1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công nghiệp phụ trợ cho ngành Da giày ở Việt Nam

26 577 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công nghiệp phụ trợ cho ngành da giày ở Việt Nam
Người hướng dẫn TS. Trương Đức Lực
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Công nghiệp
Thể loại Đề án
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 157 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là nước xuất khẩu giày dép lớn thứ 4 và là 1 trong 10 nước sản xuất giày dép lớn nhất thế giới. Tuy nhiên theo nhận xét của giới kinh doanh da giày, trên thị trường thế giới không hề thấy bóng dáng một đôi giày mang nhãn hiệu Việt Nam. Một trong những nguyên nhân cơ bản, theo các doanh nghiệp là do ngành da giày Việt Nam hiện chỉ làm hàng gia công xuất khẩu chứ chưa trực tiếp xuất dưới thương hiệu của mình. Nhìn xa hơn 5, 10 năm nữa, nếu vẫn chỉ gia công và nhập nguyên phụ liệu như hiện nay thì rất khó để ngành da giày khẳng định thế đứng là một ngành xuất khẩu chủ lực Chúng ta có thể nói rằng các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện nay đang được thai nghén và bắt đầu phát triển. Nhận định này được đưa ra dựa trên ba bằng chứng, đó là luồng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng lên; việc cải cách các doanh nghiệp nhà nước đang được tiến hành nhanh chóng; và sự lên ngôi của các doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ đòi hỏi chính phủ và chính quyền các cấp phải có khuôn khổ chính sách phù hợp, và sự hỗ trợ đúng mức cho quá trình này. Nhưng điều quan trọng hơn cả chính sách của chính phủ và sự hỗ trợ của chính quyền các cấp là sự sẵn sàng của các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, trong việc nhận biết tầm quan trọng của các ngành công nghiệp phụ trợ nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này, và trong việc xây dựng và phát triển những ngành như thế từ nỗ lực của chính bản thân họ. Các biện pháp chính sách và sự tích cực chủ động mang tính liên tục sẽ góp phần làm tăng nhận thức và sự sẵn sàng của các doanh nghiệp Việt nam đối với mục tiêu này. Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng của các ngành công nghiệp phụ trợ, nhưng hầu hết các cơ quan chức năng của Nhà nước vẫn mơ hồ về khái niệm các ngành công nghiệp phụ trợ. Một phần của nguyên nhân này là người ta đó quá quen với sản xuất tích hợp theo chiều dọc của nhà nước - từng là trụ cột của nền kinh tế - là mọi linh phụ kiện đều được sản xuất và chế tạo trong nội bộ doanh nghiệp đó. Một nguyên nhân khác là do không có đầy đủ khái niệm mang tính pháp lý đối với các ngành công nghiệp phụ trợ, và vì thế mà việc thực thi có hiệu quả việc thúc đẩy các ngành này vẫn cũng hạn chế. Bản thân chúng ta vẫn không biết làm thế nào để xác định đúng các ngành này. Vì vậy, việc phát triển ngành Da giầy cần phải được sự hỗ trợ, gắn với sự phát triển một số ngành công nghiệp phụ trợ như quy hoạch phát triển, định hướng phat triển các nhà máy, xí nghiệp sản xuất da và các sản phẩm phụ liệu cho ngành Da giày như: chỉ may, kim may, khóa kéo, cúc nhựa, keo dán... các loại hợp chất tẩy uế để thay thế hàng nhập khẩu, thiết bị phụ tùng, dịch vụ sửa chữa, bao bì...qua một thời gian tìm hiểu và nghiên cứu em xin trình bày hiểu biết của em về “Công nghiệp phụ trợ cho ngành Da giày ở Việt Nam” . Em xin chân thành cảm ơn thầy TS.Trương Đức Lực đã giúp đỡ em hoàn thành đề án này.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam là nước xuất khẩu giày dép lớn thứ 4 và là 1 trong 10 nước sản xuất giày déplớn nhất thế giới Tuy nhiên theo nhận xét của giới kinh doanh da giày, trên thị trườngthế giới không hề thấy bóng dáng một đôi giày mang nhãn hiệu Việt Nam Một trongnhững nguyên nhân cơ bản, theo các doanh nghiệp là do ngành da giày Việt Nam hiệnchỉ làm hàng gia công xuất khẩu chứ chưa trực tiếp xuất dưới thương hiệu của mình.Nhìn xa hơn 5, 10 năm nữa, nếu vẫn chỉ gia công và nhập nguyên phụ liệu như hiện naythì rất khó để ngành da giày khẳng định thế đứng là một ngành xuất khẩu chủ lực

