1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM

74 897 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM
Tác giả Nguyễn Thị Mai Ngọc
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Đăng Khâm
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 559 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, một trong những nhân tố quan trọng quyết định cho sự thành công của một doanh nghiệp đó là hiệu quả sử dụng tài sản. Trước đây, khi nền kinh tế nước ta còn trong thời kỳ bao cấp, mọi nhu cầu về tài sản cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều được Nhà nước cấp phát hoặc cấp tín dụng ưu đãi nên doanh nghiệp không đặt vấn đề khai thác và sử dụng tài sản có hiệu quả lên hàng đầu, nhưng mà ngày nay, khi nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự tìm nguồn vốn để hoạt động thì công tác sử dụng tài sản trong doanh nghiệp như thế nào? Làm sao để sử dụng hiệu quả tài sản trong doanh nghiệp. Đây là một trong những vấn đề bức thiết đối với các nhà quản lý doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu thực tế, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của tài sản trong doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần thời trang KOWILL việt nam em xin trình bày chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM”.

Trang 1

ưu đãi nên doanh nghiệp không đặt vấn đề khai thác và sử dụng tài sản có hiệu quảlên hàng đầu, nhưng mà ngày nay, khi nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi sang nềnkinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự tìm nguồn vốn để hoạt động thì côngtác sử dụng tài sản trong doanh nghiệp như thế nào? Làm sao để sử dụng hiệu quảtài sản trong doanh nghiệp Đây là một trong những vấn đề bức thiết đối với cácnhà quản lý doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ yêu cầu thực tế, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng củatài sản trong doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần thời trangKOWILL việt nam em xin trình bày chuyên đề thực tập tốt nghiệp với đề tài:

“Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM”.

Kết cấu của chuyên đề gồm có 3 chương:

Chương 1: Các vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM.

Do trình độ lý luận, phạm vi và khả năng còn nhiều hạn chế nên bài viếtkhông tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, bổsung của các thầy cô giáo để bài viết được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 11 tháng 04 năm 2012

Sinh viên

Nguyễn Thị Mai Ngọc

Trang 2

Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát về doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và phân loại Doanh Nghiệp

Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt độngkinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu

Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cánhân Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các Doanh nghiệpchứ không phải các cá nhân

Trên thực tế doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: cửahàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng…

Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005:

DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đượcđăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạtđộng kinh doanh (tức thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quátrình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thịtrường nhằm mục đích sinh lời

Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm:

+ Doanh nghiệp nhà nước: là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên50% vốn điều lệ

+ Công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chiathành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phầncủa doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và cácnghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là doanh nghiệp mà các thành viên trongcông ty (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm hữuhạn một thành viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củacông ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

Trang 3

+ Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó ít nhất có 2 thành viên là chủ

sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợpdanh) Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn cócác thành viên góp vốn

+ Công ty liên doanh: là công ty có số vốn từ 10% – 50% do công ty khácđóng góp Thông thường các công ty này có quốc tịch khác nhau

+ Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể sauđây:

- Chủ Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với nghĩa vụ và các khoản

nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của doanh nghiệp

- Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của ngườichủ doanh nghiệp

- Khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của người chủ

Kinh doanh góp vốn

- Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập thấp Đốivới các hợp đồng phức tạp cần phải được viết tay Một số trường hợp cần có giấyphép kinh doanh

Trang 4

- Các thành viên chính thức có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ Mỗithành viên có trách nhiệm đối với phần tương ứng với phần vốn góp Nếu như mộtthành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ do cácthành viên khác hoàn trả.

- Doanh nghiệp tan vỡ khi một trong các thành viên chính thức chết hay rútvốn

- Khả năng về vốn hạn chế

- Lãi từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cánhân

Công ty

Công ty là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: các

cổ đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và các nhà quản lý Theo truyềnthống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phương hướng, chính sách và hoạt động củacông ty Cổ đông bầu nên hội đồng quản trị, sau đó hội đồng quản trị lựa chọn banquản lý Các nhà quản lý quản lý hoạt động của công ty theo cách thức mang lạilợi ích tốt nhất cho cổ đông Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lýmang lại cho công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn:

- Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới

- Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổ đông

- Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vàocông ty

Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu nhược điểm riêng và phù hợp vớiquy mô, trình độ phát triển nhất định Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với

tư cách các công ty Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp

Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu, có thể coi tất cả các loại hình đó làdoanh nghiệp Về nguyên tắc, nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp là nhưnhau

1.1.2.Các hoạt động chủ yếu

Theo quy định của luật Doanh nghiệp năm 2005: Doanh nghiệp hoạt độngtrong tất cả các lĩnh vực được cấp giấy phép trong giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh

Trang 5

Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, quá trình hoạt động của doanhnghiệp chính là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ.

Tuy nhiên, để đạt được mức danh lợi mong muốn, doanh nghiệp cần phải

có những quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình trao đổi

Doanh nghiệp luôn phải đối đầu với công nghệ Sự phát triển của côngnghệ là một yếu tố góp phần thay đổi phương thức sản xuất, tạo ra nhiều kỹ thuậtmới dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanh nghiệp

Doanh nghiệp là đối tượng quản lý của Nhà nước, chịu sự quản lý của Nhànước Sự thắt chặt hay nới lỏng hoạt động của doanh nghiệp được điều chỉnh bằngluật và các văn bản quy phạm pháp luật, bằng cơ chế quản lý tài chính

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải dự tính được khả năngxảy ra rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để tìm cách ứng phó kịp thời và đúng đắn.Trong thời kỳ ngày nay, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệpphải chuyển dần từ chiến lược trọng cung cổ điển sang chiến lược trọng cầu hiệnđại Những đòi hỏi về chất lượng, mẫu mã, giá cả hàng hóa, về chất lượng dịch vụngày càng cao hơn, tinh tế hơn của khách hàng buộc các doanh nghiệp phải thườngxuyên thay đổi chính sách sản phẩm, bảo đảm sản xuất kinh doanh có hiệu quả vàchất lượng cao

Doanh nghiệp thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mứcvốn sở hữu trong cơ cấu vốn Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có tác động đáng kểtới hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau

1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản của Doanh Nghiệp

1.2.1.Tài sản của Doanh nghiệp

1.2.1.1.Khái niệm, đặc điểm tài sản của doanh nghiệp

Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng Tài sản của doanh nghiệp là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu thịnhững lợi ích mà đơn vị thu được trong tương lai hoặc những tiềm năng phục vụcho hoạt động kinh doanh của đơn vị Hay nói cách khác thì tài sản là những yếu

tố hữu hình và vô hình gắn với lợi ích trong tương lai

Tài sản có đặc điểm:

- Thuộc sở hữu của ai đó

Trang 6

- Mỗi tài sản đều có những đặc tính nhất định

- Có thể mang giá trị tinh thần hoặc vật chất

- Là những thứ đã tồn tại (tài sản trước kia) đang tồn tại và có thể có trongtương lai

- Tính có thể chuyển nhượng, trao đổi: Một tài sản có thể được chuyểnnhượng giữa những người đang sống với nhau Một tài sản có thể được mua, bán,tặng, cho với người thứ 3 Các quyền về tài sản có thể tồn tại dưới dạng có đền bùhoặc không đền bù

