Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, một trong những nhân tố quan trọng quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp đó là hiệu quả sử dụng tài sản. Trước đây, khi nền kinh tế nước ta còn trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu về tài sản cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được Nhà nước cấp phát hoặc cấp tín dụng ưu đãi nên doanh nghiệp không đặt vấn đề khai thác và sử dụng tài sản có hiệu quả lên hàng đầu, nhưng mà ngày nay, khi nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự tìm nguồn vốn để hoạt động thì công tác sử dụng tài sản trong doanh nghiệp như thế nào? Làm sao để sử dụng hiệu quả tài sản trong doanh nghiệp. Đây là một trong những vấn đề bức thiết đối với các nhà quản lý doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu thực tế, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của tài sản trong doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần thời trang KOWILL việt nam em xin trình bày chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM”.
Trang 1ưu đãi nên doanh nghiệp không đặt vấn đề khai thác và sử dụng tài sản có hiệu quảlên hàng đầu, nhưng mà ngày nay, khi nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự tìm nguồn vốn để hoạt động thì côngtác sử dụng tài sản trong doanh nghiệp như thế nào? Làm sao để sử dụng hiệu quảtài sản trong doanh nghiệp Đây là một trong những vấn đề bức thiết đối với cácnhà quản lý doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ yêu cầu thực tế, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng củatài sản trong doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần thời trangKOWILL việt nam em xin trình bày chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài:
“Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM”.
Kết cấu của chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM.
Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai Ngọc
Trang 2CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP1.1 Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và phân loại Doanh Nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt độngkinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cánhân Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các Doanh nghiệpchứ không phải các cá nhân
Trên thực tế doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: cửahàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng…
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005:
DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đượcđăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạtđộng kinh doanh (tức thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quátrình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thịtrường nhằm mục đích sinh lời
Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:
+ Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên50% vốn điều lệ
+ Công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chiathành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phầncủa doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và cácnghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiệp mà các thành viên trongcông ty (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm hữuhạn một thành viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củacông ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Trang 3+ Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó ít nhất có 2 thành viên là chủ
sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợpdanh) Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn cócác thành viên góp vốn
+ Công ty liên doanh: là công ty có số vốn từ 10% – 50% do công ty khácđóng góp Thông thường các công ty này có quốc tịch khác nhau
+ Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể sauđây:
- Chủ Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ và các khoản
nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của doanh nghiệp
- Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của ngườichủ doanh nghiệp
- Khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của người chủ
Kinh doanh góp vốn
- Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập thấp Đốivới các hợp đồng phức tạp cần phải được viết tay Một số trường hợp cần có giấyphép kinh doanh
Trang 4- Các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ Mỗithành viên có trách nhiệm đối với phần tương ứng với phần vốn góp Nếu như mộtthành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ do cácthành viên khác hoàn trả.
- Doanh nghiệp tan vỡ khi một trong các thành viên chính thức chết hay rútvốn
- Khả năng về vốn hạn chế
- Lãi từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cánhân
Công ty
Công ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: các
cổ đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và các nhà quản lý Theo truyềnthống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phương hướng, chính sách và hoạt động củacông ty Cổ đông bầu nên hội đồng quản trị, sau đó hội đồng quản trị lựa chọn banquản lý Các nhà quản lý quản lý hoạt động của công ty theo cách thức mang lạilợi ích tốt nhất cho cổ đông Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lýmang lại cho công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn:
- Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới
- Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổ đông
- Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vàocông ty
Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu nhược điểm riêng và phù hợp vớiquy mô, trình độ phát triển nhất định Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với
tư cách các công ty Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, có thể coi tất cả các loại hình đó làdoanh nghiệp Về nguyên tắc, nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp là nhưnhau
Trang 51.1.2.Các hoạt động chủ yếu
1.1.2.1.Huy động vốn
Để tiến hành hoạt đông sản xuất kinh doanh(SXKD) doanh nghiệp cần phải
có một lượng vốn nhất định để đầu tư vào các yếu tố cần thiết như: tư liệu laođộng (TLLĐ), đối tượng lao dodọng (ĐTLĐ) và sức lao động (SLĐ) Qúa trìnhSXKD của doanh nghiệp chính là sự kết hợp các yếu tố trên để tao ra sản phẩm,dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Cùng với quá trình SXKD vốn cũngđược vận động không ngừng theo các vòng tuần hoàn Song phương thức vậnđộng của vốn lại do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định Điều này phụthuộc vào từng loại hình doanh nghiệp cụ thể
1.1.2.2 Sản xuất kinh doanh
Hình thức vận đồng của vốn được thể hiện theo sơ đồ
T - H (tư liệu sản xuất (TLLĐ, ĐTLĐ), vật tư, nguyên vât liệu, SLĐ) - sản xuất - H’ - T’ (T’>T)
Từ sơ đồ này ta thấy sự tuần hoàn của vốn trong doanh nghiệp sản xuất trảiqua ba giai đoạn: Mở đầu quá trình sản xuât, vốn tồn tại dưới hình thái tiền tệ vàdoanh nghiệp sử dụng vốn này để mua sắm TLLĐ, ĐTLĐ phục vụ cho quá trìnhsản xuất Sau đó vốn từ hinh thái vốn vật tư dự trữ chuyển sang hình thái vốn hànghoá Cuối cùng khi hàng hoá được tiêu thục xong vốn lại trở về hình thái tiền tệ.Cho dù trong quá trình vận động vốn có thể thay đổi hình thái biểu hienẹ nhưngđiểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòn tuần hoàn phải là giá trị tiền Đồng tiềnphải quay về nơ xuất phát với giá trị lớn hơn, tức là T’ > T, sau quá trình vận độngnày vốn sẽ sinh lời (∆T), có nghĩa là sau quá trình vận động T’ = T + ∆T Quátrình vận động này của vốn tương ứng với việc sử dụng vốn trong các doanhnghiệp sản xuất
1.1.2.3 Trong doanh nghiệp khác
• Trong doanh nghiệp thương mại
Trong doanh nghiệp thương mại hình thức vận động của vốn kinh doanh cóphần đơn giản hơn: T - H - T’ (T’>T) Đầu tiên vốn kinh doanh sẽ chuyển từ hình
Trang 6thái vốn tiền tệ sang hình thái vốn hàng hoá, sau đó lại chuyển từ hình thái vốnhàng hoá sang hình thái vốn tiền tệ Ở đây các doanh nghiệp thương mại dùng vốntiền tệ của mình để mua lại hàng hoá thành phẩm, dịch vụ sau đó đưa các hànghoá, dịch vụ này vào lưu thông bằng các phân phối ra thị trường Quá trình vậnđộng này tương ứng với quá trình sử dụng vốn trong các doanh nghiệp thương mại
• Trong doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ
Đối với các doanh nghiêp kinh doanh tiền tệ ví dụ như doanh nghiệp hoạtđộng mua bán chứng khoán, các ngân hàng thì phương thức vận động của vốnchỉ là: T - T’ (T’>T) Ở đây doanh nghiệp từ một lượng vốn ban đầu sau khi đưavào hoạt động, vốn luân chuyển sẽ sinh ra một lượng vốn lớn hơn
Tuy nhiên một doanh nghiệp có thể vận dụng đồng thời cả ba phương thứctrên nhằm đạt được mức doanh lợi cao và hợp pháp bởi vì mục tiêu vận động củavốn là nhằm mục đích sinh lời
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh Nghiệp
1.2.1.Tài sản của Doanh nghiệp
1.2.1.1.Khái niệm, đặc điểm tài sản của doanh nghiệp
Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng Tài sản của doanh nghiệp là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu thịnhững lợi ích mà đơn vị thu được trong tương lai hoặc những tiềm năng phục vụcho hoạt động kinh doanh của đơn vị Hay nói cách khác thì tài sản là những yếu
tố hữu hình và vô hình gắn với lợi ích trong tương lai
Tài sản có đặc điểm:
- Thuộc sở hữu của ai đó
- Mỗi tài sản đều có những đặc tính nhất định
- Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất
- Là những thứ đã tồn tại (tài sản trước kia) đang tồn tại và có thể có trongtương lai
- Tính có thể chuyển nhượng, trao đổi: Một tài sản có thể được chuyểnnhượng giữa những người đang sống với nhau Một tài sản có thể được mua, bán,
Trang 7tặng, cho với người thứ 3 Các quyền về tài sản có thể tồn tại dưới dạng có đền bùhoặc không đền bù.
