1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xuất khẩu lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

27 458 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xuất khẩu lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Lại Thị Thu Hà
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Lao Động
Thể loại Đề án chuyên ngành
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 214,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một quốc gia có nguồn lao động trẻ và dồi dào với trên 85 triệu dân. Sau Đại Hội VI năm 1986 chủ chương đổi mới kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, đi đối với mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế là tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm còn chiếm tỷ lệ lớn, thu nhập của đại bộ phận dân cư vẫn còn ở mức thấp. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải giải quyết tốt nhu cầu việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Đã có rất nhiều biện pháp được đề ra nhằm giải quyết vấn đề trên, trong đó đẩy mạnh xuất khẩu lao động là một trong những biện pháp giải quyết việc làm được nhiều nước đang páht triển trên thế giới quan tâm và khai thác tối đa. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá và phân công lao động xã hội, lao động di chuyển từ nước này sang nước khác đã trở thành hiện tượng khá phổ biến với việc đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài.Tuy không nhộn nhịp như tư bản và công nghệ, lao động cũng là một yếu tố sản xuất ngày càng vượt biên giới tìm nơi có mức thù lao cao hơn. Đây là một yếu tố khách quan và đang có xu hướng gia tăng ở nhiều nước. Thông qua xuất khẩu lao động các nước không chỉ giảm bớt gánh nặng việc làm mà còn làm tăng thu nhập cho bản thân người lao động, và gia đình họ. Đối với Việt Nam, XKLĐ cũng xuất phát từ nhu cầu nội tại và xu hướng chung nhằm góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới, cơ cấu lao động nói chung và cơ cấu lao động nông thôn ở những địa phương có nhiều người đi xuất khẩu lao động nói riêng có sự chuyển đổi rõ rệt. Tuy nhiên, XKLĐ đang tồn tại nhiều vấn đề bất cập được giải quyết như: chất lượng lao động đi xuất khẩu còn hạn chế, hành lang pháp lý để tạo điều kiện cũng như bảo vệ người lao động chưa thật sự được quan tâm thoả đáng, hiện tượng lừa đảo, bóc lột người lao động vẫn xảy ra nhiều... Đây là những bất cập đang tồn tại đòi hỏi các cơ quan chức năng phải vào cuộc một cách tích cực và quyết liệt để phát triển hoạt động SXKD trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế... Đó cũng là lý do em muốn tham đóng góp ý kiến của mình về lĩnh vực XKLĐ Việt Nam nhằm giảm bớt những tồn tại đang diễn ra. Do vậy, em chọn đề tài: "Xuất khẩu lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế" để làm đề án chuyên ngành của mình.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sự cần thiết phải nghiên cứư đề tài:

Việt Nam là một quốc gia có nguồn lao động trẻ và dồi dào với trên 85 triệudân Sau Đại Hội VI năm 1986 chủ chương đổi mới kinh tế và hội nhập kinh tếquốc tế của Việt Nam đã tạo nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Tuynhiên, đi đối với mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế là tình trạng thất nghiệp vàthiếu việc làm còn chiếm tỷ lệ lớn, thu nhập của đại bộ phận dân cư vẫn còn ởmức thấp Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải giải quyết tốt nhu cầu việc làm, nâng caothu nhập cho người lao động Đã có rất nhiều biện pháp được đề ra nhằm giảiquyết vấn đề trên, trong đó đẩy mạnh xuất khẩu lao động là một trong nhữngbiện pháp giải quyết việc làm được nhiều nước đang páht triển trên thế giới quantâm và khai thác tối đa Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá và phân công laođộng xã hội, lao động di chuyển từ nước này sang nước khác đã trở thành hiệntượng khá phổ biến với việc đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nướcngoài.Tuy không nhộn nhịp như tư bản và công nghệ, lao động cũng là một yếu

tố sản xuất ngày càng vượt biên giới tìm nơi có mức thù lao cao hơn Đây là mộtyếu tố khách quan và đang có xu hướng gia tăng ở nhiều nước Thông qua xuấtkhẩu lao động các nước không chỉ giảm bớt gánh nặng việc làm mà còn làm tăngthu nhập cho bản thân người lao động, và gia đình họ Đối với Việt Nam, XKLĐcũng xuất phát từ nhu cầu nội tại và xu hướng chung nhằm góp phần giải quyếtviệc làm, tăng thu nhập cho người lao động, xoá đói giảm nghèo, đào tạo pháttriển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng cường hợp tác vớicác nước trong khu vực và thế giới, cơ cấu lao động nói chung và cơ cấu laođộng nông thôn ở những địa phương có nhiều người đi xuất khẩu lao động nóiriêng có sự chuyển đổi rõ rệt