1.2.1.2 Phân loại tài sản của doanh nghiệp

Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại tài sản Theo chu kỳ sản xuất, ta

có tài sản cố định và tài sản lưu động Còn theo đặc tính cấu tạo của vật chất ta cótài sản hữu hình và tài sản vô hình

a, Tài sản cố định

Tài sản cố định hiểu theo nghĩa rộng là những yếu tố của tư liệu lao độngđược sử dụng trong một thời gian luân chuyển tương đối dài và có giá trị tươngđối lớn Thông thường, thời gian sử dụng hữu ích (tuổi thọ kinh tế) để một tài sảnđược coi là tài sản cố định là trên 1 năm Giá trị đơn vị (giá trị tối thiểu) để một tàisản được xếp vào tài sản cố định phụ thuộc vào quy định của Bộ Tài chính trongtừng thời kỳ và thường được điều chỉnh để phù hợp với sự biến động của giá trị thịtrường

Do mục đích sử dụng tài sản trong doanh nghiệp khác nhau nên có nhữngcách phân loại khác nhau Thông thường có một số phương pháp phân loại chủyếu sau

Thứ 1: Theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế có TSCĐHH và

TSCĐVH

- Tài sản cố định vô hình

Là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị,

do dn quản lý và sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch

vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn tài sản cố định vôhình

Trang 7

Tài sản cố định vô hình chỉ được thừa nhận khi xác định được giá trị của

nó, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiềuchu kỳ kinh doanh của dn Thông thường, tài sản cố định vô hình gồm các loạisau: Quyền sử dụng đất có thời hạn, nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, phầnmềm máy vi tính, bản quyền, bằng sáng chế…

- Tài sản cố định hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể do

doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh Nó bao gồm các nhóm sau:

+ Nhà cửa, vật kiến trúc: Là toàn bộ công trình kiến trúc như nhà làm việc,nhà kho, hàng rào, tháp nước, đường sá, cầu cống, cầu tầu…

+ Máy móc, thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạtđộng của doanh nghiệp như máy móc thiết bị chuyên dùng, máy móc thiết bị côngtác, dây chuyền công nghệ…

+ Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Gồm các loại phương tiện vận tảiđường bộ, đường sông, đường biển… và các thiết bị truyền dẫn về thông tin, điệnnước, băng truyền tải vật tư, hàng hóa…

+ Thiết bị, dụng cụ quản lý: Là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tácquản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, thiết bị điện tử,thiết bị dụng cụ đo lường kiểm tra chất lượng, máy hút bụi, hút ẩm…

+ Vườn cây lâu năm (như cà phê, cao su, chè, cây ăn quả…), súc vật làmviệc (trâu, bò…) hoặc súc vật cho sản phẩm (bò sữa, trâu sữa…)

Thứ 2: Theo mục đích sử dụng

Dựa theo tiêu thức này, toàn bộ tài sản cố định của dn được chia làm 2 loại:+ TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là những TSCĐ đang dùng tronghoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động SXKD phụ của DN

+ TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng: Lànhững TSCĐ không mang tính chất sản xuất do DN quản lý và sử dụng cho cáchoạt động phúc lợi, sự nghiệp và các hoạt động đảm bảo an ninh, quốc phòng

Cách phân loại này, giúp cho người quản lý dn thấy được kết cấu tài sản cốđịnh theo mục đích sử dụng qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và tínhkhấu hao TSCĐ có tính chất SX, có biện pháp quản lý phù hợp với mỗi loạiTSCĐ

Trang 8

Trên đây là các cách phân loại chủ yếu, ngoài ra còn có nhiều cách phânloại khác và doanh nghiệp có thể tùy theo yêu cầu quản lý từng thời kỳ mà ápdụng các cách phân loại riêng.

b, Tài sản lưu động:

Để tiến hành sản xuất KD, ngoài các TSCĐ doanh nghiệp cần phải có cáctài sản lưu động (TSLĐ) TSLĐ của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận: Tài sản lưuđộng sản xuất và tài sản lưu động lưu thông

- Tài sản lưu động sản xuất: Gồm một bộ phận là những vật tư dự trữ đểđảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệuphụ, nhiên liệu… và một bộ phận là những sản phẩm dở dang đang trong quá trìnhsản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm…

- Tài sản lưu động lưu thông: Là những TSLĐ nằm trong quá trình lưuthông của doanh nghiệp như: thành phẩm trong kho chờ tiêu thu, vốn bằng tiền,vốn trong thanh toán…

Trong quá trình SXKD, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn thay thếchỗ cho nhau, vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuấtđược tiến hành liên tục và thuận lợi

c, Tài sản hữu hình

Bao gồm những vật (có những điều kiện nhất định) tiền và giấy tờ có giá(ngôn ngữ luật học) Tài sản hữu hình là những cái có thể dùng giác quan nhận biếtđược hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được

d, Tài sản vô hình

Trang 9

Là những quyền tài sản (nghĩa hẹp) thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định

và thường chỉ gắn với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao Tuy nhiênmột số quyền tài sản có thể chuyển giao như một thương hiệu hàng hóa hoặc ủyquyền cho người khác Tài sản vô hình là những thứ không thể dùng giác quan đểlấy được và không thể dùng đại lượng để tính Nhưng trong quá trình chuyển giao

+ Hiệu quả tuyệt đối = kết quả nhận được theo hướng mục tiêu đo bằngcác đơn vị khác nhau – chi phí bỏ ra được đo bằng các đơn vị khác nhau

+ Hiệu quả tương đối: = hiệu quả được xét theo nhiều góc khác nhau.+ Hiệu quả tổng hợp: là hiệu quả chung phản ánh kết quả thực hiện mọimục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan hệ với chi phí

để có được những kết quả đó

+ Hiệu quả kinh tế là hiệu quả nếu chỉ xét về khía cạnh kinh tế của vấn đề

nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế nhận được và chi phí để có được lợiích kinh tế đó

+ Hiệu quả tài chính hay hiệu quả sản xuất kinh doanh là mối quan hệ giữalợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra

để có được lợi ích kinh tế Đây là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp

→ Hiệu quả sử dụng tài sản là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệgiữa giá trị thu được so với chi phí đã bỏ ra tức là làm sao để chỉ phải bỏ ra mộtlượng tài sản nhỏ nhất mà thu về được lợi nhuận lớn nhất Nâng cao hiệu quả sửdụng tài sản là yêu cầu tất yếu khách quan của mỗi doanh nghiệp trong nền KTTT.Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứkhông phải chỉ đơn thuần do quản trị tài sản tồi Nhưng cũng cần thấy rằng sự bấtlực của một số doanh nghiệp trong việc hoạch định kiểm soát một cách chặt chẽcác loại tài sản hầu như là một nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ

Trang 10

1.2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Trước kia, trong nền kinh tế tập trung hóa, về lý luận cũng như thực tiễnđều coi giá trị thặng dư là do kết quả của lao động sáng tạo ra, yếu tố vốn bị xemnhẹ, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thì giá trị thặng dư được quyết

định bởi thị trường Ba vấn đề: sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? không xuất phát từ quan điểm chủ quan của doanh nghiệp, hay từ mệnh lệnh

của cấp trên mà xuất phát từ nhu cầu thị trường, từ quan hệ cung cầu và từ lợi íchcủa doanh nghiệp Khác với quan điểm trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, cơchế thị trường coi vốn nói chung hay tài sản nói riêng là một trong những nhân tốtạo ra giá trị thặng dư Như vậy, bản chất hiệu quả sử dụng tài sản là một mặt củahiệu quả kinh doanh

