Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cả những nước đã đạt đến trình độ phát triển cao. Nó là khu vực sản xuất chủ yếu, đảm bảo việc làm và đời sống cho xã hội, là thị trường rộng lớn (cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm) của nền kinh tế, nguồn nhân lực và nguồn tích luỹ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản tuy đã đạt đến trình độ cao, cũng như các nước trở thành nước công nghiệp mới, trong những thập niên gần đây vẫn rất coi trọng phát triển sản xuất nông nghiệp. Đầu những năm 60, B.Johnston và J.mellor đã chứng minh rằng: việc xây dựng một nền nông nghiệp vững mạnh và năng động sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy công nghiệp phát triển và sự tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Theo các tác giả này, nông nghiệp có 5 vai trò: • Cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước; • Xuất khẩu nông sản để thu ngoại tệ; • Tạo nguồn lao động cho khu vực công nghiệp; • Mở rộng thị trường nội địa cho sản phẩm công nghiệp; • Tăng nguồn tiết kiện ở trong nước để cấp vốn cho mở mang công nghiệp. Cũng trong thời gian này, S.Kuznets cũng khẳng định sự đóng góp của nông nghiệp cho sự tăng trưởng kinh tế thông qua buôn bán sản phẩm với các khu vực khác ở trong và ngoài nước, cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, lao động, vốn, thị trường cho quá trình công nghiệp hóa. Tuy các tác giả trên đều đề cao vai trò của nông nghiệp, nhưng xét về thực chất, các lý thuyết của họ rốt cục chỉ nhận mạnh tới việc khai thác càng nhiều càng tốt các nguồn lực của nông nghiệp và nông thôn để phục vụ cho công nghiệp hóa, đô thị hóa. Còn triển vọng sự phát triển của bản thân nông nghiệp và nông thôn như thế nào thì đã không được các lý thuyết ấy dành cho sự quan tâm thỏa đáng. Ở nước ta, nền kinh tế vẫn còn mang tính thuần nông, GDP từ nông nghiệp còn lớn, năng suất khai thác từ ruộng đất và năng suất lao động còn thấp thì vấn đề phát triển sản xuất nông nghiệp lại càng quan trọng, như ông cha ta từng nói: "Nông suy bách nghề bại" - Nông nghiệp phát triển là tiền đề để phát triển các ngành còn lại trong nền kinh tế. Điều đó chứng tỏ rằng, việc đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng nhưng cũng rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải là sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân. Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn luôn khẳng định vai trò to lớn của nông nghiệp. Trong công cuộc đổi mới, Đảng cũng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu và là khâu đột phá nhằm ổn định đời sống kinh tế- xã hội, đưa đất nước vượt qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn và tạo điều kiện để đẩy mạnh Công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước. Song nông nghiệp không thể tự mình phát triển, mà phải có sự tác động mạnh của các ngành công nghiệp, dịch vụ và hơn hết là phải có đầu tư thích hợp. Đã có nhiều chương trình đề tài nghiên cứu về vấn đề đầu tư phát triển nông nghiệp do các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước được triển khai thực hiện. Hơn bao giờ hết càng ngày vấn đề này càng đòi hỏi ở các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách phải cộng tác chặt chẽ với nhau, phải thiết lập một thứ liên minh trí tuệ theo hướng vừa đi sâu điều tra, khảo sát thực tế của đất nước, vừa mở rộng tầm nhìn ra thể giới để qua đó có thể tìm ra những căn cứ khoa học vững chắc cho việc tiếp tục phát triển, đổi mới, bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính sách và kế hoạch phát triển cho ngành nông nghiệp nhằm thúc đẩy “tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”. Năm 2006, trong chương trình hợp tác quốc tế của bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, bản tổng hợp khuyến nghị chính sách số 4, tác giả Trần Hào Hùng đã đề cập đến vấn đề : “ Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn”. Nghiên cứu này cho thấy: các dự án ĐTNN trong lĩnh vực nông nghiệp đã góp phần bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển trong lĩnh vực này, tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước; Các dự án ĐTNN trong lịch vực này đã bước đầu thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn, góp phần đa dạng hóa sản phẩm nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số công nghệ mới; ĐTNN trong lĩnh vực NLN-NT đã góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới, nâng cao thu nhập cho dân cư các địa phương, cải thiện đời sống kinh tế -xã hội của nhiều vùng nông nghiệp và nông thôn.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
NGUYỄN THỊ THANH THẢO
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH
NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2006 - 2015
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội - 2011
Trang 2CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, kể cảnhững nước đã đạt đến trình độ phát triển cao Nó là khu vực sản xuất chủ yếu, đảmbảo việc làm và đời sống cho xã hội, là thị trường rộng lớn (cung cấp nguyên liệu
và tiêu thụ sản phẩm) của nền kinh tế, nguồn nhân lực và nguồn tích luỹ cho côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Kinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản tuy đã đạt đếntrình độ cao, cũng như các nước trở thành nước công nghiệp mới, trong những thậpniên gần đây vẫn rất coi trọng phát triển sản xuất nông nghiệp
Đầu những năm 60, B.Johnston và J.mellor đã chứng minh rằng: việc xâydựng một nền nông nghiệp vững mạnh và năng động sẽ là một nhân tố quan trọngthúc đẩy công nghiệp phát triển và sự tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tếquốc dân Theo các tác giả này, nông nghiệp có 5 vai trò:
Cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong nước;
Xuất khẩu nông sản để thu ngoại tệ;
Tạo nguồn lao động cho khu vực công nghiệp;
Mở rộng thị trường nội địa cho sản phẩm công nghiệp;
Tăng nguồn tiết kiện ở trong nước để cấp vốn cho mở mang công nghiệp.Cũng trong thời gian này, S.Kuznets cũng khẳng định sự đóng góp của nôngnghiệp cho sự tăng trưởng kinh tế thông qua buôn bán sản phẩm với các khu vựckhác ở trong và ngoài nước, cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, laođộng, vốn, thị trường cho quá trình công nghiệp hóa
Tuy các tác giả trên đều đề cao vai trò của nông nghiệp, nhưng xét về thựcchất, các lý thuyết của họ rốt cục chỉ nhận mạnh tới việc khai thác càng nhiều càngtốt các nguồn lực của nông nghiệp và nông thôn để phục vụ cho công nghiệp hóa,
đô thị hóa Còn triển vọng sự phát triển của bản thân nông nghiệp và nông thôn nhưthế nào thì đã không được các lý thuyết ấy dành cho sự quan tâm thỏa đáng
Ở nước ta, nền kinh tế vẫn còn mang tính thuần nông, GDP từ nông nghiệpcòn lớn, năng suất khai thác từ ruộng đất và năng suất lao động còn thấp thì vấn đề
Trang 3phát triển sản xuất nông nghiệp lại càng quan trọng, như ông cha ta từng nói: "Nôngsuy bách nghề bại" - Nông nghiệp phát triển là tiền đề để phát triển các ngành cònlại trong nền kinh tế Điều đó chứng tỏ rằng, việc đầu tư phát triển sản xuất nôngnghiệp là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng nhưng cũng rất khó khăn và phức tạp,đòi hỏi phải là sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân.
Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn luôn khẳng định vai trò to lớncủa nông nghiệp Trong công cuộc đổi mới, Đảng cũng lấy nông nghiệp làm mặttrận hàng đầu và là khâu đột phá nhằm ổn định đời sống kinh tế- xã hội, đưa đấtnước vượt qua những giai đoạn cực kỳ khó khăn và tạo điều kiện để đẩy mạnhCông nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước Song nông nghiệp không thể tự mình pháttriển, mà phải có sự tác động mạnh của các ngành công nghiệp, dịch vụ và hơn hết
là phải có đầu tư thích hợp
Đã có nhiều chương trình đề tài nghiên cứu về vấn đề đầu tư phát triển nông nghiệp
do các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước được triển khai thực hiện Hơn bao giờhết càng ngày vấn đề này càng đòi hỏi ở các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch địnhchính sách phải cộng tác chặt chẽ với nhau, phải thiết lập một thứ liên minh trí tuệtheo hướng vừa đi sâu điều tra, khảo sát thực tế của đất nước, vừa mở rộng tầm nhìn
ra thể giới để qua đó có thể tìm ra những căn cứ khoa học vững chắc cho việc tiếptục phát triển, đổi mới, bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính sách và kế hoạchphát triển cho ngành nông nghiệp nhằm thúc đẩy “tăng trưởng kinh tế gắn liền vớitiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường”
Năm 2006, trong chương trình hợp tác quốc tế của bộ Nông nghiệp và pháttriển nông thôn, bản tổng hợp khuyến nghị chính sách số 4, tác giả Trần Hào Hùng
đã đề cập đến vấn đề : “ Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn”.
Nghiên cứu này cho thấy: các dự án ĐTNN trong lĩnh vực nông nghiệp đã góp phần
bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển trong lĩnh vực này, tạo thêm nguồn thu chongân sách nhà nước; Các dự án ĐTNN trong lịch vực này đã bước đầu thực hiệnchủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn, góp phần đa dạng
Trang 4hóa sản phẩm nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số côngnghệ mới; ĐTNN trong lĩnh vực NLN-NT đã góp phần tạo thêm nhiều việc làmmới, nâng cao thu nhập cho dân cư các địa phương, cải thiện đời sống kinh tế -
xã hội của nhiều vùng nông nghiệp và nông thôn
Nội dung nghiên cứu về đầu tư phát triển nông nghiệp vốn rất đa dạng vàphong phú, nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu một số khía cạnh sau:
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực, cácchính sách, phục vụ cho phát triển nông nghiệp Tác giả Vũ Tiến Quỳnh với đề
tài “Thực trạng và giải pháp về đầu tư và sử dụng vốn cho cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn Thái Bình”;
Đầu tư phát triển nông nghiệp của một tỉnh, một vùng lãnh thổ, một quốcgia Nghiên cứu của tác giả Trương Bá Hiển “Đầu tư phát triển nông nghiệp Hà
Tây”; “Đầu tư phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp” của tác giả Trần Quốc Hùng;
Các loại hình vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp như vốn ODA, FDI, vốn
đầu tư trực tiếp trong nước Nghiên cứu “Thu hút và sử dụng vốn ODA cho nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam đến năm 2010” của tác giả Võ
Với phương pháp luận chung là: phân tích đối tượng nghiên cứu trong cácmối quan hệ cơ bản giữa đối tượng với chỉnh thể mà bản thân nó là yếu tố cấu
Trang 5thành Với các phương pháp tiếp cận hệ thống; phương pháp phân tích các mốiquan hệ tương tác, phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic; phươngpháp dự báo; phương pháp đối chiếu so sánh để có thể thấy rõ cái chung và cáiriêng
1.2 Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Nghệ An là một tỉnh nông nghiệp, hội tụ đầy đủ những mặt mạnh, mặt yếucủa nền nông nghiệp nước ta; có nhiều tiềm năng và thế mạnh trong sự nghiệp đổimới, đã từng bước phá thế độc canh, tăng cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi
để phát triển hàng hoá Tuy nhiên, kinh tế Nghệ An vẫn là nền kinh tế nông nghiệpmang tính tự cấp tự túc, trình độ thâm canh còn thấp, giá trị sản phẩm về cây côngnghiệp và chăn nuôi còn ít, chưa tạo được nguồn nguyên liệu có quy mô tập trung
và ổn định Vì vậy, vấn đề đầu tư để phát triển sản xuất nông nghiệp càng hết sứcquan trọng, đặt tỉnh Nghệ An đứng trước thử thách trong quá trình phát triển kinhtế- xã hội Đầu tư sẽ là nhân tố cực kì quan trọng tạo nên sự phát triển mạnhngành nông nghiệp Vì thế, có thể nói trong thời gian vừa qua ngành nông nghiệptỉnh Nghệ An nhờ có sự đầu tư mạnh mẽ của nhà nước, của toàn tỉnh nên có sựphát triển vượt bậc Bởi vì đầu tư không những tạo ra cơ sở hạ tầng hiện đại chonông nghiệp mà còn giúp nông nghiệp có những giống mới, những phương tiệnsản xuất mới tiên tiến và các phương thức sản xuất mới
Nghiên cứu về đầu tư và tìm ra những giải pháp để thu hút vốn đầu tư, nângcao hiệu quả đầu tư là một trong những vấn đề trọng tâm của tỉnh Nghệ An vàluôn được quan tâm chú ý Đ ầu tư phát triển nông nghiệp là một nội dung quantrọng trong chiến lược hướng tới ngành nông nghiệp công nghiệp hóa – hiện đạihóa của cả nước nói chung và của tỉnh Nghệ An nói riêng Vấn đề đặt ra ở đây làthực trạng đầu tư vào nông nghiệp đang diễn ra như thế nào, phải làm gì để đầu tưvào nông nghiệp có hiệu quả hơn? Từ thực tiễn đó, là một người con được sinh ra
và lớn lên trên mảnh đất xứ Nghệ - tôi đã lựa chọn đề tài luận văn của mình là " Đầu
tư phát triển nông nghiệp tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 -2015”.
