứ 10 đứa trẻ được sinh ra thì đã

có 9 đứa được ra đời ở các quốc gia nghèo và các quốc gia đang phát triển, dân số các quốc gia này hiện nay chiếm khoảng 2/3 dân số thế giới Tại thời điểm 1987 (khi dân số thế giới đạt mức 5 tỷ người), các quốc gia đông dân nhất là Trung Quốc (1,2 tỉ), Ấn Ðộ (919 triệu), Hoa Kỳ (261 triệu), Indonesia (195 triệu), Bresil (159 triệu), Pakistan (137 triệu), Nhật Bản (120 triệu)

Quá trình tăng dân số trong khoảng 1 triệu năm qua theo ước lượng của các nhà dân số học và diện tích đất bình quân trên đầu người được mô tả trong bảng dưới đây

Bảng : Kích thước dân số ở các giai đoạn và thời gian dân số tăng gấp đôi và diện tích đất bình quân đầu người

người)

Diện tích đất bình quân (ha/người)

Thời gian tăng gấp đôi

Trang 4

1930 2000 7,5 45

Như vậy trải qua gần hết lịch sử loài người, dân số đạt đến 1 tỷ người vào năm 1850 Và sau đó chỉ 80 năm dân số đạt đến 2 tỷ vào năm 1930; chỉ sau 30 năm dân số tăng thêm 1 vào năm 1960 và 4 tỷ vào năm 1975

Số liệu về dân số thế giới cho phép dự báo về sự phát triển của đường cong dân số trong tương lai Những kết quả dự báo của Worldbank cho rằng, có 3 thời điểm khác nhau dân

số thế giới dừng ở mức cân bằng có thế tin cậy được

Kích thước dân số thế giới tăng dần theo lịch sử phát triển của loài người Nếu giữ khuynh hướng như hiện tại, sự cân bằng dân số của thế giới sẽ xuất hiện vào năm 2110 với số lượng ở mức 10,5 tỷ người, gấp 2 lần dân số năm 1990 Nếu tốc độ sinh giảm nhanh hơn thì điểm dừng của dân số đến sớm hơn vào khoảng năm 2040 với dân số 8 tỷ, vượt dân số năm 1990, 86% và nếu tốc độ sinh giảm chậm hơn hiện tại thì điểm cân bằng

sẽ rơi vào năm 2130 với 14,2 tỷ người, hơn 2 lần dân số hiện nay

Trong khi đó trái đất, môi trường sống của con người, trong hàng trăm triệu năm qua không thay đổi về độ lớn Trong lúc đó dân số loài người đã và đang tăng lên theo cấp số nhân Diện tích đất bình quân đầu người theo đó đã giảm liên tục

Với tổng diện tích trên trái đất là 15 tỷ ha, vào năm 0 bình quân mỗi người trên trái đất có thể sử dụng 75ha thì đến năm 1994 con số này là 3 ha, năm 2010 diện tích này còn lại là 1,875 ha Sự hạn chế không gian sống còn bị sự phân bố không đều về mật độ dân số làm thêm căng thẳng Tại các vùng đô thị, khu công nghiệp, vùng thâm canh nông nghiệp diện tích bình quân đầu người chỉ bằng 1/100 thậm chí 1/1000 trị số trung bình trên toàn trái đất

2 Gia tăng dân số và nhu cầu của con người

2.1 Nhu cầu dinh dưỡng

Con người muốn sống và làm việc được thì cần phải ăn, trước hết là để xây dựng cơ thể

và sau đó là để bù đắp phần năng lượng bị mất đi trong quá trình trao đổi chất, đặc biệt là

để hoạt động và thực hiện những công việc lao động chân tay và trí óc một cách có hiệu quả

Người ta đo năng lượng tiêu thụ bằng số calo cần có trong khẩu phần ăn Ðối với người lao động nặng cần từ 3.500 5.000 kcal/ngày, người lao động trung bình cần từ 3.000 -3.500 kcal/ngày và người lao động nhẹ cần 2.500 - 3.000 kcal/ngày Tuy nhiên, nhu cầu