Đồng thời, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, quy mô lớn,nhỏ khác nhau, doanh nghiệp nào cũng muốn thu về lợi ích tối đa nhất có thể Nhưvậy vấn đề làm sao để sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp nhằmđạt kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất là điều kiện có tính chất quyết định

để một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển vững chắc trong tương lai

Chính vì vậy, việc tổ chức sử dụng tài sản có hiệu quả cũng là yêu cầukhách quan đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì những

lý do:

- Việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp xuất phát từtầm quan trọng của tài trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp:

Với bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Lợi nhuận là chỉ tiêu chấtlượng tổng hợp liên quan tới tất cả các mặt trong hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, là nguồn tích lũy cơ bản để mở rộng sản xuất Đặc biệt, trong nền kinh tếthị trường ngày nay, lợi nhuận chính là điều kiện tiên quyết tới sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp Vì vậy, việc tiến hành sản xuất kinh doanh như thế nào để

có thể thu được lợi nhuận cao và ổn định luôn được các doanh nghiệp quan tâm vàphấn đấu Để đạt được mục tiêu đó cần tăng cường công tác tổ chức và sử dụngtài sản trong doanh nghiệp một cách có hiệu quả nhất

Trang 11

- Xuất phát từ thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng tài sản trong doanhnghiệp

- Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sửdụng tài sản

Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là với một lượng tài sản nhất định,doanh nghiệp có thể tạo ra được nhiều doanh thu, và vì thế thu được nhiều đồnglợi nhuận hơn hoặc trang bị thêm được cơ sở vật chất, đầu tư vào máy móc, kỹthuật, thay đổi hiện đại hóa dây chuyền công nghệ, mở rộng quy mô kinh doanh,tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận…

Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là điều kiện cần để doanh nghiệp tồn tại

và phát triển Bảo toàn tài sản là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản vàngược lại, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản là biện pháp để bảo toàn tài sản Haivấn đề này gắn bó chặt chẽ với nhau, tồn tại song song và hỗ trợ nhau trong quátrình sử dụng tài sản trong các doanh nghiệp Việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả

sử dụng tài sản có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện các mục tiêu của doanhnghiệp và còn giúp cho doanh nghiệp có thể duy trì được sức mua của đồng vốn,

kể cả trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát cao, góp phần làm tăng khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâudài của doanh nghiệp

→ Như vậy, tài sản của doanh nghiệp là một yếu tố rất quan trọng trongquá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định đến sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp Chính vì thế mà việc nâng cao hiệu quả sử dụng tàisản của doanh nghiệp là việc làm cần thiết mang tính khách quan

Để phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ta có các chỉ tiêusau:

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản

- Số vòng quay tổng tài sản ( hay gọi tắt là Số vòng quay tài sản) là một tỷ

số tài chính, là thước đo khái quát nhất hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Công thức:

Số vòng quay tài sản = Doanh thu thuần trong kỳ

Giá trị bình quân tổng tài sản (TSCĐ và TSLĐ)

Trang 12

Trong đó: Giá trị bình quân tính bằng trung bình cộng của giá trị đầu kỳ vàgiá trị cuối kỳ

Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng tài sản tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêuđồng doanh thu

- Hệ số sinh lợi tổng tài sản:

Hệ số sinh lợi tổng tài sản = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Tổng tài sản

- Hệ số doanh lợi:

Hệ số doanh lợi = Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản

- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản:

Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Doanh thu thuần

Tổng tài sảnNgoài các chỉ tiêu trên, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp cònđược đánh giá qua các chỉ tiêu khác như: hệ số thanh toán nhanh, hệ số thanh toánngắn hạn, hệ số thanh toán tức thời, vòng quay hàng tồn kho…

- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát: đo lường khả năng thanh toán mộtcách tổng quát các khoản nợ của doanh nghiệp

Công thức:

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản

Nợ phải trảChỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp thừa

để thanh toán hết các khoản nợ hiện tại của doanh nghiệp

- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: Phản ánh khả năng thanh toántạm thời các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng các tài sản có thể chuyểnđổi thành tiền trong thời gian ngắn

Công thức:

Trang 13

Hs khả năng tt nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanhtoán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng số tiền hiện có và tài sản cóthể chuyển đổi nhanh thành tiền trong doanh nghiệp Đây là các chỉ tiêu được cácchủ nợ ngắn hạn quan tâm để đánh giá tại thời điểm phân tích, doanh nghiệp cókhả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn hay không?

Công thức:

Hs khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – Vốn vật tư hàng hóa

Nợ ngắn hạn

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ:

- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ tham gia tạo ra baonhiêu đồng doanh thu thuần Thông thường, chỉ tiêu này cũng cho phép đánh giátrình độ sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp

Trang 14

Công thức:

Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần trong kỳ

Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ

- Hệ số hao mòn TSCĐ:

Chỉ tiêu này một mặt phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong doanhnghiệp, mặt khác nó cũng phản ánh tổng quát tình trạng về năng lực còn lại củaTSCĐ cũng như vốn cố định ở thời điểm đánh giá

Công thức tính:

Hệ số hao mòn TSCĐ =

Số khấu hao lũy kế của TSCĐ ở thời điểm đánh

giá Tổng nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giáNgoài các chỉ tiêu trên, để đánh giá tình hình đầu tư vào tài sản cố định vàhiệu suất sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể sử dụng một

số chỉ tiêu bổ sung:

- Các chỉ tiêu về kết cấu TSCĐ của dn: Kết cấu TSCĐ là quan hệ tỉ lệ giữanguyên giá của từng loại, nhóm tài sản cố định với tổng nguyên giá tài sản cố địnhcủa dn Căn cứ vào phương pháp phân loại TSCĐ có thể tính được các chỉ tiêu vềkết cấu TSCĐ

Chỉ tiêu này có thể đánh giá được tính chất hợp lý hay không hợp lý của kếtcấu TSCĐ để có định hướng đầu tư, điều chỉnh kết cấu TSCĐ và giúp người quản

lý xác định trọng tâm quản lý TSCĐ nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng TSCĐ

- Hệ số trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp sản xuất

Công thức:

Hệ số trang bị TSCĐ cho một

công nhân trực tiếp sản xuất =

Nguyên giá TSCĐ trực tiếp sản xuất

Số lượng công nhân trực tiếp sản xuất.Chỉ tiêu này phản ánh mức độ trang bị giá trị TSCĐ trực tiếp sản xuất chomột công nhân trực tiếp sản xuất cao hay thấp

Trang 15

Hệ số này càng lớn phản ánh mức độ trang bị TSCĐ cho người công nhântrực tiếp sản xuất càng cao, điều kiện lao động càng thuận lợi.

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSLĐ ( tài sản dài hạn):

- Hiệu suất sử dụng TSLĐ ( Vòng quay tài sản lưu động): chỉ tiêu này chobiết mỗi đơn vị TSLĐ sử dụng trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần,chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSLĐ càng cao

Vòng quay TSLĐ trong kỳ = Doanh thu thuần trong kỳ

TSLĐ bình quân trong kỳ

- Hiệu quả sử dụng TSLĐ: chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời củaTSLĐ Nó cho biết mỗi đơn vị TSLĐ có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợinhuận sau thuế

Hiệu quả sử dụng TSLĐ trong kỳ = Lợi nhuận sau thuế

TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ

- Mức đảm nhiệm TSLĐ: chỉ tiêu này cho biết để đạt được mỗi đơn vịdoanh thu, doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu phần trăm đơn vị TSLĐ Chỉ tiêunày càng thấp, hiệu quả kinh tế càng cao

Mức đảm nhiệm TSLĐ = TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ

Doanh thu thuần

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.