Trang 6Các nhà nghiên cứu, các chuyên gia kinh tế đã có những tìm hiểu rất sâusắc về các vấn đề phát triển nông nghiệp tại các địa phương Tuy nhiên, việc chọnlựa ra 1 lĩnh vực nhỏ của sản xuất nông nghiệp để mổ xẻ, phân tích và đưa ra kiếnnghị để phát triển thì chưa được thực hiện Luận văn của tôi bên cạnh việc phântích tổng quan hoạt động đầu tư phát triển nông nghiệp, còn phân tích thêm vềhoạt động đầu tư phát triển thủy sản tại tỉnh Nghệ An Với những thông tin thực tếđược thu thập qua quá trình làm luận văn, tôi hy vọng mình có thể góp đượcnhững ý kiến, những phản hồi của người nông dân, ngư dân trong quá trình đẩymạnh sự đóng góp của ngành thủy sản vào thu nhập chung của ngành nông nghiệptỉnh nhà.
Đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệptỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 – 2010 và đưa ra các giải pháp đầu tư phát triển nôngnghiệp tỉnh Nghệ An đến năm 2015
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư phát triển nông nghiệp
theo nghĩa rộng
Nghiên cứu thực trạng hoạt động đầu tư nông nghiệp tỉnh Nghệ An giai đoạn
2006 – 2010, tìm ra những điểm mạnh để phát huy và điểm yếu để hạn chếnhững bất cập trong đầu tư phát triển nông nghiệp Nghệ An
Đề xuất một số giải pháp nhằm đầu tư phát triển nông nghiệp Nghệ An đếnnăm 2015 đặc biệt là một số giải pháp đầu tư phát triển thủy sản Nghệ Annhư một bước đột phá mới cho sự phát triển nông nghiệp Nghệ An
Với mục tiêu nghiên cứu trên tôi hy vọng rằng luận văn của mình sẽ mang lạikết quả thiết thực nhằm giúp cho doanh nghiệp, cho tỉnh Nghệ An nói riêng
và các tỉnh thành trong nước nói chung có thể nâng cao hiệu quả đầu tư pháttriển nông nghiệp nhằm góp phần vào phát triển nền kinh tế chung của cảnước
Trang 71.4 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này chính là các hoạt động đầu tư phát triểnnông nghiệp theo lĩnh vực ngành của tỉnh Nghệ An, đó là các hoạt động đầu tư phát triểnnông nghiệp thuần túy, đầu tư phát triển lâm nghiệp, đầu tư phát triển thủy sản nhằmphục vụ cho phát triển nông nghiệp
Phạm vi nghiêm cứu của đề tài là đầu tư phát triển nông nghiệp theo nghĩa rộngbao gồm cả nông lâm ngư nghiệp, chứ không phải chỉ nghiên cứu đầu tư phát triển nôngnghiệp theo nghĩa hẹp là trồng trọt và chăn nuôi
Đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệptỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 – 2010 và đưa ra các giải pháp đầu tư phát triển nôngnghiệp đặc biệt là giải pháp đầu tư phát triển thủy sản như giải pháp đột phá đối vớinông nghiệp tỉnh Nghệ An đến năm 2015
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu
1.4.2.1 Phương pháp phân tích theo mô hình SWOT
Phân tích SWOT (SWOT Analysis) là một kỹ thuật phân tích rất mạnh trong
việc xác định Điểm mạnh và Điểm yếu để từ đó tìm ra được Cơ hội và Nguy cơ.
SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh:Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats(Nguy cơ) Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc raquyết định trong việc tổ chức, quản lý cũng như trong kinh doanh Nói một cáchhình ảnh, SWOT là khung lý thuyết mà dựa vào đó, chúng ta có thể xét duyệt lạicác chiến lược, xác định vị thế cũng như hướng đi của một tổ chức, một công ty,phân tích các đề xuất kinh doanh hay bất cứ ý tưởng nào liên quan đến quyền lợicủa doanh nghiệp Và trên thực tế, việc vận dụng SWOT trong xây dựng kế hoạchkinh doanh, hoạch định chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, khảo sát thị trường,phát triển sản phẩm và cà trong các báo cáo nghiên cứu đang ngày càng được sửdụng nhiều
Trang 8Mô hình phân tích SWOT được áp dụng trong việc đánh giá một đơn vị kinhdoanh, một đề xuất hay một ý tưởng Đó là cách đánh giá chủ quan các dữ liệu được
tổ chức theo một trình tự lô-gíc nhằm giúp chúng ta hiểu rõ vấn đề, từ đó có thểthảo luận và ra quyết định hợp lý và chính xác nhất
Khung phân tích SWOT dưới đây sẽ giúp chúng ta suy nghĩ một cách chuyênnghiệp và đưa ra quyết định ở thế chủ động chứ không chỉ dựa vào các phản ứngbản năng hay thói quen cảm tính
S ( Điểm mạnh) O ( Cơ hội)
W ( Điểm yếu) T ( thách thức)
Khung phân tích SWOT thường được trình bày dưới dạng lưới, bao gồm 4phần chính thể hiện 4 nội dung chính của SWOT: Điểm mạnh, Điểu yếu, Cơ hội vàNguy cơ, một số các câu hỏi mẫu và câu trả lời được điền vào các phần tương ứngtrong khung Những câu hỏi nêu dưới đây chỉ là ví dụ, người đọc có thể thay đổicho phù hợp với từng đối tượng phân tích cụ thể Một điều cần hết sức lưu ý, đó làđối tượng phân tích cần được xác định rõ ràng, vì SWOT chính là tổng quan củamột đối tượng – có thể là một công ty, một sản phẩm, một dự án, một ý tưởng, mộtphương pháp hay một lựa chọn…
- Phương pháp phân tích các mối quan hệ tương tác, phương pháp lịch sựhết hợp với phương pháp logic, phương pháp đối chiếu so sánh để thấy rõ cáiriêng và cái chung, phương pháp dự báo
Trang 91.5 Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Kết cấu luận văn tốt nghiệp của tôi gồm 4 chương và phần Kiến nghị và Kếtluận
- Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài
- Chương II: Một số vấn đề lý luận về đầu tư phát triển nông nghiệp
- Chương III: Thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Nghệ An giaiđoạn 2006 - 2010
- Chương IV: Định hướng và giải pháp đầu tư phát triển sản xuất nôngnghiệp tỉnh Nghệ An đến năm 2015
- Kết luận và kiến nghị
Trang 10CHƯƠNG II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP 2.1 Lý luận về đầu tư phát triển nông nghiệp
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm đầu tư phát triển nông nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạtđộng nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồnlực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu
tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tưphải gánh chịu khi tiến hành đầu tư
Nguồn lực được nói đến ở đây có thể là tiền, tài nguyên, công nghệ, nhàxưởng, sức lao động, trí tuệ… và các mục đích hướng tới chính là sự tăng lên về tàisản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, máymóc…), tài sản trí tuệ (trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề, năng suất lao động,trình độ quản lý…) trong nền sản xuất xã hội
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là những hoạt động đầu tưtạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọihoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống củamọi người dân trong xã hội Nói cách khác đầu tư phát triển là việc bỏ tiền ra để xâydựng, sửa chữa nhà cửa, kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúngtrên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyêngắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các
cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội
Như vậy, đầu tư phát triển nông nghiệp là những hoạt động đầu tư tạo ra tàisản mới cho nền nông nghiệp, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạtđộng xã hội khác, tạo điều kiện chủ yếu như cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị,đào tạo nguồn nhân lực tạo nên những tiền đề cần thiết để thực hiện các kế hoạchkinh doanh trong chiến lược phát triển lâu dài ngành nông nghiệp của một địaphương, một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm đem lại lợi ích về kinh tế, chính trị,
Trang 11văn hóa và xã hội phù hợp với chiến lược phát triển chung của nền kinh tế Mụcđích của đầu tư phát triển nông nghiệp là nhằm hướng đến một nền nông nghiệphiện đại, công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
2.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành kinh tế đặc thù với những đặc điểm riêng biệt,
vì vậy mà đầu tư trong nông nghiệp cũng có những nét đặc trưng riêng, khônggiống bất cứ một ngành kinh tế nào trong nền kinh tế
Thứ nhất là đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp là quá trình thực hiện một
công cuộc đầu tư cũng như việc thu hoạch những kết quả của nó chịu ảnh huởngnhiều của các điều kiện tự nhiên Điều đặc trưng này là do đặc điểm ngành nôngnghiệp chi phối Đầu tiên, khi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, do đất đai là tưliệu sản xuất chủ yếu nên chúng ta phải nghiên cứu rất kĩ về các điều kiện củađất, chất lượng và đặc điểm của đất và đặc điểm về địa hình Bởi vì đất tốt hay xấuảnh hưởng rất mạnh tới quá trình thực hiện đầu tư và thành quả thu được Nếuđất tốt thì cây trồng phát triển thuận lợi, có xây dựng hạ tầng cơ sở thì cũnggiảm chi phí và ngược lại
Khí hậu cũng ảnh hưởng tới quá trình đầu tư, khi đầu tư người ta thường
phải nghiên cứu rõ điều kiện khí hậu, bởi nó có ảnh hưởng mạnh tới kết quả củasản xuất nông nghiệp hay kết quả đầu tư Ví dụ như khi tiến hành đầu tư xâydựng hệ thông thuỷ lợi thì thường tiến hành vào mùa nước cạn, bởi khi nướclên thì việc xây dựng rất khó và cực kì tốn kém Hoặc khi ta đầu tư một loại câylương thực nào đó, chẳng hạn như cây lúa, ta không thể trồng lúa vào mùa đônglạnh, bởi lúa là cây không thích hợp với điều kiện giá rét, do vậy mà đầu tư khôngthu được lợi ích tốt Do vậy mà khi đầu tư vào nông nghiệp các nhà đầu tư phảinghiên cứu rất kĩ đặc điểm tự nhiên của từng vùng để có thể có những công cuộcđầu tư mang hiệu quả cao hoặc có những biện pháp phòng tránh ảnh hưởng xấucủa tự nhiên hữu hiệu
Do sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ nên đầu tư trong nông nghiệp
cũng mang tính thời vụ khá rõ rệt Rất nhiều hoạt động đầu tư trong nông
Trang 12nghiệp phải nghiên cứu thời điểm đầu tư và chọn khu vực đầu tư Bởi vì, trồngtrọt và chăn nuôi không thể tiến hành quanh năm cho nên chọn thời điểm để sảnxuất là rất cần thiết Do vậy khi đầu tư vào một loại đối tượng nào đó thì ta chỉ cóthể bắt đầu đầu tư tại một thời gian rõ ràng và cố định trong năm, như trồng cây thìthường phải vào mùa xuân Tuy nhiên, với trình độ khoa học phát triển chúng ta
có thể đầu tư đa dạng và với khoảng thời gian rộng hơn
Một đặc trưng nổi rõ của đầu tư trong nông nghiệp đó là nó đỏi hỏi một
lượng vốn đầu tư khá lớn, có độ rủi ro cao nhưng tỷ suất lợi nhuận lại thấp hơnnhiều so với các ngành, lĩnh vực khác Cụ thể, khi ta tiến hành đầu tư vào hệthống cơ sở hạ tầng (như hệ thống thuỷ lợi) hay khoa học công nghệ thì lượng vốnđầu tư không nhỏ chút nào Ví dụ như để phát hiện ra một loại giống mới cho sảnxuất nông nghiệp thì lượng vốn bỏ ra và số nhà khoa học cần cho nghiên cứukhông thua kém để cho một sản phẩm công nghiệp mới ra đời Hoặc chi phí đểxây một hệ thống thuỷ lợi cũng không kém việc xây dựng một nhà máy hay mộtkhách sạn du lịch Vì vậy mà khi đầu tư, đỏi hỏi các nhà đầu tư phải có nhữngchính sách biện pháp huy động đủ vốn và kịp tiến độ
Đầu tư trong nông nghiệp có độ rủi ro cao, đây là vấn đề thiệt thòi cho
nông nghiệp Sở dĩ rủi ro cao vì đầu tư trong ngành nông nghiệp một mặt chịunhững rủi ro chung của các công cuộc đầu tư mặt khác đầu tư trong nông nghiệpcòn chịu ảnh hưởng cực mạnh của những biến đổi tự nhiên xấu Ngoài ra việckiểm soát và hạn chế những loại rủi ro này là rất khó, đôi khi không thể ngăn chặnnổi Một thiệt thòi lớn của đầu tư là tỷ suất lợi nhuận của hoạt động đầu tư trongnông nghiệp rất thấp thường chỉ vài phần trăm một năm trong khi các ngành khácđạt hơn 10 %, do nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng không cao, thời gian thu hồivốn cũng rất lâu
Hoạt động đầu tư trong nông nghiệp có những nét riêng, chính vì nhữngnét này mà các nhà đầu tư thường không muốn bỏ vốn của mình đầu tư vào ngànhnông nghiệp, hoặc có thì cũng rất ít Do vậy để thúc đẩy nền nông nghiệp pháttriển thì đòi hỏi chính phủ mỗi nước phải có những chính sách khuyến khích, hỗ
Trang 13trợ đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư và bản thân nhà nước phải bỏ vốn đầu tư xâydựng CSHT.