Chúng ta có thể nói rằng các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện nay đangđược thai nghén và bắt đầu phát triển Nhận định này được đưa ra dựa trên ba bằngchứng, đó là luồng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng lên; việc cải cách các doanhnghiệp nhà nước đang được tiến hành nhanh chóng; và sự lên ngôi của các doanhnghiệp tư nhân

Tuy nhiên, thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ đòi hỏi chính phủ

và chính quyền các cấp phải có khuôn khổ chính sách phù hợp, và sự hỗ trợ đúng mứccho quá trình này Nhưng điều quan trọng hơn cả chính sách của chính phủ và sự hỗ trợcủa chính quyền các cấp là sự sẵn sàng của các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhànước và tư nhân, trong việc nhận biết tầm quan trọng của các ngành công nghiệp phụ trợnhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này, và trong việc xâydựng và phát triển những ngành như thế từ nỗ lực của chính bản thân họ Các biện phápchính sách và sự tích cực chủ động mang tính liên tục sẽ góp phần làm tăng nhận thức

và sự sẵn sàng của các doanh nghiệp Việt nam đối với mục tiêu này

Mặc dù nhận thức được tầm quan trọng của các ngành công nghiệp phụ trợ, nhưng hầuhết các cơ quan chức năng của Nhà nước vẫn mơ hồ về khái niệm các ngành côngnghiệp phụ trợ Một phần của nguyên nhân này là người ta đó quá quen với sản xuất tíchhợp theo chiều dọc của nhà nước - từng là trụ cột của nền kinh tế - là mọi linh phụ kiệnđều được sản xuất và chế tạo trong nội bộ doanh nghiệp đó Một nguyên nhân khác là

do không có đầy đủ khái niệm mang tính pháp lý đối với các ngành công nghiệp phụtrợ, và vì thế mà việc thực thi có hiệu quả việc thúc đẩy các ngành này vẫn cũng hạnchế Bản thân chúng ta vẫn không biết làm thế nào để xác định đúng các ngành này

Trang 2

Vì vậy, việc phát triển ngành Da giầy cần phải được sự hỗ trợ, gắn với sự phát triểnmột số ngành công nghiệp phụ trợ như quy hoạch phát triển, định hướng phat triển cácnhà máy, xí nghiệp sản xuất da và các sản phẩm phụ liệu cho ngành Da giày như: chỉmay, kim may, khóa kéo, cúc nhựa, keo dán các loại hợp chất tẩy uế để thay thế hàngnhập khẩu, thiết bị phụ tùng, dịch vụ sửa chữa, bao bì qua một thời gian tìm hiểu vànghiên cứu em xin trình bày hiểu biết của em về “Công nghiệp phụ trợ cho ngành Dagiày ở Việt Nam”

Em xin chân thành cảm ơn thầy TS.Trương Đức Lực đã giúp đỡ em hoàn thành đề ánnày

Trang 3

Phần 1: Tổng quan về ngành Da giày Việt Nam và quá trình hình thành công

nghiệp phụ trơ.

1.1 Lịch sử phát triển ngành Da giày Việt Nam.

1.1.1. Năm 1990 thành lập hiệp hội Da-Giầy Việt nam

Trên cơ sở kiến nghị của các doanh nghiệp, nòng cốt là Liên hiệp các xí nghiệp

Da - Giầy, ngày 9/6/1990 Bộ công nghiệp nhẹ đã có quyết định số: 297/CNN - TCLD

về việc thành lập Hiệp hội Da – Giày Việt Nam với 52 doanh nghiệp hội viên Hiệp hội

đã tổ chức Đại hội nhiệm kỳ I và bầu Ban chấp hành nhằm lãnh đạo các hoạt động củangành giai đoạn 1990 - 1992 Tuy nhiên sau đó không lâu, Liên xô và các nước Đông

Âu tan rã đã tác động sâu sắc đến ngành Da – Giày Việt Nam vốn đang rất non trẻ vàmới bắt đầu khởi sắc

1.1.2. Năm 1992 Đại hội nhiệm kỳ II Hiệp hội Da – Giày Việt Nam được triệu tập

Trong giai đoạn này, xu hướng chuyển dịch sản xuất giầy dép đồ da từ các nướctrong khu vực vào Việt nam để tranh thủ lợi thế giá nhân công rẻ và môi trườngđầu tư thuận lợi đã xuất hiện Tháng 8/1992 Đại hội lần thứ 2 đã được triệu tập

để cũng cố lại Hiệp hội, quyết định chương trình hành động của ngành côngnghiệp Da - Giày trước khi bước vào thời kỳ đổi mới