1.3.1.Nhân tố chủ quan:

Đây là nhóm nhân tố có tính chất quyết định đến hiệu quả sử dụng tài sảncủa doanh nghiệp Nhóm nhân tố này gồm nhiều yếu tố cùng tác động trực tiếpđến kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh cả trước mắt cũng nhưlâu dài Bởi vậy, việc xem xét những yếu tố này là điều cực kỳ quan trọng Thôngthường, người ta thường xem xét những yếu tố sau:

- Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp:

Trang 16

Nhân tố này tạo điểm xuất phát cho doanh nghiệp cũng như định hướngcho nó trong suốt quá trình tồn tại Với một ngành nghề kinh doanh đã được lựachọn, chủ doanh nghiệp buộc phải giải quyết những vấn đề đầu tiên về tài chínhgồm:

+ Cơ cấu vốn của doanh nghiệp thế nào là hợp lý, khả năng tài chính củacông ty ra sao?

+ Cơ cấu tài sản được đầu tư ra sao, mức độ hiện đại hóa nói chung so vớicác đối thủ cạnh tranh đến đâu Cơ cấu này có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sửdụng tài sản của doanh nghiệp Việc bố trí cơ cấu tài sản hợp lý, phù hợp với đặcđiểm điều kiện kinh doanh cụ thể của từng ngành nghề, của mỗi doanh nghiệptrong từng thời kỳ Nếu cơ cấu tài sản không hợp lý thì giá trị tài sản đó khôngthể phát huy tối đa tác dụng của nó Đối với doanh nghiệp kinh doanh trong ngànhnghề có tốc độ hoàn vốn nhanh thì cơ cấu vốn nghiêng về tài sản lưu động, ngượclại kinh doanh ngành nghề có đặc điểm là vòng quay chậm vốn thì thường có xuhướng nghiêng về tài sản cố định

+Nguồn tài trợ cho những tài sản đó được huy động từ đâu, có đảm bảo lâudài cho sự hoạt động an toàn của doanh nghiệp không? Các doanh nghiệp phải lựachọn ra một cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm tối thiểu chi phí sử dụng vốn để từ

đó giảm chi phí kinh doanh, làm tăng lợi nhuận, góp phần làm nâng cao hiệu quả

sử dụng tài sản

- Ảnh hưởng do sự lựa chọn phương án đầu tư, phương án kinh doanh:Việc lựa chọn phương án đầu tư kinh doanh có mức sinh lời cao, rủi ro thấp sẽ gópphần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản Ngược lại sẽ làm giảm hiệu quả sử dụngtài sản của doanh nghiệp Để lựa chọn được phương án đầu tư mang lại hiệu quả

sử dụng vốn cao thì công tác thẩm định dự án đầu tư cần phải tiến hành tỉ mỉ, khoahọc nhằm loại trừ những phương án kinh doanh có độ rủi ro lớn, chọn ra phương

án có mức sinh lời cao, rủi ro ở mức có thể chấp nhận được

- Trình độ tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh, hạch toán nội bộ doanhnghiệp

Để có hiệu quả cao thì bộ máy tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất phải gọnnhe, ăn khớp với nhau

Trang 17

Với mỗi phương thức sản xuất và loại hình sản xuất sẽ có tác động khácnhau tới tiến độ sản xuất, phương pháp và quy trình vận hành máy móc, số bộphận phục vụ sản xuất kinh doanh.

Mặt khác, đặc điểm của công tác hạch toán, kế toán nội bộ doanh nghiệpluôn gắn bó với tính chất của tổ chức sản xuất và quản lý trong cùng doanh nghiệp

sẽ có tác động không nhỏ Công tác kế toán đã dùng những công cụ của mình đểtính toán hiệu quả sử dụng tài sản, và kế toán phải có nhiệm vụ phát hiện nhữngtồn tại trong quá trình sử dụng tài sản và đề xuất những biện pháp giải quyết

-Trình độ lao động, cơ chế khuyến khích và trách nhiệm vật chất trongdoanh nghiệp

Tài sản của mỗi doanh nghiệp được hình thành từ 2 nguồn: nguồn vốn bêntrong và nguồn vốn bên ngoài, vì vậy, sự tác động của các nhân tố trên đối với mỗinguồn vốn có tính chất và mức độ khác nhau

1.3.2.Nhân tố khách quan.

-Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: thể hiện ở sự thay đổi của cácchính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước Mỗi một sự thay đổi trong cơ chế quản lýnền kinh tế đều có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp nhất là các quy định về cơ chế giao vốn, đánh giá tài sản cố định, về tríchkhấu hao, tỉ lệ trích lập các quỹ, cũng như các văn bản về thuế tài sản, khuyếnkhích nhập một số máy móc thiết bị nhất định đều có thể làm tăng hay giảm hiệuquả sử dụng tài sản Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải nhạy bén trong hoạt độngkinh doanh, cần phải biết đưa ra kế hoạch phù hợp với chủ trương chính sách củaNhà nước như: các chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến ngành nghề kinh doanh củadoanh nghiệp…

- Tác động của thị trường: Trong nền KTTT luôn tồn tại hai nhóm nhân tố

có tác động trái ngược nhau đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp Sự tác động này đều mang tính khách quan, nên việc nhận thức đúng cácnhân tố này sẽ giúp cho doanh nghiệp khai thác được những hoạt động tích cực từphía nền kinh tế qua đó hạn chế những tiêu cực

Lãi suất tiền vay cũng là một nhân tố ảnh hưởng quan trọng Lãi suất tiềnvay ảnh hưởng đến chi phí đầu tư của doanh nghiệp Sự thay đổi lãi suất sẽ kéotheo những biến đổi cơ bản của đầu tư mua sắm tài sản

Trang 18

- Các nhân tố khác: Sự ảnh hưởng của nhóm nhân tố này đến hoạt độngcủa doanh nghiệp là rất khó có thể lường trước được, các nhân tố này có thể coi lànhân tố bất khả kháng như bão lụt, thiên tai, động đất, hỏa hoạn,… do vậy doanhnghiệp cần có những biện pháp phòng ngừa hoặc có những biện pháp khắc phụcnhanh chóng nếu không may gặp phải những bất lợi.

