1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại NH TMCP Tiên Phong

100 552 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại NH TMCP Tiên Phong
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các hoạt động kinh doanh của các NHTM nói chung và NHTM Việt Nam nói riêng thì hoạt đông tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập chính cho các NHTMCP. Tuy nhiên đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro và hậu quả của nó làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng, làm giảm khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng Bên cạnh tình hình tài chính kinh tế thế giới và trong nước đang diễn biến phức tạp, tình trạng suy thoái đang diễn ra trong những năm gần đây gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của của các ngân hàng. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng càng trở nên khó khăn, và khốc liệt hơn bao giờ hết và yêu cầu đặt ra đối với các ngân hàng là phải đảm bảo hoạt động kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả nhất. Cơ chế kiểm soát được ví như “thần kinh trung ương” của một NHTM. Kiểm soát nội bộ (KSNB) là một phương sách quan trọng trong quá trình quản lý và điều hành hoạt động điều hành quản lý kinh doanh của một doanh nghiệp nói chung và của Ngân hàng nói riêng. KSNB có thể giúp cho việc phát hiện ra những điểm chưa đúng, chưa hợp lý và hạn chế rủi ro rất hiệu quả, mang lại những an toàn và phòng ngừa được những rủi ro trong hoạt động tín dụng Tại ngân hàng TMCP Tien Phong, hoạt động tín dụng vẫn mang lại doanh thu và lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Do đó kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng đặc biệt được chú trọng nhằm giúp Ban lãnh đạo ngân hàng nắm bắt được tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng, những rủi ro tiềm ẩn và có biện pháp phòng ngừa tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, trải qua quá trình học tập, nghiên cứu, tôi đã lựa chon đề tài cho luận văn của mình “Nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại NH TMCP Tiên Phong”

Trang 1

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của Đề tài

Trong các hoạt động kinh doanh của các NHTM nói chung và NHTM ViệtNam nói riêng thì hoạt đông tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập chính cho cácNHTMCP Tuy nhiên đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro và hậu quả của

nó làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng, làm giảm khả năngcung cấp vốn cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng

Bên cạnh tình hình tài chính kinh tế thế giới và trong nước đang diễn biến phứctạp, tình trạng suy thoái đang diễn ra trong những năm gần đây gây ảnh hưởng lớnđến hoạt động kinh doanh của của các ngân hàng Sự cạnh tranh giữa các ngân hàngcàng trở nên khó khăn, và khốc liệt hơn bao giờ hết và yêu cầu đặt ra đối với cácngân hàng là phải đảm bảo hoạt động kinh doanh một cách an toàn và hiệu quảnhất

Cơ chế kiểm soát được ví như “thần kinh trung ương” của một NHTM Kiểmsoát nội bộ (KSNB) là một phương sách quan trọng trong quá trình quản lý và điềuhành hoạt động điều hành quản lý kinh doanh của một doanh nghiệp nói chung vàcủa Ngân hàng nói riêng KSNB có thể giúp cho việc phát hiện ra những điểm chưađúng, chưa hợp lý và hạn chế rủi ro rất hiệu quả, mang lại những an toàn và phòngngừa được những rủi ro trong hoạt động tín dụng

Tại ngân hàng TMCP Tien Phong, hoạt động tín dụng vẫn mang lại doanh thu

và lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng Do đó kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tíndụng đặc biệt được chú trọng nhằm giúp Ban lãnh đạo ngân hàng nắm bắt được tìnhhình hoạt động tín dụng của ngân hàng, những rủi ro tiềm ẩn và có biện pháp phòngngừa tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, trải qua quá trình học tập, nghiên cứu, tôi đã lựachon đề tài cho luận văn của mình “Nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với hoạtđộng tín dụng tại NH TMCP Tiên Phong”

Trang 2

1.2 Tổng quan các công trình đã nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu

Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động đem lại lợi nhuận chínhcho ngân hàng và rủi ro tín dụng cũng là một trong những rủi ro chính mà các ngânhàng đang phải đối mặt Ngành tài chính ngân hàng dù với danh nghĩa là hoạt động

đa năng tuy nhiên thu nhập từ hoạt động tín dụng của phần lớn các ngân hàng đềuchiếm tỷ lệ trên dưới 90% tổng thu nhập của từng ngân hàng thương mại ở ViệtNam Rủi ro tín dụng của các ngân hàng chủ yếu là do thất bại của khách hàng trongviệc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết với ngân hàng Do đó các ngân hàng thươngmại ở Việt Nam rất chú trọng đến quản lý, kiểm soát về rủi ro tín dụng và cũngchính vì tính cấp thiết đó nên có rất nhiều để tài, luận văn nghiên cứu về vấn đề nàynhư

Đa phần các đề tài đều tập trung nghiên cứu lý luận chung về hệ thống kiểmsoát nội bộ, thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng,phương pháp và giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nôi bộ Lấy nền tảng làyếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ gồm: Môi trường kiểm soát, Hệthống thông tin kế toán, các thủ tục kiểm soát rồi từ đó làm căn cứ phân tích thựctrạng của hệ thống kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng

Tuy nhiên với đề tài của mình là “Nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với hoạtđộng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong” em muốn nghiên cứu về kiểm soátnội bộ đối với một hoạt động cụ thể là hoạt động tín dụng, dựa trên các quy trình tíndụng ( phạm vi giới hạn ở hoạt động cho vay) tìm hiểu về đặc điểm quy trình,những sai phạm có thể xẩy ra, mục tiêu kiểm soát và thủ tục kiểm soát chủ yếu củahoạt động tín dụng

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên những câu hỏi nghiên cứu đặt ra như sau:

 Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng như thế nào?

 Rủi ro và mục tiêu kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng là gì?

 Đặc điểm và phương pháp quản lý tín dụng tại TienPhongBank và thựctrạng kiểm soát nội bộ đối với rủi ro tín dụng tại TienPhongBank như thế nào?

Trang 3

 Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết để cải thiện kiểm soát nội bộđối với rủi ro tín dụng như thế nào ?

Giải quyết được những câu hỏi nghiên cứu trên luận văn giúp làm rõ về kiểm soátnội bộ đối với hoạt động tín dụng Phân tích thực trạng việc kiểm soát nội bộ đốivới hoạt động tín dụng của NH TMCP Tiên Phong từ đó đưa ra các phát hiện cũngnhư những nguyên nhân nhằm hoàn thiện hơn việc kiểm soát Phương hướng vàgiải pháp luận văn đưa ra giúp cho việc giải quyết các phát hiện trên Qua đó nângcao chất lượng hoạt động kiểm soát nội bộ đối với các hoạt động tín dụng tại NHTMCP Tiên Phong

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài trong giới hạn phạm vi NH TMCP Tiên Phong, nghiên cứu về kiểm soátnội bộ đối với hoạt động tín dụng và tập trung chủ yếu kiểm soát rủi ro đối với hoạtđộng cho vay trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến tháng 6 năm 2011 Việc giớihạn phạm vi nghiên cứu của Luận văn như trên là cần thiết, giúp cho việc nghiêncứu chuyên sâu hơn khi cho vay là hoạt động chính của hoạt động tín dụng

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kế hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.Đối với phương pháp nghiên cứu định tính, dữ liệu được thu thập thông qua phỏngvấn sâu và quan sát nghiên cứu tình huống Đây được coi là quá trình thu thập dữliệu sơ cấp Đối với phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu được thu thậpthông qua bảng hỏi (phiếu điều tra) Thu thập dữ liệu thứ cấp và xử lý dữ liệu thôngquan phân tích dựa trên thống kê thao tác trên phần mềm Microsoft Office Excel

2007 Dữ liệu thứ cấp sử dụng trong luận văn là các giấy tờ làm việc liên quan đếnviệc kiểm soát tại một số các Chi Nhánh trong hệ thống NH TMCP Tiên Phong

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm hiểu nghiên cứu các văn bản, tài liệu

có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các Anh chị cókinh nghiệm trong việc kiểm soát nội bộ Một số anh chị được tác giả phỏng vấnnhư ông Phan Đức Quang – Trường phòng kiểm soát nội bộ NH TMCP Tiên

Trang 4

Phong, bà Nguyễn Thị Lê Dung – Kiểm soát viên, bà Nguyễn Thu Hoài – Kiểmsoát viên.

Phương pháp thống kê toán học: Thu thập và xử lý số liệu trong quá trìnhnghiên cứu thông qua công cụ phân tích là phần mềm Microsoft Office Excel 2007

1.6 Ý nghĩa của Đề tài

Ý nghĩa khoa học : làm rõ những vấn đề về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tin dụng

Ý nghĩa thực tiễn : Đề tài nghiên cứu luận văn là một trong những đề tài ít gặp,

đa phần các đề tài đều tập trung nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ, cácnghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với các hoạt động chưa được đề cập nhiều đặcbiệt là kiểm soát nội bộ trong hoạt động ngân hàng, quan luận văn này, tác giả chỉ

rõ những ưu, nhược điểm của hoạt động kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụngtại NH TMCP Tiên Phong và muốn đề xuất, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện việckiểm soát nội bộ nhằm tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCPTiên Phong, qua đó giúp các nhà quản lý có cách nhìn nhận đúng đắn hơn nữa vềkiểm soát nội bộ qua đó vận dụng vào quản lý rủi ro tín dụng

1.7 Kết cấu của Luận văn

Kết cấu của luận văn bao gồm bốn chương như sau:

 Chương 1: Giới thiệu tổng quan về Đề tài nghiên cứu;

 Chương 2: Lý luận chung về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tíndụng trong ngân hàng;

 Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại

NH TMCP Tiên Phong;

 Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộđối với hoạt động tín dụng tại NH TMCP Tiên Phong;

Trang 5

CHƯƠNG II

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG

TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.