1 Theo dự đoán, dân số thế giới đạt mức 5 tỷ vào năm 1994 Nhưng thực tế con số này đạt tới vào

11/07/1987 Tháng 7 năm 1994, dân số thế giới là 5,63 tỷ

Trang 5

năng lượng này thay đổi tùy theo giới tính, lứa tuổi, điều kiện khí hậu Nên ta có thể công nhận con số trung bình là 2.400 kcal/ngày, con số này được coi là nhu cầu vừa phải

để cung cấp đủ cho khả năng lao động chân tay và trí óc có hiệu quả

Lấy mốc của năm 1963 thì dân số của thế giới là 3, 11 tỉ nên nhu cầu của nhân loại trong

1 năm là 3, 11 x 109 x 2400 x 365 = 2,7.1015 kcal, trong khi đó sinh quyển chỉ cung cấp được 2,6.1015 kcal/năm Như vậy, có thể tạm coi là nguồn thức ăn do sinh quyển cung cấp nếu được phân phối đồng đều ở các nơi trên thế giới thì cũng chỉ vừa đủ nuôi sống nhân loại Tuy nhiên sự phân phối nguồn lương thực này không đồng đều trên thế giới nên nhu cầu thỏa mãn cho mỗi người ở mỗi nơi lại khác nhau

2.2 Thiếu dinh dưỡng, suy dinh dưỡng, bội dinh dưỡng và nạn đói

a Thiếu dinh dưỡng và suy dinh dưỡng

Ðể có sức khỏe tốt thì không chỉ có đủ thức ăn mà thức ăn phải có đầy đủ chất dinh dưỡng như protein, carbohydrate, dầu mỡ, vitamin và khoáng chất

Những người dân nghèo mà đại đa số các quốc gia kém phát triển, cuộc sống của họ phải dựa vào một số cây lương thực chủ yếu như lúa gạo, lúa

mì, ngô, khoai tây nên chế độ ăn uống của họ thường xuyên thiếu dinh dưỡng Nếu trong khẩu phần ăn ở các nước công nghiệp phát triển là 90g protein/ngày/người với 3000 calo trong đó có 50 % là protein động vật thì ở các nước đang phát triển chỉ có chưa đến 60g/ ngày / người với 2100 calo và 15 % là protein động

dài khẩu phần ăn thiếu chất dinh dưỡng dẫn đến cơ thể rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng, làm cho sức khỏe suy giảm đến mức không còn đủ khả năng

đề kháng với bệnh tật

Tình hình xảy ra nghiêm trọng đến nỗi có thể nghĩ tới nạn "đói khu vực" và hiện tại có khoảng 1/3 dân số thế giới ăn chưa tốt, mà số này lại nằm trong các quốc gia kém phát triển và lại có tốc độ tăng dân số rất nhanh

Cuộc sống của 90% dân số trên Trái Đất phụ thuộc vào 10-11% diện tích bề mặt Trái Đất Hiện nay ở các nước đang phát triển có tới 60% gia đình thiếu ăn triền miên hoặc theo định kỳ trước và sau vụ thu hoạch Có ít nhất 1 tỉ người trên trái đất đang bị nạn đói đe doạ, nhất là các nước Trung và Nam Phi Tương tự, hội nghị quốc tế về lương thực được tổ chức ngày 13/11/1996 đã ước tính hằng năm có khoảng khoảng 800 triệu người bị suy dinh dưỡng mà phần lớn tập trung ở 2 lục địa Á châu và Phi châu, trong đó có 200 triệu trẻ em Hằng năm có khoảng 5 triệu trẻ em suy dinh dưỡng bị chết vì các bệnh nhiễm trùng như sởi, cúm, tiêu chảy (trong đó

có khoảng 3/4 trẻ em chết vì bị tiêu chảy) và đại đa số các trẻ này thuộc về các nước nghèo và các nước đang phát triển.

Trước tình hình gia tăng dân số, nguồn tài nguyên ngày càng suy thoái và cạn kiệt, bên cạnh đó là thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, sản xuất lương thực thực phẩm không đủ cung ứng cho dân số ngày càng đông Năm 1987, tổ chức lương nông thế giới (FAO) ước tính rằng để thỏa mãn nhu cầu lương thực và thực