1.2.1.2 Phân loại tài sản của doanh nghiệp
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại tài sản Theo chu kỳ sản xuất, ta
có tài sản cố định và tài sản lưu động Còn theo đặc tính cấu tạo của vật chất ta cótài sản hữu hình và tài sản vô hình
a, Tài sản cố định
Tài sản cố định hiểu theo nghĩa rộng là những yếu tố của tư liệu lao độngđược sử dụng trong một thời gian luân chuyển tương đối dài và có giá trị tươngđối lớn Thông thường, thời gian sử dụng hữu ích (tuổi thọ kinh tế) để một tài sảnđược coi là tài sản cố định là trên 1 năm Giá trị đơn vị (giá trị tối thiểu) để một tàisản được xếp vào tài sản cố định phụ thuộc vào quy định của Bộ Tài chính trongtừng thời kỳ và thường được điều chỉnh để phù hợp với sự biến động của giá trị thịtrường
Do mục đích sử dụng tài sản trong doanh nghiệp khác nhau nên có nhữngcách phân loại khác nhau Thông thường có một số phương pháp phân loại chủyếu sau
Thứ 1: Theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế có TSCĐHH và
TSCĐVH
- Tài sản cố định vô hình
Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị,
do dn quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch
vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn tài sản cố định vôhình
Tài sản cố định vô hình chỉ được thừa nhận khi xác định được giá trị của
nó, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiềuchu kỳ kinh doanh của dn Thông thường, tài sản cố định vô hình gồm các loạisau: Quyền sử dụng đất có thời hạn, nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, phầnmềm máy vi tính, bản quyền, bằng sáng chế…
- Tài sản cố định hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể do
doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh Nó bao gồm các nhóm sau:
Trang 8+ Nhà cửa, vật kiến trúc: Là toàn bộ công trình kiến trúc như nhà làm việc,nhà kho, hàng rào, tháp nước, đường sá, cầu cống, cầu tầu…
+ Máy móc, thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạtđộng của doanh nghiệp như máy móc thiết bị chuyên dùng, máy móc thiết bị côngtác, dây chuyền công nghệ…
+ Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Gồm các loại phương tiện vận tảiđường bộ, đường sông, đường biển… và các thiết bị truyền dẫn về thông tin, điệnnước, băng truyền tải vật tư, hàng hóa…
+ Thiết bị, dụng cụ quản lý: Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tácquản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bị điện tử,thiết bị dụng cụ đo lường kiểm tra chất lượng, máy hút bụi, hút ẩm…
+ Vườn cây lâu năm (như cà phê, cao su, chè, cây ăn quả…), súc vật làmviệc (trâu, bò…) hoặc súc vật cho sản phẩm (bò sữa, trâu sữa…)
Thứ 2: Theo mục đích sử dụng
Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ tài sản cố định của dn được chia làm 2 loại:+ TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ đang dùng tronghoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động SXKD phụ của DN
+ TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng: Lànhững TSCĐ không mang tính chất sản xuất do DN quản lý và sử dụng cho cáchoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng
Cách phân loại này, giúp cho người quản lý dn thấy được kết cấu tài sản cốđịnh theo mục đích sử dụng qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tínhkhấu hao TSCĐ có tính chất SX, có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loạiTSCĐ
Trang 9Trên đây là các cách phân loại chủ yếu, ngoài ra còn có nhiều cách phânloại khác và doanh nghiệp có thể tùy theo yêu cầu quản lý từng thời kỳ mà ápdụng các cách phân loại riêng.
b, Tài sản lưu động
Để tiến hành sản xuất KD, ngoài các TSCĐ doanh nghiệp cần phải có cáctài sản lưu động (TSLĐ) TSLĐ của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: Tài sản lưuđộng sản xuất và tài sản lưu động lưu thông
- Tài sản lưu động sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ đểđảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệuphụ, nhiên liệu… và một bộ phận là những sản phẩm dở dang đang trong quá trìnhsản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…
- Tài sản lưu động lưu thông: Là những TSLĐ nằm trong quá trình lưuthông của doanh nghiệp như: thành phẩm trong kho chờ tiêu thu, vốn bằng tiền,vốn trong thanh toán…
Trong quá trình SXKD, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn thay thếchỗ cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuấtđược tiến hành liên tục và thuận lợi
c, Tài sản hữu hình
Bao gồm những vật (có những điều kiện nhất định) tiền và giấy tờ có giá(ngôn ngữ luật học) Tài sản hữu hình là những cái có thể dùng giác quan nhận biếtđược hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được
d, Tài sản vô hình
Là những quyền tài sản (nghĩa hẹp) thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định
và thường chỉ gắn với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao Tuy nhiênmột số quyền tài sản có thể chuyển giao như một thương hiệu hàng hóa hoặc ủyquyền cho người khác Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan đểlấy được và không thể dùng đại lượng để tính Nhưng trong quá trình chuyển giao
có thể quy ra tiền
1.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm
Trang 10Hiệu quả: là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện cácmục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trongnhững điều kiện nhất định.
+ Hiệu quả tuyệt đối = kết quả nhận được theo hướng mục tiêu đo bằngcác đơn vị khác nhau – chi phí bỏ ra được đo bằng các đơn vị khác nhau
+ Hiệu quả tương đối: = hiệu quả được xét theo nhiều góc khác nhau
+ Hiệu quả tổng hợp: là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọimục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí
để có được những kết quả đó
+ Hiệu quả kinh tế là hiệu quả nếu chỉ xét về khía cạnh kinh tế của vấn đề
nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế nhận được và chi phí để có được lợiích kinh tế đó
+ Hiệu quả tài chính hay hiệu quả sản xuất kinh doanh là mối quan hệ giữalợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra
để có được lợi ích kinh tế Đây là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp
→ Hiệu quả sử dụng tài sản là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệgiữa giá trị thu được so với chi phí đã bỏ ra tức là làm sao để chỉ phải bỏ ra mộtlượng tài sản nhỏ nhất mà thu về được lợi nhuận lớn nhất Nâng cao hiệu quả sửdụng tài sản là yêu cầu tất yếu khách quan của mỗi doanh nghiệp trong nền KTTT.Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứkhông phải chỉ đơn thuần do quản trị tài sản tồi Nhưng cũng cần thấy rằng sự bấtlực của một số doanh nghiệp trong việc hoạch định kiểm soát một cách chặt chẽcác loại tài sản hầu như là một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ
1.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Trước kia, trong nền kinh tế tập trung hóa, về lý luận cũng như thực tiễnđều coi giá trị thặng dư là do kết quả của lao động sáng tạo ra, yếu tố vốn bị xemnhẹ, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thì giá trị thặng dư được quyết
định bởi thị trường Ba vấn đề: sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế
nào? không xuất phát từ quan điểm chủ quan của doanh nghiệp, hay từ mệnh lệnh
Trang 11của cấp trên mà xuất phát từ nhu cầu thị trường, từ quan hệ cung cầu và từ lợi íchcủa doanh nghiệp Khác với quan điểm trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, cơchế thị trường coi vốn nói chung hay tài sản nói riêng là một trong những nhân tốtạo ra giá trị thặng dư Như vậy, bản chất hiệu quả sử dụng tài sản là một mặt củahiệu quả kinh doanh.