2.1.1 Kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ

Nếu như hệ thống ngân hàng được ví như “huyết mạch” của nền kinh tế thì cơchế kiểm soát được ví như “thần kinh trung ương”của một ngân hàng thương mại.Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực đã có những nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết vềkiểm soát nội bộ trong ngành nghề của mình

Thuật ngữ kiểm soát nội bộ bao gồm hai thành phần là kiểm soát và nội bộ

Định nghĩa về kiểm soát:

Không có định nghĩa duy nhất cho thuật ngữ này mà tùy thuộc vào góc độ khánhau, sẽ có các khái niệm khác nhau

Theo từ điển tiếng Việt, kiểm soát là một phương tiện nhằm giảm thiểu nhữngyếu tố gây tác động xấu tới hoạt động của một đối tượng nào đó

Theo lĩnh vực khoa học tự nhiên, người ta thường lập nhóm kiểm soát như mộtcách để kiểm tra tính chính xác của các thử nghiệm

Theo lĩnh vực kế toán, kiểm soát thường được sử dụng nhằm biểu hiện mức độchi phối của công ty này đối với công ty khác ví dụ quyền kiểm soát của công ty mẹđối với công ty con Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 07 “Kế toán các khoản đầuvào công ty liên kết” đã định nghĩa: Kiểm soát là quyền chi phối các chính sách tàichính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ các hoạtđộng của doanh nghiệp đó

Trang 6

nhận rộng rãi là định nghĩa COSO.

COSO (Committeee of Sponsoring Organization) là một Ủy Ban thuộc Hộiđồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận báo cáo tài chính (NationalCommission on Financial reporting, hay còn được gọi là Treadway Commission).COSO được thành lập nhằm nghiêm cứu về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhucầu của các đối tượng khác nhau và đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị

có thể xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu

Báo cáo của COSO được công bố dưới tiêu đề KSNB – khuôn khổ hợp nhất(Inter Control – Intergrated framework) đã định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau:Kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, cácnhà quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp sựđảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu mà Hội đồng quản trị, các nhàquản lý mong muốn là:

- Hiệu lực và hiệu quả của hoạt động

- Tính chất đáng tin cậy của các báo cáo tài chính

- Sự tuân thủ các luật lệ và quy định hiện hành

Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể, lĩnh vực ngânhàng là lĩnh vực đã có những nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết về kiểm soát nội bộtrong ngành nghề của mình Báo cáo Basel(1998) của Ủy ban Basel về giám sátngân hàng (BSBC – Basel Committee on Banking Supervion) đã đưa ra công bố vềkhuôn khổ kiểm soát nội bộ trong ngân hàng Theo đó kiểm soát nội bộ được địnhnghĩa là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý cấp cao vànhân viên, Nó không chỉ là một thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thờiđiểm cụ thể mà là một hoạt động liên tục ở mọi cấp trong ngân hàng.Hội đồng quảntrị và các nhà quản lý cao cấp có trách nhiệm thiết lập một nền văn hóa thích hợp đểtrợ giúp cho quá trình kiểm soát nội bộ cũng như liên tục giám sát sự hữu hiệu của

nó, tuy nhiên mỗi cá nhân trong tổ chức phải tham gia quá trình này Các mục tiêuchính của kiểm soát nội bộ được phân loại như sau:

- Sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động

Trang 7

- Sự tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị

- Sự tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan

Theo công bố này, kiểm soát nội bộ bao gồm các bộ phận sau:

- Sự giám sát của nhà quản lý và văn hóa kiểm soát,

- Ghi nhận và đánh giá rủi ro,

- Các hoạt động kiểm soát và phân chia trách nhiệm,

- Thông tin và truyền thông,

- Giám sát và điều chỉnh sai sót,

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400- Đánh giá rủi ro và KSNB: “Hệthống KSNB là các qui định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xâydựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho các đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định,

để kiểm tra - kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tàichính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản củađơn vị”

Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (The International Federation of Accountant IFAC) thì: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ cácphương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo Hệthống Kiểm soát nội bộ trợ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cáchchắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chếquản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kếtoán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy

-Theo các định nghĩa như trên, hệ thống KSNB thực chất là sự tích hợp một loạthoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy quy định và nỗ lực của mọithành viên trong tổ chức để đảm bảo tổ chức đó hoạt động có hiệu quả và đạt đượcmục tiêu đặt ra một cách hợp lý Cần có nhận thức đúng đắn, KSNB không thể là hệthống kỹ thuật đơn thuần cũng không thể cho rằng hệ thống KSNB chỉ thuộc về cácnhà quản lý mà là một hệ thống nhằm huy động mọi thành viên trong đơn vị cùngtham gia kiểm soát các hoạt động của tổ chức, vì chính họ là nhân tố quyết định mọithành quả

Trang 8

Từ các quan điểm khác nhau về hệ thống KSNB ta thấy hệ thống KSNB là một

hệ thống chức năng thường xuyên của đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro

có thể xảy ra trong từng phần việc và tìm các biện pháp ngăn chặn nó nhằm đạtđược các mục tiêu đơn vị đã đề ra Hệ thống KSNB là một hệ thống chính sách vàthủ tục được thiết lập nhằm mục đích thực hiện các mục tiêu lớn của đơn vị Cụ thể

Hệ thống KSNB có 4 mục tiêu cơ bản sau:

Thứ nhất: Bảo vệ an toàn tài sản của đơn vị.

Bảo vệ tài sản là không để xảy ra các rủi ro trong quá trình sử dụng và quản lýtài sản Tài sản trong đơn vị bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tùytừng loại tài sản đơn vị phải thiết kế hệ thống quản lý phù hợp;

Thứ hai: Đảm bảo độ tin cậy của thông tin, đảm bảo thông tin tài chính và

thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời:

Hoạt động của đơn vị là liên tục Do đó hàng ngày, hàng giờ có rất nhiều luồngthông tin vào và ra Nhà quản lý cần có những thông tin phục vụ cho việc ra quyếtđịnh Vì vậy, các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời, tin cậy, đầy đủ vàphản ánh khách quan thực trạng hoạt động của đơn vị

Thứ ba: Đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý, tuân thủ pháp luật và các

quy trình quy định nội bộ:

Hệ thống KSNB cần được thiết kế sao cho các quyết định và chế độ pháp lýliên quan đến hoạt động của đơn vị phải được tuân thủ đúng mức Theo đó, hệthống KSNB phải đạt các yêu cầu sau:

Một là; Duy trì việc kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh của đơn vị;

Hai là; Ngăn chặn, phát hiện kịp thời và xử lý các sai sót, gian lận trong mọihoạt động của đơn vị;

Ba là; Thực hiện việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, trung thực và kháchquan;

Thứ tư: Đảm bảo hiệu quả của hoạt động và hiệu năng quản lý: Hệ thống

kiểm soát thiết kế nhằm ngăn chặn sự trùng lặp, tránh gây lãng phí trong việc sử

Trang 9

dụng các nguồn lực của đơn vị.

Khi thiết kế Hệ thống KSNB, nhà quản lý phải biết kết hợp hài hoà bốn mụctiêu trên để tạo được một hệ thống kiểm soát hữu hiệu nhất

Hệ thống kiểm soát nội bộ có vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại củamột doanh nghiệp nói chung và một tổ chức tín dụng nói riêng Theo định nghĩa củaViện kiểm toán quốc tế: Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp bao gồm các chínhsách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng đượcthiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt các mục tiêu của ngân hàng và đảmbảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro

Hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng được thiết lập nhằm các mục tiêu sau:

- Bảo đảm cho ngân hàng hoạt động tuân thủ pháp luật, các quy định, quytrình nội bộ về quản lý và hoạt động cũng như các chuẩn mực đạo đức do ngân hàngđặt ra

Đối với ngành Ngân hang nói riêng thì đặc thù về tổ chức dẫn đến sự phânquyền mạnh mẽ trong nội bộ ngân hàng Do đó, ngoài việc đòi hỏi phải chấp hànhpháp luật của nhà nước, ban quan trị ngân hàng cũng yêu cầu rất ngặt nghèo đối vớiviệc tuân thủ các quy chế nội bộ Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu sẽ đảmbảo cho mọi thành viên trong hệ thống tuân thủ đúng các quy định của pháp luật,quy trình, quy chế nội bộ do ban lãnh đạo thiết lập áp dụng cho từng hoạt động củangân hàng Tín dụng là một nghiệp vụ mang tính phức tạp và rủi ro cao, do đó kiểmsoát việc tuân thủ quy trình tín dụng là một biện pháp cần thiết để hạn chế tổn thấtcho ngân hàng

- Đảm bảo mức độ tin cậy và tính trung thực của các thông tin tài chính và phitài chính Hoạt động trên một phạm vi rộng với mạng lưới các chi nhánh và phònggiao dịch, hàng ngày ngân hàng tiếp nhận một khối lượng thông tin rất lớn Các nhàquản lý ngân hàng cần có thông tin chính xác, cập nhật để ra những quyết định quantrọng Do đó vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với việc đảm sự trung thựccủa thông tin là rất quan trọng

Trang 10

- Bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản và các nguồn lực kinh tế của ngân hàngmột cách hiệu quả Cho vay là khoản mục sinh lời chủ yếu của ngân hàng thươngmại, rủi ro từ khoản mục này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh củangân hàng Do đó ngân hàng phải đưa vấn đề an toàn tài sản, đặc biệt là an toàntrong hoạt động tín dụng lên hàng đầu Hệ thống kiểm soát nội bộ được tổ chức tốt

và phù hợp giúp ngân hàng bảo vệ tài sản và góp phần đem lại hiệu quả cho hoạtđộng kinh doanh

- Hỗ trợ thực hiện các mục tiêu do ban lãnh đạo ngân hàng đề ra.Hệ thống kiểmsoát nội bộ vững mạnh đem lại hiệu quả và hiệu năng cho các hoạt động, giúp íchtrực tiếp cho việc hoạch định chính sách hoạt động của ngân hàng

Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại gồmmôi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát

Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ

Theo liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệthống chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm đảm bảo các mục tiêu: bảo vệ tàisản của đơn vị; bảo đảm độ tin cậy của các thông tin; bảo đảm việc thực hiện cácchế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động

Để đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt động cácđơn vị và tổ chức cần xây dựng và không ngừng củng cố hệ thống kiểm soát nội bộvới bốn yếu tố chính: môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin, các thủ tục kiểmsoát và hệ thống kiểm soát nội bộ

Một là, Môi trường kiểm soát là nền tảng cho toàn bộ các yếu tố của hệ thống

kiểm soát nội bộ, bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng, là nhữngnhân tố có ảnh hưởng đến quá trình thiết kế, vận hành và xử lý dữ liệu của hệ thốngkiểm soát nội bộ của ngân hàng Các nhân tố trong môi trường kiểm soát gồm:

Trang 11

quyết định đến chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như định hướng chomục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Trên thực tế, tính hiệu quả của hoạt độngkiểm tra, kiểm soát trong hoạt động của một ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vào nhàquản lý tại ngân hàng đó Bởi lẽ HĐQT, Ban giám đốc là người đề ra các chínhsách, kế hoạch và quy chế nội bộ áp dụng cho các hoạt động của ngân hàng Nếucác nhà quản lý cho rằng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ là quan trọng và khôngthể thiếu được đối với mọi hoạt động trong ngân hàng thì mọi thành viên của ngânhàng đó sẽ có nhận thức đúng đắn về hoạt động kiểm tra, kiểm soát và tuân thủ mọiquy định cũng như chế độ đề ra để giảm thiểu tới mức tối đa các rủi ro gây ra chongân hàng Ngược lại, nếu các nhà quản lý theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, bất chấprủi ro sẽ khiến cho các thành viên trong ngân hàng hiểu rằng kiểm soát nội bộ chỉ làyếu tố thứ cấp, thì chắc chắn các quy chế, quy trình về kiểm soát nội bộ sẽ khôngđược vận hành một cách có hiệu quả và làm giảm tính hữu hiệu của hệ thống kiểmsoát nội bộ.