2.1.2 Phân loại đầu tư phát triển nông nghiệp
2.1.2.1 Đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp thuần túy
Sản xuất nông nghiệp thuần túy bao gồm hai bộ phận chính là trồng trọt vàchăn nuôi Vì vậy, đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp là phải đồng thời đầu tưvào hai lĩnh vực này
Để sản xuất nông nghiệp phát triển trước hết ta phải quan tâm đến đầu vàocủa sản xuất nông nghiệp bao gồm: đất đai, giống, phân bón Muốn vậy, ta phảilựa chọn giống vật nuôi, cây trồng có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt, thíchnghi với các điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu
Đối với ngành trồng trọt, giống chỉ là một trong những yếu tố quyết định đếnnăng suất cây trồng, ngoài ra, nó còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như đất,nước, các điều kiện tự nhiên Vì vậy, đầu tư cho trồng trọt là phải đầu tư cải tạo đấttốt, đầu tư nghiên cứu giống tốt, đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi hoàn chỉnh, đầu
tư mua phân bón, thuốc trừ sâu
Trong lĩnh vực chăn nuôi, để phát triển được cần đầu tư để mua giống tốt,xây dựng các cơ sở vật chất cần thiết, có chế độ cho ăn phù hợp
Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đầu vào, coi trọng sản xuất mà xem nhẹ đầu rathì sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ sẽ gặp khó khăn, sản xuất chậm phát triển Vì vậy,một trong những biện pháp thúc đẩy sản xuất phát triển là quan tâm đến đầu ra củasản phẩm, đến thị trường tiêu thụ của sản phẩm đó
Đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ các nông sản và hàng hoá sản xuất tại địabàn nông thôn bao gồm: xây dựng hệ thống chợ nông thôn, tổ chức mạng lưới thumua nông sản từ các hộ sản xuất, xây dựng hệ thống kho tàng dự trữ, bảo quản nôngsản phẩm, quảng cáo và tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước
Thị trường là đầu ra nếu càng thông thoáng thì sản xuất càng có điều kiệnphát triển nhanh Ở các nước đang phát triển thường ít quan tâm đến vấn đề thịtrường nên nông nghiệp vẫn phát triển trong thế không ổn định, tốc độ tăng trưởng
Trang 14thấp trong khi đó những nước có nền nông nghiệp hàng hoá phát triển cũng lànhững nước biết đầu tư thoả đáng cho nghiên cứu và mở rộng thị trường tiêu thụnông sản.
2.1.2.2 Đầu tư phát triển lâm nghiệp
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạtđộng gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như các hoạt động gâytrồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến nguyên liệu lâm sản và cung cấpcác dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; đồng thời ngành lâm nghiệp cũnggắn bó mật thiết đến bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần xoá đóigiảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninhquốc phòng
Lâm nghiệp có tính đặc thù, trong khi hoạch định dự án, triển khai đầu tư nếukhông hiểu tính đặc thù thì sẽ không biết vận dụng những cơ chế hiện hành để tiếnlập đưa ra những nội dung đầu tư phù hợp thì dự án sẽ khó có tính khả thi
Tính đặc thù nổi bật của lâm nghiệp là:
- Chu kỳ sản xuất lâm nghiệp rất dài, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, tính rủi
Như vậy, đầu tư trong lâm nghiệp là hoạt động tổng hợp có nhiệm vụ sửdụng tiền vốn và các nguồn tài nguyên khác, không ngoài khái niệm đầu tư nóichung nhưng khi triển khai sử dụng tiền vốn và các nguồn tài nguyên đất đai, tàinguyên rừng trong một thời gian tương đối dài nhằm bảo tồn gen và đa dạng sinh
Trang 15học, đem lại những lợi ích kinh tế, nguồn nước, môi trường, góp phần phát triểnkinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng.
2.1.2.3 Đầu tư phát triển thủy sản
Nhu cầu về thủy sản của trong nước cũng như trên thế giới còn rất lớn,nhiều nhất là thị trường Mỹ, Châu Âu, Châu Á và các nước ASEAN Nhưng các sảnphẩm thủy sản đến các thị trường này có yêu cầu cao về chất lượng, chủng loại và
dư lượng kháng sinh Gần đây, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đang gặp nhiềutrở ngại do các nước nhập khẩu đưa ra những hàng rào thuế quan, hạn ngạch, cáctiêu chuẩn kỹ thuật mới
Thủy sản Việt Nam là ngành có khả năng cạnh tranh bởi vì dựa chủ yếu vàolợi thế của nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú để phát triển thủy sản, đánh bắthải sản và nuôi trồng trên đất liền Bên cạnh nguồn nhân công tương đối rẻ thìchúng ta lại chưa có hệ thống các nhà máy chế biến hiệu quả, chưa có đội ngũ cán
bộ quản lý có trình độ, hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém đã làm cho tính cạnh tranhcủa ngành hàng thủy sản của Việt Nam trên thị trường quốc tế không cao
Thêm vào đó khu vực tư nhân trong ngành thủy sản vẫn chưa phát triển các
cơ sở nhà nước lại hạn chế khả năng chiếm lĩnh thị trường quốc tế trong bối cảnhcạnh tranh khốc liệt của các quốc gia khác Để tăng cường sức mạnh trong xuấtkhẩu thủy sản, chúng ta cần phải quan tâm đầu tư phát triển ngành thủy sản trongcác lĩnh vực: Nuôi trồng thủy sản, khai thác đánh bắt hải sản và xây dựng các hệthống nhà máy chế biến thủy hải sản đạt tiêu chuẩn quốc tế Hiệu quả của khu vựcchế biến thủy sản có thể được nâng cao nếu như đầu tư tư nhân và đầu tư nướcngoài được mở rộng, đồng thời các thủ tục đầu tư cần phải đơn giản hơn, thu phí íthơn và minh bạch hóa các hoạt động quản lý của nhà nước là rất cần thiết cho việcnâng cao khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam
2.2 Nội dung đầu tư phát triển nông nghiệp địa phương
2.2.1 Đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông nghiệp – nông thôn
Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố cơ bản cho sự phát triển của mộtquốc gia trong đó có Việt Nam, nó giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát
Trang 16triển kinh tế xã hội của đất nước Đầu tư CSHT nông thôn bao gồm: đầu tư chothuỷ lợi, hệ thống điện, giao thông, trường học, trạm xá, hệ thống thông tin liênlạc, kho tàng, bến bãi, chợ, hệ thống cung cấp nước sạch
Đầu tư vào CSHT là đầu tư có tác động kép, nó không chỉ là động lực đểchuyển dịch cơ cấu nông thôn mà còn kéo theo sự thu hút đầu tư vào khu vựcnày Cơ sở hạ tầng càng hoàn thiện thì quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế nôngthôn và sản xuất nông nghiệp càng có điều kiện mở rộng và nâng cao hiệu quảbởi vì CSHT tốt không chỉ đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, giảm giá thành sản xuất
mà còn hạn chế các rủi ro trong đầu tư Thực tế cho thấy, những địa phương nào
mà cơ sở hạ tầng yếu kém thì khó thu hút các nhà đầu tư và khi không thu hútđược các nhà đầu tư thì khả năng cải tạo cơ sở hạ tầng càng hạn chế tạo nên mộtvòng luẩn quẩn là vùng nào cơ sở hạ tầng yếu kém thì ngày càng tụt hậu tạo nên
sự phát triển không đồng đều giữa các vùng
Trong lĩnh vực thủy sản, đầu tư cho cơ sở hạ tầng không những góp phầnthúc đẩy sản xuất thủy sản phát triển mà bên cạnh đó còn hạn chế được tác hại gây
ô nhiễm môi trường, bệnh cá do đó cần phát triển cơ sở hạ tầng nghề cá, các ngư
cụ, các khu vực, các giai đoạn, hoạt động NTTS thân thiện với môi trường, baogồm các công trình ao nuôi, ao chứa và xử lý chất thải Ngoài ra đầu tư phát triểnCSHT nghề cá cần phải đầu tư phát triển hệ thống cầu cảng, kho tàng, bến bãi thumua thủy hải sản tập trung, hệ thống nhà máy chế biến ít gây tác hại đối với môitrường
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn là rất quan trọng nhưng cần lượng vốnlớn Tuỳ theo khả năng của ngân sách, nhà nước đầu tư toàn bộ hoặc nhà nước
và nhân dân cùng làm để xây dựng và hoàn thiện CSHT nông thôn phục vụ sảnxuất, tạo tiền đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Trong quá trình thựchiện cần kiểm tra, giám sát và có những biện pháp nhằm quản lý tốt vốn bỏ ra đểnâng cao hiệu quả vốn đầu tư
Trang 172.2.2 Đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
Nguồn vốn cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp
đa số là vốn của người nông dân có thể là vốn tự có hoặc vốn đi vay từ các kênhtín dụng, vốn của các cơ sở sản xuất kinh doanh chủ yếu để phục vụ trực tiếpvào sản xuất nông nghiệp như các chi phí nhân công, mua giống, vật tự nôngnghiệp
Trong sản xuất thủy sản, nguồn vốn được đầu tư vào mua sắm con giống,thức ăn, trang thiết bị máy móc, tàu thuyền đánh bắt cá, phao cứu hộ, hệ thốngbảo quản cá khi đánh bắt xa bờ
2.2.3 Đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ cho nông nghiệp
Cách mạng khoa học kỹ thuật đã trở thành một yếu tố của lực lượng sảnxuất Tăng trưởng kinh tế và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn và sản xuất nôngnghiệp cũng phải bắt đầu từ khoa học kỹ thuật Đầu tư cho khoa học kỹ thuật làphương hướng đầu tư sớm đem lại hiệu quả nhất cho nông nghiệp Tuy nhiên,yếu tố này còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác như CSHT, trình độ dân trí vàyếu tố thiên nhiên Ảnh hưởng của đầu tư cho tăng trưởng kinh tế trước hết đượcthể hiện ở đầu tư cho KHCN Vì vậy, nâng tỉ trọng đầu tư cho KHCN trong tổng
số vốn đầu tư cho nông nghiệp là một xu hướng phổ biến ở các nước hiện nay,
kể cả các nước đang phát triển
Tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp có nội dung rộng lớn, liênquan đến sự phát triển của tất cả các yếu tố, bộ phận cấu thành lực lượng sản xuấtcủa ngành này Nhìn chung, chính phủ các nước đều quan tâm đến đầu tư chonghiên cứu, triển khai, mời chuyên gia đến trao đổi kinh nghiệm, nhập nội cácgiống tốt và quá trình công nghệ tiên tiến, cử cán bộ đi đào tạo nước ngoài, chiphí tập huấn, chuyển giao công nghệ đến hộ nông dân, đến đồng ruộng, khuyếnnông
Nội dung chủ yếu bao gồm:
- Cơ giới hoá nông nghiệp: là quá trình thay thế công cụ thủ công thô sơbằng công cụ lao động cơ giới, thay thế động lực người, gia súc bằng động lực
Trang 18của máy móc, thay thế phương pháp sản xuất thủ công, lạc hậu bằng phươngpháp sản xuất với kỹ thuật cao.