1.1.3. Năm 1993 kỳ họp thứ 2 nhiệm kỳ II Hiệp hội Da - Giày Việt Nam được tiến

hành Để tranh thủ các lợi thế, phát huy tối đa tiềm năng trong sản xuất hàng xuấtkhẩu ,Ban chấp hành Hiệp hội đã triệu tập hội nghị với 58 hội viên để triển khaicác mục tiêu cụ thể đến 1995 Các doanh nghiệp hội viên đã trao đổi, thảo luận

dự thảo chiến lược phát triển ngành Da - Giày Việt Nam đến năm 2005

1.1.4. Năm 1996, Đại hội nhiệm kỳ III Hiệp hội Da – Giày Việt Nam

Từ năm 1993, ngành Da - Giày Việt Nam có nhịp độ phát triển rất cao, vượtnhiều mục tiêu chủ yếu của kế hoạch Năm 1996, ngành có 100 doanh nghiệp sảnxuất Đại hội nhiệm kỳ III của Hiệp hội được tổ chức với sự tham gia của 74doanh nghiệp hội viên Dự báo lợi thế của ngành tiếp tục tới năm 2005 Các mụctiêu phát triển ngành đã được đặt ra và ngành cần phải tự chủ hơn nữa để pháttriển với tốc độ cao hơn, bền vững hơn và hiệu quả hơn so với 5 năm trước 1.1.5. Năm 1998, Đại hội giữa nhiệm kỳ III Hiệp hội Da - Giày Việt Nam được triệu

tập Trong hai năm 1996-1997, ngành Da - Giày Việt Nam đã có được kết quảđáng khích lệ, Tuy nhiên 6 tháng đầu năm 1998 tình hình trên khu vực và trên thế

Trang 4

giới có nhiều biến động không thuận lợi cho sự phát triển của ngành Cuộc khủnghoảng tài chính của các nước Châu Á làm cho ngành Da- Giày Việt Nam phảichịu sự cạnh tranh với các nước trong khu vực Sản xuất và đầu tư bị chững lại,đặc biệt là các doanh nghiệp hợp tác với đối tác Hàn quôc Với diễn biến như trên, Ban chấp hành Hiệp hội đã thấy cần thiết triệu tập Đạihội giữa nhiệm kỳ của Hiệp hội để các doanh nghiệp cùng trao đổi, nhìn nhận,đánh giá và tìm ra các giải pháp thiết thực nhằm tháo gỡ khó khăn, đảm bảo ổnđịnh sản xuất và phát triển bền vững trong thời gian tới

1.1.6. Năm 2000 Đại hội nhiệm kỳ IV được tổ chức và năm bắt đầu của thiên niên kỷ

mới đối với Hiệp hội và ngành Da Giày Việt Nam Bước vào năm 2000, các doanh nghiệp hội viên đã thực hiện vượt mức kế hoạchngay từ những tháng đầu năm Hiệp hội đã tổ chức thành công lễ kỷ niệm 10năm ngày thành lập Hiệp hội (9/6/1990-9/6/2000) và Đại hội nhiệm kỳ IV Hiệphội Da-Giày Việt Nam Trong mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 của toàn ngành,các doanh nghiệp cần tập trung đầu tư cho sản xuất, chú trọng đầu tư cho khoahọc công nghệ, thiết kế mẫu Hiệp hội Da Giày Việt Nam từng bước được củng

cố theo hướng tăng cường vai trò đại diện để có các kiến nghị kịp thời với Chínhphủ triển khai các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp hội viên trong mở rộng thịtrường, xúc tiến thương mại, mở rộng quan hệ hợp tác và giao lưu Quốc tế và tổchức các khoá đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành và nâng cao trình độ quản lýnhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành

1.1.7. Năm 2002, Đại hội giữa các nhiệm kỳ IV, Hiệp hội Da-Giày Việt Nam

Được tổ chức tại Hà Nội, Hội nghị đã xác nhận những kết quả ngành đạt đượctrong thời gian qua và những khó khăn tồn tại, đặc biệt lưu ý đến các vấn đề vềkhoa học công nghệ, đào tạo, phát triển nguyên phụ liệu, thâm nhập thị trườngtiềm năng, sự quyết tâm chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công sang tựsản xuất

1.1.8 Năm 2003

Các hoạt động của Hiệp Hội tách độc lập và từng bước được củng cố, mở rộngtheo hướng tăng cường các hoạt động đại diện và các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệpnâng cao năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực.Hiệp hội chủ trì chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm giai đoạn 2003-2005

Trang 5

1.1.9. Năm 2007, Đại hội nhiệm kỳ V Hiệp hội Da-Giày Việt Nam

Tháng 3/2007- Đại hội nhiệm kỳ V được tổ chức tại Hà Nội Đại hội đánh dấubước phát triển mới của ngành Các doanh nghiệp hội viên và toàn ngànhphấn đấu nỗ lực thực hiện mục tiêu phát triển ngành đến năm 2010 Xây dựng cơ

sở vật chất, kỹ thuật vững chắc cho bước phát triển vào những năm tiếp theo đến2020