Tuy nhiên, XKLĐ đang tồn tại nhiều vấn đề bất cập được giải quyết như:chất lượng lao động đi xuất khẩu còn hạn chế, hành lang pháp lý để tạo điều kiệncũng như bảo vệ người lao động chưa thật sự được quan tâm thoả đáng, hiệntượng lừa đảo, bóc lột người lao động vẫn xảy ra nhiều Đây là những bất cậpđang tồn tại đòi hỏi các cơ quan chức năng phải vào cuộc một cách tích cực và

Trang 2

quyết liệt để phát triển hoạt động SXKD trong tiến trình hội nhập kinh tế quốctế Đó cũng là lý do em muốn tham đóng góp ý kiến của mình về lĩnh vựcXKLĐ Việt Nam nhằm giảm bớt những tồn tại đang diễn ra Do vậy, em chọn đề

tài: " Xuất khẩu lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế" để làm đề án chuyên ngành của mình.

Mục tiêu nghiên cứu:

Nhằm thấy được thực trạng của công tác xuất khẩu lao động và tạo việc làmcho người lao động trong những nămg gần đây, qua đó phân tích ưu, nhược điểm

để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả công tác XKLĐ,tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp thu thập tài liệu, tổng hợp, phân tích thông tin

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu sự cần thiết của công tác xuấtkhẩu lao động cũng như thực trạng xuất khẩu lao động về mặt số lượng và chấtlượng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, từ đó thấy được cácnguyên nhân của vấn đề và đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm đầymạnh xuất khẩu lao động như một hướng tạo việc làm cho người lao động trongtiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tình hình XKLĐ của Việt Nam từ năm

1980 đến nay, đặc biệt là 3 năm gần đây

Kết cấu đề tài:

Đề tài gồm có ba phần:

- Phần thứ nhất: Cơ sở lý luận nghiên cứu XKLĐ và tạo việc làm cho người

lao động trong tiến trình HNKTQT

- Phần thứ hai: Phân tích thực trạng XKLĐ và tạo việc làm cho người lao

động trong tiến trình HNKTQT

- Phần thứ ba: Giải pháp để tăng cường XKLĐ tạo việc làm cho người lao

động ở Việt Nam trong tiến trình HNKTQT

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU XKLĐ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TIẾN TRÌNH

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Xuất khẩu lao động

1.1.1 Khái niệm

Lịch sử của sự phát triển là sự phân bố không đều các nguồn lực tự nhiên vàcon người Trong nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay,việc giải quyết vấn đề mất cân bằng cung cầu về hàng hoá, trong đó có hàng hoásức lao động được thực hiện thông qua XKLĐ

Như vậy, XKLĐ là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và làmột bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hoá đem xuất khẩu là sác lao độngcủa người khác, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài Nói các khácXKLĐ là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng lao đông cho cácnước ngoài, mà đối tượng của nó là con người.(Đặng Đình Đào, 2005)

Ở Việt Nam, trong chỉ thị số 41-CT/TW ngày 22/09/1998 đã định nghĩa

"XKLĐ và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triểnnguồn lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề chongười lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợptác quốc tế giữa nước ta với các nước"

Trang 4

- Đem lại nguồn thu nhập quan trọng cho đất nước: Ngoài việc giải quyếttình trạng thất nghiệp, xoá đói giảm nghèo, hàng năm lao động xuất khẩu còn gửi

về nước một khoản tiền không nhỏ

- Nâng cao chất lượng nguồn lao động, nâng cao tay nghề, rèn luyện tácphong công nghiệp Sau thời gian lao động ở nước ngoài (thường là ở các khuvực có trình độ công nghệ cao hơn), lao động xuất khẩu trở về quê hương sẽ cómột tay nghề, được đào tạo kỹ năng công viẹc, kỷ luật làm việc chặt chữ hơn màkhông mất chi phí đào tạo trong nước