Đồng thời, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, quy mô lớn,nhỏ khác nhau, doanh nghiệp nào cũng muốn thu về lợi ích tối đa nhất có thể Nhưvậy vấn đề làm sao để sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp nhằmđạt kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất là điều kiện có tính chất quyết định
để một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển vững chắc trong tương lai
Chính vì vậy, việc tổ chức sử dụng tài sản có hiệu quả cũng là yêu cầukhách quan đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì những
lý do:
- Việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp xuất phát từtầm quan trọng của tài trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp:
Với bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu chấtlượng tổng hợp liên quan tới tất cả các mặt trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, là nguồn tích lũy cơ bản để mở rộng sản xuất Đặc biệt, trong nền kinh tếthị trường ngày nay, lợi nhuận chính là điều kiện tiên quyết tới sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Vì vậy, việc tiến hành sản xuất kinh doanh như thế nào để
có thể thu được lợi nhuận cao và ổn định luôn được các doanh nghiệp quan tâm vàphấn đấu Để đạt được mục tiêu đó cần tăng cường công tác tổ chức và sử dụngtài sản trong doanh nghiệp một cách có hiệu quả nhất
- Xuất phát từ thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng tài sản trong doanhnghiệp
- Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sửdụng tài sản
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là với một lượng tài sản nhất định,doanh nghiệp có thể tạo ra được nhiều doanh thu, và vì thế thu được nhiều đồng
Trang 12lợi nhuận hơn hoặc trang bị thêm được cơ sở vật chất, đầu tư vào máy móc, kỹthuật, thay đổi hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, mở rộng quy mô kinh doanh,tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận…
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là điều kiện cần để doanh nghiệp tồn tại
và phát triển Bảo toàn tài sản là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản vàngược lại, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là biện pháp để bảo toàn tài sản Haivấn đề này gắn bó chặt chẽ với nhau, tồn tại song song và hỗ trợ nhau trong quátrình sử dụng tài sản trong các doanh nghiệp Việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện các mục tiêu của doanhnghiệp và còn giúp cho doanh nghiệp có thể duy trì được sức mua của đồng vốn,
kể cả trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát cao, góp phần làm tăng khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâudài của doanh nghiệp
→ Như vậy, tài sản của doanh nghiệp là một yếu tố rất quan trọng trongquá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp Chính vì thế mà việc nâng cao hiệu quả sử dụng tàisản của doanh nghiệp là việc làm cần thiết mang tính khách quan
Để phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ta có các chỉ tiêusau:
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản
- Số vòng quay tổng tài sản ( hay gọi tắt là Số vòng quay tài sản) là một tỷ
số tài chính, là thước đo khái quát nhất hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Công thức:
Số vòng quay tài sản = Doanh thu thuần trong kỳ
Giá trị bình quân tổng tài sản (TSCĐ và TSLĐ)Trong đó: Giá trị bình quân tính bằng trung bình cộng của giá trị đầu kỳ vàgiá trị cuối kỳ
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêuđồng doanh thu
- Hệ số sinh lợi tổng tài sản:
Trang 13Hệ số sinh lợi tổng tài sản = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tổng tài sản bình quân
- Hệ số doanh lợi:
Hệ số doanh lợi = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quânNgoài các chỉ tiêu trên, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp cònđược đánh giá qua các chỉ tiêu khác như: hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toánngắn hạn, hệ số thanh toán tức thời, vòng quay hàng tồn kho…
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: đo lường khả năng thanh toán mộtcách tổng quát các khoản nợ của doanh nghiệp
Công thức:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản
Nợ phải trảChỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp thừa
để thanh toán hết các khoản nợ hiện tại của doanh nghiệp
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: Phản ánh khả năng thanh toántạm thời các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng các tài sản có thể chuyểnđổi thành tiền trong thời gian ngắn
Trang 14thể chuyển đổi nhanh thành tiền trong doanh nghiệp Đây là các chỉ tiêu được cácchủ nợ ngắn hạn quan tâm để đánh giá tại thời điểm phân tích, doanh nghiệp cókhả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn hay không?
Công thức:
Hs khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – Vốn vật tư hàng hóa
Nợ ngắn hạn
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ:
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ tham gia tạo ra baonhiêu đồng doanh thu thuần Thông thường, chỉ tiêu này cũng cho phép đánh giátrình độ sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp
Công thức:
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần trong kỳ
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
- Hệ số hao mòn TSCĐ:
Chỉ tiêu này một mặt phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong doanhnghiệp, mặt khác nó cũng phản ánh tổng quát tình trạng về năng lực còn lại củaTSCĐ cũng như vốn cố định ở thời điểm đánh giá
Công thức tính:
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Số khấu hao lũy kế của TSCĐ ở thời điểm đánh
giá Tổng nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giáNgoài các chỉ tiêu trên, để đánh giá tình hình đầu tư vào tài sản cố định vàhiệu suất sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể sử dụng một
số chỉ tiêu bổ sung:
- Các chỉ tiêu về kết cấu TSCĐ của dn: Kết cấu TSCĐ là quan hệ tỉ lệ giữanguyên giá của từng loại, nhóm tài sản cố định với tổng nguyên giá tài sản cố định
Trang 15của dn Căn cứ vào phương pháp phân loại TSCĐ có thể tính được các chỉ tiêu vềkết cấu TSCĐ.
Chỉ tiêu này có thể đánh giá được tính chất hợp lý hay không hợp lý của kếtcấu TSCĐ để có định hướng đầu tư, điều chỉnh kết cấu TSCĐ và giúp người quản
lý xác định trọng tâm quản lý TSCĐ nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ
- Hệ số trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp sản xuất
Công thức:
Hệ số trang bị TSCĐ cho một
công nhân trực tiếp sản xuất =
Nguyên giá TSCĐ trực tiếp sản xuất
Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất.Chỉ tiêu này phản ánh mức độ trang bị giá trị TSCĐ trực tiếp sản xuất chomột công nhân trực tiếp sản xuất cao hay thấp
Hệ số này càng lớn phản ánh mức độ trang bị TSCĐ cho người công nhântrực tiếp sản xuất càng cao, điều kiện lao động càng thuận lợi
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ ( tài sản dài hạn):
- Hiệu suất sử dụng TSLĐ ( Vòng quay tài sản lưu động): chỉ tiêu này chobiết mỗi đơn vị TSLĐ sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần,chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSLĐ càng cao
Vòng quay TSLĐ trong kỳ = Doanh thu thuần trong kỳ
TSLĐ bình quân trong kỳ
- Hiệu quả sử dụng TSLĐ: chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời củaTSLĐ Nó cho biết mỗi đơn vị TSLĐ có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợinhuận sau thuế
Hiệu quả sử dụng TSLĐ trong kỳ = Lợi nhuận sau thuế
TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Trang 16- Mức đảm nhiệm TSLĐ: chỉ tiêu này cho biết để đạt được mỗi đơn vịdoanh thu, doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu phần trăm đơn vị TSLĐ Chỉ tiêunày càng thấp, hiệu quả kinh tế càng cao.
Mức đảm nhiệm TSLĐ = TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
1.3.1.Nhân tố chủ quan:
Đây là nhóm nhân tố có tính chất quyết định đến hiệu quả sử dụng tài sảncủa doanh nghiệp Nhóm nhân tố này gồm nhiều yếu tố cùng tác động trực tiếpđến kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh cả trước mắt cũng nhưlâu dài Bởi vậy, việc xem xét những yếu tố này là điều cực kỳ quan trọng Thôngthường, người ta thường xem xét những yếu tố sau:
- Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp:
Nhân tố này tạo điểm xuất phát cho doanh nghiệp cũng như định hướngcho nó trong suốt quá trình tồn tại Với một ngành nghề kinh doanh đã được lựachọn, chủ doanh nghiệp buộc phải giải quyết những vấn đề đầu tiên về tài chínhgồm:
+ Cơ cấu vốn của doanh nghiệp thế nào là hợp lý, khả năng tài chính củacông ty ra sao?