1.2 Thực trạng phát triển của ngành Da giày Việt Nam.

Ông Trần Đình Thăng, Giám đốc Công ty TNHH Nhật Việt, một trong số ít doanhnghiệp giày dép sản xuất toàn bộ và trực tiếp xuất khẩu với thương hiệu Vento, khẳngđịnh: “Phần lớn các doanh nghiệp da giày của Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu sản xuấtdưới hình thức gia công cho nước ngoài hoặc cho thuê nhà xưởng” Báo Lao Động mớiđây cũng cho biết đến 70% các doanh nghiệp gia dày của Việt Nam hiện nay là gia côngthuần túy cho nước ngoài Đây là thực trạng không lấy gì làm tự hào của ngành côngnghiệp đã có gần 20 năm “hội nhập và phát triển”

Da giày là một trong những lĩnh vực đầu tiên đón nhận làn sóng đầu tư nước ngoài từđầu những năm 90 của thế kỷ trước với việc hình thành hàng loạt nhà máy gia công, liêndoanh, 100% vốn nước ngoài) trải dài trên cả nước Thế nhưng đến nay, ngành xuấtkhẩu đứng thứ 3 của Việt Nam với hơn 600.000 lao động vẫn bị đánh giá là lợi nhuậnthấp “Mặc dù có đến 90% sản lượng xuất khẩu, nhưng giá trị gia tăng của ngành nàychỉ đạt 25%”- báo cáo của Hiệp hội da giày Việt Nam (Lefaso) cho hay Giá trị gia tăngnhỏ nhoi đó chủ yếu nằm ở sức lao động, yếu tố được xem là “lợi thế cạnh tranh” lớnnhất của da giày Việt Nam những năm qua Song lợi thế về “giá nhân công rẻ” và

“nguồn lao động dồi dào” này đang mất dần đi khi người lao động không còn mặn màvới công việc hết sức vất vả, khắc nghiệt mà thu nhập thấp (Da giày là một trong nhữngngành có thu nhập thấp nhất) Bằng chứng là ngành Da giày hay xảy đình công và tìnhtrạng khan hiếm lao động đã bắt đầu diễn ra ở nhiều doanh nghiệp da giày của HảiPhòng trong năm nay

Sở dĩ giày dép Việt Nam vẫn miệt mài gia công, giá trị gia tăng thấp bởi “80% nguyênliệu phải nhập khẩu”, “ngành phụ liệu mới chỉ sản xuất được một vài mặt hàng rất hạnchế như nhãn, ren, dây giày nhưng lại bỏ ngỏ những loại phụ kiện tinh xảo”; “năngsuất lao động của Việt Nam rất thấp, chỉ bằng 1/10 Indonesia, 1/20 Malaysia, 1/30 TháiLan”; “trình độ tay nghề ở mức trung bình và trung bình khá”- theo báo cáo của Lefaso

Trang 6

khẳng định Thật đáng buồn là sau gần 2 thập kỷ làm ăn với nước ngoài, được tiếp thurất nhiều kinh nghiệm, công nghệ, bí quyết tiên tiến của thế giới, những đôi giày, đôidép Việt Nam vẫn phải oằn mình “cõng” trên lưng những thương hiệu ngoại nếu nhưmuốn có chỗ đứng ở thị trường Âu - Mỹ Việt Nam hiện có hơn 500 doanh nghiệp dagiày nhưng những thương hiệu được người tiêu dùng trong nước biết đến chỉ đếm trênđầu ngón tay như Biti’s, Bita’s, Thượng Đình, Vento, Sholega… Còn những thươnghiệu Việt Nam có mặt ở thị trường nước ngoại lại càng ít nữa Dường như mới chỉ cóBiti’s (công bố có mặt ở hơn 40 nước), Vento (vươn tới Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ,Canada, Bắc Mỹ), còn Vina Giày mới đang tìm đường sang Mỹ

Một vấn đề nữa là các doanh nghiệp da giày Việt Nam chỉ mải mê với thị trường xuấtkhẩu mà bỏ ngỏ thị trường trong nước Hiện các doanh nghiệp da giày Việt Nam mới

“phủ sóng” được một nửa thị phần nội địa Nửa còn lại là “sân chơi” của giày dép TrungQuốc, Thái Lan và một số nước láng giềng Một ngành công nghiệp chủ yếu làm giacông, lợi nhuận thấp, không có thương hiệu, chưa thống lĩnh được “sân nhà” thì khôngthể gọi là một ngành kinh tế mạnh cho dù số lượng về doanh nghiệp, kim ngạch xuấtkhẩu, lao động có thể là “hoành tráng”