Trong quản lý tín dụng, Ban lãnh đạo ngân hàng nhiệm vụ xây dựng chiếnlược kinh doanh và chính sách tín dụng thể hiện quan điểm tài trợ của ngân hàng.Hội đồng Quản trị nhận thức rõ ràng những nguy cơ gây rủi ro và đề ra các mức độrủi ro tín dụng có thể chấp nhận Ban Tổng Giám đốc tiến hành các bước đi cầnthiết để thực thi các chiến lược và chính sách của Hội đồng Quản trị như phê duyệt,xây dựng các quy trình để nhận biết, định lượng, theo dõi và kiểm soát các rủi ro tíndụng, duy trì một cơ cấu tổ chức phân công rõ ràng trách nhiệm, thẩm quyền và cácquan hệ báo cáo; đảm bảo các trách nhiệm đã giao phó được thực hiện có hiệu quả,thiết lập các chính sách kiểm toán nội bộ hợp lý và theo dõi sự phù hợp cũng nhưtính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi rocho ngân hàng đảm bảo an toàn vốn, hoạt động hiệu quả

Thứ hai, Cơ cấu tổ chức:

Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận được chuyên môn hoá với những tráchnhiệm và quyền hạn nhất định, có mối liên hệ mật thiết với nhau nhằm thực hiệnchức năng khác nhau trong quản lý Xây dựng cơ cấu tổ chức của hệ thống ngân

Trang 12

hàng là việc phân chia nó thành những bộ phận với chức năng và quyền hạn cụ thể.Một cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh đòi hỏi các bộ phận đều có những vị trí chủ chốt có

đủ năng lực kiểm soát hoạt động và thông tin kịp thời đến ban giám đốc Một cơ cấu

tổ chức hợp lý không chỉ tạo ra môi trường kiểm soát tốt mà còn còn góp phần ngănngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai sót trong hoạt động của ngân hàng nóichung và hoạt động tín dụng nói riêng

Xây dựng một cơ cấu tổ chức lý tín dụng phù hợp là phải được thiết lập sự điềuhành và kiểm soát trên toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng sao cho các quytrình cụ thể không bị chồng chéo hoặc bỏ trống các mảng nghiệp vụ Thực hiện sựphân chia tách bạch giữa các chức năng, bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộphận, tạo khả năng kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau trong các bước thực hiện quy trìnhcấp tín dụng Một ngân hàng được tổ chức thành nhiều cấp thì mức độ sai lệch củathông tin càng cao, vì vậy hệ thống kiểm soát nội bộ cũng phải thiết lập ở mức độtương ứng để có thể kiểm soát được các hoạt động của ngân hàng

Thứ ba, Chính sách nhân sự:

Con người là nhân tố quan trọng nhất trong môi trường kiểm soát của các ngânhàng, họ là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của hệthống Nếu nhân viên có năng lực và đáng tin cậy, nhiều quá trình kiểm soát có thểkhông cần thực hiện mà vẫn đảm bảo được các mục tiêu đề ra của kiểm soát nội bộ.Ngược lại, ngân hàng có thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục kiểm soát tíndụng chặt chẽ nhưng đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc và thiếu trungthực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy hiệuquả

Trong hoạt động tín dụng, hệ thống kiểm soát nội bộ khó có thể phát hiện đượcđối với các gian lận mang tính hệ thống trong quá trình tác nghiệp của nhân viên vàcác nhà quản lý như thông đồng cấp tín dụng không đảm bảo chất lượng, định giákhông đúng giá trị thực của tài sản đảm bảo, hướng dẫn khách hàng hợp thức hoá cácthủ tục, … Khả năng người chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục kiểm soát nội bộ lạmdụng đặc quyền của mình cũng có thể dẫn đến vô hiệu hoá hoạt động kiểm soát nội

bộ Những đặc quyền quan trọng nhất dễ bị lạm dụng thường là: quyền phê duyệt các

Trang 13

số liệu, tài liệu liên quan đến tín dụng; quyền kiểm tra và phê duyệt các chứng từ kếtoán, tài liệu kế toán; quyền tiếp cận trực tiếp với các tài sản và tài liệu kế toán Ngoài

ra, người chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục kiểm soát nội bộ hoàn toàn có khả nănghợp thức hoá một số giao dịch thông qua chỉnh sửa các tài liệu khi tiến hành các thủtục kiểm soát Trong trường hợp này, kiểm soát nội bộ hoàn toàn mất tác dụng Xuấtphát từ những lý do nêu trên, các nhà lãnh đạo ngân hàng cần có chính sách cụ thể, rõràng về tuyển dụng, đào tạo, khen thưởng, đề bạt nhân viên Việc đào tạo, đề bạt nhân

sự phải phù hợp với năng lực, phẩm chất đạo đức đồng thời mang tính kế tục và liêntiếp

Thứ tư, công tác kế hoạch:

Kế hoạch tín dụng là hình thức cụ thể hoá mục tiêu hoạt động tín dụng củangân hàng Các kế hoạch tín dụng bao gồm: kế hoạch huy động vốn, kế hoạch giảingân, mức dư nợ cuối năm, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng Các kế hoạch nàyphải được xây dựng bám sát tình hình hoạt động kinh doanh, các điều kiện kinh tế -

xã hội và luôn được điều chỉnh hợp lý trong từng thời kỳ nhất định Các kế hoạchtín dụng vừa là định hướng cho hoạt động, vừa là công cụ để kiểm soát quá trìnhthực hiện hoạt động Vì vậy, các nhà quản lý cần phải xây dựng một hệ thống kếhoạch sao cho phù hợp với tình hình thực tế hoạt động kinh doanh, phù hợp với tìnhhình kinh tế - xã hội cũng như các đối tượng khách hàng

Thứ năm, Uỷ ban kiểm soát là bộ phận độc lập trực thuộc HĐQT làm nhiệm

vụ kiểm soát các hoạt động của ngân hàng Thành viên trong Uỷ ban kiểm soát lànhững chuyên gia trong lĩnh vực kiểm soát và không kiêm nhiệm công tác quản lý

Uỷ ban kiểm soát có nhiệm vụ: Giám sát quá trình lập BCTC, kiểm tra từng vấn đề

cụ thể liên quan đến hoạt động của ngân hàng; Giám sát hoạt động của hệ thống kiểmsoát nội bộ trong ngân hàng

Thứ sáu, Môi trường bên ngoài: Môi trường kiểm soát chung của ngân hàng

chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như chính sách kinh tế vĩ mô, sự kiểm soátcủa các cơ quan chức năng của nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ - những ngườigửi tiền, môi trường pháp lý, sự cạnh tranh của các ngân hàng …Các nhân tố nàynằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái

độ, phong cách điều hành của các nhà quản lý cũng như sự thiết kế và vận hành các

Trang 14

quy chế và thủ tục kiểm soát nội bộ Sự thay đổi của các nhân tố này đều có tácđộng ít hoặc nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động của ngân hàng, kéo theonhững thay đổi hoặc gây ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.

Hai là, Hệ thống thông tin kế toán

Hệ thống thông tin kế toán ngân hàng là công cụ để ghi nhận và lưu trữ thôngtin về hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng phục vụ cho các nhà quản trịtrong việc ra quyết định đồng thời nó cũng được sử dụng như một phương tiện hỗtrợ hoạt động kiểm soát Hệ thống thông tin kế toán của ngân hàng bao gồm hệthống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và hệ thốngbáo cáo tài chính

Chứng từ kế toán: Chứng từ kế toán ngân hàng là các bằng chứng chứng minh

các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành, và là cơ sở đểhạch toán vào sổ sách kế toán Tính trung thực của thông tin phản ánh trong chứng

từ kế toán quyết định tính trung thực của số liệu kế toán Chứng từ kế toán sử dụngtrong ngân hàng có thể là chứng từ bằng giấy hoặc chứng từ điện tử Chứng từ kếtoán ngân hàng gồm 2 loại: Chứng từ kế toán bắt buộc, là những chứng từ phản ánhquan hệ kinh tế giữa các pháp nhân được chuẩn hoá về quy cách, mẫu biểu và ápdụng thống nhất (như Séc, Uỷ nhiệm thu, Uỷ nhiệm chi, Thư tín dụng ); Chứng

từ hướng dẫn, là những chứng từ sử dụng trong nội bộ đơn vị ngân hàng (Giấy gửitiền, Phiếu chuyển khoản, Bảng kê số dư tính lãi ) Phần lớn chứng từ kế toánngân hàng do khách hàng của ngân hàng thương mại lập và nộp vào để giao dịch,đặc điểm này đã dẫn đến chất lượng chứng từ kế toán ngân hàng phụ thuộc rấtnhiều vào trình độ lập chứng từ của khách hàng Do đó, tất cả các chứng từ kế toánphải được kiểm soát chặt chẽ trước và trong khi thực hiện nghiệp vụ Kiểm trachứng từ kế toán có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của công tác kế toán Nộidung kiểm soát chứng từ kế toán ngân hàng bao gồm: Kiểm soát tính trung thực, đầy

đủ của các thông tin trên chứng từ; kiểm soát tính hợp pháp, hợp lý của các nghiệp vụkinh tế phát sinh; kiểm soát việc chấp hành quy chế nội bộ của người lập, xét duyệtchứng từ Kiểm soát chứng từ kế toán là nhiệm vụ của các giao dịch viên, trưởngphòng kế toán cũng như các cán bộ nghiệp vụ hoặc quản lý nghiệp vụ