+ Cơ cấu tài sản được đầu tư ra sao, mức độ hiện đại hóa nói chung so vớicác đối thủ cạnh tranh đến đâu Cơ cấu này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sửdụng tài sản của doanh nghiệp Việc bố trí cơ cấu tài sản hợp lý, phù hợp với đặcđiểm điều kiện kinh doanh cụ thể của từng ngành nghề, của mỗi doanh nghiệptrong từng thời kỳ Nếu cơ cấu tài sản không hợp lý thì giá trị tài sản đó khôngthể phát huy tối đa tác dụng của nó Đối với doanh nghiệp kinh doanh trong ngànhnghề có tốc độ hoàn vốn nhanh thì cơ cấu vốn nghiêng về tài sản lưu động, ngượclại kinh doanh ngành nghề có đặc điểm là vòng quay chậm vốn thì thường có xuhướng nghiêng về tài sản cố định
+Nguồn tài trợ cho những tài sản đó được huy động từ đâu, có đảm bảo lâudài cho sự hoạt động an toàn của doanh nghiệp không? Các doanh nghiệp phải lựa
Trang 17chọn ra một cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm tối thiểu chi phí sử dụng vốn để từ
đó giảm chi phí kinh doanh, làm tăng lợi nhuận, góp phần làm nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản
- Ảnh hưởng do sự lựa chọn phương án đầu tư, phương án kinh doanh:Việc lựa chọn phương án đầu tư kinh doanh có mức sinh lời cao, rủi ro thấp sẽ gópphần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản Ngược lại sẽ làm giảm hiệu quả sử dụngtài sản của doanh nghiệp Để lựa chọn được phương án đầu tư mang lại hiệu quả
sử dụng vốn cao thì công tác thẩm định dự án đầu tư cần phải tiến hành tỉ mỉ, khoahọc nhằm loại trừ những phương án kinh doanh có độ rủi ro lớn, chọn ra phương
án có mức sinh lời cao, rủi ro ở mức có thể chấp nhận được
- Trình độ tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh, hạch toán nội bộ doanhnghiệp
Để có hiệu quả cao thì bộ máy tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất phải gọnnhe, ăn khớp với nhau
Với mỗi phương thức sản xuất và loại hình sản xuất sẽ có tác động khácnhau tới tiến độ sản xuất, phương pháp và quy trình vận hành máy móc, số bộphận phục vụ sản xuất kinh doanh
Mặt khác, đặc điểm của công tác hạch toán, kế toán nội bộ doanh nghiệpluôn gắn bó với tính chất của tổ chức sản xuất và quản lý trong cùng doanh nghiệp
sẽ có tác động không nhỏ Công tác kế toán đã dùng những công cụ của mình đểtính toán hiệu quả sử dụng tài sản, và kế toán phải có nhiệm vụ phát hiện nhữngtồn tại trong quá trình sử dụng tài sản và đề xuất những biện pháp giải quyết.Quản lý tài sản một cách khoa học, chặt chẽ sẽ góp phần làm tăng hiệu quả
sử dụng tài sản của doanh nghiệp
Quản lý tài sản của doanh nghiệp được thể hiện chủ yếu trong các nội dungsau:
+ Quản lý tiền mặt
Quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt, cụ thể là đi tìm bài toántối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chi phí đạt tối thiểu
mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp
Việc xác định lượng tiền mặt dự trữ chính xác giúp cho doanh nghiệp đápứng các nhu cầu về: giao dịch, dự phòng, tận dụng được những cơ hội thuận lợi
Trang 18trong kinh doanh do chủ động trong hoạt động thanh toán chi trả Đồng thời doanhnghiệp có thể đưa ra các biện pháp thích hợp đầu tư những khoản tiền nhàn rỗinhằm thu lợi nhuận như đầu tư chứng khoán ngắn hạn Điều này đòi hỏi nhà quản
lý phải có năng lực phân tích và phán đoán tình hình trên thị trường tiền tệ, thựctrạng tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó có sự lựa chọn để đưa các quyếtđịnh sử dụng ngân quỹ đúng đắn, làm giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giáhối đoái, tối ưu hoá việc đi vay ngắn hạn, tăng hiệu quả sử dụng tài sản
Quản lý tiền mặt hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắnhạn nói riêng và hiệu quả sử dụng tài sản nói chung cho doanh nghiệp
+ Quản lý dự trữ, tồn kho
Trong quá trình luân chuyển vốn ngắn hạn phục vụ cho sản xuất - kinhdoanh thì hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa rất lớn cho hoạt động của doanhnghiệp, nó như tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất
- kinh doanh của doanh nghiệp do các hoạt động này diễn ra không đồng bộ Hơnnữa, hàng hoá dự trữ, tồn kho giúp cho doanh nghiệp giảm thiệt hại trước nhữngbiến động của thị trường Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí lưukho, chi phí bảo quản và gây ứ đọng vốn Vì vậy, căn cứ vào kế hoạch sản xuất -kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của nhà cung cấp cùngvới những dự đoán biến động của thị trường, doanh nghiệp cần xác định một mứctồn kho hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho doanhnghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
+ Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu hay còn gọi là tín dụngthương mại là một hoạt động không thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp Do đó,trong các doanh nghiệp hình thành khoản phải thu
Tín dụng thương mại giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sảnphẩm, thu hút khách hàng, tăng doanh thu bán hàng, giảm chi phí tồn kho của hànghóa, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản cố định và hạn chế hao mòn vôhình Tuy nhiên, tín dụng thương mại cũng có thể đem đến những rủi ro cho doanhnghiệp như làm tăng chi phí quản lý, chi phí đòi nợ, chi phí bù đắp cho vốn thiếuhụt, làm tăng chi phí nếu khách hàng không trả được nợ
Do vậy, các nhà quản lý cần so sánh giữa thu nhập và chi phí tăng thêm đểquyết định có nên cấp tín dụng thương mại không cũng như phải quản lý cáckhoản tín dụng này như thế nào để đảm bảo thu được hiệu quả cao nhất
Trang 19Nội dung chủ yếu của chính sách quản lý các khoản phải thu bao gồm: Phântích khả năng tín dụng của khách hàng, phân tích đánh giá khoản tín dụng được đềnghị, theo dõi các khoản phải thu.
+ Quản lý các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động đầu tư tài chính dài hạn chính làtổng mức lợi nhuận Tổng mức lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu
và tổng chi phí hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Ngoài việc so sánhtheo hướng xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động tương đối chỉ tiêutổng mức lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính dài hạn, còn phân tích
sự biến động tổng mức lợi nhuận do ảnh hưởng của 3 nhân tố:
- Tổng doanh thu hoạt động đầu tư tài chính dài hạn
- Mức chí phí để tạo ra một đồng doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính dàihạn
- Mức lợi nhuận được tạo từ một đồng chi phí hoạt động đầu tư tài chính dàihạn
Từ mối quan hệ trên, có thể xây dựng phương trình kinh tế sau:
Tổng mức lợi nhuận hoạt động đầu tư tài chính dài hạn = Tổng doanh thuhoạt động đầu tư tài chính dài hạn*Mức chi phí cho một đồng doanh thu từ hoạtđộng đầu tư tài chính dài hạn*Mức lợi nhuận được tạo ra từ một đồng chi phí hoạtđộng đầu tư tài chính dài hạn
Vận dụng phương pháp loại trừ có thể phân tích sự ảnh hưởng lần lượt từngnhân tố đến chỉ tiêu tổng mức lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tài chính dàihạn của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đánh giá, phân tích và xem xéttrong số các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động nào mang lại lợi ích kinh tế caonhất, nhằm lựa chọn hướng đầu tư, loại hình đầu tư, quy mô đầu tư, danh mục đầu
tư hợp lý nhất và đạt kết quả cao nhất trong kinh doanh của doanh nghiệp
+ Quản lý tài sản cố định
Để đạt được các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng tài sản cố định, doanh nghiệpphải xác định quy mô và chủng loại tài sản cần thiết cho quá trình sản xuất – kinhdoanh Đây là vấn đề thuộc đầu tư xây dựng cơ bản, đòi hỏi doanh nghiệp phải cânnhắc kỹ càng các quyết định về đầu tư dựa trên cơ sở các nguyên tắc và quy trìnhphân tích dự án đầu tư Nếu mua nhiều tài sản cố định mà không sử dụng hết sẽgây ra sự lãng phí vốn, song nếu phương tiện không đủ so với lực lượng lao động
Trang 20thì năng suất sẽ giảm Trên cơ sở một lượng tài sản cố định đã mua sắm, một mặtdoanh nghiệp phải tận dụng tối đa thời gian và hiệu suất của máy, thực hiện antoàn, tiết kiệm trong vận hành máy, cố gắng khấu hao nhanh để sớm đổi mới và ápdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại Điều đó sẽ tạo tiền đề chodoanh nghiệp luôn luôn được đổi mới theo hướng tích cực, hiện đại, cung cấpnhững sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhu cầu của thị trường, mang tính cạnhtranh cao.
Việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định cho thấy khấu hao có tácđộng lớn đến các chỉ tiêu Do đó, doanh nghiệp cần xác định phương pháp tínhkhấu hao tài sản cố định cho thích hợp
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất – kinh doanh, do chịu nhiềutác động bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nên tài sản cố định bị giảm dần về giátrị, hay còn gọi là hao mòn Có hai loại hao mòn TSCĐ là hao mòn hữu hình vàhao mòn vô hình
- Hao mòn hữu hình là loại hao mòn do quá trình sử dụng và do tác động củamôi trường, hình thái vật chất của TSCĐ bị mài mòn, biến dạng, gãy, vỡ, hỏng…
- Hao mòn vô hình là loại hao mòn do tiến bộ của khoa học công nghệ, mộtloại máy móc, thiết bị mới ra đời ưu việt hơn làm TSCĐ bị giảm giá hoặc lỗi thời
Do TSCĐ bị hao mòn như vậy, doanh nghiệp cần tạo lập quỹ để thu hồi, táiđầu tư vào tài sản mới, doanh nghiệp cần trích khấu hao cho TSCĐ Trích khấuhao TSCĐ là việc tính chuyển một phần giá trị của TSCĐ tương ứng với phầnhao mòn vào giá thành sản phẩm và sẽ thu hồi được phần giá trị đó thông quatiêu thụ sản phẩm
Việc xác định mức trích khấu hao là công việc tương đối phức tạp Trướctiên, doanh nghiệp phải xác định tốc độ hao mòn của tài sản Điều này rất khókhăn do xác định hao mòn hữu hình đã khó, xác định hao mòn vô hình còn khóhơn, nó đòi hỏi sự hiểu biết, khả năng dự đoán của doanh nghiệp Khi đã xác địnhđược mức độ hao mòn, doanh nghiệp cần phải cân nhắc đến các yếu tố sau:
- Tình hình tiêu thụ sản phẩm do TSCĐ đó chế tạo trên thị trường Do tìnhhình tiêu thụ tác động trực tiếp đến giá bán sản phẩm đồng thời cho biết lượng cầusản phẩm của doanh nghiệp là bao nhiêu và hoạt động của TSCĐ sẽ ở mức côngsuất nào và kéo theo nó hao mòn ở mức độ nào
- Nguồn vốn đầu tư cho TSCĐ là vốn chủ sở hữu hay vốn vay
Trang 21- Ảnh hưởng của thuế đến việc trích khấu hao Do việc trích khấu hao ảnhhưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanhnghiệp và ảnh hưởng đến thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp.
- Quy định của Nhà nước trong việc tính khấu hao: Nhà nước có quy địnhquản lý trong việc trích khấu hao TSCĐ như phương pháp tính khấu hao, thời gian
sử dụng định mức của TSCĐ, tác động trực tiếp đến mức trích khấu hao hàng kỳcủa doanh nghiệp
Việc lựa chọn được phượng pháp tính khấu hao TSCĐ thích hợp là biệnpháp quan trọng để bảo toàn vốn cố định và cũng là một căn cứ quan trọng để xácđịnh thời gian hoàn vốn đầu tư vào tài sản cố định từ các nguồn tài trợ dài hạn Tóm lại, mục đích của việc tạo lập quỹ khấu hao là để tái đầu tư, thay thế,đổi mới TSCĐ Khi TSCĐ chưa được khấu hao hết, chưa được thay thế bằngTSCĐ mới thì khấu hao được tích luỹ và doanh nghiệp có quyền sử dụng số khấuhao luỹ kế cho hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình
Đối với TSCĐ, bên cạnh việc xác định phương pháp khấu hao thích hợp thì
để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, doanh nghiệp cũng cần thường xuyên tiếnhành đánh giá, kiểm kê TSCĐ Điều này giúp cho nhà quản lý nắm được chính xác
số TSCĐ của doanh nghiệp, tình hình sử dụng cũng như giá trị thực tế của tài sảnđó
Đánh giá TSCĐ là việc xác định lại giá trị của TSCĐ tại một thời điểm nhấtđịnh Việc đánh giá chính xác giá trị của TSCĐ là căn cứ để tính khấu hao nhằmthu hồi vốn Qua đánh giá và đánh giá lại TSCĐ còn giúp cho người quản lý nắmđược tình hình biến động về vốn của doanh nghiệp để có biện pháp điều chỉnhthích hợp như: chọn hình thức khấu hao phù hợp, thanh lý, nhượng bán tài sản đểgiải phóng vốn…
Đánh giá TSCĐ gồm những nội dung sau:
- Xác định giá ban đầu của TSCĐ: giá ban đầu của TSCĐ là giá mua vànhững chi phí khác kèm theo
Cách đánh giá này giúp cho doanh nghiệp thấy được số tiền vốn đầu tư muasắm TSCĐ ở thời điểm ban đầu, là căn cứ để xác định số tiền phải khấu hao để táisản xuất giản đơn TSCĐ
Trang 22- Xác định giá đánh giá lại TSCĐ: giá đánh giá lại TSCĐ là giá của tài sảntại thời điểm kiểm kê đánh giá Giá đánh giá lại của TSCĐ có thể cao hơnhoặc có thể thấp hơn giá ban đầu của nó.
Căn cứ vào kết quả phân tích tình hình cụ thể như: tình hình biến động giátrên thị trường, quan hệ cung cầu trên thị trường về loại tài sản đó, xu hướng vềtiến bộ kỹ thuật trong ngành… người quản lý đưa ra quyết định xử lý tài sản mộtcách chuẩn xác như điều chỉnh mức khấu hao hoặc phương pháp khấu hao, thanh
lý, nhượng bán để đổi mới TSCĐ, hiện đại hoá TSCĐ thông qua sửa chữa lớn…
-Trình độ lao động, cơ chế khuyến khích và trách nhiệm vật chất trongdoanh nghiệp
Tài sản của mỗi doanh nghiệp được hình thành từ 2 nguồn: nguồn vốn bêntrong và nguồn vốn bên ngoài, vì vậy, sự tác động của các nhân tố trên đối với mỗinguồn vốn có tính chất và mức độ khác nhau
1.3.2.Nhân tố khách quan.
-Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: thể hiện ở sự thay đổi của cácchính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Mỗi một sự thay đổi trong cơ chế quản lýnền kinh tế đều có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp nhất là các quy định về cơ chế giao vốn, đánh giá tài sản cố định, về tríchkhấu hao, tỉ lệ trích lập các quỹ, cũng như các văn bản về thuế tài sản, khuyếnkhích nhập một số máy móc thiết bị nhất định đều có thể làm tăng hay giảm hiệuquả sử dụng tài sản Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải nhạy bén trong hoạt độngkinh doanh, cần phải biết đưa ra kế hoạch phù hợp với chủ trương chính sách củaNhà nước như: các chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến ngành nghề kinh doanh củadoanh nghiệp…
- Tác động của thị trường: Trong nền KTTT luôn tồn tại hai nhóm nhân tố
có tác động trái ngược nhau đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp Sự tác động này đều mang tính khách quan, nên việc nhận thức đúng cácnhân tố này sẽ giúp cho doanh nghiệp khai thác được những hoạt động tích cực từphía nền kinh tế qua đó hạn chế những tiêu cực
Lãi suất tiền vay cũng là một nhân tố ảnh hưởng quan trọng Lãi suất tiềnvay ảnh hưởng đến chi phí đầu tư của doanh nghiệp Sự thay đổi lãi suất sẽ kéotheo những biến đổi cơ bản của đầu tư mua sắm tài sản
Trang 23- Các nhân tố khác: Sự ảnh hưởng của nhóm nhân tố này đến hoạt độngcủa doanh nghiệp là rất khó có thể lường trước được, các nhân tố này có thể coi lànhân tố bất khả kháng như bão lụt, thiên tai, động đất, hỏa hoạn,… do vậy doanhnghiệp cần có những biện pháp phòng ngừa hoặc có những biện pháp khắc phụcnhanh chóng nếu không may gặp phải những bất lợi.