1.3 Công nghiệp phụ trợ ỏ việt nam

Khái niệm: Theo định nghĩa của Cục phát triển CNPT ( BSID ) Thái Lan: CNPT là cácngành công nghiệp cucng cấp các linh kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra, đóng góikiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản.Ơ Việt Nam, cho đên nay vẫn thiếu mộtđịnh nghĩa pháp lý về công nghiệp phụ trợ, khái niệm công nghiệp phụ trợ được hiểukhác nhau giữa các cơ quan chính phủ.Tuy vậy, nhìn chung,công nghiệp phụ trợ là kháiniệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất cácthành phẩm chính.Cụ thể là nhũng linh kiện, phụ liệu,phụ tùng,sản phẩm bao bì nguyênliệu để sơn,nhuộm,v.v và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, nhữngnguyên liệu sơ chế.Sản phẩm công nghiệp phụ trợ thường được sản xuất với quy mônhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Công nghiệp phụ trợ Việt vẫn như bộ phim dài tập.Là chìa khóa thúc đẩy công nghiệpphát triển nhưng ngành công nghiệp phụ trợ Việt bị nhiều chuyên gia chê " yếu" vàthiếu Câu chuyện này được bàn đi bàn lại hơn 10 nam qua như một bộ phim dài tậpchưa đến hồi kết thúc.Doanh nghiệp Nhật hôi thúc Viêt Nam về công nghiệp phụ trợ

Trang 7

Công nghiệp phụ trợ tạo ra giá trị gia tăng cho ngành sản xuất công nghiệp, góp phầnphát triển năng lực sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động tuy nhiên hiện nay70-80% sản phẩm phụ trợ của các doanh nghiệp lắp ráp vẫn phải nhập khẩu Trong buổihội thảo quốc tế Phát triển công nghiệp phụ trợ kinh nghiệm của Nhật Bản và một sốnước châu Á diễn ra chiều 30/10, nhiều chuyên gia nhận định ngành công nghiệp phụtrơ Việt Nam đang bị rỗng hóa, vừa yếu vừa thiếu về nhiều mặt.

Câu chuyện về ngành công nghiệp phụ trợ trong nước đã được đưa ra bàn bạc,tìm cáchtháo gỡ trong hơn chục năm nhưng đén nay vẫn chỉ là bộ phim dài tập chưa hồi kết.Đại

sứ Nhật Bản Mítuo Sakaba bắt đầu quan tâm đến công nghiệp phụ trợ khi nhậm chứcvào năm 2008.Ông Sakaba đã "sốc mạnh" khi biết thực trạng ngành công nghiệp phụ trợnội địa đã cản trở doanh nghiệp Nhật đầu tư vào đất nước ông sắp làm đại sứ."Tôi đãsốc kh phát hiện tỷ lệ cung ứng hàng hóa Việt Nam cho các doanh nghiệp Nhật trongquá trình chế tạo còn rất thấp, phần lớn các linh kiện đều phải nhập ngoại.Vấn đề pháttriển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam có quá nhiều việc phải làm", ông Sakaba chiasẻ.Tiến sĩ Nguyễn Đắc Hưng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho rằng, các mặt hàngcông nghiệp phụ trợ do doanh nghiệp nội địa sản xuất có giá trị thấp, sản phẩm chủ yếu

là bao bì đóng gói, phụ tùng và linh kiện đơn giản.Ông Hưng đưa ra minh họa, mộtdoanh nghiệp Nhật sản xuất rượu tại Việt Nam đã dở khóc dở cười bơi trong số các sảnphẩm do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, phía công ty chỉ dùng được thùng carton.Tất

cả các sản phẩm khác, thậm chí đến vỏ chai rượu cũng phải nhập do sản phẩm nội địakhông đáp ứng đượcyeeu cầu chất lượng lẫn độ phối màu cần thiết

Việt Nam được biết đến lợi thế so sánh là nguồn nhân lực có chi phí thấp.Tuy nhiên,vấn đề nổi cộm là khi nào Việt Nam có được nguồn nhân lực chất lượng? Công nghiệphóa Việt Nam còn yếu và thiếu ở nguồn nhân lực,trình độ tay nghề cũng như chuyênmôn Ông Hưng đưa ra ví dụ trước đó,Tập đoàn Intel của Mỹ đầu tư cơ sở sản xuất nêncần nguồn nhân lực rất lớn Đến thị trường Việt Nam tạp đoàn này đã phải ngã ngửa khihàng nghìn người thin tuyển, chỉ lấy được vài chục người.Đây là một điều chưa từngxảy ra với tập đoàn Intel ở các nước Đông Nam Á

Phía doanh nghiệp Nhật cho rằng, các công ty Việt vẫn còn thụ động trong quá trình làmviệc.Ông Sachio Kageyama, Gaims đốc Canoon Việt Nam bộc bạch hãng Canon thâmnhập vào thị trường Việt Nam từ năm 2001 với 7 công ty Việt đối tác Đến nay hãng đã

có mối quan hệ làm ăn với khoảng 100 doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên tất cả các