- Góp phần vào phát triển và ổn định kinh tế xã hội: thu nhập của lao độngxuất khẩu không những góp phần cải thiện cuộc sống của gia đình họ mà còn có

ý nghĩa đặc biệt đối với quốc gia XKLĐ như đáp ứng nhu cầu nhập khẩu, tăngnhu cầu tiêu dùng, tăng đầu tư, tăng mức tín nhiệm của các ngân hàng thực hiệncác dịch vụ chuyển tiền cho người lao động ở nước ngoài, góp phần giải quyếtviệc làm Hơn nữa, dòng tiền có được từ XKLĐ là dòng vốn chuyển giao, khôngtạo ra nghĩa vụ trả nợ trong tương lai nên còn có thể góp phần giảm nguy cơkhủng hoảng tài chính, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế của quốc gia cónguồn thu XKLĐ đáng kể

- Là công cụ chuyển giao công nghệ tiên tiến nước ngoài

- Tăng cường mở rộng giao lưu và quan hệ hợp tác quốc tế giữa các quốcgia trên thế giới

1.1.3 Các hình thức xuất khẩu lao động

1.1.3.1 Người lao động tự tìm việc làm ở nước ngoài

Hình thức này mới chỉ xuất hiện ở một số ít các tỉnh biên giới như ViệtNam - Lào; Việt Nam - Campuchia Nguyên nhân là do ở hình thứ XKLĐ nàyđòi hỏi người lao động cần có ngoại ngữ tốt, có hiểu biết về pháp luật Việt Namcũng như nước sở tại Hơn nữa, khả năng hoạt động độc lập của người Việt Namcòn kém

1.1.3.2 Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài

Theo điều 6 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theohợp đồng của Quốc hội khoa XI, người lao động đi làm việc ở nước ngoài theomột trong các hình thức sau:

Trang 5

- Cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài thông quacác doanh nghiệp XKLĐ.

Ở hình thức này các doanh nghiệp XKLĐ sẽ tìm kiếm thị trường lao động ởnước ngoài, ký kết hợp đồng sau đó tuyển chọn lao động ở trong nứơc Cácdoanh nghiệp XKLĐ sẽ đào tạo ngoại ngữ và tay nghề cho người lao động, cungcấp cho họ những kiến thức về luật pháp và văn hoá của nước nhận lao động.Đây là hình thức XKLĐ phổ biến ở Việt Nam

- Đưa người lao động đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán côngtrình ở nước ngoài

Do quá trình toàn cầu hoá dẫn đến tự do hoá về đầu tư, khoán Các doanhnghiệp được phép đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc Đi theo hìnhthức này người lao động sẽ đảm bảo được quyền lợi của mình một cách chặt chẽnhất Tuy nhiên đối với nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thì XKLĐ theohình thức này chưa thực sự phát triển

- Đưa người lao động đi làm việc theo các dự án đầu tư ở nước ngoài

- Các hình thức khác theo quy định của pháp luật

1.1.3.3 Xuất khẩu lao động tại chỗ.

Là hình thức các tổ chức kinh tế cung ứng lao động cho các tổ chức kinh tếnước ngoài ở chính nước đó, bao gồm: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, tổ chức, cơ quan ngoạigiao, văn phòng đại diện của nước ngoài ở nước đó

1.2 Tạo việc làm

1.2.1 Việc làm

Điều 13, chương II (việc làm) Bộ Luật Lao Động của nước CHXHCNVN

có ghi rõ: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luậtcấm đều được thừa nhận là việc làm"

Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là Việc làm cần thoả mãn haiđiều kiện:

-Thứ nhất: Hoạt động lao động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngườilao động và các thành viên trong gia đình họ

- Thứ hai: Hoạt động đó phải có tính pháp lý là không bị pháp luật cấm

Trang 6

Tuy nhiên, hạn chế của khái niệm trên là: Tính páhp lý của một hoạt độngđược thừa nhận tuỳ thuộc vào luật pháp và thể chế của mỗi quốc gia và mỗi thời

kỳ Mặt khác, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho xã hội đều tạo rathu nhập mặc dù có góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuê người làmcông, ví dụ như nghề nội trợ