Để tiến hành cơ giới hoá nông nghiệp cần phải đầu tư mua máy móc, thiết
bị phục vụ sản xuất Tuy nhiên, do đặc điểm sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam làlao động thủ công là chính nên cần đầu tư đào tạo lực lượng lao động nông nghiệp
để họ có khả năng sử dụng máy móc thiết bị, công nghệ trong quá trình sảnxuất
- Điện khí hoá nông nghiệp, nông thôn: là một tiến bộ khoa học công nghệtrong việc sử dụng nguồn điện năng vào các hoạt động sản xuất và phục vụ đờisống nông thôn Tiến hành điện khí hóa nông thôn là bên cạnh các sở điện lực
do trung ưng quản lý, cần đầu tư xây dựng các trạm thuỷ điện vừa và nhỏ kếthợp với nhiệt điện, xây dựng mạng lưới điện nông thôn để phục vụ sản xuất, đờisống sinh hoạt của người dân Cần giáo dục cho mọi người ý thức tiết kiệm điện,nắm bắt được tối thiểu về kỹ thuật điện, sử dụng an toàn điện cho các cơ sở dùngđiện ở nông thôn, đặc biệt là hộ nông dân
- Hoá học hoá nông nghiệp: Là quá trình áp dụng những thành tựu củangành công nghiệp hoá chất phục vụ cho nông nghiệp bao gồm việc sử dụng cácphương tiện hoá học vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời sống ởnông thôn Nội dung của hoá học hoá là: bổ sung, tăng cường cung cấp thức ăncho cây trồng vật nuôi bằng việc sử dụng các loại phân bón hoá học, thức ăn giasúc có bổ xung các nguyên tố vi lượng, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật,thuốc diệt cỏ, trừ dịch bệnh gia súc, gia cầm
- Sinh học hoá nông nghiệp: là quá trình nghiên cứu và áp dụng nhữngthành tựu về khoa học sinh vật và khoa học sinh thái vào nông nghiệp nhằmnâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái Như vậy,cần nghiên cứu, phát hiện và nắm chắc các quy luật phát sinh và phát triển của
cá thể và quần thể để nghiên cứu ra giống vật nuôi cây trồng phù hợp với quyluật và điều kiện tự nhiên của nước ta
Trang 19- Cơ khí đóng sửa tàu thuyền và dịch vụ hậu cần nghề cá: nghiên cứu và ứngdụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất vỏ tàu, máy tàu, ngư cụ, thiết bị thông tin, cáccông cụ, thiết bị phục vụ nuôi trồng chế biến và dịch vụ nghề cá
Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ, chuyên gia giỏi cho lĩnhvực nông nghiệp với đủ ngành nghề, từ kỹ thuật đến quản lí, có chính sáchkhoa học kỹ thuật phù hợp sẽ tạo ra hành lang thu hút các nguồn đầu tư khoa học
kỹ thuật vào nông nghiệp
2.2.4 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp
Đầu tư phát triển giáo dục cho dân cư nông thôn là tiền đề đầu tiên tạo chonông dân khả năng tiếp cận được những thành tựu của các cuộc cách mạng khoahọc – kỹ thuật trong nông nghiệp, từ đó cho phép họ nâng cao trình độ kỹ thuậttăng năng suất lao động Đây là cơ sở để người nông dần làm chủ hoạt động kinhdoanh của mình, chủ dộng lựa chọn các phương án sản xuất tối ưu nhằm đạt hiệuquả cao Vì vậy, việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp có ý nghĩarất to lớn trong phát triển nông nghiệp của địa phương và quốc gia
Đào tạo cán bộ có chuyên môn cao, cán bộ khoa học và cán bộ quản lý, đàotạo lao động nghề cá, đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên đào tạo chongư dân các phương pháp đánh bắt cá an toàn, đào tạo và quản lý tàu thuyền khaithác đánh bắt đăng ký, đăng kiểm tàu thuyền chặt chẽ và toàn diện
Đội ngũ cán bộ quản lý ở địa phương cũng là một bộ phân quan trọng đốivới sự phát triển nông nghiệp, nông thôn, có vai trò quyết định thành bại của sựnghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Thông qua đội ngũnày, các chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước sẽ đến được với người nôngdân
2.2.5 Các hình thức đầu tư khác
Đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến sản phẩm của nông nghiệp như:nhà máy chế biến thủy sản, nhà máy chế biến đường, tinh bột, chè tức là hỗtrợ quá trình tiêu thụ sản phẩm đầu ra của nông nghiệp - đây là hình thức đầu tưgián tiếp vào nông nghiệp Ngoài ra, trợ giúp vốn cho nông dân nghèo là giải
Trang 20pháp tăng nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn Thực tế cho thấy đầu tư cho hộ nghèo là cần thiết để tăng trưởng kinh tế,đảm bảo công bằng xã hội.
Đầu tư vốn của nhà nước để phát triển nông nghiệp và nông thôn được thựchiện qua chính sách thuế sử dụng đất và thuế doanh thu Đối với các nước đangphát triển, nguồn thu ngân sách chủ yếu vẫn dựa vào thuế nông nghiệp Chínhsách giảm hoặc miễn thuế nông nghiệp được coi là một khoản đầu tư cho nôngnghiệp Ngoài ra, nhà nước đầu tư khai hoang và xây dựng cơ sở hạ tầng sau đóchuyển giao cho nông dân nghèo từ nơi khác đến lập nghiệp là chính sách tạo thêmviệc làm, tăng thu nhập cho nông dân nghèo, phân bố lại dân cư và lao động trêncác vùng lãnh thổ làm cho sản xuất phát triển, rút ngắn chênh lệch giữa cácvùng, các hộ nông dân với nhau, sản phẩm xã hội được tạo ra nhiều hơn
2.3 Nguồn vốn đầu tư phát triển nông nghiệp
2.3.1 Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Vấn đề đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn luôn được Nhà nước quantâm Trước hết cần khẳng định rằng vốn đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sáchNhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp
và nông thôn Vốn Nhà nước đầu tư cho nông nghiệp có vai trò to lớn, giúp tăngcường năng lực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Mặt khác, do đặcđiểm của đầu tư trong nông nghiệp là khả năng thu hồi vốn chậm hoặc không cókhả năng thu hồi vốn, rủi ro cao nên không thu hút được các nhà đầu tư vào lĩnhvực này Vốn ngân sách đóng vai trò đi tiên phong, mở đường để thu hút cácnguồn vốn khác thông qua các hình thức: tạo ra CSHT tốt, nâng cao hiệu quả sảnxuất nông nghiệp đồng thời tạo cho các nhà đầu tư có cảm giác yên tâm hơn đầu
tư vào nông nghiệp khi có sự tham gia của Nhà nước Vốn ngân sách Nhà nướcchủ yếu đầu tư cho thuỷ lợi, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, đầu tư vào các côngtrình trồng rừng, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho nông dân
Trang 212.3.2 Vốn đầu tư của các hộ nông dân
Cùng với vốn đầu tư của ngân sách nhà nước, vốn đầu tư của các hộ nôngdân cũng góp phần rất quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.Nguồn vốn này được đầu tư để phát triển sản xuất, mua sắm máy móc thiết bịphục vụ sản xuất nông nghiệp, mua phân bón, giống mới Hiện nay, vốn đầu tưcủa các hộ nông dân được tập trung vào mở rộng quy mô sản xuất hàng hoá theo
mô hình trang trại với số vốn đầu tư tương đối lớn
Tiềm năng của nguồn vốn này là rất to lớn bởi vì nó phụ thuộc lớn vào thunhập của các hộ nông dân Khi năng lực sản xuất tăng, NSLĐ tăng thì thu nhậpcủa hộ nông dân cũng tăng Thu nhập của các hộ nông dân một phần phục vụ đờisống sinh hoạt hàng ngày, một phần tích luỹ Mặt khác, đầu tư của các hộ nôngdân phụ thuộc phần lớn vào tiết kiệm của họ nên khi năng lực sản xuất tăng thìđầu tư của hộ nông dân cũng tăng lên
2.3.3 Vốn đầu tư cho nông nghiệp thông qua hệ thống ngân hàng
Ngoài vốn ngân sách, Nhà nước còn đầu tư cho nông nghiệp và nông thônqua hệ thống ngân hàng như ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn,ngân hàng vì người nghèo, ngân hàng thương mại theo phương thức cho vaykhông lãi hoặc lãi suất ưu đãi để bù giá vật tư nông nghiệp, giá bán nông sảnhàng hoá cho nông dân Các ngân hàng trên cho các hộ nông dân vay với lãi suất
ưu đãi để phát triển sản xuất nông nghiệp, mua phân bón, mua giống, mua máymóc thiết bị phục vụ sản xuất, phục vụ cơ sở hạ tầng nông thôn
Ngoài ra, các ngân hàng này còn cho các doanh nghiệp vay để mua nôngsản của các hộ nông dân với giá trần hợp lý, bù đắp một phần thua thiệt của họkhi giá nông sản trên thị trường xuống quá thấp
Các ngân hàng thương mại cho vay với lãi suất ưu đãi trong các lĩnh vựctrọng điểm hoặc các lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích Chênh lệch giữa lãisuất ưu đãi và lãi suất thông thường của ngân hàng thương mại được ngân sáchNhà nước cấp bù- đó là vốn có nguồn gốc từ ngân sách Hình thức này được ápdụng đối với các chương trình xoá đói giảm nghèo Đây là nguồn vốn đầu tư
Trang 22quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nôngthôn.