Trang 19

Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỜI TRANG KOWIL VIỆT NAM

2.1 Khái quát về công ty cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM

2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển của công ty cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM

Thứ nhất, giới thiệu về công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam

Tên công ty: Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam

Tên viết tắt: Kowil Fashion., JSC

Logo: WINNY, OWEN

Trụ sở chính: Tầng 2 - 186 Trường Chinh, Khương Thượng, Đống Đa,

Phú Thái đã áp dụng hệ thống quản lý chuyên nghiệp và quốc tế, các phầnmềm quản trị hiện đại cùng đội ngũ nhân lực cao cấp trong và ngoài nước Tiếptục khẳng định vị trí hàng đầu trong hoạt động phân phối hàng hoá và xây dựng hệ

Trang 20

thống kho vận, các trung tâm phân phối bán sỉ, và đó cũng là nhiệm vụ trọng tâmcủa Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái trong giai đoạn tới

Ngoài ra, Tập đoàn Phú Thái cũng đa dạng hoá nguồn vốn với các hoạtđộng đầu tư trong lĩnh vực bán lẻ, bất động sản, tài chính… nhằm phát huy tối đalợi thế về nguồn lực tài chính và con người Sự góp sức của các chuyên gia nướcngoài làm việc tại Công ty và các tập đoàn tư vấn quốc tế luôn là nền tảng vữngchắc giúp Phú Thái nhanh chóng bứt phá trong giai đoạn mới

Sau 18 năm hoạt động kinh doanh, Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái và

cá nhân Tổng Giám đốc Phạm Đình Đoàn đã vinh dự được nhận rất nhiều giảithưởng cao quý và bằng khen các cấp như Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ;Bằng khen của Bộ Tài Chính, Bộ Thương Mại, Uỷ Ban Nhân dân Thành phố HàNội, TW Đoàn, Hội Doanh nghiệp trẻ, Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ… Đồngthời, Phú Thái cũng là doanh nghiệp đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực phânphối hàng hoá được nhận chứng chỉ ISO 9001:2000 do tổ chức TUV của Đức cấp

Tập đoàn Phú Thái đang nỗ lực phấn đấu trở thành Tập đoàn Phân phối hàng đầu tại Việt Nam

Phu Thai Group cam kết hoạt động chuyên nghiệp và quốc tế hoá trongcông việc; uy tín và tin cậy trong cách thức; thân thiện, cởi mở và trung thực tronghành vi để luôn tiên phong trong lĩnh vực phân phối, hậu cần, tiếp thị, đầu tư, đónggóp thiết thực cho sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam

Mở rộng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiếp thị, hậu cần và phânphối, hướng tới mục tiêu trở thành sự lựa chọn đáng tin cậy cho những thươnghiệu nổi tiếng trong và ngoài nước muốn thâm nhập thị trường Việt Nam Với sựthông hiểu văn hoá địa phương, Phú Thái sẽ tiếp tục phát triển tăng tốc thông quaviệc liên doanh liên kết, mua bán sáp nhập doanh nghiệp, thông qua các đại lý vàhiệp hội kinh doanh

Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và dịch vụ cho thươnghiệu Phú Thái - thương hiệu của giá trị, sự tin cậy và phát triển bền

· vững

Trang 21

· Định vị thương hiệu trở thành Tập đoàn phân phối, hậu cần và tiếp thị hàngđầu Việt Nam.

Thứ ba, sản phẩm của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam bao gồm: thời trang đồ mặc nhà, thời trang công sở nam, thời trang thể thao trong

đó có 2 nhãn hiệu chính là thời trang đồ mặc nhà WINNY và thời trang công sởNam OWEN Bên cạnh đó công ty cổ phần thời trang KOWIL còn phân phốicho một số thương hiệu thời trang lớn của các hãng trong và ngoài nước như:thời trang công sở nam Nhà Bè (MATTANA), TRIUM, thời trang thể thao củaHàn Quốc nhãn hiệu FILA Ban đầu các nhãn hiệu của công ty cổ phần thờitrang Kowil Việt Nam chỉ xuất hiện ở một số cửa hàng tại các thành phố lớnnhư Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hồ Chí Minh Sau một thời gian gâydựng danh tiếng các nhãn hàng của công ty đã có mặt ở khắp các thị trường tại

Trang 22

các tỉnh, thành phố, hiện nay công ty cổ phần thời trang Kowil đang có xuhướng xuất khẩu sản phẩm của mình sang một số nước trong khu vực như Lào,Campuchia, Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản Các sản phẩm của công ty cổphần thời trang Kowil Việt Nam hiện nay được thiết kế và sản xuất tại ViệtNam bởi các nhà cung cấp nổi tiếng như công ty cổ phần May Phương Đông,công ty cổ phần may Nhà Bè Mặc dù thời gian thành lập chưa lâu nhưng công

ty đã sớm có chỗ đứng và vị thế trên thị trường thời trang đồ mặc nhà và thờitrang công sở nam cao cấp ở Việt Nam Trong những năm tới đây với chiếnlược kinh doanh rõ ràng cộng với một đội ngũ lãnh đạo năng động, sáng tạo,nhiệt tình quyết tâm sẽ đưa các nhãn hiệu WINNY, OWEN của công ty cổ phầnthời trang Kowil Việt Nam vươn lên chiếm vị trí hàng đầu trong sân chơi thờitrang đồ mặc nhà và thời trang công sở nam

Như vậy, trong 2 năm hình thành và phát triển, công ty cổ phần thờitrang Kowil Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tốt, tuy quy mô còn nhỏnhưng sự đóng góp của công ty vào ngân sách nhà nước đang tăng lên đáng kể,đồng thời sự ra đời và lớn mạnh của công ty đã tạo ra công ăn việc làm chonhững lao động địa phương Nhưng quan trọng hơn cả là công ty đang dần đưathời trang của Việt Nam tiến gần thế giới nâng tầm vẻ đẹp Việt trước con mắtbạn bè bốn phương Phương châm kinh doanh của Kowil thời trang là vẻ đẹpcủa cuộc sống Giống như người thân tri kỷ, nhãn hàng WINNY của công ty cổphần thời trang Kowil Việt Nam luôn lắng nghe và thấu hiểu những giấc mơcủa người phụ nữ, giúp họ thể hiện bản thân, tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữViệt Nam không chỉ ở công sở mà còn ở trên phố với thời trang dạo phốWINNY, vẻ đẹp sang trọng và quý phái ngay cả ở nhà với thời trang đồ mặcnhà WINNY, vẻ đẹp mềm mại và quyến rũ với thời trang đồ ngủ WINNY; nhãnhàng thời trang công sở Nam OWEN thể hiện đẳng cấp, sự lịch lãm của ngườiđàn ông khi làm việc ở công sở, và sự mạnh mẽ của người đàn ông khi ở nhàvới thời trang đồ mặc nhà OWEN Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Namkhông một ngày ngừng nghỉ, chỉ với một kỳ vộng cùng người Việt hội nhập,toả sáng trong thế giới hiện đại

Trang 23

1.2 Đặc điểm về bộ máy quản lý của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam

Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam được tổ chức và hoạt độngtheo Luật doanh nghiệp, các luật khác có liên quan và điều lệ công ty

Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam có:

- Tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam

- Điều lệ tổ chức bộ máy quản lý và điều hành

- Con dấu và tài khoản mở tại ngân hàng

- Vốn điều lệ hiện nay: 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỷ đồng)

- Số cổ phần đã đăng ký mua: 15.000

- Mệnh giá thống nhất mỗi cổ phần: 10.000 đồng

Tính đến ngày 31/12/2011 tổng số lao động trong danh sách của công ty

là 332 người Trong đó:

- Lao động có trình độ trên đại học: 02 người

- Lao động có trình độ đại học, cao đẳng: 110 người

- Lao động có trình độ trung cấp: 165 người

- Lao động có trình độ sơ cấp: 55 người

Cơ cấu tổ chức của công ty hiện tại gồm các phòng ban:

Trang 24

Mô hình hệ thống đại lý chuyên bao gồm các đại lý chỉ phân phốiduy nhất một nhãn hàng mang thương hiệu WINNY hoặc thương hiệu OWENcủa công ty Với mô hình đại lý này công ty sẽ tiến hành đầu tư biển hiệu, nộithất cũng như trang bị toàn bộ các hình ảnh giới thiệu về nhãn hàng mà cửahàng đó trưng bày Mỗi đại lý chuyên được hưởng các chính sách chiết khấu,chính sách thưởng của mô hình đại lý chuyên.