Trang 15

Chứng từ kế toán sử dụng trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng là những loạigiấy tờ, vật mang tin đảm bảo về mặt pháp lý cho tài sản của ngân hàng và là cơ sở

để giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến hợp đồng tín dụng

Tài khoản kế toán:

Hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng là một tập hợp các tài khoản kế toán màNgân hàng phải sử dụng để phản ánh toàn bộ tài sản, nguồn vốn và sự vận động củachúng trong quá trình hoạt động kinh doanh Trong tập hợp này, mỗi tài khoản cótên gọi riêng phù hợp với nội dung kinh tế của đối tượng kế toán mà nó phản ánh,

có số hiệu riêng và các tài khoản được phân loại và hệ thống hoá một cách khoahọc Hiện nay các ngân hàng Việt Nam đang sử dụng hệ thống tài khoản kế toántheo các quy định của Ngân hàng Nhà nước: Hệ thống tài khoản các TCTD banhành theo Quyết định Số 435/1998/QĐ-NHNN; Hệ thống tài khoản các TCTD banhành theo Quyết định Số 479/2004/QĐ-NHNN và Quyết định 807/2005/QĐ-NHNN ngày 01/6/2005 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số tàikhoản kế toán các TCTD

Hệ thống tài khoản TCTD Ký

hiệu loại

Tên loại Tài khoản trong Bảng cân đối kế toán

1 Vốn khả dụng và các khoản đầu tư

Các tài khoản ngoài bảng

9 Các tài khoản ngoài Bảng cân đối kế toán

Trang 16

Các tài khoản phản ánh cho vay được bố trí ở Tài khoản loại 2 “Hoạt động tíndụng” Để phản ánh cụ thể từng đối tượng khách hàng vay vốn, từng hình thức chovay theo thời gian (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn), từng loại tiền vay và đáp ứng nhucầu phân loại nợ, TK loại 2 được chi tiết thành các tài khoản cấp II và cấp III.

Báo cáo kế toán - tài chính ngân hàng

Hệ thống báo cáo kế toán được lập để phục vụ cho công tác quản lý hoạt độngcủa từng ngân hàng, nội bộ ngành ngân hàng và cũng là báo cáo chính thức gửi tớicác cơ quan quản lý nhà nước Nội dung báo cáo kế toán ngân hàng phản ánh kháiquát tình hình tài sản công nợ và kết quả kinh doanh của ngân hàng trong một kỳ kếtoán cũng như tại thời điểm lập báo cáo Hiện nay hệ thống báo cáo trong doanhnghiệp nói chung và trong Ngân hàng nói riêng bao gồm: Báo cáo quản trị là nhữngbáo cáo được ngân hàng tự thiết lập nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý và Báo cáotài chính của ngân hàng là báo cáo được lập theo các Chuẩn mực kế toán Việt Nam

và Chế độ kế toán hiện hành để phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếucủa ngân hàng Hệ thống báo cáo tài chính đối với ngân hàng theo Quyết định Số16/2007/QĐ-NHNN ngày 18/04/2007 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam baogồm: Bảng Cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưuchuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin về tìnhhình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một ngân hàng, đáp ứngyêu cầu quản lý của lãnh đạo ngân hàng, cơ quan quản lý nhà nước, và nhu cầu hữuích của người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế

Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo các mục tiêu kiểm soát chi tiếtnhư: Tính có thực, Sự phê chuẩn, tính đầy đủ, sự đánh giá, sự phân loại, tính đúng

kỳ và quá trình chuyển sổ, tổng hợp chính xác

Thông qua việc quan sát, đối chiếu, tính toán và ghi chép các giao dịch phátsinh, hệ thống kế toán không những cung cấp thông tin cho các cấp quản lý ra quyếtđịnh mà còn có tác dụng kiểm soát nhiều mặt hoạt động của ngân hàng Chính vìthế, hệ thống kế toán là một mắt xích quan trọng của cơ chế kiểm soát nội bộ

Trang 17

Ba là, Thủ tục kiểm soát:

Các thủ tục kiểm soát do Ban lãnh đạo ngân hàng thiết lập và thực hiện nhằmđạt được các mục tiêu quản lý cụ thể, phù hợp với luật pháp và đặc thù hoạt độngkinh doanh của ngân hàng Thủ tục kiểm soát phải được thiết lập dựa trên 3 nguyêntắc cơ bản: Nguyên tắc phân công, phân nhiệm; Nguyên tắc bất kiêm nhiệm;Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn

Nguyên tắc phân công, phân nhiệm yêu cầu trách nhiệm và công việc cần được

phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều người trong bộ phận Điều nàykhông chỉ tạo sự chuyên môn hóa trong công việc mà còn góp phần hạn chế và pháthiện sớm các sai phạm Đối với hoạt động tín dụng, nguyên tắc này yêu cầu trong quytrình tín dụng không chỉ có nhân viên tín dụng thao tác nghiệp vụ mà phải có sự phốihợp nhịp nhàng của các bộ phận liên quan cùng tham gia như bộ phận hỗ trợ kháchhàng, bộ phận thẩm định, bộ phận tái thẩm định, bộ phận kế toán … Mục đích chính

là không để cho một cá nhân hay bộ phận nào có thể kiểm soát được toàn bộ hoạtđộng của nghiệp vụ tín dụng Việc phân chia trách nhiệm sẽ giúp bớt rủi ro xẩy racác sai sót nhầm lẫn cũng như các hành vi gian lận đồng thời tạo cho các nhân viênkhông có cơ hội làm sai các quy định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

Nguyên tắc bất kiêm nhiệm đòi hỏi có sự tách biệt thích hợp về trách nhiệm

trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụngquyền hạn Chẳng hạn trong nghiệp vụ tín dụng đỏi hỏi phải tách biệt chức năngkhởi tạo tín dụng và cấp tín dụng

Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn cho phép các nhà quản lý cấp cao được

phép phân quyền cho các cấp dưới thực hiện việc phê chuẩn đối với một số nghiệp

vụ trong phạm vi nhất định Quá trình ủy quyền được tiếp tục mở rộng xuống cấpthấp hơn tạo nên một hệ thống phân chia trách nhiệm và quyền hạn mà vẫn khônglàm mất tính tập trung của Ngân hàng Nguyên tắc này tạo tính chủ động và sángtạo, tự chịu trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, phù hợp với năng lực, trình độ củangười được ủy quyền, đảm bảo hiệu quả an toàn chất lượng của hoạt động tín dụng.Bên cạnh đó, để tuân thủ tốt các quy trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ kinh tế phải

Trang 18

được phê chuẩn đúng đắn Sự phê chuẩn được thực hiện qua hai loại: Phê chuẩnchung và phê chuẩn cụ thể Phê chuẩn chung được thực hiện thông qua việc xâydựng các chính sách chung chỉ đạo và hướng dẫn những mặt hoạt động cụ thể chocán bộ cấp dưới tuân thủ Sự phê chuẩn cụ thể được thực hiện theo từng nghiệp vụkinh tế riêng Theo nguyên tắc này, Hội đồng Quản trị không trực tiếp phê duyệt tíndụng mà chỉ phê duyệt chính sách tín dụng, các quy trình quy chế Các cấp thẩmquyền phê duyệt tín dụng được ủy quyền cho Tổng Giám đốc quyết định Người cóthẩm quyền quyết định tín dụng được quyết định các nội dụng từ quyết định chovay đến quyết định giải ngân và quyết định xử lý, thu hồi nợ trong phạm vi, quyềnhạn của mình.

Các thủ tục kiểm soát được thiết kế và thực hiện nhằm vào các rủi ro tín dụng

mà ngân hàng đã nhận diện Các thủ tục kiểm soát tín dụng được thực hiện trongcác giai đoạn của quy trình tín dụng cụ thể tại ngân hàng

Thứ nhất, kiểm tra giám sát quá trình vay vốn: Cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ

từ khách hàng và kiểm tra các điều kiện vay vốn: Tình hình tài chính, tài sản đảmbảo, mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, năng lực pháp lý … Đây là những căn cứđầu tiên chứng minh cho sự phát sinh khoản vay giữa khách hàng và ngân hàng Tạikhâu này xẩy ra các rủi ro tiềm ẩn như hồ sơ không đầy đủ hoặc bị mất tài liệu, hồ

sơ giả mạo hoặc có sự thông đồng giữa cán bộ tín dụng với khách hàng vay… Dovậy, kiểm soát nội bộ ở giai đoạn này cần tập trung vào các nội dung trên hồ sơ,đảm bảo tính phù hợp về mặt hình thức của các hồ sơ khách hàng Sau đó, ngânhàng thực hiện việc thẩm định thông tin khách hàng và định giá tài sản đảm bảo.Tại khâu này cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định thông tin tài chính của kháchhàng thông qua các chỉ tiêu phân tích và đánh giá cụ thể Thẩm định thông tin phitài chính như tình hình hoạt động của khách hàng, sản phẩm chính, thị phần sảnphẩm, mức độ thị trường đánh giá về chất lượng sản phẩm, mức độ ứ đọng sảnphẩm, trình độ quản lý, đạo đức ứng xử, đạo đức kinh doanh của ban giám đốc; Sau

đó ngân hàng đánh giá khả năng trả nợ, nguồn vốn thanh toán, hiệu quả và tính khả

Trang 19

thi của phương án sản xuất kinh doanh, thực hiện kiểm tra đánh giá tài sản thế chấp,tài sản bảo đảm thông qua hồ sơ tài sản và phương pháp đánh giá tài sản

Trong khâu này thường xảy ra các rủi ro như: Thông tin trong hồ sơ khôngchính xác đầy đủ; Cán bộ tín dụng đưa ra nhận định sai về khách hàng, tính khả thicủa phương án kinh doanh, giá trị thực của tài sản đảm bảo; Việc thẩm định khôngthực hiện đúng quy trình, mức tín dụng cấp vượt quá hạn mức cho phép; Cơ cấukhoản vay, thời gian khoản vay không hợp lý