Trang 6

phẩm thì sản lượng lương thực phải tăng 100% và sản phẩm có nguồn gốc động vật phải tăng 200% Như vậy, nếu giữ ở mức độ này thì đến năm 2000 số người bị thiếu ăn tăng

lên từ 2 tỉ đến 3 tỉ người

b Bội dinh dưỡng

Bên cạnh hàng tỉ người thiếu ăn hoặc khẩu phần ăn thiếu chất dinh dưỡng cũng có hàng chục triệu người sống ở các quốc gia thuộc Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Úc và Tân Tây Lan , sử dụng khẩu phần ăn thừa thải, thậm chí quá thừa thải chất dinh dưỡng mà ta có thể gọi đó là bội dinh dưỡng Ăn uống thừa thải hẳn cũng không phải là điều dễ chịu và không nên nghĩ rằng một người được ăn uống tốt là người chỉ ăn những thức ăn ngon và thừa thải so với nhu cầu về protein, carbohydrate, dầu mỡ, vitamin và khoáng chất

Ăn quá nhiều và quá thừa dinh dưỡng cũng có khả năng mắc nhiều bệnh nguy hiểm và cũng có thể làm tăng tỉ lệ tử vong Các bác sĩ ở Hoa Kỳ cho rằng vấn đề cơ bản của việc bảo vệ sức khỏe cho dân cư nước họ không phải là bệnh ung thư cũng không phải là bệnh

viêm thủng mà là sự dư thừa về trọng lượng của cơ thể gây nên gọi là hội chứng béo phì

2.3 Nhu cầu nhà ở và quần áo

Nhà là để ở và quần áo là để giữ ấm Cả hai liên quan một cách phức tạp với toàn bộ đời sống và do đó tới sinh thái học người Quần áo và nhà ở bảo vệ con người khỏi bị tác hại của nhiệt độ quá cao hay quá thấp; chống lại các tác hại vật lý khác như tiếng ồn, bức xạ; bảo vệ con người khỏi các tác hại hóa học và sinh học; các thú dữ, rắn độc và các loài thiên địch khác từ xa xưa là kẻ thù của người; và gần đây các tác nhân gây bịnh và các vật truyền bịnh (vectors) đáng sợ hơn Ngoài ra khói bụi và các khí độc khác có thể gây hại sức khỏe nếu không có các phương tiện phòng tránh hữu hiệu

Tóm lại, quần áo và nhà ở là các nhu cầu thiết yếu của con người Khi dân số gia tăng, các khu đô thị phát triển và tài nguyên thiên nhiên được sử dụng nhiều, thì sự ràng buộc của quần áo và nhà ở với sinh thái học của người cần được xem xét tỉ mỉ và liên tục Với quần thể nhỏ và không gian rộng, con người không cần ngăn nắp và cầu kỳ Khi mật

số gia tăng, không gian trở nên có hạn và khi cơ may di dời đến nơi trù phú khác giảm đi, buộc người ta phải sống trong một hệ thống khép kín Khi đó, người ta phải tạo ra sự trật

tự ngăn nắp, tức phải đầu tư năng lượng nhiều hơn, tức phải khai thác và sử dụng tài nguyên nhiều hơn Tài nguyên thiên nhiên, để làm các vật liệu tiêu dùng, không phải là không bị cạn kiệt Các phụ phẩm từ các xí nghiệp mau chóng lấp đầy một cách vô tội vạ các khoảng đất trống Nhà ở và nhà máy xây dựng chồng lấn nhau và tranh giành các khoảng không gian chật hẹp Rác thải sinh hoạt và công nghiệp gây ra vấn đề ô nhiễm, đòi hỏi phải được xử lý

2.4 Nhu cầu đi lại

Nhu cầu đi lại hay di chuyển cũng là một trong các nhu cầu thiết yếu của con người Hệ thống hoạt động của người (human activity system) bao gồm 3 điểm nút hoạt động

Trang 7

(activity nodes), hay là 3 nơi đặc trưng cho các hoạt động này Ðó là sống, làm việc và vui chơi Chính sự di chuyển nối liền 3 hoạt động hay 3 nơi thực hiện các hoạt động trên Người ta còn có thể xếp các hoạt động của người theo các cách khác nhau Nhưng tựu trung có thể xem nhà ở là trung tâm, từ đó người ta di chuyển đến các nơi khác để làm việc, học tập, giao dịch và giải trí