Mô hình hệ thống đại lý tổng hợp bao gồm các đại lý trong hệthống cửa hàng ngoài nhãn hàng WINNY, OWEN cửa hàng còn phân phối cácmặt hàng thời trang khác như WONERFUL, TRIU, MATTANA Với mô hìnhđại lý này công ty chỉ đầu tư biển hiệu không đầu tư nội thất cũng như các hìnhảnh giới thiệu về sản phẩm Mô hình đại lý tổng hợp sẽ được các chính sáchchiết khấu, chính sách thưởng của đại lý tổng hợp

Bên cạnh hệ thống đại lý, công ty cũng có một hệ thống showroom rôngkhắp trên cả nước

- Tại Thành phố Hồ Chí Minh: có 11 showroom

+ Cửa hàng Maxi 3-2+ Cửa hàng Cộng Hoà+ Cửa hàng Zen Plaza+ Cửa hàng Parkson Lê Đại Hành

- Tại Hà Nội: có 30 showroom

+ Cửa hàng 69 Chùa Bộc+ Cửa hàng 71A Láng Hạ+ Cửa hàng 76 Nguyễn Chí Thanh+ Cửa hàng Vincom

+ Của hàng 105, 106, 111, 112 Phạm Ngọc Thạch

Trang 25

Cơ cấu quản lý của công ty

Bộ máy quản lý của công ty được mô tả theo sơ đồ sau:

1.3 Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận

Đại hội cổ đông:

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất củacông ty gồm tất cả các cổ đông Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham giađại hội đồng công ty Là cơ quan tập thể, đại hội đồng không làm việc thườngxuyên mà chỉ tồn tại trong thời gian họp và chỉ ra quyết định khi đã được các cổđông thảo luận và biểu quyết tán thành

Đại hội đồng cổ đông

Phòng kế toán

Ban kiểm soảt

Phòng thiết kế

Hệ thống showroom của công ty

Trang 26

Đại hội đồng cổ đông: được triệu tập để thành lập công ty Luật không quyđịnh Đại hội đồng cổ đông phải họp trước hay sau khi có giấy phép thành lậpnhưng phải tiến hành trước khi đăng ký kinh doanh Đại hội đồng thành lập hợp lệphải có nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty và biểuquyết theo đa số phiếu quá bán

* Đại hội đồng bất thường: là đại hội chỉ được triệu tập để sửa đổi điều

lệ công ty Tính bất thường của Đại hội nói lên rằng đại hội sẽ quyết định nhữngvấn đề rất quan trọng

* Đại hội đồng thường niên: được tổ chức hàng năm Đại hội đồngthường niên quyết định những vấn đề chủ yếu sau:

Quyết định phương hướng, nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch kinhdoanh hàng năm

Thảo luận và thông qua bản tổng kết năm tài chính

Bầu, bãi miễn thành viên HĐQT và kiểm soát viên

Quyết định số lợi nhuận trích lập các quỹ của công ty số lợi nhuận chia cho

cổ đông, phân chia trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra đối với công ty trong kinhdoanh

Quyết định các giải pháp lớn về tài chính công ty

Xem xét sai phạm của HĐQT gây thiệt hại cho công ty

Hội đồng quản trị:

HĐQT có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liênquan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền củaĐại hội đồng HĐQT bầu một người làm chủ tịch, chủ tịch HĐQT có thể kiêm

Trang 27

Giám đốc (Tổng giám đốc công ty) hoặc HĐQT cử một người trong số họ làmGiám đốc hoặc thuê người làm Giám đốc công ty

Tổng giám đốc:

Là người điều hành mọi hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm quản lý vàđiều hành công ty, giao dịch quan hệ với các đối tác ký kết hợp đồng đề ra chiếnlược kinh doanh xây dựng kế hoạch kinh doanh

Ban kiểm soát:

Kiểm soát viên thay mặt các cổ đông kiểm soát các hoạt động của công ty,chủ yếu là các vấn đề tài chính Vì vậy phải có ít nhất một kiểm soát viên có trình

độ chuyên môn về kế toán Kiểm soát viên có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

- Kiểm soát sổ sách kế toán tài sản, các bảng tổng kế năm tài chính củacông ty và triệu tập Đại hội đồng khi cần thiết

- Trình Đại hội đồng báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết năm tài chínhcuả công ty

- Báo cáo về sự kiện tài chính bất thường xảy ra về những ưu khuyếtđiểm trong quản lý tài chính cuả HĐQT

Các kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng và không đượckiêm nhiệm là thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc là người có liên quan trực hệ bađời với họ

Giám đốc kinh doanh:

Có nhiệm vụ triển khai các hoạt động kinh doanh của Công ty, các thao tácnghiệp vụ đảm nhiệm tất cả các việc liên quan đến tìm kiếm khách hàng, tìm hiểuthị hiếu của khách hàng nắm bắt được các thông tin về đối thủ cạnh tranh và đề racác phương hướng kinh doanh Từ đó lập ra các chiến lược kinh doanh, các biện

Trang 28

pháp đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa và tìm kiếm các nguồn hàng để chủ động trongkinh doanh

Phòng hành chính:

Phòng này có nhiệm vụ thực hiện công tác tổ chức sắp xếp cán bộ công nhânviên quản lý tài chính của công ty, báo cáo thường xuyên kết quả hoạt động kinhdoanh của công ty, báo cáo thường xuyên kết quả hoạt động kinh doanh cho công

ty giúp đỡ công ty kịp thời điều chỉnh kế hoạch kinh doanh cho phù hợp với nguồnvốn kinh doanh Phòng còn có nhiệm vụ trả lương cho cán bộ công nhân viên

Nắm bắt, thiết kế những mẫu mã mới để gửi nhà cung cấp sản xuất theo mẫu.

Hệ thống Shou room của công ty:

Là một đại lý cũng như một phòng mẫu để trưng bày bán hàng các sảnphẩm của công ty

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty cổ phần Kowil Việt Nam

Đặc điểm kinh doanh của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam

- Về sản phẩm

Nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển nênnhu cầu về các sản phẩm may mặc ngày càng cao, nhu cầu thời trang đồ mặcnhà cùng với nhu cầu về thời trang công sở cao cấp ngày cao Chính vì vậy, các

Trang 29

thiết kế sản phẩm của công ty đều hướng tới mục tiêu phục vụ cuộc sống củangười Việt Sản phẩm của công ty được phân loại theo nhiều dòng: thời trang