Thứ hai, Kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay: Khi cán bộ tín dụng thẩm định

xong sẽ lập báo cáo thẩm định gửi Trưởng phòng Tín dụng, Ban giám đốc, Hộiđồng tín dụng để xem xét và kiểm tra lại công tác thẩm định và quyết định cho vay

và sau đó ký kết hợp đồng tín dụng Mỗi lần rút vốn, khách hàng phải lập khế ướcnhận nợ và các giấy tờ khác theo yêu cầu của ngân hàng Người có thẩm quyền sẽphê duyệt khế ước, sau đó chuyển bộ phận Ngân quỹ để làm thủ tục giải ngân Tạikhâu này xẩy ra các rủi ro tiềm ẩn như không kiểm tra cẩn thận việc thẩm định,thẩm quyền quyết định cho vay bị lạm dụng, lập hợp đồng không đầy đủ, nhầm lẫn;Tài liệu giải ngân không đầy đủ, khế ước nhận nợ không được phê duyệt bởi người

có thẩm quyền Kiểm soát nội bộ ở khâu này chú trọng đến việc kiểm tra tính chínhxác, đầy đủ, hợp pháp của các tài liệu giải ngân, việc thực hiện phạm vi phê duyệttín dụng

Sau khi làm thủ tục giải ngân, cán bộ tín dụng sẽ theo dõi, quản lý các khoảncho vay để đảm bảo khách hàng tuân thủ đúng cam kết vay tránh sử dụng sai mụcđích gây thất thoát vốn, kiểm tra hiệu quả và tiến độ thực hiện dự án Bộ phận kếtoán tín dụng sẽ là người chịu trách nhiệm ghi nhận các khoản thanh toán gốc và lãi.Nếu khách hàng thanh toán đúng hạn, kế toán sẽ có bút toán ghi nhận giảm số dư nợhay tiền lãi Nếu không sẽ ghi nhận vào các nhóm nợ thích hợp tuỳ theo quy địnhcủa ngân hàng và của Ngân hàng Nhà nước Tại khâu này thường xảy ra rủi ro docán bộ tín dụng thực hiện việc kiểm tra tình hình vốn vay của khách hàng chỉ mangtính hình thức, không thực hiện việc đôn đốc thu hồi nợ, bộ phận kế toán khôngthực hiện chuyển nợ quá hạn hoặc trích lập dự phòng theo quy định Ở khâu này

Trang 20

hệ thống kiểm soát nội bộ phải kiểm tra, đối chiếu tình hình thu hồi nợ giữa bộ phận

kế toán với bộ phận tín dụng Vấn đề phân loại nợ, trích và sử dụng dự phòng cóđúng quy định hiện hành không

Để đảm bảo thực hiện mục tiêu đã đề ra, hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngânhàng phải mang tính toàn diện và bao trùm mọi hoạt động Kiểm soát nội bộ vớihoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại phải nhằm vào các yêu cầu: Khôngcho phép ghi chép những nghiệp vụ không có thực vào hệ thống sổ sách của ngânhàng; Đảm bảo mọi nghiệp vụ liên quan đến hoạt động tín dụng phải có sự phêchuẩn hợp lý của người có trách nhiệm; Đảm bảo không có sai phạm trong việc tínhtoán các chỉ tiêu trong khâu thẩm định; Hoạt động tín dụng phải đem lại lợi nhuậncho ngân hàng, làm tăng giá trị tài sản cho các chủ sở hữu ngân hàng

Trên đây là nội dung lý luận cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lýdoanh nghiệp nói chung và trong ngân hàng thương mại nói riêng

Bốn là, Bộ phận kiểm toán nội bộ:

Bộ phận KTNB là bộ phận độc lập trong đơn vị tiến hành kiểm tra và đánh giácác hoạt động phục vụ yêu cầu quản trị nội bộ

Theo IFAC: “KTNB là một hoạt động đánh giá được lập ra trong một doanhnghiệp như là một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá

và giám sát thích hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”

Là một nhân tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ, bộ phận KTNB cung cấpmột sự giám sát và đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của đơn vị Bộphận KTNB hoạt động hữu hiệu sẽ giúp cho doanh nghiệp có được thông tin kịpthời và xác thực về các hoạt động, chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịpthời điều chỉnh và bổ sung các thủ tục và quy chế kiểm soát thích hợp và hiệu quảhơn Để bộ phận KTNB phát huy tác dụng tốt:

Về tổ chức: Bộ phận KTNB phải không bị giới hạn phạm vi hoạt động, đượcgiao quyền hạn tương đối rộng rãi và hoạt động độc lập với các bộ phận được kiểmtra

Trang 21

Về nhân sự: Phải tuyển chọn được những nhân viên có năng lực chuyên môn

và đạo đức nghề nghiệp đủ tiêu chuẩn để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán

2.1.2 Đánh giá hiệu lực kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng

Đối tượng kiểm soát hoạt động tín dụng

 Là các đơn vị, các nhân làm việc hoặc lien quan đến nghiệp vụ tín dụngtrong hệ thống ngân hàng

 Nhiệm vụ chính của các nhân viên kiểm soát nội bộ thực hiện kiểm soátnghiệp vụ tín dụng tại Hội sở chính là đánh giá được vai trò tham mưu, tư vấn choBan lãnh đạo trong quá trình xét duyệt cho vay, ban hành văn bản chế độ và quản trịđiều hành hoạt động tín dụng của toàn hệ thống; Tại các Chi nhánh, đơn vị thànhviên trong hệ thống ngân hàng là đánh giá việc chấp hành chế độ, thực hiện quytrình cho vay, thu nợ và xử lý các vấn đề phát sinh

Phạm vi kiểm soát hoạt động tín dụng:

 Toàn bộ doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ đến thời điểm kiểm tra hoặcđến thời điểm quy định trong quyết định kiểm tra của cấp có thẩm quyền

Toàn bộ hồ sơ hiện có tại Hội sở chính hoặc tại các đơn vị thành viên, trong đó cán

bộ quản lý chi nhánh đơn vị thành viên tại Hội sở chính và cán bộ tín dụng tại cácđơn vị thành viên hiện đang quản lý đối với hồ sơ và số dư nợ còn lại của kháchhàng đến thời điểm kiểm tra hoàn toàn chịu trách nhiệm với việc hoàn chỉnh, bổsung các tài liệu còn thiếu mà đoàn kiểm tra đã phát hiện và yêu cầ chỉnh sửa saukiểm tra, kiểm soát

Căn cứ kiểm soát hoạt động tín dụng:

 Căn cứ các văn bản luật hiện hành đã được Quốc Hội thông qua như luậtngân hàng, luật các tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp…

 Căn cứ các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam và các

Bộ ngành liên quan như quy chế cho vay, quy chế đảm bảo tiền vay, quy chế chovay đồng tài trợ, quy chế đăng ký giao dịch đảm bảo, các quy định liên quan đếnquyền sở hữu nhà, đất…

 Căc cứ các văn bản chỉ đạo tín dụng hiện hành của NH Tiên Phong như

Trang 22

chính sách tín dụng, chính sách khách hàng, quy trình cho vay, quy trình phầnquyền phán quyết, phê duyệt tín dụng, quản lý rủi ro….

 Căn cứ hồ sơ lưu giữ theo quy định tại các Phòng, Ban tín dụng, kếtoán… của Hội sở chính và các đơn vị thành viên Trong đóm nhân viên kiểm soátnội bộ khi kiểm soát cần áp dụng đúng các văn bản luật hiện hành, vấn đề phátsinh tại thời điểm nào thì áp dụng văn bản quy định tại thời điểm đó Tránh cáctrường hợp đưa ra các kiến nghị không phù hợp vì áp dụng sai văn bản quy định

- Đánh giá về tác nghiệp trong việc thực hiện quy trình cho vay; phối hợptrong việc thẩm định các khoản vay,phối hợp trong việc thực hiện thẩm tra, định giáTSDB trong quá trình xét duyệt cho vay, định kỳ hàng năm, đột xuất theo yêu cầucủa Ban lãnh đạo, Phối hợp trong việc đánh giá xếp loại khách hàng

- Kiểm tra việc đánh giá toàn diện khách hàng định kỳ ( hàng năm): Tráchnhiệm trong việc rà soát và báo cáo đánh giá toàn diện khách hàng của toàn Chinhánh; Trách nhiệm trong việc rà soát và báo cáo đánh giá lại toàn bộ tài sản đảmbảo tiền vay tại Chi nhánh

2.2 Đặc điểm hoạt động và quản lý tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần và yêu cầu kiểm soát nội bộ

2.2.1 Đặc điểm hoạt động và quản lý tín dụng của Ngân hàng thương mại

cổ phần

Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tếhàng hóa Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội Quan hệ tíndụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã Khichế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ traođổi hàng hóa Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằnghiện vật - hàng hóa Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ.Như vâỵ có thể hiểu tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá)giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) với bên đi vay Trong

đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất

Trang 23

định theo thoả thuận, bên đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc

và lãi cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổchức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanhnghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước

Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức cung cấp một danh mục cácdịch vụ tài chính đa dạng nhất và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so vớibất kỳ một tổ chức nào trong nền kinh tế Trong đó tín dụng là một khoản mục tàisản lớn nó phản ánh hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Bản chất tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả với các đặctrưng cơ bản sau:

Một là, tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hìnhthức là cho vay và cho thuê

Hai là, xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giaotài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúnghạn Đây là yếu tố hết sức quan trọng trong quản lý tín dụng Rủi ro có thể xẩy ra làngười đi vay không trả nợ đúng hạn và vấn đề đặt ra cho quản lý là phải thẩm địnhchính xác tài sản đảm bảo, đảm bảo các phương án kinh doanh và kế hoạch trả nợcủa các khoản vay trước khi quyết định cấp phê duyệt cho khoản vay đó

Ba là, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nóicách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc

Bốn là, trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở bên đivay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến thời hạn thanh toán

Rủi ro có thể xẩy ra người đi vay sẽ không trả lãi đúng hạn hoặc khi đến thờihạn cam kết khách hàng không có khả năng thanh toán (phá sản, giải thể…)và vấn

đề đặt ra cho quản lý phải thẩm định chính xác tài sản đảm bảo, kiểm soát chặt chẽphương án kinh doanh và kế hoạch trả nợ cụ thể trước khi quyết định phê duyệtkhoản tín dụng này

Hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại được phân loại theo nhiềutiêu thức khác nhau, tùy thuộc vào mục đích quản trị

Trang 24

Dựa vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành: cho vaytiêu dùng cá nhân, cho vay SXKD, cho vay mua bán bất động sản …

Dựa vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loạisau: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn

Dựa vào tín nhiệm của khách hàng có các hình thức cho vay như: cho vaykhông có tài sản đảm bảo, cho vay có tài sản đảm bảo

Dựa vào phương thức cho vay hoạt động tín dụng bao gồm: cho vay theo mónvay, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng

Dựa theo xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng được phân chia thành: cho vaytrực tiếp và cho vay gián tiếp

Việc phân loại tín dụng góp phần cho việc phục vụ quản trị tốt hoạt động tíndụng Việc phân loại tín dụng giúp ngân hàng có thể xác định, thẩm định một cách

rõ ràng hơn mục đích đi vay của khách hàng và với mỗi loại tín dụng có những quytrình hướng dẫn cho vay khác nhau, như vậy sẽ giúp cho việc quản lý rủi ro đượctốt hơn Chất lượng tín dụng được xem xét dưới nhiều góc độ từ phía ngân hàng,khách hàng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng tại thờiđiểm cho vay và từ sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Nghiệp vụ cho vay (Tíndụng) là hoạt động trọng yếu của bất kỳ ngân hàng nào Đối với TienPhongBanknghiệp vụ này thể hiện dưới các hình thức cho vay và bảo lãnh

Hoạt động cho vay tại Tien Phong Bank bao gồm cho vay ngắn hạn trunghạn và dài hạn

Bảo lãnh là cam kết của Ngân hàng dưới nhiều hình thức và việc thực hiệnnghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi khách hàng không thực hiệnđúng như cam kết với bên thứ ba

Tiên Phong Bank cho vay các dự án ĐTPT có mục đích vay vốn nằm trongdiện ưu đãi do Nhà nước quy định trong từng thời kỳ Các dự án này được cho vaytrung hạn ( từ 1 đến 5 năm) và dài hạn ( từ 5 năm trở lên)

Đối với các khoản vay hỗ trợ xuất khẩu thì thời hạn cho vay là dưới 12 tháng(ngắn hạn)

Trang 25

Trong hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng nói chung và Tien PhongBank nói riêng không tránh khỏi những trường hợp xảy ra rủi ro; Đó là những biến

cố bất lợi ngoài sự mong đợi của ngân hàng Trong tín dụng, rủi ro sẽ ảnh hưởngtrực tiếp vào vốn, tác động xấu đến hoạt động của ngân hàng

Rủi ro tín dụng là rủi ro luôn tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng: Cho vay dễđưa đến tổn thất và mất mát về vốn Đó là rủi ro mà ngân hàng cho vay ra không thuđược nợ khi đến hạn hoặc xảy ra tình trạng người đi vay mất khả năng trả nợ gốc vàlãi vay

Trong hoạt động ngân hàng có nhiều loại rủi ro như rủi ro thanh khoản, rủi rolãi suất, rủi ro hối đoái rủi ro thị trường, rủi ro về khả năng thanh toán, rủi ro trongtác nghiệp cho vay không thu hồi được nợ Trong các loại rủi ro đó, rủi ro tín dụngluôn được ngân hàng quan tâm hàng đầu vì hoạt động tín dụng luôn giữ một vai tròquan trọng đối với bất kỳ ngân hàng nào

Đối với Tien Phong Bank, tuy không đặt cao mục tiêu lợi nhuận nhưng yêucầu đặt ra là Ngân hàng phải bảo toàn vốn trong hoạt động Nếu xảy ra rủi ro tíndụng ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng về nguồn vốn, hiệu quả mang lại có thể làm ngânhàng mất vốn, không bảo toàn được nguồn vốn ban đầu Vì vậy rủi ro tín dụng cầnđược quan tâm đặc biệt trong quản trị ngân hàng cũng như trong việc giám sát, quản

lý để kịp thời xử lý, điều chỉnh hoạt động của ngân hàng Công tác quản trị hoạtđộng tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Tóm lại việc nghiên cứu và tìm ra biện pháp phát hiện, ngăn ngừa , hạn chế

và khắc phục rủi ro là vấn đề rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng Trong quátrình phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro, nhiệm vụ của KSNB là vô cùng quan trọng

2.2.2 Quản lý hoạt động tín dụng và yêu cầu kiểm soát hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngânhàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợkhông đúng hạn cho ngân hàng

Trang 26

Căn cứ vào khoản 01 điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng(ban hành theo Quyết định Số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc

Ngân hàng Nhà nước) thì rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Như vậy có thể nói rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ màtrong đó ngân hàng là chủ nợ, khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không cókhả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn Nó diễn ra trong quá trình cho vay,chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh,bao thanh toán của ngân hàng

Hoạt động cho vay là hoạt động lớn nhất và chủ yếu của ngân hàng thươngmại, thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập củangân hàng nhưng đây cũng đồng thời là lĩnh vực chứa đựng nhiều rủi ro nhất Cóthể nói rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất trong thị trường tàichính Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậuquả nghiêm trọng cho hoạt động của ngân hàng thương mại Xét về bản chất, rủi rotín dụng tại ngân hàng được phân loại như sau:

Một là, Rủi ro đọng vốn (Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn)

Khi thiết lập quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải thống nhất vềthời gian hoàn trả nợ vay Rủi ro đọng vốn xảy ra trong trường hợp đến hạn thanhtoán mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được khoản vốn vay Điều này sẽ dẫn tới việclàm đông cứng các khoản vốn tại ngân hàng, làm ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụngvốn và gây khó khăn cho việc chi trả các khoản tiền gửi Trong trường hợp này,ngân hàng sẽ phải huy động vốn trên thị trường để bù đắp vốn cho vay chưa thu hồiđược, mất cơ hội cho vay, giảm hiệu quả sử dụng vốn và điều này ảnh hưởng đếnlợi nhuận của ngân hàng Hơn nữa ngân hàng là một tổ chức đi vay để cho vay.Chính vì thế khi huy động được vốn, ngân hàng phải lập tức thực hiện việc đầu tưcho vay Nếu khách hàng vay không hoàn trả đúng hạn sẽ gây cản trở cho ngân

Trang 27

hàng trong việc thực hiện kế hoạch chi trả tiền gửi, điều này sẽ làm giảm khả năngthanh toán và uy tín của ngân hàng.

Hai là, Rủi ro bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn (Rủi ro không có khả năng trả nợ)

Đây là loại rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng đi vay mất khả năngthanh toán nợ vay Trong trường hợp này, ngân hàng chỉ có thể thu hồi vốn vaythông qua việc thanh lý tài sản đảm bảo Tuy nhiên việc này cũng gặp nhiều khókhăn do các nguyên nhân như giá trị tài sản thanh lý giảm nhiều so với thời gianthẩm định ban đầu hoặc giá trị của tài sản thanh lý thường phải chia sẻ với các chủ

nợ ưu tiên khác Do đó giá trị tài sản thu hồi không tương xứng với khoản nợ vay,ngân hàng phải chịu tổn thất một phần hoặc toàn bộ số tiền cho vay Nhìn chungđây là loại rủi ro phức tạp và là gánh nặng thực sự đối với các ngân hàng Rủi ronày sẽ làm ảnh hưởng đến chi phí, dòng tiền, doanh thu và khả năng sinh lời cũngnhư uy tín của ngân hàng

Đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng là gắn liền với rủi ro Trên thực

tế có rất nhiều nguyên nhân gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng Dưới đây là một sốnguyên nhân chủ yếu

Nguyên nhân chủ quan (Từ phía ngân hàng)

Tín dụng là lĩnh vực đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng nhưng đồngthời cũng là hoạt động đem lại rủi ro lớn Nhiều nhà quản lý ngân hàng thường chấpnhận đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Vì thế có thể khẳng định một trong nhữngnguyên nhân gây rủi ro tín dụng xuất phát từ yếu tố chủ quan hay chính là từ phíangân hàng Cụ thể:

Thứ nhất, Chính sách tín dụng không phù hợp

Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, đóng một vaitrò quan trọng quyết định chất lượng tín dụng của ngân hàng Nếu một chính sáchtín dụng hợp lý sẽ khai thác hết lợi thế của ngân hàng, ngược lại nếu quá nhấn mạnh

về lợi nhuận của khoản mục cho vay sẽ dễ tạo ra các khoản vay không lành mạnh.Bên cạnh đó, quy định về tỷ lệ cho vay nếu có sơ hở sẽ tạo điều kiện cho khách

Trang 28

hàng chiếm dụng vốn của ngân hàng Hệ quả của chính sách sẽ dẫn tới rủi ro tíndụng cho ngân hàng.

Thứ hai, Cán bộ tín dụng thiếu đạo đức, yếu về chuyên môn.

Do đặc thù của ngành, cán bộ tín dụng phải tiếp cận với nhiều ngành nghề,nhiều vùng, thậm trí nhiều quốc gia Để thực hiện tốt công việc đòi hỏi họ phải amhiểu khách hàng, lĩnh vực kinh doanh của khách hàng và phải có khả năng dự báocác vấn đề kinh tế- xã hội có liên quan đến khoản vay Điều này đòi hỏi một cán

bộ tín dụng phải được đào tạo kỹ, liên tục và toàn diện Trong trường hợp cán bộyếu về chuyên môn nghiệp vụ sẽ dễ dàng dẫn tới rủi ro cho khoản vay

Đạo đức của cán bộ tín dụng cũng là một vấn đề đáng quan tâm Thực tế chothấy, nhiều khoản vay lớn kém chất lượng, tồn đọng hay không có khả năng thu hồiđều xuất phát từ vấn đề đạo đức của cán bộ Vì vụ lợi, buông lỏng quản lý nên trongquá trình thẩm tra, xét duyệt cho vay họ không thực hiện đúng các quy định hiệnhành, tạo kẽ hở cho khách hàng lợi dụng thậm trí thông đồng với khách hàng rútruột ngân hàng

Thứ ba, Buông lỏng công tác quản lý sau cho vay:

Việc kiểm tra, giám sát hoạt động sử dụng vốn vay sau giải ngân là mộttrong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngânhàng nói chung nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữakhách hàng và ngân hàng đảm bảo khoản vay sẽ được hoàn trả Tuy nhiên trongthời gian qua nhiều ngân hàng chưa thực hiện tốt công tác giám sát và quản lý saucho vay gây rủi ro cho ngân hàng Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gâyphiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tinquản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp đượckịp thời, đầy đủ các thông tin mà ngân hàng thương mại yêu cầu

Thứ tư, Trao đổi thông tin giữa các ngân hàng còn nhiều hạn chế

Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt đi vay để cho vay, do vậy vấn đềrủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợptác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý

Trang 29

rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngânhàng Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụthể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiềungân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thìrủi ro chia đều cho tất cả các ngân hàng.