2.3.4 Vốn nước ngoài
Đối với các nước đang phát triển, để phát triển kinh tế, thoát khỏi cảnhnghèo thì vấn đề nan giải ngay từ đầu là thiếu vốn gay gắt, từ đó sẽ dẫn đến thiếunhiều thứ khác như công nghệ, cơ sở hạ tầng
Nông nghiệp cũng là ngành nằm trong xu thế đó Để phát triển một nềnnông nghiệp bền vững thì tất yếu phải đầu tư cho nông nghiệp Tuy nhiên, ViệtNam là một nước nghèo, nên vốn đầu tư từ trong nước còn rất hạn chế, khôngđáp ứng đủ nhu cầu đầu tư phát triển đất nước Vì vậy, trên con đường phát triểnkhông thể không huy động nguồn vốn nước ngoài, tranh thủ nguồn vốn này nhất
là trong điều kiện nền kinh tế mở
Nguồn FDI chủ yếu tập trung vào trồng và chế biến cao su, cà phê, chè,mía đường, NTTS, chăn nuôi gia súc, gia cầm theo phương pháp công nghiệp vớimục đích nâng cao năng lực sản xuất và chế biến nông, lâm, thuỷ sản nhằm nângcao chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường quốc tế Nguồn này có ýnghĩa quan trọng, nhờ công nghệ tiên tiến tạo ra nhiều sản phẩm đủ tiêu chuẩnxuất khẩu, hiệu quả kinh tế cao
Ngoài nguồn FDI còn có các nguồn vốn vay, viện trợ, hợp tác khoa học
kỹ thuật của các quốc gia phát triển và các tổ chức quốc tế như UNDP, PAM,FAO, ADB, WB, IMF, UNICEF, OECF đầu tư vào nông nghiệp và phát triểnnông thôn Nguồn này chủ yếu tập trung vào việc nâng cấp cơ sở hạ tầng nôngthôn, nước sạch, vệ sinh môi trường, sức khoẻ cộng đồng đặc biệt là sức khoẻphụ nữ và trẻ em Lợi thế của nguồn vốn này là cho vay với lãi suất thấp ( 0-2%), thời gian trả nợ dài (từ 30- 40 năm)
Đầu tư của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã đóng góptốc độ và quy mô đầu tư cho nông nghiệp và cho nền kinh tế Phương thức đầu tưchủ yếu của các doanh nghiệp là hỗ trợ kỹ thuật, giống cây trồng vật nuôi, ứngtrước vốn cho nông dân mua vật tư, phân bón để đảm bảo sản xuất Ngoài ra các
Trang 23doanh nghiệp còn bao tiêu sản phẩm nông nghiệp cho các hộ nông dân, nhất lànhững sản phẩm nông sản là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Nguồn vốnnày đã góp phần hỗ trợ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, giải quyết phần nàonhu cầu về vốn cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
2.3.5 Vai trò của đầu tư đối với phát triển nông nghiệp
Có thể khẳng định rằng, tất cả các ngành các lĩnh vực muốn có sự tăngtrưởng và phát triển thì cần phải có đầu tư, không có đầu tư thì không có sự pháttriển và ngành nông nghiệp cũng không nằm ngoài qui luật này Chính đầu tư lànhân tố quyết định những sự biến đổi vượt bậc của ngành nông nghiệp Đầu tưchính là đòn bẩy, là động lực cho sự phát triển
Đầu tư trong mối quan hệ với tăng trưởng và phát triển nông nghiệp đã đượcnhiều nhà kinh tế khái quát thành các mô hình phát triển Đại diện là Krishna (1982)lập luận rằng: tỷ lệ đầu tư cần thiết cho nông nghiệp trong tổng đầu tư tính bằngcông thức:
i = Trong đó:
S là tỷ số giữa đầu tư và thu nhập quốc dân
K: tỷ số giữa tiền vốn đầu tư và sản lượng tăng thêm của nông nghiệp
g : là tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp, i: là tỷ số đầu tư cho nôngnghiệp;
R: là phần của nông nghiệp trong GDP
Đầu tư vào nông nghiệp để tăng trưởng và phát triển được thực hiện qua một
số hình thức chủ yếu sau:
Thứ nhất, đầu tư tạo cho nông nghiệp một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại
và có qui hoạch, tập trung Ta biết rằng nông nghiệp chỉ có thể tiến hành sảnxuất có kết quả tốt khi được cung cấp các yếu tố đầu vào đầy đủ như: điện, nước,phân bón, hệ thống nhà kho Muốn có được những yếu tố quan trọng này thìchúng ta phải xây dựng và củng cố các hệ thống trạm bơm, các kênh mương, cácmạng lưới điện, phát triển và nâng cấp hệ thống đường giao thông Khi những hệ
Trang 24thống này hoạt động tốt sẽ rất thuận lợi cho sản xuất Tuy nhiên những cơ sở hạtầng này không tự nhiên có mà cần phải có sự đầu tư tiền và các nguồn lực khác.Việc đầu tư này cần phải được qui hoạch tổng thể, tránh hiện tượng đâu tư dàntrải, không trọng điểm Khi đã có đầu tư và đầu tư hiệu quả thì chúng ta sẽ cómột hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, sẽ giúp cho nông nghiệp có thể tiến hànhnhững phương thức sản xuất mới, có thể tiễn hành thâm canh tăng vụ, ngườinông dân cũng có thể chủ động trong quá trình sản xuất… những thuận lợi này
sẽ làm cho sản lượng ngành nông nghiệp tăng cao và chất lượng nông sản cũngtốt hơn
Thứ hai, trong thế giới hiện nay, một nền nông nghiệp hiện đại, có năng
suất, hiệu quả cao khi nó được cơ giới hoá, công nghiệp hoá một cách cao độ Haynói rõ hơn là sản xuất nông nghiệp được áp dụng máy móc một cách phổ biến vàđại trà trong mọi khâu và mọi lĩnh vực và góp phần giải phóng sức lao động củacon người Nhờ có những chính sách hỗ trợ mà đặc biệt là do có các nguồn đầu tưhữu ích của xã hội mà ngành nông nghiệp có được những loại máy móc hiệnđại, tiên tiến như máy cày máy kéo, máy gặt đập, máy xay xát, các loại xe chuyênchở thay thế cho sức người và súc vật trong quá trình sản xuất Do có những loạimáy móc này mà sản xuất nông nghiệp có thể tiến hành trên diện rộng và hàng loạt,đồng thời làm tăng năng suất cây trồng vật nuôi lên rất nhiều lần so với trước đây.Như vậy đầu tư máy móc thiết bị nông nghiệp là nhân tố thúc đẩy sản suất nôngnghiệp; Vì thế chúng ta nên quan tâm và coi trọng đầu tư cho nông nghiệp mộtcách thoả đáng Ở Việt Nam, ngành nông nghiệp còn sử dụng sức người và súcvật trong khi làm việc là chủ yếu, áp dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệpcòn rất hạn chế và ở qui mô nhỏ Đầu tư mua sắm những phương tiện này là đỏihỏi cấp thiết của nền nông nghiệp Tuy nhiên chúng ta phải căn cứ vào điềukiện cụ thể của từng địa phương, từng lĩnh vực mà mua những máy móc cho thíchhợp nhất
Thứ ba, đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ sẽ góp phần tạo ra cho
nông nghiệp những giống cây trồng vật nuôi mới hiệu quả hơn Mà ta biết giống
Trang 25là một yếu tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển ngành nông nghiệp Mỗingười đều hiểu rằng khoa học công nghệ là động lực cho sự phát triển các ngànhkinh tế và nó vẫn là nhân tố quan trọng cho sự phát triển mạnh sản xuất nôngnghiệp Ngày nay, công nghệ sinh học đang phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị tríngày càng quan trọng trong đời đời sống kinh tế thế giới Công nghệ sinh họcngày càng có những thành công to lớn hơn và là lĩnh vực liên quan khá chặt chẽvới ngành nông nghiệp Một phần công nghệ này sẽ được áp dụng vào sản xuấtnông nghiệp Ở mức độ quốc gia chúng ta cần đầu tư mạnh để phát triển côngnghệ này, đồng thời cần có những chính sách khác để khuyến khích động viênnhững nhà khoa học giỏi nghiên cứu và từ đó áp dụng triệt để những thành quảcủa nó Mặt khác, chúng ta nên xây dựng những trung tâm giống nghiên cứugiống hiện đại với những cán bộ khoa học giỏi về chuyên môn nghiệp vụ đểnghiên cứu ra những giống mới từ kết quả của công nghệ sinh học Vì vậy,chúng ta nên có những chính sách để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nướcđầu tư vào công nghệ này và thành lập những trung tâm nghiên cứu áp dụngnhững kĩ thuật tiên tiến của thế giới và trong nước
Thứ tư, đầu tư là đã góp phần tạo ra cho nông nghiệp một lực lượng lao
động hùng hậu có tay nghề chuyên môn và trình độ kĩ thuất cao Dù máy móc cóhiện đại và phù hợp đến đâu, hay một phương thức sản xuất mới có tiên tiến đếnmấy nhưng nếu lao động trong nông nghiệp không có trình độ để nắm bắt và sửdụng thì những thứ trên đều là vô dụng Nhờ có một khối lượng lớn đầu tư vàolĩnh vực giáo dục đào tạo thông qua việc xây dựng các trung tâm dạy nghề, cácchương trình phổ biến kiến thức nông nghiệp mới cho người nông dân mà họngày càng nắm bắt được những kiến thức mới, thiết thực cho việc sản xuất nôngnghiệp, biết cách thâm canh, biết điều khiển máy móc, Điều này cũng sẽ giúp họhiểu rõ hơn về các đặc tính và quá trình sinh trưởng của từng loại đối tượng sảnxuất để họ có những biện pháp chăm sóc tốt hơn Khi người nông dân có trình độcàng cao sẽ càng thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp trong việc sử dụngnhững kĩ thuật mới và giúp cho ngành này có sự tăng trưởng cao
Trang 262.4 Kết quả và hiệu quả của đầu tư phát triển nông nghiệp
2.4.1 Kết quả đầu tư phát triển nông nghiệp
2.4.1.1 Khối lượng vốn đầu tư thực hiện
Khối lượng vốn đầu tư thực hiện bao gồm tổng số tiền đã chi để tiến hànhcác hoạt động của các công cuộc đầu tư, bao gồm các chi phí cho công tác chuẩn bịđầu tư, xây dựng nhà cửa và các cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị máy móc, để tiếnhành các công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác theo quy định của thiết kế dựtoán và được ghi trong dự án đầu tư được duyệt
2.4.1.2 Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
- Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượngxây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặctiến hành các hoạt động dịch vụ cho xã hội đã được ghi trong dự toán đầu tư) đã kếtthúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thểđưa vào hoạt động được ngay
- Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuấtphục vụ các tài sản cố định đã được huy động và sử dụng để sản xuất ra sản phẩmhoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ theo quy định được ghi trong dự án đầu tư
2.4.2 Hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển nông nghiệp
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kếtquả kinh tế - xã hội đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để cócác kết quả đó trong một thời ký nhất định
Hiệu quả kinh tế được thể hiện thông qua hiệu quả sử dụng các yếu tố đầuvào của tăng trưởng như vốn (hiệu quả đầu tư), lao động (năng suất lao động), trình
độ khoa học-công nghệ (đóng góp của TFP vào tăng trưởng) và tỷ lệ chi phí trunggian trong sản xuất
Hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích mà nềnkinh tế xã hội thu được so với cấc đóng góp mà nền kinh tế xã hội phải bỏ ra khithực hiện đầu tư
Trang 27Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của đầu tư đối vớiviệc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế Những sự đáp ứngnày có thể được xem xét mang tính chất định tính như đáp ứng các mục tiêu pháttriển kinh tế, phục vụ việc thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước, gópphần chống ô nhiễm môi trường, cải tạo môi sinh , hoặc đo lường bằng các tínhtoán định lượng như mức tăng thu cho ngân sách, mức gia tăng số người có việclàm, mức tăng thu ngoại tệ.