Trang 24CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỜI TRANG KOWIL VIỆT NAM
2.1 Khái quát về công ty cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM
2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển của công ty cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM
Thứ nhất, giới thiệu về công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam
Tên công ty: Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam
Tên viết tắt: Kowil Fashion., JSC
Logo: WINNY, OWEN
Trụ sở chính: Tầng 2 - 186 Trường Chinh, Khương Thượng, Đống Đa,
Phú Thái đã áp dụng hệ thống quản lý chuyên nghiệp và quốc tế, các phầnmềm quản trị hiện đại cùng đội ngũ nhân lực cao cấp trong và ngoài nước Tiếptục khẳng định vị trí hàng đầu trong hoạt động phân phối hàng hoá và xây dựng hệ
Trang 25thống kho vận, các trung tâm phân phối bán sỉ, và đó cũng là nhiệm vụ trọng tâmcủa Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái trong giai đoạn tới
Ngoài ra, Tập đoàn Phú Thái cũng đa dạng hoá nguồn vốn với các hoạtđộng đầu tư trong lĩnh vực bán lẻ, bất động sản, tài chính… nhằm phát huy tối đalợi thế về nguồn lực tài chính và con người Sự góp sức của các chuyên gia nướcngoài làm việc tại Công ty và các tập đoàn tư vấn quốc tế luôn là nền tảng vữngchắc giúp Phú Thái nhanh chóng bứt phá trong giai đoạn mới
Sau 18 năm hoạt động kinh doanh, Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái và
cá nhân Tổng Giám đốc Phạm Đình Đoàn đã vinh dự được nhận rất nhiều giảithưởng cao quý và bằng khen các cấp như Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ;Bằng khen của Bộ Tài Chính, Bộ Thương Mại, Uỷ Ban Nhân dân Thành phố HàNội, TW Đoàn, Hội Doanh nghiệp trẻ, Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ… Đồngthời, Phú Thái cũng là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực phânphối hàng hoá được nhận chứng chỉ ISO 9001:2000 do tổ chức TUV của Đức cấp
Tập đoàn Phú Thái đang nỗ lực phấn đấu trở thành Tập đoàn Phân phối hàng đầu tại Việt Nam
Phu Thai Group cam kết hoạt động chuyên nghiệp và quốc tế hoá trongcông việc; uy tín và tin cậy trong cách thức; thân thiện, cởi mở và trung thực tronghành vi để luôn tiên phong trong lĩnh vực phân phối, hậu cần, tiếp thị, đầu tư, đónggóp thiết thực cho sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam
Mở rộng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiếp thị, hậu cần và phânphối, hướng tới mục tiêu trở thành sự lựa chọn đáng tin cậy cho những thươnghiệu nổi tiếng trong và ngoài nước muốn thâm nhập thị trường Việt Nam Với sựthông hiểu văn hoá địa phương, Phú Thái sẽ tiếp tục phát triển tăng tốc thông quaviệc liên doanh liên kết, mua bán sáp nhập doanh nghiệp, thông qua các đại lý vàhiệp hội kinh doanh
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và dịch vụ cho thươnghiệu Phú Thái - thương hiệu của giá trị, sự tin cậy và phát triển bền
· vững
Trang 26· Định vị thương hiệu trở thành Tập đoàn phân phối, hậu cần và tiếp thị hàngđầu Việt Nam.
Thứ ba, sản phẩm của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam bao gồm: thời trang đồ mặc nhà, thời trang công sở nam, thời trang thể thao trong
đó có 2 nhãn hiệu chính là thời trang đồ mặc nhà WINNY và thời trang công sởNam OWEN Bên cạnh đó công ty cổ phần thời trang KOWIL còn phân phốicho một số thương hiệu thời trang lớn của các hãng trong và ngoài nước như:thời trang công sở nam Nhà Bè (MATTANA), TRIUM, thời trang thể thao củaHàn Quốc nhãn hiệu FILA Ban đầu các nhãn hiệu của công ty cổ phần thờitrang Kowil Việt Nam chỉ xuất hiện ở một số cửa hàng tại các thành phố lớnnhư Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hồ Chí Minh Sau một thời gian gâydựng danh tiếng các nhãn hàng của công ty đã có mặt ở khắp các thị trường tại
Trang 27các tỉnh, thành phố, hiện nay công ty cổ phần thời trang Kowil đang có xuhướng xuất khẩu sản phẩm của mình sang một số nước trong khu vực như Lào,Campuchia, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản Các sản phẩm của công ty cổphần thời trang Kowil Việt Nam hiện nay được thiết kế và sản xuất tại ViệtNam bởi các nhà cung cấp nổi tiếng như công ty cổ phần May Phương Đông,công ty cổ phần may Nhà Bè Mặc dù thời gian thành lập chưa lâu nhưng công
ty đã sớm có chỗ đứng và vị thế trên thị trường thời trang đồ mặc nhà và thờitrang công sở nam cao cấp ở Việt Nam Trong những năm tới đây với chiếnlược kinh doanh rõ ràng cộng với một đội ngũ lãnh đạo năng động, sáng tạo,nhiệt tình quyết tâm sẽ đưa các nhãn hiệu WINNY, OWEN của công ty cổ phầnthời trang Kowil Việt Nam vươn lên chiếm vị trí hàng đầu trong sân chơi thờitrang đồ mặc nhà và thời trang công sở nam
Như vậy, trong 2 năm hình thành và phát triển, công ty cổ phần thờitrang Kowil Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tốt, tuy quy mô còn nhỏnhưng sự đóng góp của công ty vào ngân sách nhà nước đang tăng lên đáng kể,đồng thời sự ra đời và lớn mạnh của công ty đã tạo ra công ăn việc làm chonhững lao động địa phương Nhưng quan trọng hơn cả là công ty đang dần đưathời trang của Việt Nam tiến gần thế giới nâng tầm vẻ đẹp Việt trước con mắtbạn bè bốn phương Phương châm kinh doanh của Kowil thời trang là vẻ đẹpcủa cuộc sống Giống như người thân tri kỷ, nhãn hàng WINNY của công ty cổphần thời trang Kowil Việt Nam luôn lắng nghe và thấu hiểu những giấc mơcủa người phụ nữ, giúp họ thể hiện bản thân, tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữViệt Nam không chỉ ở công sở mà còn ở trên phố với thời trang dạo phốWINNY, vẻ đẹp sang trọng và quý phái ngay cả ở nhà với thời trang đồ mặcnhà WINNY, vẻ đẹp mềm mại và quyến rũ với thời trang đồ ngủ WINNY; nhãnhàng thời trang công sở Nam OWEN thể hiện đẳng cấp, sự lịch lãm của ngườiđàn ông khi làm việc ở công sở, và sự mạnh mẽ của người đàn ông khi ở nhàvới thời trang đồ mặc nhà OWEN Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Namkhông một ngày ngừng nghỉ, chỉ với một kỳ vộng cùng người Việt hội nhập,
Trang 282.1.2 Đặc điểm về bộ máy quản lý của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam
Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam được tổ chức và hoạt độngtheo Luật doanh nghiệp, các luật khác có liên quan và điều lệ công ty
Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam có:
- Tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
- Điều lệ tổ chức bộ máy quản lý và điều hành
- Con dấu và tài khoản mở tại ngân hàng
- Vốn điều lệ hiện nay: 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỷ đồng)
- Số cổ phần đã đăng ký mua: 15.000
- Mệnh giá thống nhất mỗi cổ phần: 10.000 đồng
Tính đến ngày 31/12/2011 tổng số lao động trong danh sách của công ty
là 332 người Trong đó:
- Lao động có trình độ trên đại học: 02 người
- Lao động có trình độ đại học, cao đẳng: 110 người
- Lao động có trình độ trung cấp: 165 người
- Lao động có trình độ sơ cấp: 55 người
Cơ cấu tổ chức của công ty hiện tại gồm các phòng ban:
Trang 29Mô hình hệ thống đại lý chuyên bao gồm các đại lý chỉ phân phối duy nhấtmột nhãn hàng mang thương hiệu WINNY hoặc thương hiệu OWEN của công