Theo khái niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạtđộng lao động được trả công bằng tiền và hiện vật

1.2.2 Tạo việc làm

Là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chấtlượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sảnxuất và sức lao động sao cho cơ hội việc làm và mong muốn, nguyện vọng đượclàm việc của người lao động gặp nhau trên thị trường lao động (Trần Xuân Cầu,Mai Quốc Chánh, 2008, tr 261)

1.2.3 Cơ chế tạo việc làm

Là cơ chế ba bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực giữa người lao động, nhànước và người sử dụng lao động

Về phía người lao động: Người lao động muốn tìm được việc làm phù hợp,

có thu nhập cao thì phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư phát triển sức lao độngcủa mình, phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ từ gia đình, xã hội đểtham gia đào tạo, phát triển, nắm vững những điều kiện cần thiết để có thể thamgia vào thị trường lao động

Về phía nhà nước: Nhà nước tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ,chính sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạo

ra môi trường pháp lý kết hợp lao động với tư liệu sản xuất

Về phía người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động bao gồm cácdoanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài, các tổ chức kinh tế xã hội cần có thông tin về thị trường đầu vào

và đầu ra để tạo và duy trì chỗ làm việc cho người lao động Để làm được điềunày, người sử dụng lao động cần có vốn để mua nhà xưởng, máy móc thiết bị,nguyên vật liệu, sức lao động để sản xuất ra sản phẩm hay dịch vụ Ngoài ra,người sử dụng lao động cần có kinh nghiêm, sự quản lý tổ chức một cách khoa

Trang 7

học và nghệ thuật, sự hiểu biết về các chính sách của nhà nước nhằm vận dụnglinh hoạt để mở rộng sản xuất, nâng cao sự thoả mãn của người lao động, khơidậy động lực làm việc, thu hút nhân lực và giữ chân người tài, nâng cao lợi thếcạnh tranh trên thị trường.

1.2.4 Vai trò của tạo việc làm

- Thứ nhất, tạo việc làm cho người lao động là một hoạt động cần thiếtnhằm giảm thất nghiệp Trong xu hướng công nghiệp hoá hiện nay, quốc gia nàomuốn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu đều phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh

tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động Vì vậy

sẽ xuất hiện nhiều ngành nghề mới, đồng thời một số nghề cũ cũng bị mất đi.Điều này sẽ làm tăng tỷ lệ thất nghiệp

- Thứ hai, tạo việc làm cho người lao động giúp đáp ứng quyền lợi và nghĩa

vụ của người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động như Hiếnpháp nước CHXHCN Việt Nam đã ghi nhận

- Thứ ba, tạo việc làm cho người lao động sẽ làm tăng thu nhập, nâng cao vịthế của người lao động trong gia đình và ngoài xã hội

- Thứ tư, tạo việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hạn chế cáctiêu cực xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo và bình ổn xã hội

1.3 Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.3.1 Khái niệm

HNKTQT là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợptác kinh tế khu vực và toàn cầu trong đó mối quan hệ giữa các thành việc có sựràng buộc theo những quy định chung của khối Như vậy, có thể nói HNKTQT làquá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào cácđịnh chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự do hoá thươngmại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoại

1.3.2 Lợi ích

Quá trình toàn cầu hoá hội nhập kinh tế quốc tế đi đôi với tự do hoá kinh tế

là trào lưu phổ biến đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới Các quốc gia này

đề là đang xây dựng nền kinh tế và vận hàng theo cơ chế thị trường, xúc tiến tự

do hoá thương mại và đầu tư, tích cực tham gia hội nhập kinh tế Thế giới Sự vận

Trang 8

động của các công ty đa quốc gia thông qua dịch chuyển các yếu tố sản xuất như:vốn, lao động, con người đang thúc hình thành nên một trật tự thế giới ngày càngthống nhất làm xu thế toàn cầu hoá tăng cả về chiều rộng và chiều sâu Trong bốicảnh, hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia để

có thể phát huy được lợi thế so sánh của mình cũng như tranh thủ được cácnguồn lực bên ngoài để phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế Quốc gia nàonằm ngoài xu thế này đương nhiên sẽ bị tụt hậu

Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam thì hội nhập kinh tếquốc tế là con đường tốt nhất để rút nhằm tụt hậu so với các nước khác và cóđiều kiện phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mình cũng như phâncông lao động và hợp tác quốc tế Chủ chương hội nhập kinh tế quốc tế của ViệtNam được đặt ra từ đại hội VI (năm 1986) trên cơ sở đường lối đổi mới và "mởcửa" nền kinh tế và trên cơ sở chính sách, quan hệ đối ngoại của Việt Nam vớiphương châm đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế Quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế được hình thành và phát triển cùng sự phát triển của quá trình tự

do hoá thương mại và xu hướng mở cửa của nền kinh tế của các quốc gia.HNKTQT có một số lợi ích nhất định sau:

1 Tạo nên sự ổn định trong quan hệ cũng như hợp tác cùng phát triển giữacác quốcgia vì một trật tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lý cả các cườngquốc và của các công ty xuyên quốc gia

2 Giúp khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của các nước thành viên

3 Tạo nên động lực cạnh tranh giữa các quốc gia cũng như các doanh nghiệptrong và ngoài nước, kích thích ứng dụng thành tựu Khoa học công nghệ mới

4 Giúp tạo dựng nên các nhân tố mới và điều kiện mới cho sự phát triểncủa từng quốc gia trong việc đổi mới toàn diện trên cơ sở trình độ phát triển ngàycàng cao và hiện đại của lực lượng sản xuất

5 Tạo ra sự khơi thông các dòng chảy nhân lực trong và ngoài nước, tạođiều kiện mở rộng thị trường chuyển giao công nghệ và các kinh nghiệm quản lý

1.4 Mối quan hệ giữa xuất khẩu lao động và tạo việc làm cho người lao đọng trong tiến trình hội nhập

Với một nước đông như Việt Nam, giải quyết việc làm cho người lao động

Trang 9

luôn là một trong những nỗ lực lớn của Chính phủ, nhất là trong tiến trình hộinhập kinh tế quốc tế Với hơn 85 triệu dân (năm 2007), trên một nửa là số ngườitrong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp ở thành thị lên đến 5,6% và

số thời gian chưa được sử dụng ở nông thôn lên đến 20%, thì XKLĐ của ViệtNam là một kênh giải quyết việc làm rất có ý nghĩa cho người lao động

Ngày 09/11/1991, Hội đồng bộ trường ra Nghị định 370/HĐBT ban hàngquy chê về đưa người XKLĐ và chuyên gia nhấn manh: "XKLĐ và chuyên gia làmột hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực , giải quyếtviệc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăngnguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường hợp tác quốc tế giữa nước ta vớicác nước

Như vậy, có thể khẳng định XKLĐ là một giải pháp có hiệu quả trong pháttriển kinh tế, giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo có hiệu quả cho nhiềuđối tượng lao động ở nước ta, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giớingày càng mở rộng, việc chuyển lao động từ nước này qua nước khác là điềukhông quá khó khăn

Trang 10

PHẦN THỨ HAI THỰC TRẠNG XKLĐ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.

2.1 Thực trạng XKLĐ Việt Nam trong tiến trình HNKTQT

2.1.1 Giai đoạn từ 1980 đến 1990

Năm 1980, Việt Nam bắt đầu XKLĐ đưa người lao động đi làm việc cóthời hạn ở nước ngoài Từ đó đến nay, cùng với sự đổi mới về cơ chế quản lýkinh tế chung của đất nước, cơ chế XKLĐ và chuyên gia cũng đã có nhiều thayđổi

Giai đoạn từ năm 1980 đến 1990 hoạt động XKLĐ và chuyên gia chủ yếudựa trên các quan hệ hợp tác sử dụng lao động giữa Việt Nam với những nướcthông qua các Hiệp định Chính phủ, thoả thuận giữa ngành với ngành (chủ yếu làLiên xô cũ, Đức, Tiệp Khắc và Bungari) Vào cuối những năm 1980 và đầunhững năm 1990, các nước XHCN Đông Âu tiếp nhận lao động đều xảy ranhưững biến động chính trị lớn Vì vậy, phần lớn các nước này không còn nhucầu tiếp nhận lao động và chuyên gia Việt nam, vì vậy chúng ta chỉ xuất khẩuđược 300.000 lao động