đồ mặc nhà với dòng thời trang dạo phố, thời trang đồ ngủ, thời trang công sởnam cao cấp với dòng thời trang sơ mi nam, thời trang đồ ngủ nam, Và cácsản phẩm của công ty cũng thay đổi theo mùa phù hợp với thị hiếu của ngườitiêu dùng Trong nhưng năm tới nền kinh tế cũng như thu nhập của người dântăng lên, quy mô kinh doanh của công ty sẽ được mở rộng và quy mô vốn cũng

sẽ tăng

Các sản phẩm được công ty tự thiết kế kiểu dáng, lựa chọn mẫu vải phùhợp, sau đó công ty sẽ đặt sản xuất tại các công ty may nổi tiếng của Hồ ChíMinh như công ty cổ phần May Nhà Bè, công ty cổ phần May Phương Đông,doanh nghiệp chuyên sản xuất về hàng may mặc như công ty TNHH TM và SXUyển Linh, DNTN Đại Thiên Phúc, Công ty Cổ phần may và in ADV, công ty

cổ phần Tiến Khang

- Về tiêu thụ sản phẩm

Lĩnh vực hoạt động của công ty là thiết kế đồng thời phân phối các sảnphẩm thời trang, khách hàng của công ty chủ yếu là các đại lý phân phối và hệthống showroom của công ty Những đại lý này thường có vị trí ở các trung tâmthành phố lớn, phương thức thanh toán thường là trả chậm từ phía các đại lýnhằm tăng doanh thu

- Về thị trường và đối thủ cạnh tranh

Lúc đầu khi mới thành lập, thị trường của công ty chủ yếu là tầng lớp dân

cư có thu nhập khá ở các thành phố lớn của miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng,Quảng Ninh Nhưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của ngườidân Việt ngày càng tăng lên, nhu cầu và thị hiếu thời trang của người Việt ngàycàng cao, con người trong thời đại ngày nay không chỉ dừng lại ở việc ăn ngon màngười Việt luôn có xu hướng tiến đến nhu cầu mặc đẹp, không chỉ mặc đẹp ở công

sở mà còn là nhu cầu mặc đẹp ở nhà, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị

Trang 30

trường thời trang Việt trong những năm gần đây, thị trường của công ty ngày càng

mở rộng Trong cả nước hệ thống đại lý của công ty đã lên đến con số 650 đại lý ởkhắp các tỉnh thành phố từ Bắc vào Nam, công ty đã mở chi nhánh riêng ở thànhphố Hồ Chí Minh Không dừng ở thị trường trong nước công ty đã đẩy mạnh tiếpthị, tìm kiếm thị trường mới ở nước ngoài trong năm 2010 công ty đã tham gia cáctriển lãm thời trang ở các nước bạn Lào, Camphuchia giới thiệu các sản phẩm củamình tại 2 thị trường mới này

Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam luôn xác định vấn đề giữ vữngthị trường là vấn đề sống còn, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của công ty Vìvậy, hiện nay công ty đã đề ra rất nhiều chiến lược phát triển thị trường: mở rộng

hệ thống showroom tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành đầu tư mới vàxây dựng lại mô hình cửa hàng chuyên, tiếp thị khách hàng tại công ty, tham giaquảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia tài trợ cho cácchương trình trên đài tryền hình Việt Nam như tài trợ cho bộ phim “Xin thề anhnói thật” đã phát sóng trên sóng VTV3, tổ chức hội nghị khách hàng, đưa ra cácsản phẩm mới thông qua chương trình biểu diễn thời trang

Có thể nói trong những năm gần đây thị trường đồ mặc nhà cũng như thị trường thời trang công sở Nam hết sức sôi động Công ty đã có một thị phầnkhông nhỏ tại các thành phố lớn tuy nhiên vẫn phải liên tục cạnh tranh với cáchãng thời trang đồ mặc nhà như VERA, PND, PALTAL, và các hãng thời trangcông sở Nam như May Nhà Bè với (MATANA), AN PHUOC,

Tình hình kinh doanh của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam

Công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam là doanh nghiệp có tuổi đời còn trẻ tuy nhiên trong thời gian tham gia hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thời trang hoạt động kinh doanh của công ty đã đạt được rất nhiều thành tựu Và để xem xét hiệu quả huy động vốn và sử dụng vốn của công

Trang 31

ty chúng ta cần xem xét hiệu quả kinh doanh của công ty trong những năm gần đây

Bảng 01: Kết quả kinh doanh của công ty cổ phần thời trang

Kowil Việt Nam

và cung cấp dịch vụ 8.832.082.322 22.927.375.029 14.095.293.707 159%Doanh thu hoạt động tài

Chi phí tài chính 100.973.245 4.347.738.224 4.246.764.979 4246%Lợi nhuận sau thuế 2.072.499.667 2.045.540.658 -26.959.009 -1,3%Vốn kinh doanh 11.302.777.408 19.276.572.918 7.973.795.510 70,55%

(Nguồn: Phòng kế toán - công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam)

Qua số liệu của bảng trên, ta có thể thấy quy mô vốn kinh doanh của công ty tăng lên khá nhanh, tốc độ tăng vốn kinh doanh là 117% và định hướng trong năm 2011 vốn kinh doanh của công ty sẽ đạt 30tỷ tương đương với tốc độ tăng so với năm 2009 là 272% gấp đôi so với tốc độ tăng vốn năm 2010 Và tương ứng với quy mô vốn tăng thì các chỉ tiêu về doanh thu bán hàng, lợi nhuận cũng tăng lên nhanh chóng (doanh thu năm 2010 tăng 239% so với doanh thu năm 2009) Điều này đã chứng tỏ công ty đã

Trang 32

chú trọng và quyết tâm mở rộng quy mô kinh doanh chiếm lĩnh thị trường thời trang đồ mặc nhà cũng như thị trường thời trang công sở nam Một trong những minh chứng cho quyết tâm mở rộng đó là sự phát triển của hệ thống đại lý và hệ thống showroom trong thời gian gần đây

Bảng 02: Hệ thống đại lý của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt

650250400

260%

208%

121%

200130170

Hệ thống showroom

- Hà Nội

- TP Hồ Chí Minh

181107

433013

238%

272%

185%

25196

(Nguồn Báo cáo rà soát năm 2010 - Phòng kinh doanh công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam)

Nhìn vào số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy quy mô kinh doanh của công ty mở rộng theo chiều sâu tập trung tìm kiếm thị trường xây dựng các mô hình đại lý chuyên ngày càng tăng, hệ thống showroom cũng phát triển nhanh chóng khắp các tỉnh thành phố đưa hình ảnh cũng như thương hiệu của công ty tới tất cả các tầng lớp người Việt Bên cạnh đó để phục vụ nhu cầu của tất cả các thị phần người Việt bên cạnh nhãn hàng thời trang cao cấp WINNY và OWEN trong năm 2009 công ty đã mở thêm nhãn hiệu

đồ mặc nhà WONERFUL dành riêng cho giới trẻ và những người tiêu dùng

có thu nhập trung bình

Trang 33

2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng Tài Sản của công ty cổ phần thời trang

KOWILL Việt Nam

2.2.1 Thực trạng tài sản của công ty cổ phần thời trang KOWILL Việt Nam

Hàng tồn kho 48.696.576.630 70.467.233.272 21.770.656.642 44,71%

-Tài sản dài hạn 1.146.561.848 10.370.141.350 9.223.579.502 804%

Tài sản cố định 1.146.561.848 1.966.694.777 820.132.929 71,53%Đầu tư tài chính dài hạn - 7.950.000.000 7.950.000.000

Trang 34

đã tăng lên 7,95 tỷ đồng) Khoản mục hàng tồn kho gần như tăng lên gấp đôi năm 2009 hàng tồn kho chỉ có trên 48 tỷ nhưng năm 2010 số tiền nằm trong khoản mục hàng tồn kho lên đến trên 70 tỷ đồng điều này cho thấy công ty đầu tư khá nhiều vào hàng tồn kho để có được đầy đủ nguồn hàng cung cấp ra thị trường làm cho quy mô kinh doanh của công ty ngày càng tăng lên.