ty Với mô hình đại lý này công ty sẽ tiến hành đầu tư biển hiệu, nội thất cũngnhư trang bị toàn bộ các hình ảnh giới thiệu về nhãn hàng mà cửa hàng đó trưngbày Mỗi đại lý chuyên được hưởng các chính sách chiết khấu, chính sáchthưởng của mô hình đại lý chuyên
Mô hình hệ thống đại lý tổng hợp bao gồm các đại lý trong hệ thống cửahàng ngoài nhãn hàng WINNY, OWEN cửa hàng còn phân phối các mặt hàngthời trang khác như WONERFUL, TRIU, MATTANA Với mô hình đại lý nàycông ty chỉ đầu tư biển hiệu không đầu tư nội thất cũng như các hình ảnh giớithiệu về sản phẩm Mô hình đại lý tổng hợp sẽ được các chính sách chiết khấu,chính sách thưởng của đại lý tổng hợp
Bên cạnh hệ thống đại lý, công ty cũng có một hệ thống showroom rôngkhắp trên cả nước
- Tại Thành phố Hồ Chí Minh: có 11 showroom
+ Cửa hàng Maxi 3-2+ Cửa hàng Cộng Hoà+ Cửa hàng Zen Plaza+ Cửa hàng Parkson Lê Đại Hành
- Tại Hà Nội: có 30 showroom
+ Cửa hàng 69 Chùa Bộc+ Cửa hàng 71A Láng Hạ+ Cửa hàng 76 Nguyễn Chí Thanh+ Cửa hàng Vincom
+ Của hàng 105, 106, 111, 112 Phạm Ngọc Thạch
Trang 30Cơ cấu quản lý của công ty
Sơ đồ 2.1 : Bộ máy quản lý của công ty được mô tả theo sơ đồ sau:
2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận
• Đại hội cổ đông:
Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của công tygồm tất cả các cổ đông Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia đại hộiđồng công ty Là cơ quan tập thể, đại hội đồng không làm việc thường xuyên màchỉ tồn tại trong thời gian họp và chỉ ra quyết định khi đã được các cổ đông thảoluận và biểu quyết tán thành
Đại hội đồng cổ đông
Phòng kế toán
Ban kiểm soảt
Phòng thiết kế
Hệ thống showroom của công ty
Trang 31Đại hội đồng cổ đông: được triệu tập để thành lập công ty Luật không quy địnhĐại hội đồng cổ đông phải họp trước hay sau khi có giấy phép thành lập nhưngphải tiến hành trước khi đăng ký kinh doanh Đại hội đồng thành lập hợp lệ phải
có nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty và biểu quyếttheo đa số phiếu quá bán
* Đại hội đồng bất thường: là đại hội chỉ được triệu tập để sửa đổi điều lệ công
ty Tính bất thường của Đại hội nói lên rằng đại hội sẽ quyết định những vấn đềrất quan trọng
* Đại hội đồng thường niên: được tổ chức hàng năm Đại hội đồng thường niênquyết định những vấn đề chủ yếu sau:
Quyết định phương hướng, nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch kinhdoanh hàng năm
Thảo luận và thông qua bản tổng kết năm tài chính
Bầu, bãi miễn thành viên HĐQT và kiểm soát viên
Quyết định số lợi nhuận trích lập các quỹ của công ty số lợi nhuận chia cho
cổ đông, phân chia trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra đối với công ty trong kinhdoanh
Quyết định các giải pháp lớn về tài chính công ty
Xem xét sai phạm của HĐQT gây thiệt hại cho công ty
• Hội đồng quản trị:
HĐQT có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quanđến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đạihội đồng HĐQT bầu một người làm chủ tịch, chủ tịch HĐQT có thể kiêm Giám
Trang 32đốc (Tổng giám đốc công ty) hoặc HĐQT cử một người trong số họ làm Giám đốchoặc thuê người làm Giám đốc công ty
• Tổng giám đốc:
Là người điều hành mọi hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm quản lý vàđiều hành công ty, giao dịch quan hệ với các đối tác ký kết hợp đồng đề ra chiếnlược kinh doanh xây dựng kế hoạch kinh doanh
• Ban kiểm soát:
Kiểm soát viên thay mặt các cổ đông kiểm soát các hoạt động của công ty,chủ yếu là các vấn đề tài chính Vì vậy phải có ít nhất một kiểm soát viên có trình
độ chuyên môn về kế toán Kiểm soát viên có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
- Kiểm soát sổ sách kế toán tài sản, các bảng tổng kế năm tài chính củacông ty và triệu tập Đại hội đồng khi cần thiết
- Trình Đại hội đồng báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết năm tài chínhcuả công ty
- Báo cáo về sự kiện tài chính bất thường xảy ra về những ưu khuyếtđiểm trong quản lý tài chính cuả HĐQT
Các kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng và không đượckiêm nhiệm là thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc là người có liên quan trực hệ bađời với họ
• Giám đốc kinh doanh:
Có nhiệm vụ triển khai các hoạt động kinh doanh của Công ty, các thao tácnghiệp vụ đảm nhiệm tất cả các việc liên quan đến tìm kiếm khách hàng, tìm hiểuthị hiếu của khách hàng nắm bắt được các thông tin về đối thủ cạnh tranh và đề racác phương hướng kinh doanh Từ đó lập ra các chiến lược kinh doanh, các biện
Trang 33pháp đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa và tìm kiếm các nguồn hàng để chủ động trongkinh doanh
• Phòng hành chính:
Phòng này có nhiệm vụ thực hiện công tác tổ chức sắp xếp cán bộ công nhânviên quản lý tài chính của công ty, báo cáo thường xuyên kết quả hoạt động kinhdoanh của công ty, báo cáo thường xuyên kết quả hoạt động kinh doanh cho công
ty giúp đỡ công ty kịp thời điều chỉnh kế hoạch kinh doanh cho phù hợp với nguồnvốn kinh doanh Phòng còn có nhiệm vụ trả lương cho cán bộ công nhân viên
Nắm bắt, thiết kế những mẫu mã mới để gửi nhà cung cấp sản xuất theo mẫu.
• Hệ thống Shou room của công ty:
Là một đại lý cũng như một phòng mẫu để trưng bày bán hàng các sảnphẩm của công ty
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty cổ phần Kowil Việt Nam
• Đặc điểm kinh doanh của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam
- Về sản phẩm
Nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển nên nhucầu về các sản phẩm may mặc ngày càng cao, nhu cầu thời trang đồ mặc nhàcùng với nhu cầu về thời trang công sở cao cấp ngày cao Chính vì vậy, cácthiết kế sản phẩm của công ty đều hướng tới mục tiêu phục vụ cuộc sống của
Trang 34người Việt Sản phẩm của công ty được phân loại theo nhiều dòng: thời trang
đồ mặc nhà với dòng thời trang dạo phố, thời trang đồ ngủ, thời trang công sởnam cao cấp với dòng thời trang sơ mi nam, thời trang đồ ngủ nam, Và cácsản phẩm của công ty cũng thay đổi theo mùa phù hợp với thị hiếu của ngườitiêu dùng Trong nhưng năm tới nền kinh tế cũng như thu nhập của người dântăng lên, quy mô kinh doanh của công ty sẽ được mở rộng và quy mô vốn cũng
sẽ tăng
Các sản phẩm được công ty tự thiết kế kiểu dáng, lựa chọn mẫu vải phù hợp,sau đó công ty sẽ đặt sản xuất tại các công ty may nổi tiếng của Hồ Chí Minhnhư công ty cổ phần May Nhà Bè, công ty cổ phần May Phương Đông, doanhnghiệp chuyên sản xuất về hàng may mặc như công ty TNHH TM và SX UyểnLinh, DNTN Đại Thiên Phúc, Công ty Cổ phần may và in ADV, công ty cổphần Tiến Khang
- Về tiêu thụ sản phẩm
Lĩnh vực hoạt động của công ty là thiết kế đồng thời phân phối các sảnphẩm thời trang, khách hàng của công ty chủ yếu là các đại lý phân phối và hệthống showroom của công ty Những đại lý này thường có vị trí ở các trung tâmthành phố lớn, phương thức thanh toán thường là trả chậm từ phía các đại lýnhằm tăng doanh thu
- Về thị trường và đối thủ cạnh tranh
Lúc đầu khi mới thành lập, thị trường của công ty chủ yếu là tầng lớp dân cư có