Chi phí mà xã hội gánh chịu khi một công cuộc đầu tư được thực hiện baogồm toàn bộ các tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất sức lao động mà xã hộidành cho đầu tư thay vì sử dụng các công việc khác trong tương lai không xa
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội
* Các tiêu chuẩn đánh giá
Để xác định các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội, phải dựa vào cáctiêu chuẩn sau:
- Tổng sản phẩm trong khu vực nông nghiệp của tỉnh Nghệ An (GDP): là chỉtiêu kinh tế tổng hợp quan trọng trong hệ thống chỉ tiêu quốc gia, phản ánh toàn bộkết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định(thường là 1 năm) đó là giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
- Nâng cao mức sống của dân cư được thể hiện gián tiếp qua các số liệu cụthể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng tích luỹ vốn, mức gia tăngđầu tư, tốc độ phát triển tốc độ tăng trưởng
- Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của công cuộc đầu tư vàoviệc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển, nâng cao đời sống các tầng lớp dâncư
- Gia tăng số lao động có việc làm
- Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ
- Các mục tiêu kế hoạch kinh tế quốc dân khác như:
+ Tận dụng hay khai thác tài nguyên chưa được quan tâm hay mới phát hiện
Trang 28+ Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản ứng dâychuyền thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác.
+ Phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương nghèo, các vùng xa xôi dân cưthưa thớt nhưng có nhiều triển vọng về tài nguyên để phát triển kinh tế
* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế- xã hội của đầu tư ở tầm vĩ mô
- Chỉ tiêu tỷ lệ GO/GDP: nếu chỉ tiêu này cao điều đó thể hiện giá trị trunggian là nhỏ và giá trị gia tăng càng lớn (vì GDP= GOi - ICi) Tức là hiệu quảthực sự của vốn đầu tư đem lại càng cao
- Chỉ tiêu ∆GDP/K: phản ánh một đồng vốn đầu tư sẽ tạo ra bảo nhiêu đồngGDP
- Chỉ tiêu ∆L/K: phản ánh số lao động tăng thêm trên một đơn vị vốn đầu tư
- Ngoài ra, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau để phân tích hiệu quả của các hoạtđộng đầu tư phát triển nông nghiệp
+ Chỉ tiêu mức giá trị gia tăng của mỗi nhóm dân cư (những người làm công
ăn lương, những người có vốn hưởng lợi tức, nhà nước thu thuế ) hoặc vùng lãnhthổ
+ Chỉ tiêu tăng nguồn ngoại tệ cho kinh tế tỉnh Nghệ An: chỉ tiêu này chobiết mức độ đóng góp của ngành vào cán cân thanh toán kinh tế địa phương
- Các chỉ tiêu khả năng cạnh tranh quốc tế: Chỉ tiêu này cho phép đánh giákhả năng cạnh tranh của sản phẩm do dự án sản xuất ra trên thị trường quốc tế
2.5 Các nhân tố ảnh hướng đến đầu tư phát triển nông nghiệp
2.5.1 Điều kiện tự nhiên
Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất có những nét đặc thù, là ngành gắn với đốitượng là sinh vật (cây trồng và vật nuôi), bị chi phối bởi quy luật sinh học, điều kiệnngoại cảnh (đất đai, thời tiết, khí hậu) Chính vì vậy, sự sản xuất nông nghiệp pháttriển trước hết phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên Mỗi một loại cây trồng, vậtnuôi phù hợp với từng điều kiện tự nhiên nhất định Nắm bắt được vấn đề này đểngười nông dân lựa chọn loại cây trồng, vật nuôi thích hợp với điều kiện tự nhiênnơi mình sản xuất
Trang 292.5.2 Nhân tố thị trường
Thị trường là một yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơcấu kinh tế ở nông thôn Bởi vì, thị trường là đầu ra và cũng là đầu vào của quátrình sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, thị trường còn có chức năng hướng dẫnngười sản xuất thông qua hệ thống thông tin, quảng cáo về nhu cầu người tiêu dùngđối với các mặt hàng nông sản, giá cả và khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường-từ đó khuyến khích người lao động nông nghiệp sản xuất ra nhiều nông sản hànghoá với chất lượng ngày càng tốt hơn, chủng loại ngày càng phong phú hơn Một thịtrường thông thoáng thì sản xuất ngày càng có điều kiện phát triển nhanh
2.5.3 Vốn và sử dụng vốn
Vốn là điều kiện cần thiết và không thể thiếu được để thực hiện quá trình sảnxuất nông nghiệp Do đặc điểm đặc thù của ngành (là ngành sản xuất sinh học, phụthuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên), vốn có vai trò hết sức quan trọng Tuy nhiên,
để đầu tư vốn cho nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao thì phải nắm chắc các đặcđiểm hoạt động của vốn, các hình thức đầu tư vốn cho nông nghiệp Cũng giốngnhư vai trò hoạt động của vốn, đặc điểm hoạt động của vốn và các hình thức đầu tưvốn chịu sự chi phối rất lớn bởi các đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và kinh tếnông thôn
Vốn đầu tư, cùng với lao động và đất đai là một những yếu tố đầu vào cơ bảncủa mọi quá trình sản xuất Mặc dù lý thuyết kinh tế hiện đại ngày nay đề cập vốnđầu tư theo quan điểm rộng hơn, đầy đủ hơn, bao gồm cả đầu tư để nâng cao trithức, thậm trí bao gồm cả đầu tư để tạo ra nền tảng, tiêu chuẩn đạo đức xã hội, môitrường kinh doanh (nguồn vốn xã hội) cũng là những đầu tư quan trọng của quátrình sản xuất Tuy nhiên, việc mở rộng khái niệm vốn đầu tư theo quan điểm nàykhông có ý nghĩa nhiều trong phân tích kinh tế và thực tiễn thống kê ở nước ta Vốnđầu tư, được xem xét ở đây chỉ với tư cách là nguồn lực vật chất được sử dụng có ýthức nhằm tạo dựng tài sản (hữu hình và vô hình) để nâng cao và mở rộng sản xuất,thông qua việc xây dựng, mua sắm thiết bị, máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu
Trang 30cho sản xuất, nghiên cứu, triển khai và tiếp thu công nghệ mới và nâng cao đời sốngngười dân.
Ngay cả với khái niệm khá cụ thể và rõ ràng như vậy, thì nội dung của vốnđầu tư phát triển cũng có khá nhiều điểm cần phải lưu ý:
- Ở phạm vi doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh hộ gia đình, vốn đầu tưbao gồm giá trị mua sắm máy móc, nhà xưởng, tài sản lưu động và chi phí khác chomục đích sản xuất của chính đơn vị cơ sở đó
- Vốn đầu tư của nhà nước bao gồm cả những chỉ tiêu công cộng cho hạ tầng kĩthuật như cầu cống, đường xá, đê điều, các công trình phúc lợi như trường học, bệnhviện Mặc dù nó không tạo ra lợi nhuận hay mở rộng năng lực sản xuất cho cụ thể mộtngành hay lĩnh vực nào, song hiển nhiên đây cũng là nguồn lực được sử dụng để nângcao năng lực của cả nền kinh tế, hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh, thúc đẩy đầu tư
ở doanh nghiệp và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân
- Ở phạm vi toàn quốc, vốn đầu tư phát triển không đơn thuần là phép cộngvốn đầu tư của các doanh nghiệp và vốn đầu tư nhà nước Phần chuyển nhượng vốn,tài sản giữa các doanh nghiệp đương nhiên phải loại trừ vì nó không làm tăng nănglực sản xuất của quốc gia (mặc dù nó có thể làm cho các nguồn lực này hoạt độnghiệu quả hơn)
- Vốn đầu tư phát triển còn bao gồm cả những nguồn lực cho khoa học côngnghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nghiêncứu - điều này phù hợp với nội dung và ý nghĩa của chỉ tiêu này Tuy nhiên, việcnghiên cứu và triển khai, đào tạo cán bộ trong xã hội hiện nay có mặt ở hầu hết cácngành, các cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh Bên cạnh những trung tâm, đơn vịlớn có ngân sách riêng, còn rất nhiều cơ quan đơn vị khác phần ngân sách này làmột bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động thườngxuyên Vì vậy rất khó có thể thu thập thông tin đầy đủ
Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nôngnghiệp nói riêng Vốn sản xuất vận động không ngừng: từ phạm vi sản xuất đếnphạm vi lưu thông và trở về sản xuất Vốn trong nông nghiệp là biểu hiện bằng
Trang 31tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nôngnghiệp Để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, nhằm bảo đảm an ninhlương thực quốc gia, tăng nông sản xuất khẩu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nôngthôn, đa dạng hoá nông nghiệp thì vấn đề đầu tiên, mang tính chất quyết định làvốn.
2.5.4 Áp dụng rộng rãi tiến bộ Khoa học kỹ thuật
Những kết quả của cuộc cách mạng Khoa học kỹ thuật mang lại nhằm thúcđẩy sự phát triển nhanh chóng của cơ sở vật chất kỹ thuật Chính vì vậy, việc ápdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa rất to lớn:
- Nó quyết định trực tiếp sự nhảy vọt về năng suất cây trồng, năng suất sảnphẩm gia súc, năng suất ruộng đất và năng suất lao động nông nghiệp
- Nó thúc đẩy quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất.Trên cơ sở đó, sự hiệp tác lao động, sự kết hợp xã hội trong quá trình lao động sảnxuất cũng như quá trình trao đổi được diễn ra với quy mô ngày càng to lớn hơn Đó
là cơ sở khách quan đòi hỏi không ngừng xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuấtvới quy mô và phạm vi rộng lớn hơn và hình thức quản lý phức tạp hơn
- Nó cải tạo triệt để tâm lý và tập quán sản xuất của nông dân
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vẫn diễn ra nhanh chóng trênthế giới Vì vậy, để đưa nền nông nghiệp đất nước phát triển bắt kịp với nhịp độtăng trưởng của thế giới đòi hỏi phải áp dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ thuật
2.5.5 Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có một vai trò vô cùng
to lớn với chức năng điều tiết của việc quản lý Nhà nước đối với nông nghiệp, thúcđẩy hữu hiệu nền nông nghiệp hàng hoá nhiều thành phần phát triển theo đúng địnhhướng Bất kỳ một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá nào cũng lấy thị trường làmchỗ dựa Việc kinh doanh nông nghiệp chịu sự tác động của các quy luật của thịtrường cả về mặt tích cực cũng như tiêu cực Các chính sách kinh tế có khả nănghạn chế mặt tiêu cực của thị trường bằng cách kích thích những người kinh doanhnông nghiệp hoạt động theo hướng đã đề ra không những vì lợi ích của toàn bộ nền
Trang 32kinh tế quốc đân mà còn vì lợi ích thiết thân đối với họ Vì vậy, Nhà nước phải thựchiện hàng loạt chính sách kinh tế để thực thi có hiệu quả việc quản lý Nhà nước đốivới nông nghiệp Đó là điều vô cùng quan trọng không thể thiếu được đối với bất kỳchế độ xã hội nào.