Về khoản phải thu của khách hàng

Tỷ trọng các khoản phải thu của khách hàng của công ty chiếm tỷ trọng cao năm 2009 chiếm đến 35,92%, năm 2010 tỷ trọng phải thu của khách hàng là 22,83% Tỷ trọng phải thu của kháchd hàng giảm xuống do chính sách tín dụng của công ty đối với khách hàng, giảm số khách hàng thanh toán nợ và tăng số khách hàng thanh toán ngày, điều này cũng phản ánh công tác thu hồi nợ của công ty đã có nhiều chuyển biến tích cực, giảm được các khoản công nợ xấu Tuy nhiên tỷ trọng phải thu khách hàng vẫn còn cao cho thấy công tác quản lý thu hồi nợ của công ty vẫn còn hạn chế, chưa được quản lý chặt chẽ.

Về hàng hoá tồn kho

Hàng hoá tồn kho là chỉ tiêu có tác động mạnh nhất đối với sự thay đổi của quy mô tổng tài sản Đối với công ty hàng tồn kho đóng vai trò quyết định trong hoạt động kinh doanh buôn bán nếu trong năm 2009 tỷ trọng hàng tồn kho chỉ chiếm 46,15% tổng tài sản thì đến năm 2010 tỷ trọng này đã tăng lên gần gấp đôi về mặt giá trị và chiếm 55,11% tổng tài sản Chỉ tiêu này tăng lên cũng phản ánh quy mô kinh doanh của công ty tăng cao, công ty đã đầu tư vào hàng hoá tồn kho phục động kinh doanh Tuy nhiên do đặc thù là ngành hàng thời trang, hàng hoá chỉ bán được theo mùa, mẫu cũ của năm trước sẽ trở thành lạc hậu so với năm sau, nên công

ty có rất nhiều chính sách để tỷ trọng hàng tồn kho giảm xuống tránh rủi ro

Trang 35

như bán giảm giá, thực hiện các chương trình khuyến mại Tuy nhiên tỷ trọng mặt hàng tồn kho vẫn còn cao trong tổng tài sản của công ty nên nếu

có sự thay đổi giá trị hàng tồn kho tác động sâu sắc đến quy mô của tổng tài sản.

Bên cạnh hai khoản mục hàng tồn kho và phải thu khách hàng chỉ tiêu trả trước người bán cũng ngày càng tăng do nhu cầu thị trường vải ngày càng lớn, việc sản xuất những mẫu mã mới đi cùng với các chất liệu mới đòi hỏi công ty phải đặt cọc trước cho các nhà cung cấp Nếu trong năm 2009 số tiền trả trước cho người bán chỉ có trên 4 tỷ năm 2010 số tiền này đã tăng 30% tương ứng giá trị trên 6 tỷ đồng.

Sự tăng lên của tài sản dài hạn cũng là một trong những nhân tố thể hiện tình hỉnh sử dụng vốc của công ty Qua các năm tỷ trọng tài sản dài hạn của công ty đã tăng lên năm 2009 số tài sản dài hạn của công ty chỉ chiếm khoảng 1% đến năm 2010 số tài sản dài hạn này đã tăng lên gấp 8,5 lần tương ứng với trên 10 tỷ đồng Tài sản dài hạn tăng lên trong đó có sự tăng lên về tài sản cố định hữu hình là do trong thời gian qua công ty đã đầu tư mua sắm thêm ôtô để đảm bảo việc lưu thông hàng hoá được đáp ứng kịp thời theo các đơn đặt hàng của khách hàng Bên cạnh sự tăng lên về tài sản

cố định công ty có xu hướng đầu tư vào các công ty con thể hiện qua số tiền đầu tư tài chính dài hạn trong năm 2010 lên đến 7,95 tỷ đồng Điều này

đã cho thấy quy mô kinh doanh của công ty ngày càng tăng.

2.2.2.Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của công ty cổ phần thời trang KOWILL Việt Nam

2.2.2.1 Thực trạng hiệu quả sử dụng tổng Tài Sản của công ty cổ phần thời trang KOWILL Việt Nam.

- Về cơ cấu tài sản: Nếu cuối năm 2009, trong tổng tài sản của công ty chủ yếu là nguồn tài sản ngắn hạn tài sản dài hạn chiếm 1% tổng tài sản thì đến

Trang 36

cuối năm 2010 tài sản dài hạn đã có sự tăng lên đáng kể gấp gần 10 lần năm 2009, tuy tài sản dài hạn của công ty mới chiếm 10% nhưng phần lớn trong sự tăng trưởng này đó là việc tăng trưởng của các khoản đầu tư tài chính dài hạn (đầu tư vào công ty con là 7,5 tỷ đồng) và việc tăng trưởng tài sản cố định của công ty điều này sẽ giúp doanh nghiệp có được các nguồn thu khác ngoài hoạt động bán hàng của công ty, như vậy doanh thu của công ty tăng lên và tất nhiên lợi nhuận của công ty cũng sẽ tăng theo

2.2.2.1 thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn

Với đặc trưng là một doanh nghiệp kinh doanh buôn bán, do vậy tình hình sử

dụng vốn của công ty chủ yếu được thể hiện nhiều ở nguồn vốn ngắn hạn, trong đóchủ yếu là khoản mục hàng tồn kho và công nợ phải thu khách hàng

Trang 37

hàng 37.777.068.909 29.091.416.807 8.685.652.102 -29,86%Trả trước người bán 4.059.259.193 6.961.982.605 2.902.723.412 71,51%Thuế GTGT được

khấu trừ 2.146.928.468 2.697.758.461 550.829.993 25,66%Phải thu khác - 3.060.000.000 3.060.000.000

Hàng tồn kho 48.696.576.630 70.467.233.272 21.770.656.642 44,71%

-Tài sản dài hạn 1.146.561.848 10.370.141.350 9.223.579.502 804%

Tài sản cố định 1.146.561.848 1.966.694.777 820.132.929 71,53%Đầu tư tài chính dài

2009 số tiền đầu tư tài chính dài hạn không có nhưng đến năm 2010 số vốn đầu tưvào khoản mục này đã tăng lên 7,95 tỷ đồng) Khoản mục hàng tồn kho gần nhưtăng lên gấp đôi năm 2009 hàng tồn kho chỉ có trên 48 tỷ nhưng năm 2010 số tiềnnằm trong khoản mục hàng tồn kho lên đến trên 70 tỷ đồng điều này cho thấy công

ty đầu tư khá nhiều vào hàng tồn kho để có được đầy đủ nguồn hàng cung cấp rathị trường làm cho quy mô kinh doanh của công ty ngày càng tăng lên

Ngày đăng: 25/07/2013, 08:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01: Kết quả kinh doanh của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam - Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM
Bảng 01 Kết quả kinh doanh của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam (Trang 31)
Bảng 02: Hệ thống đại lý của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam - Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần thời trang KOWIL VIỆT NAM
Bảng 02 Hệ thống đại lý của công ty cổ phần thời trang Kowil Việt Nam (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w