Sự di chuyển (đi lại) đưa chúng ta đi từ nơi ở đến các địa điểm khác để thực hiện các sinh hoạt khác nhau Ðó là sự đi lại thường ngày, có tính lập lại Nên việc bố trí khoảng cách

và cung cấp phương tiện di chuyển sao cho tiện lợi, tiết kiệm là điều quan tâm của các nhà thiết kế đô thị Ngoài ra còn các sự di chuyển đường dài, liên quốc gia hay liên lục địa, cần các phương tiện nhanh hơn, hiện đại hơn và dĩ nhiên tiêu tốn nhiều nhiên liệu hơn

Tóm lại, đi lại (di chuyển) là một nhu cầu cơ bản của con người Nó đòi hỏi phuơng tiện

và năng lượng Chính năng lượng sử dụng cho các phuơng tiện di chuyển ở các quốc gia phát triển (xe hơi, máy bay ) là nguyên nhân chánh cho sự cạn kiệt tài nguyên không tái tạo và ô nhiễm không khí

2.5 Nhu cầu văn hóa

Văn hóa là nét đặc trưng của loài người, không thấy ở bất kỳ một sinh vật nào khác Các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau trên thế giới được duy trì, phổ biến và phát huy thông qua giáo dục và các phuơng tiện, như tiếng nói, chữ viết và các ký hiệu khác

Một trong các phương tiện của văn hóa là chữ viết Trong lịch sử của loài người, chữ viết được viết trên đất, đá, gỗ, lá cây, da thú, xương, kim loại và hiện nay phổ biến nhất là giấy Giấy được làm từ gỗ, rơm rạ, bã miá nói chung là từ thực vật Ngày nay, nhân loại

sử dụng một luợng giấy khổng lồ, và điều này góp phần làm suy thoái thảm thực vật Hơn nữa công nghiệp chế tạo giấy còn gây ô nhiễm môi trường, nhất là môi trường nước

Hiện nay, máy tính cá nhân là phương tiện hiện đại và hữu dụng lớn lao cho con người Người ta tưởng nhờ có nó, chúng ta tiết kiệm giấy hơn Nhưng trái lại, lượng giấy dùng không giảm vì in ấn nhanh và dễ hơn, nên người ta thải giấy nhiều hơn là khi đánh máy hay viết tay Ngoài ra, các thế hệ máy tính thay thế nhau rất nhanh, khối lượng máy thải

ra (thường làm bằng các vật liệu khó bị phân hủy) cũng đặt thành vấn đề cho các quốc gia phát triển

Tín ngưỡng cũng là một mặt của nền văn hóa Các tôn giáo khác nhau có những công trình kiến trúc để ghi lại công ơn người sáng lập và để tín đồ thực hành tín ngưỡng Các nhà thờ Thiên chúa giáo ở Châu Âu và chùa chiền Phật giáo ở Châu Á trước đây thường được xây cất bằng gỗ tốt, đã sử dụng một lượng gỗ đáng kể của các khu rừng lân cận Tuy nhiên ở một mặt nào đó một số tín ngưỡng lại góp phần tích cực vào cải tạo đạo đức sinh thái của con người

2.6 Nhu cầu du lịch, giải trí, thể thao

Trang 8

Ðây cũng là các nhu cầu quan trọng của con người Du lịch ngày nay trở thành nguồn thu nhập lớn cho nhiều quốc gia Tuy gọi là ngành công nghiệp không khói, nhưng du lịch cũng gây nhiều thiệt hại cho môi trường và sinh vật hoang dã, và cũng làm ô nhiễm môi trường ở nhưng nơi thiếu sự quản lý chặt chẽ Ở miền Nam, ai quan tâm đến môi trường

sẽ thấy đau lòng trước sự tàn phá nhanh chóng của thực vật và động vật ở vùng biển Hà tiên, Vũng tàu, Nha trang và các đảo Phú quốc, hòn Khoai

Các công viên, sân bãi thể thao, các tụ điểm văn hóa là không thể thiếu cho các khu dân

cư của xã hội công nghiệp Số lượng và chất lượng của các địa điểm trên ngày càng gia tăng theo sự gia tăng dân số và sự phát triển của xã hội

3 Mối tương quan giữa dân số, sử dụng tài nguyên và ô nhiễm môi trường

Theo mô hình đơn giản thì sự suy thóai và ô nhiễm môi trường ở cùng một nơi tùy thuộc vào 3 yếu tố: (1) số người dân, (2) số đơn vị năng lượng mỗi người sử dụng và (3) khối lượng của sự suy thoái và ô nhiễm môi trường do mỗi đơn vị năng lượng gây ra (Miller, 1993)