Trang 8

mối quan hệ đó đều do phía công ty Canon phải chủ động đi lùn từ danh bạ điệnthoại."Canon Việt Nam đã phải lật tìm từng địa chỉ trong danh bạ điện thoại đẻ đặt quan

hệ với các doanh nghiệp nội địa Từ năm 2001 đến nay, chưa có một nhà cung cấp Việtnào chủ động đến đặt quan hẹ làm ăn với chúng tôi", ông Sachio Kageyama nói

Ông Trần Quang Hùng, Tổng thư kí Hiệp hội Điện tử Việt Nam cho rằng doanh nghiệpđiện tử trong nước chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và rất khó tiếp cận được với công tyngoại Khi đã tiếp cận được, đơn đặt hàng của đối tác Nhật lại đòi hỏi quá nhiều sảnphẩm không chuyên biệt khiến các doanh nghiệp Việt lúng túng." Nếu được các doanhnghiệp Nhật Bản hỗ trợ công nghệ, đầu ra cũng có đơn đặt hàng cụ thể,chuyên biệt thì

sự hợp tác làm ăn sẽ thuận lợi hơn rất nhiều", ông Hùng chia sẻ

Nhiều chuyên gia nhận định công nghiệp phụ trợ đi lên chạm chạp do nguyên nhân cơbản thiếu vốn.Ông Hưng phân tích, để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ doanhnghiệp cần có vốn trung và dài hạn trong khi đó ngân hàng chỉ cho doanh nghiệp vayngắn hạn Doanh nghiệp vừa và nhỏ không có tái sản thế chấp nên càng khó tiếp cậnvốn vay hơn Ngoài ra tính từ đầu năm đén nay, tỷ giá VND/USD đã tăng nên 9,02 lần

so với cùng kì năm 2008 Theo ông Hưng tỷ giá ngoại tệ giữa VND/USD biến độngmạnh gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phụ trợ bởicác doanh nghiệp này phải nhập nguyên liệu cho đầu vào sản xuất

Thiếu vốn, yếu nhân lực ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam vẫn chỉ ở dạng sảnxuất đơn giản dưới sự hướng dẫn của người nước ngoài Ông Keinichi Ôn, Viện nghiêncứu chính sách quốc gia Nhật Bản cho rằng, khi Việt Nam tham gia AFTA,WTO,FTAs,các luồng sản phẩm của các nước ASEAN tràn vào có thể phá hủy nền tảng côngnghiệp của Việt Nam " Trong khi các ngành phụ trợ còn đang yếu, doanh nghiệp ViệtNam có nguy cơ mất các cơ sở chế tạo và chỉ giữ lại các đại lý bán hàng", ông KeinichiOno lo ngại

1.4 Vai trò của công nghiệp phụ trợ đối với ngành Da giày Việt Nam.

Thứ nhất, công nghiệp phụ trợ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường sứccạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóatheo hướng vừa mở rộng vừa thấm sâu Công nghiệp phụ trợ không phát triển sẽ làmcho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng sẽ phải phụ

Trang 9

thuộc nhiều vào nhập khẩu Dù những sản phẩm này được cung cấp giá rẻ ở nước ngoàinhưng vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí tổn đầuvào Đó là chưa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu Vì lí donày, công nghiệp phụ trợ không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sứccạnh tranh và phạm vi cũng giới hạn trong một số ít ngành.

Thứ hai, công nghiệp phụ trợ có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDIvào lĩnh vực công nghiệp, đồng thời kích thích doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước.Muốn thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI, công nghiệp phụ trợ phải đi trướcmột bước tạo nên cơ sơ hạ tầng đẻ cung cấp đầu vào cần thiết cho các ngành côngnghiệp lắp ráp bởi lẽ bản thân các tập đoàn và các công ty lớn về lắp ráp hiên nay cũngchỉ giữ lại trong quy trình của mình các khâu nghiên cứu, phát triển sản phẩm và lắp rápthay vì tất cả gói gọn trong một công ty hay nhà máy Điều này đặc biệt đúng trong cácngành sản xuất các loại máy móc, là những ngành đang phát triển mạnh tại Đông Á và

la lĩnh vực Việt Nam có lợi thế so sánh động Các mặt hàng này thường có hàng trămhoặc hàng nghìn bộ phận, linh kiện ở nhiều tầng lớp, từ những loại thông thường đơngiản đến những loại có công nghệ cao Đối với các công ty nước ngoài đầu tư vào ngànhsản xuất này, tỷ lệ nội địa hóa càng cao càng có lợi Trên thực tế phí tổn về linh kiện, bộphận và các sản phẩm trung gian trong những sản phẩm thuộc ngành sản xuất máy mócchiếm tới hơn 80% giá thành, lao động chỉ chiếm từ 5-10%, do đó khả năng nội địa hóa

có tính chất quyết định đến thành quả kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, tỷ

lệ của chi phí về công nghiệp phụ trợ cao hơn nhiều so với chi phí lao động nên mộtnước dù có ưu thế về lao dộng nhưng công nghiệp phụ trợ không phát triển sẽ làm chomôi trường đầu tư kém hấp dẫn Chừng nào các ngành phụ trợ sẵn có chưa được cảithiện đòng loạt, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa của nước ngoài chưa đến đầu tư ồ ạt thìFDI của các công ty lớn không thể tăng hơn