2.6 Kinh nghiệm một số nước về đầu tư cho nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất giữ vị trí hết sức quan trọngtrong nền kinh tế quốc dân của mọi quốc gia trên thế giới bất kể nước đó thuộcnước phát triển hay kém phát triển Chính vì vậy, để đưa đất nước phát triển mộtcách vững chắc thì cần phải đầu tư vào nông nghiệp Kinh nghiệm một số nước trênthế giới cho thấy, mặc dù phương thức đầu tư vào nông nghiệp rất đa dạng song để
có được thành công trong sự nghiệp phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nóiriêng thì sự điều chỉnh chính sách đầu tư cho nông nghiệp đặc biệt quan trọng
Ở Inđonesia, trừ một khối lượng nhỏ phần tổng hợp còn tất cả phân hoá họcđều được lưu thông qua tổ chức kinh doanh độc quyền Nhà nước (gọi là Pusri-thành lập năm 1979) Pusri nhận phân bón từ các nhà máy sản xuất trong nước cũngnhư nhập khẩu, sau chuyển về tỉnh bán và bán cho các nhà buôn việc điều hoàlương thực ở Inđonesia được giao cho cơ quan hậu cần lương thực (được gọi làBulog) Bulog được giao nhiệm vụ ổn định giá cả, bảo vệ lợi ích của nông dân vàngười tiêu dùng Bulog quy định giá sàn và giá trần thống nhất trên phạm vi cả nướctheo hướng khuyến khích lúa gạo để đảm bảo an toàn lương thực quốc gia Phần lỗcủa các Bulog do Nhà nước bù, trích từ ngân sách đầu tư cho nông nghiệp Bêncạnh đó, ở Inđônêsia còn quan tâm đến đầu tư cho nghiên cứu, triển khai mờichuyên gia đến trao đổi kinh nghiệm, nhập nội các giống tốt và công nghệ tiên tiến,hình thành ban khuyến nông -năm 1988 có 20.000 cán bộ khuyến nông và cứ 817
hộ thì có 1 cán bộ khuyến nông, các khoản chi cho công tác khuyến nông chiếm21% tổng ngân sách chi hàng năm của Bộ Nông nghiệp
Ở Thái Lan, để khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, Chínhphủ rất quan tâm đến bù giá vật tư nông nghiệp Mỗi năm, nước này sử dụngkhoảng 2,1 triệu tấn phân hoá học trong sản xuất nông nghiệp, trong đó 27% qua
Trang 33khu vực công cộng, 73% qua kênh tư nhân Hiện nay, tất cả các mặt hàng do nôngdân sản xuất ra đều được miễn thuế Chủ trương này nhằm tạo điều kiện nâng caomức sống của nông dân, hạn chế dòng người đang bỏ nông thôn ra thành thị Ngayđối với xuất khẩu gạo cũng không phải chịu thuế xuất khẩu nhằm tạo cho gạo TháiLan có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới (Thái Lan hiện là nước đứng đầu vềxuất khẩu gạo) ngoài ra, hàng năm Vụ khuyến nông thuộc Bộ nông nghiệp sử dụng1.358 triệu bạt (54 triệu USD) cho công tác khuyến nông.
Trung Quốc là nước nông nghiệp lớn, sau thời kỳ "Cách mạng văn hoá",
"công xã nhân dân" nước này bước vào thời kỳ cải cách và mở cửa Một trongnhững thành tựu đáng ghi nhận của Trung Quốc là phát triển công nghiệp hươngtrấn, thực hiện "Li nông bất ly hương", chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đótăng trưởng kinh tế với tốc độ cao Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra chính sách đầu
tư rất hợp lý, một mặt tăng đầu tư cho công nghiệp nông thôn, mặt khác tăng vốnđầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra những tiền đề vật chất cho việc tăngtrưởng Ngoài nguồn vốn trong nước, Nhà nước Trung Quốc còn dành các nguồnvốn vay nước ngoài để đầu tư cho nông nghiệp Tính từ năm 1980 đến 1986 số vốnnày đã lên tới 164 triệu USD Từ năm 1989, Trung Quốc dành 1/4 số tiền của Ngânhàng Thế giới cho vay để đầu tư cho nông nghiệp, trước hết là để xây dựng côngtrình thuỷ lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn,nghiên cứu và ứng dụng giống cây, con mới vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông
Ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ như Canađa,Mỹ, Pháp, Phần Lan, CHLBĐức tuy nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ trong GDP nhưng vẫn được quan tâm đầu
tư thoả đáng về vốn và kỹ thuật
Chính phủ Mĩ đặc biệt quan tâm đầu tư cho nông nghiệp qua việc nghiên cứu
và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Trong năm 1984, Chính phủ
Mĩ đã đầu tư 40,5 triệu USD cho lĩnh vực này Tính từ năm 1966 đến năm 1985,đầu tư cho khoa học kỹ thuật nông nghiệp tăng từ 560 triệu USD lên 2.248 triệuUSD và đó chính là điều kiện vật chất để đưa năng suất lao động nông nghiệp nướcnày đứng hàng đầu thế giới trong nhiều năm Hiện nay, một lao động nông nghiệp ở
Mĩ sản xuất đủ lương thực, thực phẩm nuôi sống trên 60 người trong năm
Trang 34CHƯƠNG III THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An ảnh hưởng đến đầu tư phát triển nông nghiệp
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Nghệ An là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ; cách Thủ đô Hà Nội 300km vềphía nam; phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp nước CHDCND Lào (có biêngiới dài 419,5km), phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa Toàntỉnh có 1.648.729 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó diện tích đất nông nghiệp là195.944 ha, chiếm 11,88%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 685.504 ha, chiếm41,57%; diện tích đất chuyên dùng là 59.221 ha, chiếm 3,59%; diện tích đất ở là14.893 ha, chiếm 0,90%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối là 693.166 ha,chiếm 42,04%
Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 142.333 ha,chiếm 72,63%, đất gieo trồng được 2 vụ lúa nước chiếm 22,4%; diện tích đất trồngcây lâu năm là 12.401ha, chiếm 6,32%
Diện tích đất trống đồi núi trọc cần phủ xanh là 240.000 ha, chiếm 14,5%;diện tích đất có mặt nước chưa sử dụng là 4.634 ha
Tính đến năm 2010, tỉnh Nghệ An có 856.557 ha rừng; Trong đó, diện tíchrừng tự nhiên là 436.057 ha, diện tích rừng trồng là 120.500 ha Độ che phủ rừngđạt 53% Tổng trữ lượng gỗ tính đến năm 2010, toàn tỉnh có trên 55 triệu m3 gồmnhiều loại gỗ quý như pơmu, samu, lim, sấu, đinh hương, sến, ngoài ra còn cóhàng tỷ cây tre, nứa, mét, và có 226 loài dược liệu quý
Toàn tỉnh có 82km bờ biển với trên 267 loài cá sinh sống trong đó có trên
62 loài kinh tế cao Trữ lượng toàn bộ khoảng 83.000 tấn, trong đó cá xa bờkhoảng 50.000 tấn; một số loại cá có giá trị kinh tế cao như cá chim, cá thu, cáhồng
Dân số toàn tỉnh hơn 3,3 triệu người; mật độ dân số khoảng 190 người/km2.Trong đó dân số ở nông thôn 2,56 triệu người, chiếm 80% Toàn tỉnh có 20 huyện,
Trang 35thành phố, thị xã, với 478 xã, phường, thị trấn; gồm 11 huyện, thị miền núi; trong
đó có 3 huyện thuộc diện các huyện nghèo trong nước (huyện Kỳ Sơn, TươngDương và Quế Phong) Nhìn tổng thể chung Nghệ An có thể phân thành 3 vùng,mỗi vùng đều có những đặc thù và thế mạnh riêng cho phát triển sản xuất nông,lâm, thủy sản cụ thể:
- Vùng núi cao có 5 huyện: Quỳ Châu, Quế Phong, Con Cuông, TươngDương và Kỳ Sơn
- Vùng núi thấp, bán sơn địa có 5 huyện: Anh Sơn, Thanh Chương, Tân Kỳ,Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp và thị xã Thái Hòa
- Vùng đồng bằng và ven biển có 7 huyện: Yên Thành, Quỳnh Lưu, DiễnChâu, Nghi Lộc, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, thành phố Vinh và thị xãCửa Lò
Nghệ An là tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, địa hình dốc từ tây sang đông;đất nông nghiệp không tập trung và ít màu mỡ Điều kiện khí hậu thời tiết khắcnghiệt, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của giómùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh,
ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau), nhiệt độ trung bình 24,20C Tổng lượngmưa trong năm là 1.610,9 mm Độ ẩm trung bình hàng năm 84% Tổng số giờ nắngtrong năm khoảng 1.460 giờ Do bị ảnh hưởng của gió tây khô nóng nên thường xảy
ra hạn hán gay gắt; mùa mưa ngắn, từ tháng 9 đến tháng 10, trong thời gian nàythường xuất hiện bão, lũ nên gây ra ngập lụt, làm thiệt hại về kinh tế và các côngtrình cơ sở hạ tầng, nhất là các công trình thủy lợi, giao thông Những điều kiện nêutrên đã ảnh hưởng trực tiếp và gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp và dân sinhtrong tỉnh
3.1.2 Tình hình phát triển kinh tế- xã hội Nghệ An giai đoạn 2006-2010
Trong 5 năm từ 2006 đến 2010, kinh tế tỉnh Nghệ An duy trì tốc độ tăngtrưởng khá và chuyển dịch đúng hướng, sản xuất kinh doanh trong các ngành lĩnhvực tiếp tục phát triển Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt 9,54%, GDPbình quân đầu người đạt 13,85 triệu đồng/năm
Trang 36Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực Trong 2 năm
2006-2007, kinh tế tăng trưởng khá cao xấp xỉ 10,5% Từ đầu năm 2008, chịu ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp vàgây hậu quả nặng nề, song tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Nghệ An vẫn đạt9,75% GDP bình quân đầu người đạt gần 14 triệu đồng/năm, tăng hơn 2,5 lần sovới năm 2005, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọngngành Nông – Lâm - Ngư nghiệp giảm từ 34,41% năm 2005 xuống còn 28,8% năm
2010, tỷ trọng Công nghiệp – Xây dựng từ 29,3% lên 33,47%, tỷ trọng ngành dịch
vụ tăng từ 36,29% lên 37,66%
Năm 2010 là năm cuối của thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 – 2010, là năm có nhiều khó khăn do tình hình tế thế giới và trongnước chưa thực sự thoát khỏi khủng khoảng, thiên tai xảy ra liên tiếp, dịch bệnhbùng phát và lây lan trên diện rộng cả ở cây trồng và vật nuôi… Mức tăng trưởngGDP của tỉnh đến tháng 8/2010 đạt 9,58% (cùng kỳ 2009 chỉ đạt 5,72%) Tốc độtăng trưởng GTSX chung đạt 10,95% Trong đó lĩnh vực nông nghiệp tăng 5,38%;Công nghiệp - Xây dựng tăng 13,7% ; Dịch vụ tăng 11,56 %; Kim ngạch xuất khẩuđạt 184,5 triệu USD, tăng 48,75% so cùng kỳ, trong đó, kim ngạch xuất khẩu hànghoá đạt 91.358 triệu USD, tăng 45,78% so cùng kỳ Kim ngạch nhập khẩu đạt 107triệu USD, tăng 43,78% so cùng kỳ Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu ô tô các loại, máymóc, thiết bị, phụ tùng, thức ăn gia súc… Đơn giá hàng hoá nhập khẩu tăng là mộttrong những nguyên nhân chủ yếu đẩy kim ngạch nhập khẩu tăng cao