thu nhập khá ở các thành phố lớn của miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, QuảngNinh Nhưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của người dân Việtngày càng tăng lên, nhu cầu và thị hiếu thời trang của người Việt ngày càng cao,con người trong thời đại ngày nay không chỉ dừng lại ở việc ăn ngon mà ngườiViệt luôn có xu hướng tiến đến nhu cầu mặc đẹp, không chỉ mặc đẹp ở công sở màcòn là nhu cầu mặc đẹp ở nhà, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường thờitrang Việt trong những năm gần đây, thị trường của công ty ngày càng mở rộng
Trang 35Trong cả nước hệ thống đại lý của công ty đã lên đến con số 650 đại lý ở khắp cáctỉnh thành phố từ Bắc vào Nam, công ty đã mở chi nhánh riêng ở thành phố HồChí Minh Không dừng ở thị trường trong nước công ty đã đẩy mạnh tiếp thị, tìmkiếm thị trường mới ở nước ngoài trong năm 2010 công ty đã tham gia các triểnlãm thời trang ở các nước bạn Lào, Camphuchia giới thiệu các sản phẩm của mìnhtại 2 thị trường mới này
Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam luôn xác định vấn đề giữ vững thịtrường là vấn đề sống còn, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của công ty Vìvậy, hiện nay công ty đã đề ra rất nhiều chiến lược phát triển thị trường: mở rộng
hệ thống showroom tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành đầu tư mới vàxây dựng lại mô hình cửa hàng chuyên, tiếp thị khách hàng tại công ty, tham giaquảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia tài trợ cho cácchương trình trên đài tryền hình Việt Nam như tài trợ cho bộ phim “Xin thề anhnói thật” đã phát sóng trên sóng VTV3, tổ chức hội nghị khách hàng, đưa ra cácsản phẩm mới thông qua chương trình biểu diễn thời trang
Có thể nói trong những năm gần đây thị trường đồ mặc nhà cũng như thị
trường thời trang công sở Nam hết sức sôi động Công ty đã có một thị phầnkhông nhỏ tại các thành phố lớn tuy nhiên vẫn phải liên tục cạnh tranh với cáchãng thời trang đồ mặc nhà như VERA, PND, PALTAL, và các hãng thời trangcông sở Nam như May Nhà Bè với (MATANA), AN PHUOC,
• Tình hình kinh doanh của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam
Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam là doanh nghiệp có tuổi đời còn trẻ tuy nhiên trong thời gian tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thời trang hoạt động kinh doanh của công ty đã đạt được rất nhiều thành tựu Và để xem xét hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn của công
ty chúng ta cần xem xét hiệu quả kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Trang 36Bảng 01: Kết quả kinh doanh của công ty cổ phần thời trang Kowil
hàng và cung cấp dịch vụ 8.832.082 22.927.375 14.095.293 159%Doanh thu hoạt động tài
(Nguồn: Phòng kế toán - công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam)
Qua số liệu của bảng trên, ta có thể thấy quy mô vốn kinh doanh của công ty tăng lên khá nhanh, tốc độ tăng vốn kinh doanh là 117% và định hướng trong năm 2012 vốn kinh doanh của công ty sẽ đạt 30tỷ tương đương với tốc độ tăng so với năm 2010 là 272% gấp đôi so với tốc độ tăng vốn năm 2011 Và tương ứng với quy mô vốn tăng thì các chỉ tiêu về doanh thu bán hàng, lợi nhuận cũng tăng lên nhanh chóng (doanh thu năm 2011
Trang 37tăng 239% so với doanh thu năm 2010) Điều này đã chứng tỏ công ty đã chú trọng và quyết tâm mở rộng quy mô kinh doanh chiếm lĩnh thị trường thời trang đồ mặc nhà cũng như thị trường thời trang công sở nam Một trong những minh chứng cho quyết tâm mở rộng đó là sự phát triển của hệ thống đại lý và hệ thống showroom trong thời gian gần đây
Bảng 02: Hệ thống đại lý của công ty cổ phần thời trang Kowil
650250400
260%
208%
121%
200130170
Hệ thống showroom
- Hà Nội
- TP Hồ Chí Minh
181107
433013
238%
272%
185%
25196
(Nguồn Báo cáo rà soát năm 2011 - Phòng kinh doanh công ty cổ
phần thời trang Kowil Việt Nam)
Nhìn vào số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy quy mô kinh doanh của công ty mở rộng theo chiều sâu tập trung tìm kiếm thị trường xây dựng các
mô hình đại lý chuyên ngày càng tăng, hệ thống showroom cũng phát triển nhanh chóng khắp các tỉnh thành phố đưa hình ảnh cũng như thương hiệu của công ty tới tất cả các tầng lớp người Việt Bên cạnh đó để phục vụ nhu cầu của tất cả các thị phần người Việt bên cạnh nhãn hàng thời trang cao cấp WINNY và OWEN trong năm 2011 công ty đã mở thêm nhãn hiệu đồ
Trang 38mặc nhà WONERFUL dành riêng cho giới trẻ và những người tiêu dùng có thu nhập trung bình
2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng Tài Sản của công ty cổ phần thời trang KOWILL Việt Nam
2.2.1 Thực trạng tài sản của công ty cổ phần thời trang KOWILL Việt Nam Bảng 2.1 Chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình sử dụng vốn của công ty cổ phần thời trang KOWILLL việt nam
Tiền 7.847.130 4.593.781 -3.253.349 -41,46%sPhải thu của
khách hàng 37.777.068 29.091.416 8.685.652. -29,86%Trả trước người
Thuế GTGT được
khấu trừ 2.146.928 2.697.758 550.829. 25,66%Phải thu khác - 3.060.000 3.060.000
Hàng tồn kho 48.696.576 70.467.233 21.770.656 44,71%
-Tài sản dài hạn 1.146.561 10.370.141 9.223.579 804%
Tài sản cố định 1.146.561 1.966.694 820.132 71,53%Đầu tư tài chính
Tổng cộng tài
sản
104.733.524.6 14
127.242.314.2
52 22.508.789.638 21,49%
(Nguồn báo cáo tài chính hàng năm của công ty cổ phần thời trang
Kowil Việt Nam)
Trang 39Qua bảng số liệu trên cho thấy quy mô kinh doanh của công ty có xu hướng tăng cao: tổg tài sản của công ty năm 2010 trên 104 tỷ đến năm
2011 số tài sản này đã tăng thêm 22% lên trên 127 tỷ đồng, nguyên nhân của sự gia tăng này đó là việc gia tăng hàng tồn kho, các khoản phải thu khác và mục tiêu kinh doanh của công ty có sự chuyển hướng đầu tư không chỉ kinh doanh vào tài sản ngắn hạn mà công ty còn tăng cường đầu tư cho tài sản cố định dài hạn có tính lâu dài (Năm 2010 số tiền đầu tư tài chính dài hạn không có nhưng đến năm 2011 số vốn đầu tư vào khoản mục này
đã tăng lên 7,95 tỷ đồng) Khoản mục hàng tồn kho gần như tăng lên gấp đôi năm 2010 hàng tồn kho chỉ có trên 48 tỷ nhưng năm 2011 số tiền nằm trong khoản mục hàng tồn kho lên đến trên 70 tỷ đồng điều này cho thấy công ty đầu tư khá nhiều vào hàng tồn kho để có được đầy đủ nguồn hàng cung cấp ra thị trường làm cho quy mô kinh doanh của công ty ngày càng tăng lên.
Về khoản phải thu của khách hàng
Tỷ trọng các khoản phải thu của khách hàng của công ty chiếm tỷ trọng
cao năm 2010 chiếm đến 35,92%, năm 2011 tỷ trọng phải thu của khách hàng là 22,83% Tỷ trọng phải thu của kháchd hàng giảm xuống do chính sách tín dụng của công ty đối với khách hàng, giảm số khách hàng thanh toán nợ và tăng số khách hàng thanh toán ngày, điều này cũng phản ánh công tác thu hồi nợ của công ty đã có nhiều chuyển biến tích cực, giảm được các khoản công nợ xấu Tuy nhiên tỷ trọng phải thu khách hàng vẫn còn cao cho thấy công tác quản lý thu hồi nợ của công ty vẫn còn hạn chế, chưa được quản lý chặt chẽ.
Về hàng hoá tồn kho
Hàng hoá tồn kho là chỉ tiêu có tác động mạnh nhất đối với sự thay đổi của quy mô tổng tài sản Đối với công ty hàng tồn kho đóng vai trò quyết