Thứ ba, công nghiệp phụ trợ còn góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, ápdụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Bởi lẽ, dưới apf lực cạnh tranh cac công tycông nghiệp phụ trợ phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng

và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập khẩu Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờchuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI

Thứ tư, công nghiệp phụ trợ còn góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dưthừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực lân cận

Trang 10

Phần 2: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho giày dép ở Việt Nam.

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công nghiệp phụ trợ cho ngành Da giày.

2.1.1Thị trường sản phẩm nguồn:Nhu cầu sản phẩm nguồn phải tạo ra thị trường ổnđịnh để phát triển hiệu quả các ngành phụ trợ Nếu sản phẩm nguồn có quy mô nhỏ vàchủng loại đa dạng thì số lượng sản xuất của các ngành phụ trợ sẽ nhỏ, giá thành sảnxuất cao Nếu tiêu thụ sản phẩm nguồn nội địa không lớn các nhà sản xuất nguồn sẽkhông tham gia thị trường và ngành sản xuất sản phẩm phụ trợ gặp khó khăn

2.1.2Nguồn lực tài chính: Đầu tư vào các ngành sản xuất phụ trợ bất lợi hơn so với đầu

tư vào sản xuất nguồn (thường là lắp ráp): Suất đầu tư lớn; công nghệ phức tạp; thời hạnđầu tư và hoàn vốn dài; độ rủi ro trong đầu tư cao Nguồn lực tài chính cho đầu tư pháttriển công nghiệp và chính sách huy động nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong việcbảo đảm các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển bền vững

2.1.3.Tiến bộ khoa học và công nghệ: Do yêu cầu cải tiến liên tục để nâng cao năng lựccạnh tranh, việc thiết kế và chế tạo mới sản phẩm nguồn yêu cầu công nghiệp phụ trợphải thường xuyên đổi mới, nghiên cứu và sản xuất phụ liệu, phụ tùng hay chi tiết phùhợp

2.1.4.Bảođảm yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, chi phí và thời hạn cung ứng (các sảnphẩm phụ trợ) nhằm đáp ứng những cam kết với khách hàng của sản xuất nguồn Nguồnlinh kiện, phụ kiện sản xuất trong nước phong phú, chất lượng cao sẽ tích cực hạ giáthành sản phẩm nguồn

2.1.5.Sự phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử hiện nay tạo điều kiệncung và cầu (sản phẩm phụ trợ và sản phẩm nguồn) gần nhau hơn, giảm thời gian giaodịch, mở rộng phạm vi quan hệ giữa hai khu vực

2.1.6.Quan hệ giữa sản phẩm phụ trợ và sản phẩm nguồn không chỉ giới hạn trong phạm

vi quốc gia, mà phải phát triển trong phạm vi khu vực và toàn cầu để nâng cao hiệu quả.2.1.7.Hoạch định chiến lược phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ là một phần củachính sách phát triển kinh tế quốc gia, thu hút đầu tư nước ngoài và phân công lao độnghiệu quả giữa sản xuất trong nước và các tập đoàn đa quốc gia

2.1.8.Cơ chế chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển công nghiệp phụ trợ

2.2 Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành Da giày ở Việt Nam.

Trang 11

Ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn sơ khai và còn yếu kém,chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp, đặc biệt là cung cấpcho các doanh nghiệp, các tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài Hơn nữa, số lượng doanhnghiệp chuyên về công nghiệp phụ trợ còn ít, trình độ chỉ ở mức trung bình, thậm chícòn có thể nói là thấp và lạc hậu so với khu vực và nhiều quốc gia trên thế giới Ngànhcông nghiệp phụ trợ đã và đang là một vấn đề rất đáng lo ngại cho sự phát triển ổn định,bền vững của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng.