Sự đông dân bao gồm sự quá nhiều người và sự quá nhiều tiêu thụ Sự quá nhiều người xảy ra ở những nơi mà số người nhiều hơn thức ăn, nước uống và các tài nguyên khác Việc này thường xảy ra ở các nước đang phát triển, làm suy thoái các tài nguyên tái tạo

và là nguyên nhân của sự nghèo đói Sự quá nhiều tiêu thụ xảy ra ở các nước công nghiệp, khi một số ít người sử dụng một lượng lớn tài nguyên Ðây là nguyên nhân chính làm cạn kiệt nguồn tài nguyên không thể phục hồi và làm ô nhiễm môi trường

3.1 Học thuyết Malthus

Thomas Robert Malthus là nhà kinh tế học người Anh, một trong những người sáng lập

ra ngành dân số học chuyên nghiên cứu về tăng dân số Ông ta trình bày một bài toán về tăng trưởng dân số trên cơ sở áp dụng nguyên lý cho rằng tất cả các quần thể sinh vật đều

có tiềm năng tăng trưởng lớn hơn hiện tại trong khi nguồn cung cấp (thực phẩm, lương thực, nhiên liệu ) cho sự tăng trưởng này có tăng nhưng rất hạn chế

Sau đây là một số luận điểm chính liên quan đến vấn đề này:

- Nguồn sống là nhân tố hạn chế mức tăng dân số

- Dân số tăng khi nguồn sống tăng, tăng trưởng dân số chỉ dừng lại khi có sự can thiệp bắt buộc

- Nhân tố kiểm soát tăng dân số là lực lượng có thế lực trên cơ sở can thiệp vào nguồn sống

3.2 Dân số và cân bằng sinh thái

Trong tự nhiên luôn luôn có xu hướng cân bằng hay còn được gọi là nội cân bằng Đó là

hệ thống tự ổn định điều khiển bằng những cơ chế nội tại Các quần thể sinh vật đều có thể tự điều chỉnh mật độ bằng các cơ chế tập tính, làm tăng hoặc giảm cường độ sinh sản

Trang 9

(yếu tố thực hiện) và bằng cách này mà kích thước quần thể (trị số điều khiển) được duy trì trong giới hạn cho phép

Động thái tăng trưởng dân số: Động thái tăng trưởng dân số là sự tăng giảm dân số theo thời gian (năm, thế kỷ )

Động thái tăng trưởng dân số phụ thuộc vào hai nhân tố chính là khả năng sinh học sinh sản của quần thể và sức chịu đựng của môi trường

Sức chịu đựng của môi trường là toàn bộ các nhân tố cản trở một quần thể sinh sản đạt tới mức cực đại tiềm năng sinh học của chúng Nó bao gồm tất cả các nhân tố gây chết, các nhân tố cản trở tỉ lệ sinh đẻ

Vào buổi bình minh của lịch sử nhân loại, dân số thế giới khá ổn định Động thái dân số chịu sự điều chỉnh của các nhân tố sinh học và tỉ lệ sinh đẻ cao hầu như được bù lại bằng

tỉ lệ tử vong cao

Con người vẫn là một phần của hệ tự nhiên nhưng mật độ trong quần thể tăng quá nhanh

và không kiểm soát được đã làm mất đi khả năng tự điều chỉnh vốn có của tự nhiên Điều này đang dẫn đến sự rối loạn các mối cân bằng sinh thái vốn có với hàng loạt các quá trình nội tại bị phá vỡ

3.3 Áp lực của sự tăng dân số quá mức

Một trong những thuộc tính cơ bản của sinh thái nhân văn là đánh giá chất lượng cuộc sống của từng thành viên, từng cộng đồng cũng như của một xã hội

Chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào tổng thể các nhân tố tự nhiên và xã hội, đặc biệt là

nó tỉ lệ nghịch với số dân

Có thể nói trong hầu hết các công trình nghiên cứu về nguyên nhân sâu xa của suy giảm chất lượng môi trường cũng như đói nghèo thì đều đi tới một kết luận chung là do sự tăng dân số quá mức