Một số đặc điểm quan trọng khác trong thời kỳ này là tỷ lệ lao động nữ đixuất khẩu tăng cao, khoảng 40% do các thị trường xuất khẩu chủ yếu tập trungvào các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da dầy, chế biến thực phẩm là cácngành phù hợp vớ nữ Hơn nữa, với bản tính cần cù, chịu khó, có ý thức tuân thủcác nguyên tắc cộng đồng tố hơn so với lao động nam giớ trong quá trình làmviệc tại nước ngoài nên lao động nữ của Việt Nam luôn được đánh giá cao

Đến năm 1991, cơ chế hoạt động XKLĐ và chuyên gia được đổi mới, trong

đó phân định rõ chức năng quản lý nà nước và chức năng kinh doanh dịch vụXKLĐ Nhà nước thống nhất quản lý XKLĐ bằng các chính sách và quy địnhpháp lý Các tổ chức kinh tế được Nhà nước cấp giấy phép thực hiện hoạt độngkinh doanh XKLĐ thông qua các hợp đồng ký kết với bên ngoài Cơ chế thôngthoáng này đã làm tăng số người đi XKLĐ lên mức 800.000 nghìn người, gửi vènước khoảng 2 tỷ USD

Trang 11

Biểu đồ 1: Số lượng lao động đi XKLĐ ở Việt Nam giai đoạn 1991 đến 2004

1022

10050 12600

18470 12240 21800

(Nguồn: Bộ lao động - Thương binh xã hội)

Nhìn vào biểu đồ ta thấy sau 9 năm , từ năm, 1991 đến 2000, số lượng laođộng đi xuất khẩu tăng hơn 30 lần Điều này do chinh sách XKLĐ đã có thay đổinhằm thúc đẩy hoạt động đi xuất khẩu nhiều hơn, thị trường XKLĐ của nước tatừng bước ổn định và mở rộng Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuấtkhẩu đã và đang đổi mới từng bước phương thức hoạt động Có thể nói, số laodộng đưa đi hàng năm có xu hướng tăng lên với ngành nghề làm việc đa dạngnhư: xây dựng, cơ khí, điện tử, dệt may, chế biến thuỷ sản, nông nghiệp, tinhọc

Từ những năm 2001 trở về trước, Việt Nam có hai thị trường xuất khẩu laođộng chính là: Châu Á (Lào, Nhật Bản, Đài Loan ), chiếm khoảng 79% tổng sốlao động xuất khẩu năm 2001, và thị trường các nước Đông Âu (Nga (Liên Xô

Trang 12

cũ), Đức, Cộng hoà Séc, ), chiến khoảng 15% Sau sự thay đối về chính trị - xãhội ở Đông Âu, thì kể từ năm 2001, thị trường xuất khẩu lao động chính của ViệtNam vẫn là Châu Á, chiếm tới 97% năm 2004, chủ yếu trong đó là thị trường ĐàiLoan (chiếm khoảng 56%) và Mailayxia (22%), và khi đó thị trường Châu Âu chỉcòn chiếm 0,6%.

Riêng năm 2003, số lượng lao động đi xuất khẩu tăng đội biến vơi khoảng

75 nghìn lao động, số tiền gửi về nước khoảng 1,5 tỷ USD Tuy nhiên, so với cácquốc gia có truyền thống và kinh nghiệm về xuất khẩu nhân lực thì con số này rấtkhiêm tốn.Mỗi năm các nước như Philippin, Inđonexia, Thái Lan, Trung Quốc đón nhận dòng ngoại tệ từ ngành công nghiệp - xuất khẩu lao động chảy về lênđến 5-7 tỷ USD