Nền kinh tế phát triển, quá trình đầu tư cho sản xuất kinh doanh ngày càng tăng, đặc biệt

là đầu tư FDI hiện nay đang đổ mạnh vào Việt Nam Quá trình đầu tư này không nhữngcần thiết bị, máy móc hiện đại (hiện nay phần lớn là phải nhập từ bên ngoài), mà còn đòihỏi nguyên liệu, các chi tiết, các phụ kiện cung ứng cho việc chế tạo ra sản phẩm củacác doanh nghiệp đó ngày càng lớn Nhưng sản phẩm phụ trợ của nước ta lại rất nghèonàn, khiến các doanh nghiệp đầu tư vào lại rất khó tìm được đối tác hỗ trợ có hiệu quảthiết thực Ngành dệt may hiện nay là ngành đạt kim ngạch tới 9 tỷ USD, lớn nhất ởnước ta trong năm 2007 nhưng không có công nghiệp phụ trợ thích đáng, nên đã phảinhập tới 80% tỷ lệ nguyên phụ liệu sản xuất Ngành sản xuất ô tô đang là ngành có nhucầu tiêu thụ ngày càng lớn, nhưng tỷ lệ nội địa hoá chỉ đạt 3-7% giá thành, cung cấpđược vài loại sản phẩm đơn giản, giá trị thấp như ghế ngồi, khung xe, một số chi tiếtphụ bằng nhựa, kim loại…

Gần đây chi phí cho giá thành nguyên vật liệu trên thế giới tăng vọt nên các doanhnghiệp FDI đều mong muốn tăng tỷ lệ nội địa hoá để giảm chi phí và tăng khả năngcạnh tranh về giá Theo điều tra của Tổ chức thương mại Nhật Bản (Jetro) thì có tới72% các nhà sản xuất nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nói rằng họ có kế hoạch tăng tỷ

lệ nội địa hoá nguyên, phụ liệu, linh kiện Tỷ lệ nội địa hoá của các nhà sản xuất NhậtBản vào Việt Nam mới đạt 22,6% về giá trị, thấp hơn nhiều so với các nước ASEANnhư Thái Lan đạt 50%; Malaisia 45% và Indonesia là 39% Điều tra này cũng chỉ rõrằng, chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam cung ứng chưa đáp ứngđược yêu cầu, có quá ít doanh nghiệp làm công nghiệp phụ trợ Nếu có thì cũng chủ yếu

là tham gia ở khâu đóng gói, bao bì, khâu cung ứng linh, phụ kiện cho việc sản xuấtkhông có mấy Thường các doanh nghiệp phải nhập từ nước thứ ba như Thái Lan, HànQuốc, Trung Quốc, như vậy chắc chắn giá thành sản phẩm phải bị đẩy lên cao hơn sovới chính các doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp cung cấp nguyên, phụ kiện Một doanh

Trang 12

nghiệp Hàn Quốc cũng cho biết họ đã phải đến thăm khoảng 100 doanh nghiệp ViệtNam mới tìm được một nhà cung ứng linh kiện phù hợp Công nghiệp phụ trợ ở ViệtNam chưa phát triển còn do các nhà sản xuất và lắp ráp nước ngoài thiếu thông tin vềcác công ty cung cấp linh kiện Thông tin từ các danh bạ doanh nghiệp rất hạn chế, quábao quát, không tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể, những thông tin này là chưa đủ đểcác doanh nghiệp rút ngắn thời gian tìm kiếm đối tác cung ứng linh kiện tiềm năng.

Trang 13

Phần 3:Điều kiện phát triển công nghiệp phụ trợ cho ngành Da giày.

3.1 Thuận lợi và khó khăn.

- Tạo cơ hội cho các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng trong cơ chế thị trường

- Chủ động và tích cực hội nhập, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về tự do hóa,thuận lợi hóa đầu tư, tạo thị trường mới cho nhà đầu tư

-Nguồn nhân công dồi dào giá rẻ thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn

Khó khăn:

- Chưa có sự triển khai các chính sách phù hợp và sự hỗ trợ kịp thời, đúng mức

- Cần có chương trình hành động cụ thể, kế hoạch chi tiết để triển khai đảm bảo mụctiêu, tiến độ

- Hỗ trợ nguồn vốn cho các doanh nghiệp phụ trợ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến

- Các ngành công nghiệp phụ trợ chưa nhận biết tầm quan trọng của việc tăng cườngkhả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

- Hình thức sản xuất tích hợp theo chiều dọc, không chuyên môn hoá

- Quy mô thị trường trong nước còn hạn chế:do chất lượng của các sản phảm da giàynên thu hút khách hàng trong nước ít

- Thông tin phối hợp giữa FDI và SME còn hạn chế

3.2 Cơ hội và thách thức khi Việt Nam ra nhập WTO trong nền kinh tế thị trường.

Cơ hội: Sau khi gia nhập WTO, ngành dệt may Việt Nam sẽ nhận được những đối xửtương tự như các nước thành viên WTO khác dành cho nhau

Ngày đăng: 25/07/2013, 07:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w