Thông tin về khách hàng không đầy đủ, không chính xác dẫn đến sự mất cânxứng về thông tin giữa cán bộ tín dụng và khách hàng, khiến cho việc đưa ra quyếtđịnh cho vay không phù hợp

Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam vào cuối năm 1997, khi tập đoàn Epco– Minh Phụng sụp đổ, vụ án kinh tế lớn nhất trong thập niên 90 đã tác động mạnhvào hệ thống ngân hàng thương mại, sự thiệt hại vật chất lên đến hàng ngàn tỷ đồng

và thời gian để giải quyết những hậu quả để lại phải mất đến 10 năm Đó cũngchính là minh chứng về nguyên nhân chủ quan gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng

Nguyên nhân khách quan (Từ phía khách hàng)

Bên cạnh những nguyên nhân gây xuất phát từ phía ngân hàng, rủi ro tín dụngcũng có nguyên nhân từ phía khách hàng vay, nguyên nhân do môi trường kinh tếkém ổn định, môi trường pháp lý chưa thuận lợi

Thứ nhất, Khách hàng không có khả năng hoàn trả vốn vay

Nguyên nhân từ phía người vay là một trong những nguyên nhân chính gây rủi

ro tín dụng cho ngân hàng Với các đối tượng khác nhau, nguyên nhân gây rủi ro tíndụng cũng có thể khác nhau do tính đặc thù của từng loại khách hàng

Đối với khách hàng cá nhân, phần lớn khoản cấp tín dụng cho cá nhân là nhằmđáp ứng nhu cầu tiêu dùng Với những khoản vay này, nguồn trả nợ chính là nguồnthu nhập ổn định của họ Vì vậy bất cứ nguyên nhân nào gây tính mất ổn định vềthu nhập của người vay đều có thể dẫn tới rủi ro cho ngân hàng Có thể kể đến mộtvài nguyên nhân cụ thể như: người vay bị thất nghiệp, người vay gặp sự cố bấtthường trong cuộc sống, hoặc dự tính không chính xác thu nhập có thể sử dụng đểtrả nợ ngân hàng

Trang 30

Đối với khách hàng là doanh nghiệp, nguyên nhân dẫn đến việc không có khảnăng hoàn trả vốn vay có thể kể đến như:

Khách hàng vay gặp rủi ro trong kinh doanh Rủi ro kinh doanh của doanhnghiệp thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiếu hướng xấu của kết quảkinh doanh Một quy trình tín dụng luôn bao gồm quy trình sử dụng tiền vay củangười đi vay, bất cứ rủi ro nào trong quá trình kinh doanh đều có ảnh hưởng xấuđến việc trả nợ Những rủi ro trong kinh doanh của khách hàng thường xảy ra trongtrường hợp việc xây dựng và triển khai phương án, dự án đầu tư sản xuất kinhdoanh không khoa học, việc dự đoán chi phí và xác định mức sản lượng sản xuấtkhông phù hợp Giá cả yếu tố đầu vào biến động tăng so với dự kiến, làm tăng chiphí và ảnh hưởng tới lợi nhuận dự kiến Khả năng quản lý kinh doanh kém, tậptrung vốn đầu tư vào tài sản vật chất mà không đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho

bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinhdoanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản củacác phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế Bêncạnh đó, những biến đổi về thị hiếu tiêu dùng trên thị trường cũng gây ảnh hưởngđáng kể đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Rủi ro do tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Rủi ro tàichính của doanh nghiệp thể hiện ở chỗ doanh nghiệp không thể đối phó với cácnghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ Rủi ro tài chính diễn ra cùng vớimức sử dụng nợ, nó gắn liền với cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Đặc điểmchung của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ,

tỷ trọng khoản Nợ phải trả chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn vốn Ngoài ra, thóiquen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được cácdoanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà cácdoanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn làthực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệpdựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác

Trang 31

thực Điều này cũng dễ dẫn tới rủi ro cho các ngân hàng khi quyết định các khoảncho vay

Thứ hai, Môi trường kinh tế không ổn định

Môi trường kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh tài chính của người đivay, thành công hay tổn thất của người cho vay Trong điều kiện hiện nay do sựbiến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới tác động lớnđến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm ảnh hưởng trực tiếp đếnhoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vaynói chung Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấugia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanhnghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơthua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sựcạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trườnghội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếukém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lựctài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút

Bên cạnh đó, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến sản xuất bị đình trệ, ứ đọngvốn làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của người vay Trong điều kiện nềnkinh tế phát triển người vay hoạt động tốt do điều kiện kinh tế thuận lợi, nhưngtrong giai đoạn khủng hoảng khả năng hoàn trả của người vay giảm sút Lạm phátcũng gây ảnh hưởng trực tiếp đến công việc kinh doanh làm cho cá nhân và doanhnghiệp gặp khó khăn về tài chính dẫn đến nhu cầu tín dụng trên thị trường tăng cao,

nợ không thay đổi tương xứng với sức mua của đồng tiền vì vậy đã trở thành gánhnặng cho người đi vay

Ngoài ra, cạnh tranh là một thuộc tính tất yếu của nền kinh tế thị trường, cácnhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ nhữngngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó luôn có sự chuyển dịch vốn từngành này qua ngành khác Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã pháttriển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch phù hợp, phân

Trang 32

công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hộinghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước và việc phân bổ vốn đầu tư khônghợp lý giữa các ngành, khu vực Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu

tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia vàgián tiếp gây rủi ro cho các doanh nghiệp là khách hàng chủ yếu của ngân hàng

Thứ ba, Môi trường pháp lý chưa thuận lợi

Trong kinh doanh các yếu tố pháp lý có tác động đến hoạt động kinh doanh baogồm hệ thống luật, hệ thống các biện pháp đảm bảo cho pháp luật được thực thi và ýthức chấp hành pháp luật Hoạt động kinh doanh luôn chịu sự tác động của ba yếu

tố tạo thành môi trường pháp lý nói trên Các yếu tố này có quan hệ đan xen và tácđộng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách tổng hợp, hay nói cáchkhác chúng mang tính đồng bộ cao Nếu các yếu tố này tách rời nhau sẽ tạo ra sơ hởgây rủi ro cho các ngân hàng Cùng với môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạonên môi trường cho vay của các ngân hàng thương mại

Trong thời gian qua,Việt Nam đã rất chú trọng đến việc tạo ra môi trường pháp

lý lành mạnh cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và hoạt động của cácngân hàng nói riêng, tuy nhiên qua thực tế hoạt động cho thấy hệ thống văn bảnpháp luật trong lĩnh vực ngân hàng còn thiếu, chưa đồng bộ và việc triển khai trongthực tế một số quy định còn nhiều khó khăn

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn cho thấy rủi ro tín dụng củangân hàng có thể do nhiều nguyên nhân Việc tìm hiểu các nguyên nhân cụ thể gâyrủi ro tín dụng là cơ sở để các ngân hàng thực hiện các giải pháp trong việc hạn chế

và phòng ngừa rủi ro một cách hữu hiệu

2.2.3 Kiểm soát nội bộ với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại

cổ phần

Hoạt động kiểm soát là tập hợp các chính sách và thủ tục đảm bảo cho cácchỉ thị của nhà quản lý được thực hiện, là các hành động cần thiết thực hiện để đốiphó với rủi ro đe dọa đến việc đạt được mục tiêu trong các hoạt động tín dụng củangân hàng Hoạt động Kiểm soát nội bộ có thể giúp đạt được mục tiêu là hoạtđộng, tài chính và tuân thủ, giúp cho các hoạt động tín dụng của ngân hàng được

Trang 33

chặt chẽ hơn, phòng ngừa ngăn chặn, giảm thiểu các rủi ro sau này và đảm bảo cáchoạt động tín dụng được thực hiện đúng theo quy trinh, chính sách và quy định củaNgân hàng.

Khi đánh giá rủi ro, nhất là rủi ro trong tín dụng-hoạt động đem lại lợi nhuậnlớn cho ngân hàng thì các nhà quản lý sẽ xác định các hành động cần phải thực hiện

để đối phó và phòng tránh cũng như tránh lặp lại những rủi ro tín dụng đe dọa đếnviệc đạt được mục tiêu của Ngân hàng Như vậy có thể hiểu kiểm soát nội bộ là mộthoạt động mà ngân hàng nổ lực để đạt được mục tiêu của mình

Mục tiêu của kiểm soát tín dung:

 Kiểm soát hoạt động tín dụng nhằm đánh giá đúng thực trạng, chấtlượng tín dụng, phát hiện những sơ hở trong hoạt động tín dụng, những rủi ro vàtiềm ẩn rủi ro hoạt động tín dụng của ngân hàng từ đó đề xuất tư vấn HDQT, Tổnggiám đốc, Giám đốc các đơn vị thành viên biện pháp, giải pháp nhẳm giảm thiểurủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng

 Kiểm soát hoạt động tín dụng là một trong những nội dung chính trong

kế hoạch kiểm soát nội bộ định kỳ hàng năm, hàng quý và cũng là một trong nhữngnội dung chính của chương trình kiểm soát đột xuất theo yêu cầu của Chủ tịchHDQT, Tổng giám đốc, Giám đốc các đơn vị thành viên

Bảng 2.1 Thủ tục kiểm soát chủ yếu trong kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng Mục tiêu kiểm soát Thủ tục kiểm soát

Đánh giá việc tuân thủ các chính

sách, các quy định, quy trình hoạt

Đánh giá rủi ro trong hoạt động - Kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ khách hàng

Trang 34

tín dụng - Kiểm tra tính đầy đủ và chính xác các thông tin

- Việc đăng ký giao dịch đảm bảo và thực hiện lưukho các giấy tờ gốc liên quan tài sản đảm bảo tiềnvay không thực hiện theo đúng quy định

- Kiểm tra căn cứ giải ngân chưa đầy đủ và đúngquy định

- Công tác kiểm tra khách hàng sau cho vay chưakịp thời, chưa đảm bảo chất lượng và chưa đượckiểm soát chặt chẽ