Nghệ An đó thu hút 224 dự án, tổng vốn đăng ký là 51,7 nghìn tỷ đồng.Ngoài dự án dự án bò sữa với số vốn đầu tư là 6.300 tỷ chiếm khoảng 1/8 số vốn cảnhiệm kỳ, còn có 1 số dự án lớn khác: thủy điện, nhà máy bia Sài Gòn, bia Hà Nội
Năm 2010, Các Khu kinh tế và Khu công nghiệp trên địa bàn Nghệ An thuhút được 25 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 12.351 tỷ đồng và 1.005 TriệuUSD, đặc biệt là năm thu hút được các dự án có quy mô lớn, dự án kinh doanh hạtầng như dự án sắt xốp Kobe – Nhật Bản (1 tỷ USD), dự án kinh doanh hạ tầngKCN Đông Hồi (5.562 tỷ đồng), dự án xây dựng và kinh doanh cảng nước sâu Cửa
Trang 37Lò (3.300 tỷ đồng); Tổ chức lập 12 dự án đầu tư hạ tầng trong KKT và tiếp tục triểnkhai các dự án đường N2, N5, D4, tổng khối lượng thực hiện đến nay đạt 172 tỷđồng; Công tác quản lý nhà nước về lao động, môi trường tiếp tục được đẩy mạnh.Năm 2010, cũng là năm ghi nhận sự đóng góp rất lớn của các doanh nghiệp, nhàđầu tư hoạt động trong KKT Đông Nam và các KCN vào sự phát triển kinh tế xãhội tỉnh nhà như: Giá trị sản xuất công nghiệp đạt: 2.122,8 tỷ đồng, tăng 79% so vớinăm 2009; Doanh thu đạt trên 2.502,6 tỷ đồng, tăng 90% so với năm 2009; Nộpngân sách nhà nước đạt 223,9 tỷ đồng, tăng 3,3 lần so với năm 2009; Tạo việc làmcho trên 6.000 lao động, với thu nhập bình quân 2,3 triệu đồng/người/tháng Đây làmột trong những thành tích nổi bật của Nghệ An trong thu hút đầu tư để tạo độnglực phát triển kinh tế xã hội trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
3.2 Thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 –
Đối với chính sách đất đai, Nhà nước đẩy nhanh tiến độ giao đất, cho thuêđất, cấp giấy chứng nhận để các chủ trang trại yên tâm sản xuất; ưu tiên cho thuêđất đối với đất chưa giao, chưa cho thuê ở địa phương để phát trển trang trại,khuyến khích khai hoang, phục hóa để phát triển mở rộng trang trại Nghị định số181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai (năm 2003) đã đưa raloại đất nông nghiệp khác bao gồm các loại đất phi nông nghiệp sử dụng để phục vụsản xuất nông nghiệp được hưởng các chế độ sử dụng đất như đối với đất sản xuấtnông nghiệp Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 lại quy định cụ thể hơn
là khi chuyển mục đích sử dụng từ đất sản xuất nông nghiệp (trừ đất chuyên trồnglúa nước), đất rừng sản xuất sang làm đất nông nghiệp khác thì không phải nộp tiền
Trang 38sử dụng đất Hơn nữa, các trang trại chăn nuôi tập trung, NTTS được hưởng chế độ
ưu đãi về sử dụng đất như đối với các khu công nghiệp Đây là một chính sách rấtquan trọng để tạo điều kiện cho các chủ trang trại tổ chức sản xuất kết hợp giữanông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ Chính phủ đã quyết định miễn,giảm thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo quy định hiện hành;miễn, giảm tiền thuê đất đối với đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừngsản xuất, trồng cây lâu năm và diện tích ở các vùng nước tự nhiên chưa có đầu tưcải tạo để sử dụng vào mục đích sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
Đất đai có được trong quá trình đổi mới chính sách đã trở thành vốn ban đầu
để người nông dân thoát nghèo, ngoài sản xuất nông nghiệp, nông dân còn có thểtăng thêm thu nhập vào tài sản bằng các phương thức cho thuê, chuyển nhượng, kếthừa và thế chấp đất Địa vị kinh tế xã hội, phương thức sản xuất, sinh hoạt, thậmchí cả cách tư duy của nông dân từ đó đã có những thay đổi to lớn Chính sách đấtđai đã thúc đẩy chuyển đổi yếu tố sản xuất nông nghiệp Việc cho phép giao dịchđất đai đã khiến thị trường này ra đời và trở nên sôi động, có ảnh hưởng sâu sắc đốivới việc phát triển kinh tế thị trường và tiến trình đô thị hóa Chuyển nhượng quyền
sử dụng đất đã thúc đẩy chuyển dịch sức lao động ở nông thôn, một số nông dân saukhi chuyển nhượng hoặc cho thuê đất đã chuyển sang làm trong ngành nghề thứ haihoặc thứ ba, ngành công nghiệp xây dựng hoặc dịch vụ thúc đẩy kinh tế nông thônphát triển đa dạng Ngoài ra còn có rất nhiều nông dân tới các thành phố tìm việclàm, cung cấp sức lao động dồi dào cho tiến trình công nghiệp hóa nông nghiệp –nông thôn
3.2.1.2 Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đang là một điểm sánggóp phần đắc lực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông
thôn Thông qua các cơ cấu tài chính ở nông thôn cung cấp cho nông dân những
khoản vay ưu đãi là biện pháp quan trọng để Nghệ An thực hiện kế hoạch xóa đóigiảm nghèo Vốn vay ưu đãi từ ngân hàng chủ yếu là các khoản tiền nhỏ, dưới 10triệu đồng thì không cần thế chấp; nếu cần xin vay khoản lớn hơn, có thể thế chấp
Trang 39bằng giấy chứng nhận quyền sở hữu đất Thế chấp đất trở thành nguồn đảm bảoquan trọng khiến thị trường tín dụng ở nông thôn phát triển tương đối mạnh, đãđóng vai trò quan trọng trong việc nâng đỡ người nghèo và phát triển nông thôn.
Ngày 12/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, mức vay đã được nâng lên (tối
đa là 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp).
Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn là một hệ thống cácbiện pháp, chính sách của Nhà nước nhằm khuyến khích các TCTD cho vay, đầu tưvào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nôngnghiệp, nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo và từng bước nângcao đời sống của nhân dân
Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách xã hội được xem
là chủ lực trong lĩnh vực tín dụng nông nghiệp, nông thôn tại Nghệ An Tính đếnnăm 2010, Agribank Nghệ An đã thực hiện cho vay vốn đầu tư các dự án, cũng nhưđầu tư cho nông nghiệp, nông thôn với mức tăng trưởng khá, tổng nguồn vốn củangân hàng lên tới gần 7.294 tỷ đồng, tổng dư nợ khoảng 5.934 tỷ đồng, riêng chovay phục vụ nông nghiệp, nông thôn chiếm tới 80% tổng dư nợ Trong đó, có nhiều
dự án lớn như cho hàng chục ngàn nông dân vay vốn phục vụ vùng vành đai nguyênliệu của Nhà máy Đường sông Con (Tân Kỳ) và Nhà máy Đường Tate & Lyle (QuỳHợp), cho vay xuất khẩu lao động Ngoài ra, còn đầu tư vốn cho những dự án lớnnhư Thủy điện Bản Vẻ, Dự án đường tránh Vinh
Ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh tại Nghệ An đã tích cực huy độngcác nguồn lực tài chính để cho vay, với số vốn đạt gần 3.900 tỷ đồng, tổng dư nợđạt trên 3.800 tỷ đồng, tăng so với đầu năm trên 770 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt
tỷ lệ 25% Vốn vay trên đã giúp cho trên 300.000 hộ gia đình chính sách có vốn sảnxuất, tăng thu nhập Các chương trình tín dụng mà ngân hàng chính sách xã hộiđang triển khai đều đạt kết quả tốt và duy trì mức tăng trưởng khá Trong đó phải kểđến chương trình cho vay đối với các hộ nghèo, sinh viên học sinh và chương trìnhvay giải quyết việc làm, các đối tượng chính sách xã hội đi xuất khẩu lao động…
Trang 40Hiện nay, chi nhánh Nghệ An đang đầu tư cho 44 dự án XĐGN bền vững, trong đó
có nhiều dự án phát huy hiệu quả như dự án tại xã Nghĩa Mai (Nghĩa Đàn), NgọcSơn (Thanh Chương), Hưng Trung (Hưng Nguyên), Đoàn Thanh niên tại NghĩaĐàn, Anh Sơn, Yên Thành và Quỳnh Lưu Mục tiêu mà ngân hàng chính sách xãhội đưa ra trong những năm tới đó là tập trung khai thác tốt các nguồn vốn để chocác đối tượng vay các chương trình tín dụng, đạt mức tăng trưởng tín dụng 18%,chủ yếu 3 chương tình: cho vay học sinh sinh viên, cho vay hộ nghèo và cho vaylàm nhà, tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn dưới 1%
Thông qua nguồn vốn cho vay của ngân hàng, các doanh nghiệp, hộ kinhdoanh, nông dân đã có điều kiện thuận lợi về vốn, đầu tư kịp thời và hiệu quả trongsản xuất kinh doanh Chương trình vốn cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn
đã giúp nông dân mua giống cây trồng, vật nuôi, trang thiết bị máy móc để phục vụsản xuất, giải quyết thêm việc làm cho người lao động, tạo nguồn thu nhập ổn định.Nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng ở Nghệ An đã thực sự góp phần quantrọng vào công cuộc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo tại địa phương Riêngthực hiện cho vay phục vụ nông nghiệp, nông thôn đã tạo đòn bẩy cho quá trìnhchuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất, sản lượng và chất lượng hànghóa nông sản Qua đó, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
3.2.1.3 Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm
Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Thủ tướngChính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông lâm thủy sản thông qua hợpđồng đã mở ra hướng đi tích cực giúp cho sản xuất nông nghiệp gắn với chế biến,tiêu thụ, thu hút nhiều doanh nghiệp và nông dân tham gia Thông qua hợp đồngtiêu thụ nông lâm thủy sản, bước đầu đã gắn trách nhiệm các doanh nghiệp vớingười sản xuất; nông dân ngư dân có điều kiện tiếp nhận hỗ trợ về đầu tư, các biệnpháp kỹ thuật, giá cả hợp lý, phấn khởi, yên tâm sản xuất, thu nhập từng bước đượcnâng cao; doanh nghiệp đã chủ động được nguyên liệu mở rộng quy mô sản xuất,tăng cường năng lực cạnh tranh Ở nhiều địa phương, một số ngành hàng đã hình