3.4 Dân số lên môi trường

Một trong những quá trình cơ bản trong sự vận động của một hệ sinh thái là sự phân phối năng lượng trong hệ Khi hệ sinh thái còn trẻ thì dòng năng lượng chủ yếu được tập trung cho sức sản xuất, có nghĩa là tập trung cho sự tăng trưởng và cho tổ chức các cấu trúc phức tạp Đến khi mật độ quần thể tăng gần đến mức bão hoà lúc đó hệ sinh thái đã thành thục Lúc này hầu hết năng lượng được tập trung vào việc bảo tồn các cấu trúc phức tạp

đã được tạo ra Điều này hoàn toàn phù hợp đối với các quần thể người Khi dân số tăng lên quá nhanh đồng thời nhu cầu cuộc sống của con người cũng không ngừng tăng lên

Để thoả mãn nhu cầu, con người đã tập trung mọi nỗ lực tinh thần và vật chất để tìm kiếm mọi lợi nhuận kinh tế mà không ngần ngại phá huỷ hoặc khai thác kiệt quệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường

Trang 10

Sự gia tăng dân số kéo theo sự biến đổi về lượng và chất các hoạt động kinh tế xã hội và

từ đó dẫn đến làm mất cân bằng sinh thái các hệ thống tự nhiên Có thể nói sự gia tăng dân số là nguyên nhân trực tiếp cũng như gián tiếp dẫn đến ô nhiễm môi trường

Số lượng dân xác định nhu cầu tài nguyên, cách thụ đắc, số lượng dùng Các nhân tố dân

số ( trình độ xã hội, kinh tế cuả một nước) có ảnh hưởng lên việc sử dụng tài nguyên Các nước công nghiệp có nhu cầu về tài nguyên phức tạp và có khuynh hướng sử dụng nhiều tài nguyên không thể tái tạo Các nước đang phát triển sử dụng nhiều tài nguyên tái tạo được Sự phân bố dân cư cũng ảnh hưởng lên sự cung cấp, khai thác và sử dụng tài nguyên

3.5 Dân số lên ô nhiễm

Dân số gây ra ô nhiễm qua việc khai thác và sử dụng tài nguyên Ô nhiễm có thể xảy ra

từ việc sử dụng một tài nguyên như là nơi chứa rác thải sinh hoạt và công nghiệp Ngoài

ra khai thác tài nguyên (than đá, dầu và khí) gây ra sự suy thoái môi trường Khối lượng tài nguyên và cách thức khai thác và sử dụng chúng xác định khối lượng ô nhiễm

3.6 Tài nguyên lên dân số

Tác động dương Khám phá và sử dụng tài nguyên mới (dầu, than) làm tăng dân số, cũng như sự phát triển xã hội, kinh tế, công nghệ Tài nguyên cho phép con người di chuyển đến các nơi ở mới cũng như việc lấy và sử dụng tài nguyên trước đây không được dùng Thêm vào đó sự phát triển tài nguyên tạo nhiều nơi ở trong các môi trường khó khăn

Tác động âm Cạn kiệt tài nguyên làm giảm dân số và làm giảm sự phát triển xã hội, kinh

tế, công nghệ Suy thoái môi trường (ô nhiễm không khí) có thể làm giảm dân số hay tiêu diệt quần thể

3.7 Tài nguyên lên ô nhiễm

Khối lượng, cách thức khai thác và sử dụng tài nguyên có thể ảnh hưởng lên ô nhiễm Càng khai thác và sử dụng nhiều tài nguyên thì càng gây nhiều ô nhiễm Cạn kiệt tài nguyên có thể làm giảm ô nhiễm

3.8 Ô nhiễm lên dân số

Ô nhiễm có thể làm giảm dân số cũng như giảm sự phát triển xã hội, kinh tế và công nghệ Ô nhiễm làm gia tăng tử vong và bệnh tật nên ảnh hưởng xấu lên kinh tế và xã hội

Ô nhiễm có thể làm thay đổi thái độ của con người từ đó làm thay đổi luật lệ, cách thức khai thác và sử dụng tài nguyên

3.9 Ô nhiễm lên tài nguyên

Ô nhiễm một môi trường có thể gây thiệt hại lên môi trường khác Các luật mới nhằm làm giảm ô nhiễm có thể thay đổi sự cung cầu, khai thác và sử dụng tài nguyên

Ngày đăng: 02/12/2017, 02:51

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w