Năm 2004, nhiều thị trường lao động mới (như Chây Mỹ, châu Phi, TrungĐông) đã được mở ra và các thị trường cũ (Châu Âu, Trung Đông) đã được khôiphục lại Ví dụ, như đối với thị trường Châu Mỹ, năm 2004, ta đã đưa được 186lao động sang Cộng hoà Paula (một thị trường được đánh giá là đầy tiềm năng)

so với mức zêrô trong năm 2002 và 2003 Tương tự, thị trường Châu phi/TrungĐông cũng đã khôi phục trong năm 2004 với số lượng lao động xuất khẩu là 607

so với mức zêrô trong năm 2003

Tuy nhiên, số lượng và chất lượng lao động đưa đi của các doanh nghiệpnhìn chung còn thấp so với yêu cầu Ví dụ, trong số gần 67000 lao động đanglàm việc ở nước ngoài năm 2004, chỉ có 19% tốt nghiệp trung học phổ thông,63,5% tốt nghiệp trung học cơ sở và số còn lại đã tốt nghiệp tiểu học

Mặt khác chất lượng đội ngũ lao động xuất khẩu vẫn còn thấp so với yêucầu của thị trường Nhiều trường hợp lao động tự bỏ hợp đồng trốn ra ngoài sốngbất hợp pháp Theo số liệu thống kê, tính hết năm 2004, tỷ lệ Việt Nam bỏ trốntại Anh là 100%, Nhật Bản là 34% chiếm 42,1 tổng số lao động nước ngoài bỏtrốn tại nước này Tại Hàn Quốc tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn là 59,25% đứngthứ 3 trên 15 nước được phép đưa lao động vào Hàn Quốc

2.1.3 Giai đoạn 2005 đến nay.

Năm 2005: Theo cục Quản lý Lao động Ngoài nước (Bộ lao động Thương binh và Xã hội), cả nước đã tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động,

Trang 13

-trong đó đưa được 70.590 lao động Việt Nam xuất khẩu, vượt chỉ tiêu của Quốchội đề ra là 590 người, trong đó riêng 4 thị trường Malaixia, Lào, Hàn Quốc, ĐàiLoan đã thu hút được 66.180 lao động, chiếm hơn 90% tổng số lao động ở 18 thịtrường Lượng ngoại tệ do lao động chuyển về nước lên tới gần 1,6 tỷ USD,chiếm khoảng 3% GDP Công tác XKLĐ của Việt Nam năm 2005 đã đem lạinguồn ngoại tệ cho quốc gia cùng với việc góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấuđào tạo nghề, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống chomột bộ phận người lao động, chủ yếu ở nông thôn và người nghèo.

Bảng 1: Bốn thị trường lao động xuất khẩu lớn nhất

Việt Nam năm 2005.

Ngoài những thị trường truyền thống, năm 2005 đã đánh dấu bước mở rộng

về chất trong hợp tác lao động của Việt Nam, các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam

đã và sắp "tấn công" vào được một số thị trường mới hấp dẫn, nơi mà thu nhậpcủa người lao động rất cao, các quyền lợi được đảm bảo Đánh kể trong nhữngthị trường đó là Mỹ, Anh, Canada, Italia, Ả -rập Xê út

Một điểm sáng trong bức tranh XKLĐ Việt Nam năm 2005 là lần đầu tiên

có 9 lao động xuất khẩu sang Mỹ Tuy nhiên, đây chỉ là hợp đồng cá nhân

Hiện nay, Cục Quản lý lao động ngoài nước, chưa cấp phép cho doanhnghiệp nào đưa lao động sang thị trường này Còn lại, các thị trường khác nhưXingapo, Pháp, Đan Mạch chủ yếu tiếp nhận thuyền viên Việt Nam với số lượngrất hạn chế, chỉ khoảng vài chục người XKLĐ tăng nhanh về số lượng với trên70.000 triệu người, đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho quốc gia

Tuy nhiên, công tác XKLĐ năm 2005 vấp phải nhiều khó khăn Thị trườngMalaixia không còn hấp dẫn bởi thu nhập không cao do các doanh nghiệp làm ăn

Ngày đăng: 25/07/2013, 08:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:  Số việc làm tạo ra trong giai đoạn 2000 - 2009 - Xuất khẩu lao động Việt Nam, giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 2 Số việc làm tạo ra trong giai đoạn 2000 - 2009 (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w