- Việc quản lý thu nợ chưa chặt chẽ

- Việc cơ cấu (gia hạn và điều chỉnh kỳ hạn nợ)chưa đầy đủ căn cứ

- Việc phân loại nợ chưa thực hiện theo đúng quyđịnh Việc trích lập dự phòng rủi ro chưa đúng vớithực tế phân loại nợ

- Công tác đánh giá khách hàng định kỳ chưa thựchiện kịp thời và đầy đủ

Thủ tục kiểm soát nghiệp vụ tín dụng cụ thể:

- Đánh giá kết quả trong thời hiệu kiểm soát

- Xem xét về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ phạm vi hoạt động củacác Phòng tín dụng và Phòng thẩm định tín dụng, Quản lý rủi ro, Các thay đổi tronghoạt động tín dụng

Trang 35

- Xem xét các văn bản, quy định về cho vay, phân cấp phân quyền

- Kiểm soát thực hiện quy trình, quy định: Kiểm tra hồ sơ vay vốn với danhmục hồ sơ theo quy định, Kiểm tra nội dung theo mẫu quy định không, Các nộidung thẩm định có chính xác không Có sự kiểm soát của cán bộ quản lý cấp trênkhông ;Kiểm tra trình tự xét duyệt cho vay: cấp phê duyệt? Hạn mức phê duyệt?Các báo cáo tư vấn…Kiểm tra vệc đăng ký giao dịch đảm bảo và lưu trữ giấy tờ gốcliên quan đến TSDB: việc thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo (kịp thời và đầyđủ)? Thực hiện lưu kho các giấy tờ gốc liên quan có đầy đủ, kịp thời? Kiểm tra căn

cứ giải ngân và đối chiếu chữ ký của khách hàng với mẫu chứ ký đã đăng ký: cóđầy đủ căn cứ giải ngân; Mục đích giải ngân có khớp đúng so với mục đích vay vốn

và chuyển đúng đối tượng thụ hưởng; Số tiền giải ngân có nhằm trong hạn mứckhông; Kiểm tra chữ ký trên hồ sơ vay vốn với chữ ký đăng ký giao dịch Kiểm trakhách hàng sau giải ngân: Rà soát và đối chiếu các nội dung của Biên bản kiểm tramục đích sử dụng vốn vay; Xem xét biên bản kiểm tra tình hình tài chính và hoạtđộng kinh doanh của khách hàng định kỳ, đột xuất; Biên bản kiểm tra và định giálại TSDB định kỳ và đột xuất; Báo cáo kết quả kiểm tra tài sản hình thành từ vốnvay, các vấn đề tồn tại, vướng mắc, kiến nghị, biện pháp xử lý… Kiểm tra việcquản lý thu hồi nợ: Sự phối hợp giữa chuyên viên tín dụng và chuyên viên kháchhàng trong việc thu hồi nợ; Việc thu hồi nợ có được kiểm soát không… Kiểm traviệc cơ cấu nợ, phân loại nợ: Việc phân loại nợ có chính xác không, có được thựchiện kịp thời theo quy định không

- Kiểm tra số liệu nhập trên hệ thống Đối chiếu thông tin giữa hợp đồng tíndụng và tờ trình cho vay Kiểm soát việc tạo lập, phê duyệt khoản cho vay…

Trên cơ sở lý luận này, chương 2 của luận văn đi vào trình bày tổng quan về

NH TMCP Tiên Phong, những đặc điểm về hệ thống KSNB cũng như những đặcđiểm của hoạt động tín dụng tại ngân hàng để trên cơ sở đó có thể tìm hiểu rõ hơn

về thực trạng của hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng tại NH TMCP TiênPhong

CHƯƠNG III

Trang 36

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TIÊN PHONG

3.1 Đặc điểm chung của ngân hàng TMCP Tiên Phong với kiểm soát tín dụng

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng

Thông tin chung về ngân hàng

- Tên: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong

- Tên viết tắt: TienPhongBank

- Đăng ký kinh doanh số: 0102744865 do Sở kế hoạch đầu tư TP.Hà Nội

- Trụ sở chính: Tòa nhà FPT, Lô B2, Cụm sản xuất TTCN và CNN phườngDịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Hà Nội

- Điện thoại: (84.4) 3768 8998 Fax: 04.37688979

- Website: www.tpb.com.vn

TienPhongBank chính thức thành lập tháng 5.2008 bởi Công ty cổ phần FPT,Công ty thông tin di động VMS (Mobifone) và Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểmQuốc gia Việt Nam (Vinare) TienPhongBank được kế thừa các thế mạnh về côngnghệ thông tin, công nghệ viễn thông di động, tiềm lực tài chính và vị thế của các

cổ đông lớn này mang lại TiênPhongBank xác định phát huy các ưu thế này để xâydựng cho mình một nền tảng bền vững và mang đến cho khách hàng cuộc sống tàichính đơn giản và hiệu quả hơn

TienPhongBank mong muốn tạo điều kiện tốt nhất cho khách hàng, cộng đồngdoanh nghiệp những dịch vụ tài chính hiệu quả, hiệu quả dựa trên nền tảng côngnghệ cao Chỉ sau 3 năm thành lập, TienPhongBank đã hoạt động có lãi Năm 2010,TienPhongBank hoàn thành tăng vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng Theo Chứng nhận đăng

ký kinh doanh Giấy phép Ngân hàng số 123/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước ViệtNam (“NHNNVN”) cấp vào ngày 5 tháng 5 năm 2008 với thời hạn hoạt động là 99năm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng gồm:

a Huy động vốn:

Trang 37

- Nhận tiền gửi các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới cáchình thức nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác;

- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huyđộng vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc NH

NN Việt Nam chấp thuận;

- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các tổchức tín dụng nước ngoài;

- Vay vốn ngắn hạn của NH NN Việt Nam theo quy định của pháp luật ViệtNam;

- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NH NN Việt Nam;

b Hoạt động tín dụng:

- Cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu thươngphiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức cấp tíndụng khác theo quy định của NH NN Việt Nam

c Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:

- Cung cấp các phương tiện thanh toán;

- Thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ;

- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NH NN Việt Nam;

- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế theo quy định của pháp luật;

- Thực hiện dịch vụ thu và chi tiền mặt cho khách hàng;

- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liênngân hàng trong nước Việc tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế phải được NH

NN Việt Nam chấp thuận

d Các hoạt động khác:

- Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp khác theo quy định của phápluật;

- Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NH NN Việt Nam;

- Trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc có tư cách pháp nhân,hạch toán độc lập bằng vốn tự có để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường

Trang 38

trong nước và trên thị trường quốc tế khi được NH NN chấp thuận;

- Ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động

có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập bằng vốn tự có hoặc liên doanh để kinhdoanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật;

- Tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức trức tiếp tư vấn chokhách hàng hoặc thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật;

- Bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụkhác theo quy định của pháp luật;

- Trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc có tư cách pháp nhân,hạch toán độc lập bằng vốn tự có để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác theoquy định của pháp luật

Tính đến nay với 10 chi nhánh, kết thúc năm 2010 tổng lợi nhuận trước thuếtrước trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và đầu tư tài chính cua TienPhongBank là262.3 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế sau khi trích lập đầy đủ dự phòng là 213.4 tỷđồng, tăng trưởng 30% so với năm 2009 Tổng tài sản là 20.889 tỷ đồng, tăngtrưởng 94.7% so với năm 2009 Tổng huy động đạt 16.544 tỷ (tăng trưởng 107%)

và tăng trưởng dư nợ đạt 5.224 tỷ (tăng trưởng 64%) Chất lượng tài sản và quản lýrủi ro ở mức độ tốt Cụ thể đến 31.12.2010, nợ xấu toàn hàng là 957 triệu, chiếm tỷ

lệ 0.02% tổng dư nợ cho vay TienPhongBank luôn duy trì tỷ lệ an toàn tối thiểucao, đạt 18%

Cụ thể tình hình tài chính và lợi nhuận thể hiện ở bảng 3.1 sau đây:

Trang 39

Bảng 3.1 - Kết quả hoạt động của TienPhongBank 2009 – 2010

Đơn vị: triệu đồng

ST

Tỷ lệ tăng trưởng (%)

7 Lợi nhuận thuần từ

TienPhongBank là một ngân hàng TMCP nên được tổ chức theo mô hình công

ty cổ phần Trong đó Đại hội cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất

Theo quyết định ngày 26/09/2011 của chủ tịch HĐQT TPB, sơ đồ tổ chức củangân hàng TMCP Tiên Phong có một số thay đổi lớn

So với sơ đồ tổ chức trước đây, mô hình đề xuất mới có một số điểm đáng chú

ý Các Ủy ban trực thuộc Hội đồng Quản trị được quy định rõ nhiệm vụ Cụ thể,giúp việc cho Hội đồng Quản trị gồm Ủy ban Quản lý Rủi ro, Ủy ban Tín dụng, Ủyban Quản lý Tài sản Nợ và Có (ALCO) và Ủy ban Nhân sự để chịu trách nhiệm chỉđạo các lĩnh vực tương ứng trong hoạt động của Ngân hàng

Riêng Ủy ban Điều hành (EXCO) được bổ sung với định hướng để chịu tráchnhiệm về các mảng việc ngoài các mảng thuộc các Ủy ban khác và là cơ quanthường trực của Hội đồng Quản trị trong việc chỉ đạo và phối hợp với Ban Điềuhành

Trang 40

Tiếp đến, bộ máy điều hành được xây dựng theo định hướng thực hiện các chỉđạo từ các Ủy ban và điều hành trực tiếp công việc hàng ngày, bao gồm tám (08)đơn vị hỗ trợ và bốn (04) đơn vị kinh doanh

Hầu hết các khối trong bộ máy điều hành được giữ nguyên như sơ đồ tổ chứchiện tại, riêng Khối Phát triển Sản phẩm được tổ chức lại thành hai (02) đơn vị riêngbiệt là Khối Khách hàng Doanh nghiệp và Khối Khách hàng Cá nhân Các Khối nàythực hiện đồng thời hai chức năng phát triển sản phẩm và tổ chức thực hiện các sảnphẩm, dịch vụ thống nhất trên toàn hệ thống

Ngày đăng: 25/07/2013, 08:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Thủ tục kiểm soát chủ yếu trong kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng Mục tiêu kiểm soát Thủ tục kiểm soát - Nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại NH TMCP Tiên Phong
Bảng 2.1 Thủ tục kiểm soát chủ yếu trong kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng Mục tiêu kiểm soát Thủ tục kiểm soát (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w